1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn THẠC sĩ khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên trường trung cấp cảnh sát vũ trang

115 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khó Khăn Tâm Lý Trong Hoạt Động Học Tập Của Học Viên Trường Trung Cấp Cảnh Sát Vũ Trang
Trường học Trường Trung Cấp Cảnh Sát Vũ Trang
Thể loại luận văn thạc sĩ
Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 863 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự nghiệp xây dựng công an nhân dân theo hướng: cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở đặt ra yêu cầu khách quan phải nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo đội ngũ cán bộ CAND trong các học viện, nhà trường công an. Chất lượng giáo dục đào tạo phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: nội dung, chương trình, phương pháp dạy, phương pháp học, chất lượng đội ngũ giáo viên, học viên, cán bộ làm công tác quản lý, cơ sở vật chất bảo đảm của quá trình giáo dục đào tạo… Trong đó, nhân tố đóng vai trò quan trọng quyết định thuộc về người học. Người học cần chủ động, sáng tạo, biến hoá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, từ chủ thể tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức. Nghị Quyết số 29TW – Khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam... cũng chỉ rõ: “phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học...tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực” 3, tr.6. Đối với học viên ở trường đại học nói chung và học viên các trường CAND nói riêng, học tập là một dạng hoạt động cơ bản mà thông qua nó người học viên nắm vững kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành về nghề, có khả năng phát hiện và giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành đào tạo, tuy nhiên, quá trình đó diễn ra rất khó khăn, phức tạp dễ nảy sinh tư tưởng ngại học, ngại rèn và tâm lý bi quan, chán nản.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHÓ KHĂN TÂM LÝ

TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC VIÊN TRƯỜNG TRUNG CẤP CẢNH SÁT VŨ TRANG 14

1.2 Đặc điểm hoạt động học tập của học viên Trường

1.3 Biểu hiện khó khăn tâm lý trong hoạt động học của học

viên Trường Trung cấp Cảnh sát Vũ trang 30

Chương 2 THỰC TRẠNG KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG HOẠT

ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC VIÊN TRƯỜNG TRUNG

2.2 Phân tích kết quả nghiên cứu thực trạng khó khăn tâm lý

trong hoạt động học tập của học viên Trường Trung cấp

2.3 Nguyên nhân hạn chế thực trạng khó khăn tâm lý của học

viên trong hoạt động học tập ở Trường Trung cấp Cảnh

Chương 3 BIỆN PHÁP TÂM LÝ – SƯ PHẠM PHÒNG CHỐNG

KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC VIÊN TRƯỜNG TRUNG CẤP CẢNH

3.1 Tăng cường định hướng, giáo dục, xây dựng động

cơ, mục đích học tập đúng đắn và bồi dưỡng cáchthức tiến hành các hoạt động học tập cho học viên 613.2 Lựa chọn nội dung, phương pháp dạy học phù hợp với đối

tượng, tạo hứng thú cho học viên trong quá trình học tập 653.3 Tính cực hóa hoạt động của đội ngũ giảng viên và

cán bộ quản lý học viên nhăm khắc phục trở ngại,khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên 703.4 Phát huy vai trò tự giác của học viên trong tự bồi

Trang 2

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Sự nghiệp xây dựng công an nhân dân theo hướng: cách mạng, chính qui,tinh nhuệ, từng bước hiện đại, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở đặt ra yêu cầukhách quan phải nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo đội ngũ cán bộ CANDtrong các học viện, nhà trường công an Chất lượng giáo dục - đào tạo phụ thuộcvào nhiều yếu tố như: nội dung, chương trình, phương pháp dạy, phương pháphọc, chất lượng đội ngũ giáo viên, học viên, cán bộ làm công tác quản lý, cơ sởvật chất bảo đảm của quá trình giáo dục - đào tạo… Trong đó, nhân tố đóng vaitrò quan trọng quyết định thuộc về người học Người học cần chủ động, sángtạo, biến hoá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, từ chủ thể tiếp nhận tri thứcsang chủ thể tìm kiếm tri thức Nghị Quyết số 29/TW – Khóa XI về đổi mới căn

bản, toàn diện giáo dục Việt Nam cũng chỉ rõ: “phát huy tính tích cực, chủ

động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật

và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực” [3, tr.6] Đối với học viên ở

trường đại học nói chung và học viên các trường CAND nói riêng, học tập làmột dạng hoạt động cơ bản mà thông qua nó người học viên nắm vững kiến thứcchuyên môn và kỹ năng thực hành về nghề, có khả năng phát hiện và giải quyếtnhững vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành đào tạo, tuy nhiên, quá trình đódiễn ra rất khó khăn, phức tạp dễ nảy sinh tư tưởng ngại học, ngại rèn và tâm lý

bi quan, chán nản

Trường TCCSVT là một trong những trường trọng điểm trong khối cáctrường Trung cấp CAND, với đặc thù chuyên ngành đào tạo là trường duynhất trong khối các trường CAND đào tạo chính quy học viên Cảnh sát đặcnhiệm, Cảnh sát cơ động, Cảnh sát bảo vệ, Huấn luyện viên quân sự, Huấnluyện viên Võ thuật trong BCA Học viên ra trường thường đảm nhiệm nhữngcông việc có tính chất nguy hiểm cao như: Thực hiện phương án tác chiếnchống hoạt động phá hoại an ninh, bạo loạn vũ trang, khủng bố, bắt cóc con

Trang 3

tin; trấn áp tội phạm có sử dụng vũ khí; giải tán các vụ gây rối, biểu tình tráipháp luật Tổ chức tuần tra, kiểm soát, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về

an ninh, trật tự, an toàn xã hội; tiến hành một số hoạt động điều tra theo quyđịnh của pháp luật Vì vậy, đặt ra yêu cầu rất cao học viên trong quá trình họctập rèn luyện tại trường

Thực tế cho thấy, học viên các trường CAND nói chung, học viênTrường TCCSVT nói riêng phần lớn là chiến sỹ nghĩa vụ, học sinh phổ thông

và cán bộ các đơn vị cử đi học, học viên đều ở giai đoạn chuyển tiếp từmôi trường học tập ở phổ thông hay huấn luyện sang học tập ở bâc họccao hơn nên với sự khác biệt về khối lượng, nội dung, phương pháp, hìnhthức, môi trường học tập Hầu hết, học viên ở Trường TCCSVT đềuxuất thân từ nhiều vùng miền khác nhau, hoàn cảnh, điều kiện kinh tế,môi trường sống khác biệt so với điều kiện học tập tại trường Chính sựkhác biệt đó đã gây không ít khó khăn tâm lý khiến học viên rất dễ chánnản, ngại học tập, rèn luyện hoặc không theo kịp, không đáp ứng đượcyêu cầu học tập Ngoài ra, do đặc thù trường trung cấp thời gian đào tạochỉ trong hai năm nên học viên trong quá trình học tập tại trường sẽ phảitham gia học tập với cường độ, mật độ rất cao Do đó, không tránh khỏigây ra cho học viên không ít khó khăn trong quá trình học tập Về mặt lýluận, chưa có công trình nào nghiên cứu về KKTL trong HĐHT của họcviên ở TCCSVT Vì vậy việc tìm hiểu rõ nguyên nhân gây nên khó khăntâm lý trong HĐHT của học viên, đồng thời giúp học viên tự tìm ra chobản thân cách thức học tập hợp lý, ý thức đầy đủ về KKTL sẽ gặp phảitrong hoạt động học tập là việc làm rất cần thiết nhằm góp phần nângcao kết quả học tập ở của học viên

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành lựa chọn và nghiên

cứu đề tài: “Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên Trường Trung cấp Cảnh sát Vũ trang”.

Trang 4

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Trong lịch sử nghiên cứu tâm lý, vấn đề KKTL nói chung, khó khăntâm lý trong HĐHT nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu tâm lý xem xétdưới nhiều góc độ, nhiều khách thể khác nhau Sau đây là vài nét sơ lược một

số công trình nghiên cứu về KKTL trong HĐHT trong và ngoài nước

2.1 Tình hình nghiên cứu khó khăn tâm lý trên thế giới

* Hướng nghiên cứu khó khăn tâm lý trong hoạt động sư phạm

Trong hướng nghiên cứu này, chủ yếu các tác giả tập trung nghiên cứuKKTL trong rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho học viên, tiêu biểu có một sốtác giả sau:

Trong cuốn “Chuẩn bị cho học viên làm công tác giáo dục ở trườngphổ thông”, Bônđưrev.N.I đã nhấn mạnh vai trò của kỹ năng sư phạm đối vớinghề thầy giáo và khẳng định những kỹ năng đó chỉ được hình thành và củng

cố trong hoạt động thực tiễn Theo ông, những yêu cầu về chuyên môn củangười thầy giáo tất nhiên không phải chỉ có những kiến thức phong phú màcần phải có những kỹ năng cần thiết để tổ chức và thực hành công tác giáodục Vấn đề không phải chỉ ở chỗ tiếp thu kiến thức về Tâm lý học và Giáo

dục học mà còn là ở việc vận dụng nó vào thực tế, và đây là khó khăn lớn

nhất đối với học viên Vì vậy, giai đoạn học ở trường sư phạm có ý nghĩa to

lớn đối với việc hình thành kỹ năng sư phạm cho học viên [5]

Ph.N.Gônôbôlin trong cuốn “Những phẩm chất tâm lý của người giáoviên”, đã phân tích hoạt động sư phạm ở hai lĩnh vực: dạy học và giáo dục.Trong đó, ông đã phân tích cụ thể công tác dạy học và công tác giáo dục,người giáo viên cần phải có những phẩm chất tâm lý nào và chúng ta có thểcăn cứ vào những phẩm chất tâm lý đó để đề ra yêu cầu cho học viên cáctrường sư phạm rèn luyện theo định hướng đó Quá trình đó, học viên phảivượt qua rất nhiều những khó khăn, trở ngại trong đó quan trọng nhất là

những khó khăn từ phía chủ thể (khó khăn tâm lý) [13, tr.63].

Trang 5

Trong các công trình nghiên cứu về kỹ năng hoạt động sư phạm củamình, X.I Kixêgov đã phân tích sâu về kỹ năng Trong khi tiến hành thựcnghiệm hình thành kỹ năng sư phạm cho học viên, ông cho rằng: kỹ nănghoạt động sư phạm có đối tượng là con người Hoạt động này rất phức tạp,đòi hỏi sự sáng tạo, không thể theo một khuôn mẫu cứng nhắc Kỹ nănghoạt động sư phạm một mặt đòi hỏi tính nguyên tắc, mặt khác đòi hỏi tínhlinh hoạt mềm dẻo ở mức độ cao Việc hình thành kỹ năng này đòi hỏi sự

nỗ lực rất lớn của mỗi học viên để vượt qua những khó khăn tâm lý củachính chủ thể [24, tr.35]

* Hướng nghiên cứu khó khăn tâm lý trong giao tiếp

Vấn đề khó khăn tâm lý trong giao tiếp cũng được một số nhà tâm lýhọc nước ngoài quan tâm nghiên cứu, tiêu biểu:

Tác giả G.M.Anđrêva, khi phân tích chức năng thông tin của giao tiếp

đã chỉ ra nguyên nhân làm nảy sinh các khó khăn tâm lý trong quá trình giaotiếp Đó là sự khác biệt về tôn giáo, ngôn ngữ, nghề nghiệp, thiếu đồng nhấttrong nhận thức tình huống giao tiếp giữa các thành viên tham gia giao tiếphoặc do đặc điểm tâm lý cá nhân Như vậy, trong công trình nghiên cứu nàytác giả đã chỉ rõ và lý giải khá thuyết phục những nguyên nhân làm nảy sinhcác khó khăn tâm lý trong quá trình giao tiếp [dẫn theo 33, tr.18]

Hai tác giả H.Hipsơ và M.Phorvec, trong khi lý giải chức năng của giaotiếp đã nêu ra các yếu tố gây khó khăn giao tiếp đó là: người phát tin không cókhái niệm chính xác về người cùng giao tiếp; người phát tin che dấu lý do thôngtin hoặc những lý do đó không rõ đối với bản thân người phát tin; do sự khácnhau của hoàn cảnh, lập trường, văn hoá; do khoảng cách quá lớn [18, tr.37]

Năm 1985, E.V.Sucanova đã dánh dấu mốc quan trọng cho việc nghiêncứu vấn đề khó khăn tâm lý trong giao tiếp bằng việc xuất bản cuốn sách

“Những khó khăn của giao tiếp liên nhân cách” Trong công trình nghiên cứunày, tác giả đã phát hiện một số khó khăn trong giao tiếp và nguyên nhân nảy

Trang 6

sinh chúng Song tác giả chưa đưa ra được định nghĩa về khó khăn tâm lýtrong giao tiếp và chưa phân loại chúng một cách cụ thể [31].

Năm 1987, tác giả V.A.Cancalic khi nghiên cứu giao tiếp sư phạmcủa giáo viên đã nêu ra một số trở ngại tâm lý trong giao tiếp của học viên

sư phạm đó là: không biết cách dàn xếp tổ chức một cuộc tiếp xúc; khônghiểu đặc điểm của đối tượng giao tiếp; thụ động trong giao tiếp; có tâmtrạng lo lắng, sợ hãi; lúng túng khi điều khiển trạng thái tâm lý của bảnthân khi giao tiếp; không biết cách xây dựng mối quan hệ qua lại và đổimới quan hệ đó theo nhiệm vụ sư phạm; bắt chước máy móc cách ứng xửcủa giáo viên khác [6, tr.81]

Như vậy, vấn đề khó khăn trong giao tiếp đã có một số tác giả quantâm nghiên cứu, đã phát hiện được một khó khăn tâm lý trong giao tiếp,nguyên nhân làm nảy sinh những khó khăn tâm lý đó Tuy nhiên, các tácgiả này chưa đi sâu nghiên cứu khái niệm và bản chất của khó khăn tâm lýtrong giao tiếp

* Hướng nghiên cứu khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập

Khi bàn về khó khăn tâm lí trong học tập, tác giả A.V.Petrovxki hướngđến nghiên cứu khó khăn tâm lý của trẻ em khi vào lớp một Ông chia nhữngkhó khăn này ra làm ba loại:

Loại 1: Những khó khăn có liên quan đến đặc điểm của chế độ học tập mới.Loại 2: Khó khăn trong việc thiết lập mối quan hệ giao tiếp mới vớithầy cô và bạn bè

Loại 3: Khó khăn trong việc thích nghi với hoạt động mới Lúc đầu trẻđược sự chuẩn bị của gia đình, nhà trường, xã hội nên có tâm lý vui thích và sẵnsàng đi học Về sau trẻ giảm dần khát vọng và chán học [dẫn theo 15, tr.44]

Bên cạnh đó, tác giả đề cập những nguyên nhân dẫn đến khó khăn vàảnh hưởng của chúng đến đời sống của trẻ đồng thời đề xuất biện pháp giảiquyết khó khăn cho trẻ

Trang 7

Cũng đề cập đến vấn đề khó khăn tâm lý của trẻ em khi vào lớp một,nhà tâm lý học Mauricè Debesse trong công trình nghiên cứu của mình đãgọi lớp một là "trang sử mới của cuộc đời đứa trẻ" Đồng thời MauricèDebesse cũng chỉ ra rằng, đứng trước ngưỡng cửa lớp một trẻ em gặp rấtnhiều khó khăn tâm lý Chính những khó khăn này làm cản trở tới sự thíchứng với hoạt động học tập của trẻ, làm trẻ sợ học, không muốn đến trường

và kết quả học tập không cao [dẫn theo 15, tr.31]

Như vậy, trong những công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã

có những đóng góp nhất định trong việc phát hiện và nêu ra một số KKTL,đồng thời chỉ ra nguyên nhân của những KKTL đó Tuy nhiên, đối tượng màcác công trình nghiên cứu này hướng tới chủ yếu là những KKTL của trẻ vàolớp một, đồng thời họ cũng chưa nêu được định nghĩa cũng như vạch ra bảnchất của những KKTL đó

Tóm lại, vấn đề KKTL đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứunhưng chủ yếu tập trung vào nghiên cứu KKTL trong rèn luyện nghiệp vụ sưphạm, KKTL trong giao tiếp Trong khi đó, vấn đề khó khăn tâm lý trong họctập của học viên CAND còn ít được quan tâm nghiên cứu Vì vậy, đây là vấn

đề còn rất mới đòi hỏi các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu nhiều hơn vàtoàn diện hơn

2.1 Tình hình nghiên cứu khó khăn tâm lý ở Việt Nam

* Nghiên cứu khó khăn tâm lý trong hoạt động sư phạm

Những nghiên cứu KKTL trong hoạt động sư phạm ở nước ta hiện naycòn khá ít, chủ yếu tập trung vào khó khăn tâm lý trong giải quyết tình huống

sư phạm và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm Có thể kể đến một số công trìnhtiêu biểu sau:

Tác giả Nguyễn Đình Tư trong bài “Những yếu tố ảnh hưởng đến chấtlượng hoạt động nghiệp vụ sư phạm trong quy trình đào tạo ở trường Đại học

Trang 8

sư phạm Huế” đã chỉ ra 4 yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động nghiệp

vụ sư phạm là: nhận thức của học viên; động cơ học tập chưa đúng, chưa toàndiện; hoạt động nghiệp vụ chưa phù hợp với phổ thông; giáo viên chưa coitrọng các giờ thực hành [36]

Tác giả Lê Sỹ Khôi trong luận văn thạc sĩ: “Nghiên cứu một số trở ngạitâm lý trong xử lý tình huống sư phạm của học viên trường Cao đẳng Sưphạm Thái Bình” đã phát hiện ra những trở ngại tâm lý trong xử lý tình huống

sư phạm của học viên, nguyên nhân của những trở ngại đó và đã tiến hành thửnghiệm biện pháp tác động nhằm hạn chế những trở ngại này trong hoạt độngrèn luyện kỹ năng xử lý tình huống sư phạm của học viên [23]

Tác giả Lê Thị Thủy trong luận văn thạc sĩ: “Một số khó khăn tâm lýtrong hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của học viên trường Đại học Sưphạm Hà Nội” đã chỉ ra những khó khăn tâm lý của học viên trong rèn luyệnnghiệp vụ sư phạm, xác định những nguyên nhân và khảo sát thực trạng củanhững khó khăn đó, đồng thời tiến hành thử nghiệm biện pháp tác động nhằmkhắc phục những khó khăn tâm lý này trong hoạt động rèn luyện kỹ năng sưphạm của học viên [32]

Tác giả Lưu Trung Tình trong luận văn thạc sĩ: “Khó khăn tâm lý củagiảng viên trong đổi mới phương pháp dạy học ở Trường Sĩ quan Chính trịhiện nay” [35] đã chỉ ra những khó khăn tâm lý của giáo viên trong đổi mớiphương pháp dạy học, xác định rõ nguyên nhân và tiến hành khảo sát thựctrạng đó, đồng thời đưa ra các biện pháp tâm lý xã hội nhằm khắc phục nhữngkhó khăn này của giáo viên

* Nghiên cứu khó khăn tâm lý trong giao tiếp

Trong cuốn “Vấn đề giao tiếp”, tác giả Nguyễn Văn Lê dưới góc độthông tin đã đưa ra những yếu tố tâm lý gây trở ngại trong giao tiếp, đó là:những chấn thương tình cảm, sự khác nhau về chính kiến, những xung đột,

Trang 9

những tưởng tượng, sự đánh giá về người khác, những định kiến, sự thiệncảm hay ác cảm [26, tr.73]

Tác giả Huyền Phan với bài viết: “Những trở ngại tâm lý trong giaotiếp” đã cho thấy, nhiều khi giao tiếp không đạt mục đích vì bị các trở ngạitâm lý ngăn cản Vì vậy muốn giao tiếp đạt mục đích cần vượt qua các trởngại tâm lý, đó là: bức tường thành kiến do có ác cảm với một người nào đó,

do cái nhìn thiên lệch đã tạo ra ấn tượng không tốt đẹp khi giao tiếp; bứctường ác cảm nảy sinh khi có định kiến với đối tượng do có định kiến sai lệch

về đối tượng; bức tường sợ hãi xuất hiện do những suy nghĩ, băn khoăn dẫnđến tiếp xúc gượng ép, thiếu tự tin [28]

Năm 2003, tác giả Đới Thị Thu Thuỷ nghiên cứu về một số khó khăntâm lý trong giao tiếp với giáo viên của học viên người dân tộc Lào Cai Tácgiả cho rằng có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến mức độ khó khăn tâm lýcủa học viên dân tộc khi giao tiếp với giáo viên nhưng nguyên nhân chính là

do các em mặc cảm, tự ti về hoàn cảnh xuất thân [33, tr.41]

Điểm lại các công trình nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong giao tiếp

ở Việt Nam cho thấy: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về khó khăn tâm lýtrong giao tiếp đã được nghiên cứu và đạt được nhiều thành tựu quan trọngnhư: phát hiện ra những khó khăn tâm lý trong giao tiếp ở một số lĩnh vựchoạt động, xác định được nguyên nhân đồng thời bước đầu hình thành đượckhái niệm khó khăn tâm lý cũng như việc phân loại chúng

* Nghiên cứu khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập

Trong tác phẩm "Nỗi khổ của con em chúng ta", bác sỹ Nguyễn KhắcViện đã nêu ra những khó khăn tâm lý mà học sinh lớp một gặp phải đó là: trẻphải giữ kỷ luật lớp học; trẻ phải học một chương trình nặng hơn so với tuổimẫu giáo; trẻ ít được bố mẹ vỗ về âu yếm hơn trước và trẻ luôn chịu sự kiểmtra, đánh giá của bố mẹ [44, tr.87]

Trang 10

Nhà giáo dục Nguyễn Thị Nhất trong tác phẩm "6 tuổi vào lớp 1" đãphát hiện ra nhiều khó khăn tâm lý mà trẻ lớp một phải vượt qua Tác giả chorằng "trong quá trình lớn lên của trẻ em có những bước ngoặt chuyển tư giaiđoạn này sang giai đoạn khác đòi hỏi trẻ em phải thay đổi phương thức sinhhoạt một cách triệt để" Đồng thời tác giả cũng nêu ra một số khó khăn tâm lý

cụ thể mà trẻ lớp một phải vượt qua: phải rời bỏ cuộc sống thoải mái, đa dạng,vui nhộn, hoạt động tùy hứng ở mẫu giáo và khép mình vào kỷ luật nghiêm khắccủa lớp học; gặp khó khăn trong quan hệ với giáo viên; bị "vỡ mộng" khi vàohọc lớp một vì sự hân hoan hồi hộp chờ đón những điều hấp dẫn được thaybằng những điều khác xa với tưởng tượng của trẻ [22, tr.49]

Tác giả Nguyễn Xuân Thức, trong bài viết "Các nguyên nhân dẫn đếnkhó khăn tâm lý của học sinh đi học lớp một" đã nêu ra các nguyên nhân gây

ra khó khăn tâm lý cho trẻ Tác giả cho rằng, các nguyên nhân chủ quan lànhững nguyên nhân chủ yếu gây ra khó khăn tâm lý nhiều hơn cho học sinhlớp một Ngoài ra tác giả cũng đưa ra một số giải pháp sư phạm để tháo gỡnhững khó khăn tâm lý cho trẻ [33]

Những năm gần đây có một số luận văn thạc sỹ đã quan tâm nghiêncứu về khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh, học viên như:

Năm 2001, luận văn thạc sỹ "Tìm hiểu những khó khăn tâm lý trongquá trình giải bài tập hình học của học sinh lớp 11 trung học phổ thông" củatác giả Nguyễn Thị Nhân Ái

Năm 2002, tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền với đề tài "Thực trạng khókhăn tâm lý trong quá trình giải bài tập thực hành các thao tác kỹ thuật củahọc viên trường CĐSP Kỹ Thuật Vinh"

Năm 2006, tác giả Vũ Văn Tuyên với luận văn thạc sĩ: “Khó khăn tâm lýtrong học tập môn tâm lý học của học viên trường Đại học Sư Phạm Hà Nội”

Như vậy, khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập đã được nhiều tácgiả trong nước quan tâm nghiên cứu Các công trình nghiên cứu đã xây dựng

Trang 11

được cơ sở lý luận về KKTL trong học tập và đưa ra những dữ kiện thực tiễngắn với mỗi loại khách thể khác nhau Tuy nhiên, vấn đề bản chất và nhữngnội dung biểu hiện cụ thể của khó khăn tâm lý trong học tập cũng chưa thực

sự được làm rõ

Tóm lại, vấn đề khó khăn tâm lý đã được các tác giả trong nước quantâm nghiên cứu và đạt được những thành tựu có ý nghĩa cả về lý luận vàthực tiễn, Tuy nhiên, khách thể nghiên cứu trên chủ yếu là học sinh mà chưachú ý đến học viên nhất là học viên các trường CAND với những đặc thùriêng về hoạt động nghề nghiệp và học tập Những kết quả nghiên cứu trên

là cơ sở để chúng tôi kế thừa, triển khai luận văn này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về khó khăn tâm lý trong hoạt động họctập của học viên Trường TCCSVT, từ đó đề xuất biện pháp Tâm lý – sư phạmkhắc phục những KKTL trong HĐHT của học viên Trường TCCSVT

* Nhiệm vụ nghiên cứu

Phân tích cơ sở lý luận về KKTL trong HĐHT của học viên Trường TCCSVT.Khảo sát, đánh giá thực trạng KKTL trong HĐHT của học viên TrườngTCCSVT

Đề xuất biện pháp khắc phục những KKTL trong HĐHT của học viênTrường TCCSVT

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Khó khăn tâm lý trong HĐHT của học viên.

* Khách thể nghiên cứu: cán bộ, giáo viên, học viên Trường TCCSVT

* Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tiến hành nghiên cứu KKTL trong HĐHT

của học viên năm thứ nhất Trường TCCSVT, thời gian từ năm 2012 đến nay

5 Giả thuyết khoa học

Đa số học viên năm thứ nhất ở trường TCCSVT đều gặp những KKTLtrong HĐHT Nếu phân tích rõ các đặc điểm HĐHT của học viên Trường

Trang 12

TCCSVT, xác định chính xác các biểu hiện KKTL trong HĐHT, tiến hànhđồng bộ, phù hợp các biện tâm lý – sư phạm thì sẽ khắc phục được nhữngkhó khăn trong HĐHT của học viên Trường TCCSVT.

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở phương pháp luận: Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận

và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,đường lối, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về giáo dục – đào tạo độingũ Công an trong tương lai, các chỉ thị, nghị quyết của Đảng ủy Công anTrung ương, Tổng cục III, Trường TCCSVT về giáo dục – đào tạo…cácnguyên tắc phương pháp luận của Tâm lý học Mác xít đặc biệt là nguyên tắcquyết định luận duy vật các hiện tượng tâm lý, nguyên tắc thống nhất giữatâm lý - ý thức và hoạt động…Đồng thời, dựa trên kết quả nghiên cứu của cácnhà Tâm lý học trong và ngoài nước

* Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng tổng hợp các phương

pháp nghiên cứu của tâm lý học Mác- xit làm rõ cơ sở lý luận của đề tài trong

đó tập trung vào một số phương pháp chủ yếu sau: phương pháp nghiên cứu

lý luận; phương pháp điều tra viết; phương pháp quan sát; phương phápphỏng vấn; phương pháp phân tích kết quả hoạt động; phương pháp chuyêngia; phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

7 Ý nghĩa của đề tài

Góp phần làm sang tỏ vấn đề lý luận và thực tiễn về KKTL trongHĐHT của học viên trường TCCSVT hiện nay, đồng thời đề ra những biệnpháp tâm lý – sư phạm cơ bản khắc phục KKTL trong HĐHT cho học viên,giúp các học viên học tập hiệu quả hơn

8 Kết cấu của đề tài

Luận văn bao gồm: mở đầu; 3 chương; 10 tiết; kết luận; kiến nghị;danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 13

Trong Từ điển Anh – Việt: từ “difficulty” được dùng chỉ sự khó khăn,

sự gay go, sự khắc nghiệt đòi hỏi nhiều nỗ lực để khắc phục [45, tr.176]

Từ điển Pháp – Việt: “difficulté” chỉ sự khó khăn, sự việc gây trởngại [46, tr 206]

Như vậy, từ các quan niệm trên cho phép chúng ta hiểu: khó khăn là

những cản trở, những trở ngại đòi hỏi nhiều nỗ lực để vượt qua.

* Khó khăn tâm lý

Trong các công trình nghiên cứu tâm lý học, vấn đề “khó khăn tâm lý”

đã được đề cập Nội dung của khái niệm này tương đương với khái niệm

“hàng rào tâm lý”, “trở ngại tâm lý”

Trong “Từ điển Tâm lý học”, tác giả Vũ Dũng cho rằng: “Hàng rào tâm

lý là trạng thái tâm lý thể hiện ở tính thụ động quá mức của chủ thể, gây cảntrở trong việc thực hiện hành động Cơ chế tình cảm của hàng rào tâm lý là sựgia tăng những mặc cảm và tâm lý tiêu cực: hổ thẹn, cảm giác tội lỗi, sợ hãi,

lo lắng, tự đánh giá thấp mình…” [7, tr.89]

Tác giả V.Ph Parưgin cho rằng: hàng rào tâm lý - đó là chướng ngại có tínhchất tâm lý cản trở quá trình thích ứng của cá nhân đối với các yếu tố mới của ngoạicảnh do các đặc điểm của hoàn cảnh hoặc đặc điểm cá nhân [Dẫn theo 4, tr.36]

Trang 14

Tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình trong luận án tiễn sĩ: “Nghiên cứu một

số trở ngại tâm lý trong giao tiếp của học viên với học sinh khi thực tập tốtnghiệp” đã đưa ra khái niệm: “Trở ngại tâm lý trong giao tiếp là toàn bộnhững đặc điểm tâm lý cá nhân và kiểu hành vi ứng xử không phù hợp với nộidung, đối tượng và hoàn cảnh giao tiếp” [4, tr 43]

Như vậy, quan niệm về KKTL được nhiều tác giả đưa ra dưới các góc

độ khác nhau, nhưng nhìn chung đều thống nhất cho rằng, KKTL được xem

là toàn bộ nét tâm lý của cá nhân (nảy sinh ở chủ thể trong quá trình hoạtđộng với hoàn cảnh xác định) ít phù hợp với những yêu cầu, đặc trưng củahoạt động đó, gây trở ngại cho tiến trình và kết quả hoạt động

Trên cơ sở nghiên cứu các quan niệm khác nhau về KKTL,chúng tôi cho rằng: Khó khăn tâm lý là toàn bộ những nét tâm lý của cá nhân, nẩy sinh ở chủ thể trong quá trình hoạt động, không phù hợp (gây cản trở) với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, làm ảnh hưởng xấu tới tiến trình và kết quả của hoạt động đó

KKTL là một hiện tượng tâm lý cá nhân phổ biến, cá nhân khi tham giavào bất kỳ hoạt động nào cũng gặp những KKTL nhất định, làm cho hoạtđộng đó bị chệch hướng với mục đích đã đề ra từ trước, ảnh hưởng xấu đếnkết quả hoạt động Tính đa dạng của KKTL phụ thuộc vào mức độ phù hợpgiữa đặc điểm nhân cách với yêu cầu, đặc điểm và điều kiện của hoạt động.KKTL mang tính chủ thể rõ nét Trước một hoạt động cụ thể cá nhân gặp íthay nhiều KKTL phụ thuộc vào tâm thế, kinh nghiệm, nhận thức, tình cảm, ýchí, động cơ, thái độ…của mỗi người KKTL cũng như bất kỳ hiện tượng tâm

lý nào đều có nguồn gốc từ thế giới khách quan (yếu tố bên ngoài), con người

có thể nhận thức, kiểm soát và điều khiển được nó nhằm hạn chế ảnh hưởngtiêu cực của nó tới hoạt động của con người

Trang 15

1.1.2 Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên Trường Trung cấp Cảnh sát Vũ trang

* Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập

Hoạt động học

Khái niệm học được áp dụng lần đầu tiên trong các công trình nghiêncứu TLH động vật của E.L Thorndike Học cho phép thu được bất cứ loạikinh nghiệm nào (TT, KN và KX ở người hay các hình thức hành vi mới ởđộng vật) Nó là quá trình liên kết kích thích và phản ứng với nhau theonguyên tắc may rủi, luyện tập và củng cố là hai khâu quan trọng nhất đểđảm bảo chất lượng của quá trình học Đây là hoạt động có mục đích tựgiác, có ý thức về động cơ và trong đó diễn ra các quá trình nhận thức,nhất là quá trình tư duy, được thực hiện theo phương thức nhà trường, dongười học thực hiện dưới sự hướng dẫn của người lớn (giáo viên) nhằmlĩnh hội những tri thức, khái niệm khoa học và hình thành những KN, KXtương ứng, làm phát triển trí tuệ và năng lực con người để giải quyết cácnhiệm vụ do cuộc sống đặt ra

HĐH là một trong những hoạt động cơ bản của con người, đây là quátrình nhận thức độc đáo của người học, giúp họ phát triển nhân cách toàn diện

để thích ứng nhanh chóng với sự biến đổi phức tạp của cuộc sống Đặc trưngcủa HĐH thể hiện: Mục đích của HĐH là chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội -lịch sử của loài người, biến thành cái riêng của mình nhằm hình thành tâm lý

và các phẩm chất nhân cách; HĐH được điều khiển một cách có ý thức nhằmtiếp thu những TT, KN và KX; HĐH hưướng vào làm thay đổi chính bản thânngười học, nâng trình độ phát triển nhận thức nói riêng và tâm lý nói chungthông qua quá trình tiếp thu TT; HĐH không chỉ tiếp thu những TT, KN và

KX mới mà còn hưướng vào tiếp thu những TT của chính bản thân HĐH phương pháp học tập

Trang 16

-HĐH có cấu trúc tâm lý như các hoạt động khác của con người, trong

đó động cơ học tập - nhận thức, nhiệm vụ học tập và các hành động học tập là

ba thành tố có vai trò quan trọng

+ Động cơ học tập - nhận thức: HĐH được kích thích bởi những động

cơ gắn liền với nội dung học tập, nắm vững các TT, KN và KX Đây là động

cơ tự hoàn thiện và tự phát triển chính mình Những động cơ này rất đa dạng,phong phú và phân chia thành các thứ bậc khác nhau

+ Nhiệm vụ học tập: Là mục đích đặt ra trưước khi người học tiến hànhHĐH, tồn tại dưới dạng các tình huống học tập có vấn đề như: hệ thống bàitập và câu hỏi Việc giải quyết các nhiệm vụ học tập làm cho người họcchiếm lĩnh TT, KN và KX cần thiết để hình thành nhân cách theo mục tiêuđào tạo Vì vậy, nhiệm vụ học tập khác với các nhiệm vụ của hoạt động khác

là ở chỗ: mục đích và kết quả của nó là sự thay đổi của bản thân người họcchứ không làm thay đổi đối tượng của HĐH

Người học chiếm lĩnh đối tượng của HĐH được diễn ra dưới hình thức

tổ chức cho họ thực hiện một hệ thống nhiệm vụ học tập Việc xây dựng cácnhiệm vụ học tập phải thiết kế thành một hệ thống có lô gíc khoa học và theochiều hướng phát triển Do đó, sự hình thành, hoàn thiện và phát triển tâm lý

ở người học là quá trình liên tục tạo ra những năng lực mới thông qua việcthực hiện các nhiệm vụ học tập

+ Các hành động học tập: Thông qua các hành động học tập, người họcgiải quyết đưược các tình huống học tập và liên hệ xem xét những vấn đềtrong thực tiễn cuộc sống Các hành động học tập chủ yếu là: hành động phângiải (tách) các vấn đề từ các nhiệm vụ học tập; hành động phát hiện cácphương pháp chung để giải quyết vấn đề trên cơ sở phân tích các mối quan hệcủa tài liệu học tập đang nghiên cứu; hành động mô hình hóa các mối quan hệchung của tài liệu học tập và phương pháp chung của việc giải quyết vấn đềđặt ra; hành động cụ thể hóa và làm phong phú bằng những biểu hiện riêng

Trang 17

của các mối quan hệ chung của tài liệu học tập và phương pháp chung củahành động; hành động kiểm tra tiến trình giải quyết bài tập và kết quả củaHĐH; hành động đánh giá tiến trình và kết quả hoạt động của học sinh, sinhviên trong sự tương ứng với nhiệm vụ đặt ra Các hành động cụ thể này cómối quan hệ biện chứng chặt chẽ và tác động chi phối lẫn nhau tạo nên hệthống hành động học tập.

Hoạt động học tập của sinh viên

HĐHT của sinh viên ở các trường đại học, cao đẳng nói chung là hoạtđộng do sinh viên thực hiện dưới sự hướng dẫn của giáo viên nhằm đào tạođội ngũ chuyên gia có nhân cách phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu của xãhội HĐHT của sinh viên mang đặc điểm của HĐHT nói chung và có nhữngđặc trưng riêng Đây là HĐHT của những người ở tuổi trưởng thành và đangđược đào tạo theo những nghề nghiệp nhất định Trong quá trình tiến hànhHĐHT của mình, sinh viên thường gặp nhiều KKTL, những KKTL này dobản thân cấu trúc tâm lý HĐHT quy định

Mục đích HĐHT của sinh viên là lĩnh hội hệ thống khái niệm khoa học;những TT, KN, KX và nghiệp vụ chuyên môn theo mục tiêu đào tạo HĐHTcủa sinh viên gắn liền với hoạt động nghiên cứu khoa học và không tách rờihoạt động nghề nghiệp của người chuyên gia tương lai Do đó, sinh viên phảinhanh chóng hình thành phương pháp học tập mới - tự giác, tích cực, độc lập

và sáng tạo cao Phương tiện học tập mang tính đặc trưng nghề nghiệp đào tạonhư: sách giáo khoa, giáo trình và tài liệu tham khảo, phòng thí nghiệmchuyên ngành và thiết bị kỹ thuật dạy học

HĐHT của sinh viên diễn ra có mục đích, nội dung chương trình, phươngpháp, hình thức tổ chức học tập và có một quỹ thời gian được xác định theotừng chuyên ngành đào tạo Nội dung chương trình học tập mang tính hệthống, cơ bản, thống nhất và chuyên sâu; có tính cập nhật những thành tựumới nhất của khoa học, kỹ thuật, công nghệ thuộc chuyên ngành đào tạo và

dự báo được xu hướng phát triển của nó

Trang 18

HĐHT của sinh viên diễn ra căng thẳng về trí tuệ và thể lực Họ phải lĩnhhội một khối lượng TT, KN và KX lớn thể hiện ở nội dung chương trình họctập, các kỳ kiểm tra và thi hết môn và cả khóa học trong điều kiện cơ sở vậtchất đào tạo, điều kiện sinh hoạt chưa được bảo đảm một cách đầy đủ, kịpthời và tốt nhất.

HĐHT của sinh viên mang tính độc lập trí tuệ cao, vừa có tính hoạt động trítuệ tập thể biểu hiện trong suốt quá trình tiến hành các hình thức tổ chức học tậpnhư: trao đổi, tọa đàm, hội nghị khoa học, xêmina và phụ thuộc vào động cơhọc học tập HĐHT của sinh viên được tiến hành dưới hai hình thức tổ chức cơbản là: HĐHT trên lớp và HĐHT ngoài lớp HĐHT trên lớp của sinh viên đượcquy định bởi kế hoạch và chương trình học tập Nó được cụ thể hóa bằng thờikhóa biểu, tiến hành ở giảng đường có trang bị những phương tiện, thiết bị họctập phù hợp với chuyên ngành đào tạo Các hình thức học tập trên lớp được tiếnhành dưới sự hướng dẫn của giáo viên HĐHT ngoài lớp của sinh viên bao gồmHĐHT ngoài lớp bắt buộc và HĐHT ngoài lớp không bắt buộc

Về cấu trúc HĐH của sinh viên, theo N.V Cudơmina: cấu trúc HĐHTcủa sinh viên gồm năm nhóm KN cơ bản là nhóm KN nhận thức, nhóm KNthiết kế, nhóm KN kết cấu, nhóm KN giao tiếp và nhóm KN tổ chức Trongmỗi nhóm KN này bao gồm các KN thành phần; giữa các nhóm KN, cũngnhư các KN thành phần trong mỗi nhóm KN có quan hệ chặt chẽ, tác độngqua lại lẫn nhau trong tiến trình thực hiện HĐH của sinh viên Cấu trúc HĐHcủa sinh viên mà N.V Cudơmina đưa ra là tương đối toàn diện, đầy đủ, cụ thể

và được nhiều nhà TLH thừa nhận [dẫn theo 33; tr.23]

Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập

HĐHT là hoạt động chủ đạo của sinh viên Nó là một loại hoạt độngnhận thức, là loại lao động trí óc căng thẳng có cường độ cao Đây là hoạtđộng đặc thù của con người giúp con người hình thành và phát triển tâm lý,nhân cách Do vậy trong quá trình tham gia vào HĐHT, khi gặp những khó

Trang 19

khăn, đặc biệt là những khó khăn về mặt tâm lý, người học phải tích cực, chủđộng huy động tối đa những phẩm chất và năng lực của cá nhân để khắc phụcnhằm đạt hiệu quả cao trong HĐHT của mình.

Thực tế đã chứng minh, người học dù ở lứa tuổi nào khi tham gia vàoHĐHT đều gặp phải những trở ngại, khó khăn Đặc biệt đối với những ngườikhi chuyển đổi cấp học, phải làm quen với môi trường học tập mới thì nhữngKKTL càng tăng lên gấp đôi Những KKTL này nếu không được phát hiện vàtháo gỡ kịp thời sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới HĐHT của cá nhân, làm cho cánhân rụt rè, tự ti và cứ thế họ sẽ bị xoáy sâu vào vòng luẩn quẩn của sự bế tắc.Điều này không những ảnh hưởng tới sự học tập mà còn ảnh hưởng tới sựphát triển nhân cách của người học

Từ những vấn đề trên, chúng tôi cho rằng: Khó khăn tâm lý trong hoạt

động học tập là những nét tâm lý cá nhân, nảy sinh ở người học, tồn tại trong hoạt động học tập và gây cản trở đến tiến trình và kết quả học tập của họ.

KKTL trong học tập của người học là tổ hợp các thuộc tính, các trạngthái, các đặc điểm nhân cách không phù hợp với yêu cầu HĐHT, làm cho quátrình này gặp khó khăn, làm cho chủ thể không phát huy được hết khả năng củamình dẫn đến kết quả hoạt động bị hạn chế Đó còn là trạng thái tâm lý cá nhânthể hiện tính thụ động của chủ thể khi gặp những tình huống, những điều kiệnlàm thay đổi, làm cản trở HĐHT và làm giảm hiệu quả hoạt động này Khó khăntâm lý khiến cho chủ thể thiếu thích ứng, thiếu linh hoạt trong quá trình hoạtđộng và trong việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ, khiến cho chủ thể không kịpthời huy động được những đặc điểm cá nhân cho phù hợp với yêu cầu, nội dung,đối tượng và hoàn cảnh hoạt động đổi mới phương pháp dạy học

* Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên Trường Trung

cấp Cảnh sát Vũ trang

HĐHT của học viên trường TCCSVT mang đặc điểm HĐHT của sinhviên đại học nói chung, vừa có nét đặc trưng riêng do mục tiêu, yêu cầu,

Trang 20

nhiệm vụ, tính chất giáo dục và đào tạo nghề nghiệp quy định HĐHT củahọc viên Trường TCCSVT nhằm mục đích chiếm lĩnh tri thức, hình thành

KN, KX theo từng chuyên ngành đào tạo để khi ra trường trở thành cán bộcông an có đủ phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu của ngành và xã hội

HĐHT là hoạt động chủ đạo của học viên Trường TCCSVT Thôngqua hoạt động học tập học viên tiếp thu được hệ thống TT khoa học và hìnhthành các KN, KX nghề nghiệp tương ứng Nhờ đó làm thay đổi hành vi vàhoạt động của họ trong cuộc sống và hoạt động Tuy nhiên, không phải lúcnào HĐHT của học viên cũng diễn ra suôn sẻ mà có khi gặp khó khăn, trì trệlàm ảnh hưởng xấu đến kết quả học tập Có hiện tượng này là do sự tác độngcủa các KKTL nảy sinh trong chính HĐHT

Trên thực tế, chúng tôi nhận thấy học viên Trường TCCSVT phần lớn

là chiến sỹ nghĩa vụ, học sinh phổ thông và cán bộ các đơn vị cử đi học, học viênđều ở giai đoạn chuyển tiếp từ môi trường học tập ở phổ thông sang học tập ởbâc học cao hơn nên với sự khác biệt về khối lượng, nội dung, phương pháp,hình thức, huấn luyện Đối tượng vào học tại trường đồng nhất về ý thức, phẩmchất chính trị nhưng lại khác nhau về trình độ nhận thức, chuyên môn; đặc biệt là

sự chênh lệch về độ tuổi của học viên trong cùng 1 khóa học Đa phần học viên

là nam giới, số lượng học viên là cán bộ được cử đi học và số công dân phục vụ

có thời hạn chiếm phần lớn so với số học viên là học sinh phổ thông Số học viênnày đã trải qua quá trình công tác thực tiễn ở các đơn vị địa phương và xa rờibàn ghế nhà trường trong một thời gian nhất định Đây cũng là một đặc điểm gây

ra khó khăn tâm lý trong học tập của học viên

Tính đa dạng về chuyên ngành đào tạo của học viên được biểu hiện rất

rõ ở nội dung, chương trình, kế hoạch học tập huấn luyện của nhà trường.Ngoài những nội dung môn học được trang bị kiến thức chung về lý luân cơbản như: Chính trị, Tâm lý, Tin học, Ngoại ngữ, Pháp luật và những môn vềnghiệp vụ cơ sở, võ thuật điều lệnh thì từng chuyên ngành cụ thể lại có nội

Trang 21

dung, chương trình kế hoạch riêng Ngoài giờ học trên lớp vào các buổi chiều

từ 3h - 5h trong tuần tất cả học viên đều phải tham gia tập ngoại khóa: điềulệnh, võ thuật, rèn luyện thể chất… Do lịch học tập, rèn luyện quá nhiều vìthế gây ra không ít những KKTL trong học tập của học viên Bên cạnh đó,hầu hết học viên ở Trường TCCSVT đều xuất thân từ nhiều vùng miền khácnhau, hoàn cảnh, điều kiện kinh tế, môi trường sống khác biệt so với điềukiện học tập tại trường Chính sự khác biệt đó đã gây không ít KKTL khiếnhọc viên rất dễ chán nản, bỏ bê học tập hoặc không theo kịp, không đáp ứngđược yêu cầu học tập Ngoài ra, do đặc thù trường trung cấp thời gian đào tạochỉ trong hai, ba năm nên học viên trong quá trình học tập tại trường sẽ phảitham gia học tập với cường độ, mật độ rất cao Với thời gian và lịch học tập,huấn luyện như vậy không tránh khỏi gây ra cho học viên không ít khó khăntrong quá trình học tập

Hơn nữa, những nội dung môn học thực hành tại trường chiếm hơn50% trong tổng số nội dung học tập Với mục tiêu, nhiệm vụ là tham mưu,đấu tranh ngăn chặn các loại tội phạm, chống biểu tình, chống bạo loạn…Tính chất công việc rất gay go, phức tạp thậm chí nguy hiểm đến tính mạngnên những nội dung thực hành tại trường có tính nguy hiểm cao đòi hỏi phải

có lòng dũng cảm, tính kỷ luật cao, bản lĩnh vững vàng trong luyện tập mới

có khả năng leo dây chiến thuật, rạn đòn trong đấu tập, không ngại nguy hiểmtrong các tình huống giả định về chống bạo loạn, đấu tranh với tội phạmkhủng bố,… Do tính chất nguy hiểm nên trong quá trình thực hành học viên

dễ nảy sinh tâm lý sợ độ cao, sợ nguy hiểm trong học tập

KKTL trong hoạt động học tập được biểu hiện là những nét tâm lý cánhân mang tính tiêu cực, nảy sinh và tồn tại trong HĐHT của học viên, làmquá trình học tập bị lệch hướng, bị cản trở dẫn tới kết quả học tập không cao

Từ cách tiếp cận trên, chúng tôi cho rằng: Khó khăn tâm lý trong học tập

của học viên Trường Trung cấp Cảnh sát Vũ trang là những nét tâm lý của cá

Trang 22

nhân, nẩy sinh ở học viên trong hoạt động học tập làm cản trở đến tiến trình

và kết quả học tập của họ.

KKTL là tất cả những yếu tố tâm lý hình thành ở học viên và trở thànhlực cản khiến cho hoạt động học tập kém chất lượng, hiệu quả Những yếu tốtâm lý này đã đã và đang hình thành ở học viên, gây trở ngại và làm giảm kếtquả của hoạt động hoạt động học tập

Nguồn gốc nảy sinh KKTL do tác động không thuận chiều của cácnhân tố khác nhau trong hoạt động học tập (cả nhân tố khách quan và chủquan) Các yếu tố khách quan như:

- Công tác giáo dục, quán triệt xác định thái độ, động cơ được tiến hànhchưa thực sự thường xuyên;

- Việc phát huy tính tích cực nhận thức, tính độc lập tự giác trong họctập của học viên chưa được quan tâm đúng mức;

- Công tác giáo dục, quán triệt về mục tiêu, nhiệm vụ học tập chưa tốt;

- Do tính chất, đặc thù học tập ở trường;

- Lượng tri thức tiếp thu - ở trường quá lớn, chủ yếu là nội dung thựchành; Do ít được hướng dẫn về PPHT;

- Do ảnh hưởng của cách học ở phổ thông;

- Do phương pháp giảng dạy của giáo viên;

- Cơ chế chính sách chưa phù hợp, chưa tạo được động lực thúc đẩyhọc viên vươn lên trong học tập;

- Điều kiện, cơ sở vật chất cho học tập chưa được bảo đảm tốt

Trang 23

- Do động cơ chọn nghề của học viên.

- Do bản thân chưa có PPHT hợp lý

- Do thiếu kinh nghiệm sống, hoạt động học tập một cách tích cực.KKTL trong HĐHT của học viên Trường TCCSVT có biểu hiện hếtsức phong phú, đa dạng và phức tạp, có sự đan xen giữa những yếu tố thuộc

về nhận thức, thái độ và hành vi của người học viên

Một trong những KKTL lớn nhất trong quá trình học tập của học viên

là họ phải tiếp cận với khối lượng kiến thức lớn, chỉ với thời gian ngắn là 2đến 3 năm, song song với nó họ phải hình thành được KN, KX nghề nghiệpvới tính chất chuyên sâu Mục đích, nhiệm vụ học tập đòi hỏi cao nhưng họthiếu kinh nghiệm học tập, họ thường áp dụng những PPHT của phổ thông,những phương pháp này không còn phù hợp với HĐHT ở Trường TCCSVT Thực tế cho thấy học viên trong quá trình học tập họ thường lấy sự cần cùchăm chỉ của mình để đổi lấy kết quả học tập cao, đôi khi xảy ra với cả nhữnghọc sinh khá giỏi cũng chưa biết cách lựa chọn PPHT khoa học

Những KKTL trong học tập của học viên không chỉ liên quan đến việchọc viên phải lĩnh hội lượng tri thức lớn mà chủ yếu còn liên quan đến cáchhọc, cách áp dụng các tri thức đã học vào thực tiễn một cách hiệu quả Bêncạnh đó một số KKTL khác làm ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng học tậpcủa học viên, đó là các vấn đề như: Môi trường học tập vất vả, căng thẳng,thường xuyên xa nhà, chịu sự quản lý chặt chẽ theo điều lệnh, điều lệ của Nhàtrường và của ngành Công an Tất cả chúng đều gây ra những KKTL làm ảnhhưởng trực tiếp đến kết quả học tập của họ Những khó khăn này đối với họcviên không hoàn toàn giống nhau, có những học viên nhanh chống dễ dàngvượt qua, một số những học viên khác lại tỏ ra lúng túng, không lựa chọnđược phương pháp, cách thức học tập hợp lý Từ đó, dẫn đến việc học viên rất

dẽ chán nản, bỏ bê nhiệm vụ học tập Vấn đề này, thực sự nguy hại đến sựhoàn thiện nhân cách của học viên Việc tìm ra biện pháp khắc phục những

Trang 24

KKTL trong HĐHT của học viên, đồng thời giúp học viên tự tìm ra cho bảnthân cách thức học tập hợp lý, ý thức đầy đủ về KKTL sẽ gặp phải trong hoạtđộng học tập là việc làm cần thiết nhằm góp phần nâng cao kết quả học tập ở

họ Khắc phục được KKTL sẽ giúp học viên thành công trong HĐHT cũngnhư các hoạt động khác Và quan trọng hơn cả là nhân cách của họ sẽ pháttriển theo đúng mục tiêu yêu cầu đào tạo, đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao

về phẩm chất và năng lực của người CAND

1.2 Đặc điểm hoạt động học tập của học viên Trường Trung cấp Cảnh sát Vũ trang

Với đặc thù về mục tiêu giáo dục - đào tạo, HĐHT của học viênTrường TCTCVT luôn phản ánh tính chất, đặc điểm của hoạt động nghiệp vụngành công an, thực hiện nghiêm các quy định của điều lệnh, điều lệ công anđược tổ chức chặt chẽ, với cường độ cao, căng thẳng về trí lực, thể lực Cácđặc điểm cơ bản về HĐHT của học viên nhà trường có thể khái quát trên cácđiểm chính sau:

* Hoạt động học tập của học viên Trường TCTCVT là hoạt động hướng vào thay đổi bản thân nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo đội ngũ cán bộ công an nhân dân trong tình hình mới

Mục tiêu, yêu cầu đào tạo của Trường TCTCVT xác định: Đào tạonhững thanh niên, chiến sĩ nghĩa vụ có đủ tiêu chuẩn quy định trở thành cán

bộ công an có trình độ trung cấp, cao đẳng, có bản lĩnh chính trị vững vàng,phẩm chất đạo đức tốt, thành thạo chuyên môn nghiệp vụ theo chuyên ngànhđào tạo, có thể lực tốt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ

Như vậy, so với các trường dân sự mục tiêu, yêu cầu đào tạo củaTrường TCTCVT có sự khác biệt, mang tính đặc thù Học viên phải học tậpnắm vững hệ thống tri thức khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, kiến thứcchuyên môn nghiệp vụ ngành công an, để sau khi ra trường có thể thực hiệnđược chức trách, nhiệm vụ được giao ở đơn vị

Trang 25

Quá trình học tập ở trường là quá trình học viên phải vươn lên nắmvững TT, hình thành KN, KX, nghiệp vụ công an, hình thành thế giới quan,phương pháp luận khoa học trong xem xét, đánh giá các hiện tượng trong đờisống xã hội, trong đơn vị Đồng thời phải tu dưỡng rèn luyện bản thân về bảnlĩnh chính trị đạo đức, tác phong nghề nghiệp; hình thành các phẩm chất nhâncách người CAND đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng công an theohướng cách mạng, chính qui, tinh nhuệ và từng bước hiện đại Đó là một quátrình khó khăn, phức tạp đòi hỏi người học phải tích cực, tự giác, kiên trì, bền

bỉ khắc phục mọi khó khăn để hoàn thiện bản thân theo mục tiêu, yêu cầu đàotạo Tuy nhiên, để trở thành người cán bộ công an có phẩm chất và năng lựcthì người học phải có trách nhiệm với việc học của bản thân, có động cơ, mụcđích học tập đúng đắn, PPHT phù hợp; phải tích cực vươn lên không ngừng

để tự chiếm lĩnh tri thức của từng bài học, môn học; tự hình thành cho mìnhphương thức, phương tiện để hoàn thiện tri thức và con đường biện pháp tudưỡng rèn luyện phẩm chất, năng lực của cán bộ công an

Thực tế cho thấy, nếu học viên đào tạo tại trường không có động cơ,mục đích học tập đúng đắn, ổn định và bền vững; không duy trì được sự phấnđấu thường xuyên, liên tục trong học tập, rèn luyện, không có phương pháphọc tốt thì khó đạt được kết quả học tập theo mong muốn, thậm chí không thểhoàn thành được mục tiêu, yêu cầu đào tạo của nhà trường đã đề ra, đây lànhững rào cản, tạo nên những KKTL trong quá trình học tập

* Hoạt động học tập của học Trường TCTCVT diễn ra dưới nhiều hình thức; trong mọi không gian, thời gian với cường độ cao, căng thẳng và phức tạp

Nhằm đáp ứng với mục tiêu, yêu cầu đào tạo, HĐHT của học viênTrường TCTCVT diễn ra dưới nhiều hình thức, trong mọi không gian thờigian khác nhau HĐHT của học viên diễn ra đan xen giữa HĐHT trên thaotrường, bãi tập với học tập trên giảng đường, phòng thí nghiệm Cường độhọc tập và rèn luyện cao đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn về trí lực, thể lực của học

Trang 26

viên Các buổi học không đơn thuần chỉ diễn ra ở trên lớp, trong phòng thínghiệm như học tập của sinh viên các trường dân sự mà diễn ra trên nhữngđịa bàn phức tạp, điều kiện thời tiết nắng, mưa rất khác nhau, còn phải học tậpthường xuyên vào ban đêm ở ngoài thao trường, bãi tập, khu vực đồng bằngsông nước…Thường sau mỗi cặp tiết là có sự thay đổi địa điểm học tập, cóthể đang học ngoài sân vận động chuyển lên học trên giảng đường hoặc từgiảng đường chuyển xuống học ở thao trường, bãi tập Thời gian cho thay đổingắn, đòi hỏi học viên phải cơ động nhanh mới đảm bảo thời gian cho họctập Hơn nữa, trong quá trình đào tạo học viên phải tiến hành hoạt động dãngoại, diễn tập tổng hợp cuối khoá trong điều kiện hết sức vất vả, môitrường thời tiêt rất khắc nghiệt, nhiệt độ luôn lạnh hơn hoặc nóng hơn cáckhu vực khác ở Bắc bộ từ 3 đến 4 độ C Có những khi trời nóng tới 39, 40

độ C học viên vẫn phải ra thao trường, bãi tập hoặc có khi thời tiết xuốngdưới 9, 10 độ C học viên vẫn phải vượt sông theo giáo án Đặc điểm trênđòi hỏi HV phải có nỗ lực ý chí vượt qua, phải có tính kiên trì, tinh thầnkhắc phục khó khăn Nếu không khắc phục được những KKTL này thì họcviên khó có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập, dễ nản bước, nhụt chí,nhiều trường hợp dẫn đến thải loại trong quá trình đào tạo Vì vậy, ý chí,tính kiên trì, tinh thần khắc phục khó khăn… là những yếu tố không thểthiếu đối với HV Trường TCTCVT

* Phương thức, phương tiện học tập của học viên Trường TCTCVT mang tính đặc thù

Phương thức, phương tiện học tập của học viên Trường TCTCVT có tínhđặc thù Ở chỗ, phương thức học tập không chỉ trên sách vở, thư viện, phòng thínghiệm mà chủ yếu trên vũ khí, trang bị kỹ thuật chiến đấu của ngành công an,như các loại súng, đạn, bom cay, mìn, xe cơ giới… diễn ra trong một không gianrộng, ở trên thao trường, bãi tập, địa hình dã ngoại khác nhau

Trong quá trình học tập, dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của người giáoviên, học viên tiến hành các hành động học tập nhằm lĩnh hội tri thức khoa

Trang 27

học do giáo viên truyền đạt và các tri thức trong tài liệu, sách giáo khoa, giáotrình, trên các phương tiện, vũ khí làm cho nó được tái hiện một lần nữa vàtrở thành tài sản riêng của chính bản thân họ Cùng với lĩnh hội các tri thứckhoa học, học viên phải hướng đến chiếm lĩnh cách thức, phương pháp họctập, cách vận dụng nó vào trong cuộc sống và thực tiễn nghiệp vụ ngành công

an Học viên phải rèn luyện để phát triển khả năng quan sát, ghi nhớ, xử lýthông tin về tình huống mọi mặt, phát triển các phẩm chất trí nhớ, tư duy,năng lực hiệp đồng tác chiến

Về phương tiện học tập cũng có tính đặc thù, ở chỗ học viên chủ yếu

sử dụng các thao tác như: phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hoá, trừutượng hoá, cụ thể hoá; tư duy bằng các khái niệm khoa học, lấy khái niệmlàm công cụ Học viên không chỉ dừng lại ở việc chiếm lĩnh các khái niệmkinh nghiệm mà còn phải hình thành và phát triển các khái niệm khoa học,các thuật ngữ khoa học ngành công an Do vậy, khi học tập đòi hỏi học viênphải tích cực, sáng tạo, độc lập, suy nghĩ cao, tính quyết đoán, mưu trí, linhhoạt, tư duy nhanh nhạy để tiếp thu các tri thức khoa học, xử lý các tìnhhuống theo yêu cầu bài học

Với mục tiêu, yêu cầu đào tạo đã xác định, do yêu cầu huấn luyện sátđiều kiện chiến đấu nên HĐHT của học viên Trường TCTCVT càng có nhữngyêu cầu cao hơn, đòi hỏi sức bền bỉ dẻo dai, cũng như ý chí quyết tâm của họcviên trong quá trình học tập

* Hoạt động học tập của HV học viên Trường TCTCVT có tổ chức chặt chẽ, diễn ra trong môi trường kỷ luật nghiêm ngặt

Với yêu cầu đào tạo bậc trung cấp, Trường TCCSVT gồm 5 chuyênngành học cụ thể: Huấn luyện viên Quân sự, Khoa Võ thuật và thể dục thểthao, Cảnh sát Cơ động, Cảnh sát Đặc nhiệm và Cảnh sát Bảo vệ Mỗi chuyênngành có một yêu cầu nhiệm vụ công việc riêng mang tính đặc thù nên việcđào tạo phụ thuộc vào yêu cầu thực tiễn của BCA, đơn vị chiến đấu của Công

Trang 28

an địa phương, quá trình đào tạo ở nhà trường được tổ chức chặt chẽ cả về nộidung, chương trình, thời gian đào tạo và duy trì mọi mặt hoạt động theo đúngchế độ điều lệnh, điều lệ công an nhân dân, qui định của đơn vị Thông qua đótạo ra môi trường học tập, rèn luyện có tác động tích cực đến việc hình thànhcho học viên phong cách, tác phong làm việc khoa học, tỷ mỉ, cụ thể; pháttriển ở họ tính kỷ luật, tác phong độc lập, quyết đoán, mưu trí, linh hoạt, sángtạo trong thực hiện nhiệm vụ ở đơn vị sau này Trong môi trường đó học viênkhông tránh khỏi những căng thẳng trí lực và thể lực buộc họ phải từ bỏnhững thói quen, phong cách sống không phù hợp.

Cùng với quá trình học tập học viên Trường TCTCVT phải thực hiệnđầy đủ các chế độ rèn luyện chặt chẽ như: tuần tra, canh gác, trực ban, trựcchiến…vì yêu cầu huấn luyện sát với điều kiện chiến đấu nên học viên phảithực hiện các nhiệm vụ hành quân rèn luyện thường xuyên, diễn tập tổng hợpvới nhiều tình huống khác nhau như trong chiến đấu thật Học viên học tậptrong sự tổ chức kỷ luật chặt chẽ không chỉ trong giờ hành chính mà cả trongsinh hoạt, vui chơi Do vậy, chỉ khi nào học viên tự ý thức về động cơ, mụcđích, có các phương pháp học tập phù hợp cũng như hiểu sâu sắc chính mình

là chủ thể tích cực của HĐHT, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đàotạo thì họ mới vượt qua được những KKTL trong học tập đáp ứng được mụctiêu, yêu cầu đào tạo

Tóm lại, HĐHT của học viên Trường TCTCVT có nét đặc thù riêng,

khác với HĐHT của học sinh, sinh viên bên ngoài, những đặc thù này ảnhhưởng, chi phối đến mọi HĐHT của họ Do đó, để khắc phục những KKTLtrong HĐHT của học viên đòi hỏi chúng ta phải nắm chắc các đặc điểm trên,thường xuyên định hướng, giáo dục và xây dựng hệ động cơ, mục đích họctập đúng đắn cho họ trong quá trình đào tạo, không ngừng đổi mới nội dung,phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, đồng thời luôn quan tâm xây dựngmôi trường giáo dục tích cực, chăm lo đảm bảo tốt về đời sống vật chất và

Trang 29

tinh thần cho học viên và cần có những chính sách động viên, khuyến khíchđối với các học viên có tinh thần vượt khó, có thành tích cao trong học tập,rèn luyện.

1.3 Biểu hiện khó khăn tâm lý trong hoạt động học của học viên Trường Trung cấp Cảnh sát Vũ trang

Khó khăn tâm lý là một hiện tượng tâm lý phức tạp, tùy theo cách tiếp cận

và mục đích nghiên cứu mà người ta có cách phân loại những biểu hiện của nó

Tác giả Lê Thị Thủy cho rằng: Khó khăn tâm lý là hiện tượng tâm lý cánhân phổ biến ở các chủ thể trong quá trình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, nóbiểu hiện ở 3 mặt: nhận thức, xúc cảm tình cảm và hành vi của cá nhân [32]

Tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình trong luận án tiến sĩ của mình đã chỉ ranhững trở ngại tâm lý của học viên trong giao tiếp với học sinh khi thực tập tốtnghiệp Những trở ngại tâm lý này được biểu hiện trên 3 khía cạnh: trở ngại vềnhận thức, trở ngại về thái độ và trở ngại về hành vi [4]

Tác giả Đặng Thị Lan quan niệm: Khó khăn tâm lý trong hoạt động họcngoại ngữ của học viên năm đầu ở Trường Đại học Ngoại Ngữ - Đại học Quốcgia Hà Nội được biểu hiện ở 3 măt: nhận thức, thái độ và KN [25]

Tác giả Lưu Trung Tình [35] thì xem xét khó khăn tâm lý của giảng viêntrong đổi mới phương pháp dạy học trên 4 biểu hiện cơ bản như: Nhận thức,thái độ, động cơ và hành vi

Kế thừa những công trình nghiên cứu trước đây, dựa trên cơ sở đặcđiểm đối tượng nghiên cứu và kết quả điều tra, đồng thời với kinh nghiệmcông tác tại Trường Trung cấp Cảnh sát Vũ trang, chúng tôi cho rằng: khókhăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên ở Trường Trung cấp Cảnhsát Vũ trang được biểu hiện trên những nội dung cơ bản sau: khó khăn vềnhận thức, khó khăn về thái độ và khó khăn về hành vi

1.3.1 Khó khăn về mặt nhận thức

Nhận thức là nhân tố đầu tiên và quan trọng trong đời sống tâm lý củacon người Trên cơ sở nhận thức, con người tỏ thái độ và có hành vi tương

Trang 30

ứng Trong thực tế, con người không phải bao giờ cũng có nhận thức đúngđắn và đầy đủ trước các vấn đề của cuộc sống Trong hoạt động học tập củahọc viên ở Trường TCCSVT cũng vậy, do nhiều nguyên nhân khác nhau, một

bộ phận học viên vẫn còn tồn tại những nhận thức chưa đúng đắn và đầy đủ

về hoạt động học tập Chính những nhận thức này tạo nên những khó khăn,trở ngại khiến cho hoạt động học tập chưa đạt được kết quả như mong muốn

Có thể chỉ ra một số biểu hiện cụ thể sau:

Nhận thức chưa đúng và đầy đủ về nhiệm vụ học tập: Đối tượng học

tập của học Trường TCCSVT khá đa dạng, là một hệ thống kiến thức, KN,

KX bao gồm các phần như: các môn khoa học cơ bản, các môn nghiệp vu

cơ sở, xây dựng lực lượng, các môn khoa học chuyên ngành, các môn bắnsúng, bơi vũ trang, võ thuật, điều lệnh CAND, …Các bộ môn này đều cónhững vị trí, vai trò và tầm quan trọng như nhau bởi sự đóng góp của nótrong quá trình đào tạo nên một người học viên trong tương lai giỏi vềchuyên môn và nghiệp vụ cũng như hình thành nhân cách người CAND.Tuy nhiên, không phải học viên nào cũng nhận thức được tầm quan trong,

vị trí, vai trò của từng bộ môn trong HĐHT Chính sự hiểu biết mơ hồ,không rõ ràng về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của các bộ môn trongchương trình học là một khó khăn tâm lý có thể dẫn đến tình trạng học viênxem thường các bộ môn không thuộc chuyên ngành, học lệch, học đối phó,

từ đó dẫn đến hiệu quả HĐHT không cao

Ngoài ra, việc thiếu sự hiểu biết về Trường, về ngành CA cũng nhưthiếu sự hiểu biết về nhiệm vụ học tập và yêu cầu học tập của học viên sẽ lànhững khó khăn tâm lý biểu hiện ở mặt nhận thức của học viên trườngTCCSVT Thực tế cho thấy, khi chủ thể hiểu biết đầy đủ, sâu sắc về đối tượnghoạt động của mình sẽ giúp họ chuẩn bị tâm thế cũng như các điều kiện đểthực hiện hoạt động đó Ngược lại, khi thiếu những hiểu biết cần thiết về đối

Trang 31

tượng hoạt động thì chủ thể sẽ tiến hành hoạt động một cách đối phó, thiếu sựtích cực và do đó khó đạt được hiệu quả cao

Chưa nắm được cách thức và quy trình tiến hành các khâu của hoạt động học tập HĐHT của học viên có cấu trúc tâm lý đa dạng bao gồm: Động cơ, mục

đích, điều kiện và phương thức học Để có thể chiếm lĩnh được đối tượng hoạtđộng học, đòi hỏi người học viên, với tư cách là chủ thể của hoạt động học phảitiến hành vận động (bằng tay, bằng óc) cùng với sự vận động nội tại của kháiniệm, phạm trù, quy luật Trong HĐHT bao gồm có nhiều khâu, nhiều bướctương ứng với tiến trình dạy học, để thực hiện được tốt các khâu các bước đó,đòi hỏi học viên phải nắm được cách thức và quy trình tiến hành, nói cách kháchọc viên phải có kiến thức, KN, PPHT hợp lý KN, PPHT này gắn liền với đặcđiểm nội dung môn học Do đó, để có thể kết quả học tập tốt, học viên không chỉcần có sự quyết tâm, nỗ lực cao mà còn phải nắm chắc cách thức và quy trìnhtiến hành các khâu, các bước trong HĐHT như: nghe giảng, ghi chép, chuẩn bịbài, ôn luyện, củng cố kiến thức, kỹ xảo, KN, đánh giá kết quả học tập… Songtrên thực tế, không phải bất kì học viên nào cũng nắm được cách thức và quytrình tiến hành các khâu của HĐHT, biết tìm tòi vận dụng PPHT hợp lý đối vớimỗi hình thức dạy học Đây là khó khăn tâm lý đặt ra, đòi hỏi trong quá trìnhhọc tập tại trường, các lực lượng sư phạm cần thường xuyên giúp đỡ học viênnắm được các thức và quy trình tiến hành các khâu, các bước trong hoạt độnghọc tập

Khả năng vận dụng kiến thức phổ thông vào HĐHT chưa vững chắc Nội

dung dạy học ở Trường TCCSVT rất phong phú, đa dạng, vừa là nội dung lýthuyết, vừa là nội dung thực hành Đặc biệt, trong nội dung thực hành nghiệp vụcông an, nhiều nội dung có liên quan đến kiến thức toán, lý, hóa, sinh học…đãđược học ở bậc phổ thông Do vậy, những học viên nào nắm chắc những kiếnthức đã học này ở bậc học phổ thông thì sẽ tạo nền tảng thuận lợi cho học tập cácmôn chuyên ngành Tuy nhiên, trên thực tế có một bộ phận học viên, nhất là làchiến sỹ nghĩa vụ công an, sau thời gian 2 -3 năm thực hiện nghĩa vụ mới thi

Trang 32

tuyển vào trường nên kiến thức ở phổ thông bị mai một, thiếu vững chắc, gâykhó khăn cho việc tiếp thu tri thức, hình thành KN, KX nghiệp vụ chuyên ngành.Đây cũng là KKTL cản trở HĐHT của học viên ở nhà trường hiện nay.

Khả năng tự nhận thức, tự đánh giá bản thân so với yêu cầu học tập còn hạn chế Trong môi trường học tập mới do sự hạn chế của kinh nghiệm, của

tuổi đời, nên khi tham gia vào một hoạt động, học viên có sự đánh giá chưaphù hợp về đối tượng cũng như bản thân khi tham gia hoạt động đó Trongquá trình học tập nhiều khi học viên đánh giá chưa đánh giá đúng về năng lựchọc tập, chưa xác định điểm mạnh, điểm yếu của bản thân Khi tham giavào HĐHT, một số học viên nếu đánh giá quá cao về mình, quá tự tin vàokinh nghiệm của mình đặc biệt đối với học viên có những thành tích họctập cao trong những năm học phổ thông, hay những học viên đã trải qualính nghĩa vụ, cán bộ cử đi học bị“che phủ” bởi những thành tích sáng chói,kinh nghiệm đó có thể sẽ dẫn đến sự sơ suất, chểnh mảng, chủ quan, xemthường chính hoạt động học tập hoặc ngược lại lại học viên lại bị áp lực,căng thẳng khi ép buộc mình vào hoạt động học tập với mục đích phảiđược những thành tích cao Đối lập với sự đánh giá quá cao về bản thân,một bộ phận học viên lại tự đánh giá thấp về mình từ đó dẫn đến sự mặccảm tự ti, lo lắng, sợ mắc sai lầm, thiếu phấn đấu trong quá trình học tập làmảnh hưởng đến tiến trình và kết quả học tập

1.3.2 Khó khăn về mặt thái độ

Thái độ là cách ứng xử của cá nhân với các tình huống, các vấn đề xãhội mà cá nhân đó quan tâm Thái độ hình thành trên cơ sở nhận thức, quyđịnh trạng thái sẵn sàng hành động của cá nhân hướng đến đối tượng mà cánhân đó bộc lộ thái độ Do đó, thái độ quy định phương hướng, tính tích cựchoạt động của con người Hoạt động của con người muốn đạt hiệu quả cao,phù hợp với yêu cầu chuẩn mực của xã hội thì trước hết phải có thái độ đúng

về hoạt động đó Đối với hoạt động HĐHT của học viên ở Trường TCCSVT,cũng vậy, do đây là một hoạt động khó khăn, phức tạp nên để hoạt động này

Trang 33

đạt được hiệu quả cao đòi hỏi học viên phải có thái độ đúng đắn và tích cựcvới quá trình học tập Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn không ít học viên trongquá trình học tập có thái độ chưa đúng, chưa phù hợp với mục tiêu, yêu cầuhọc tập tại trương Những thái độ này tạo nên khó khăn, trở ngại tâm lý bêntrong khiến cho HĐHT của học viên kém hiệu quả Có thể chỉ ra những biểuhiện cụ thể sau:

Chưa thực sự quan tâm đến nhiệm vụ học tập Do nhận thức chưa đầy

đủ về vai trò, tầm quan trọng của mục tiêu, nhiệm vụ học tập, rèn luyện tạitrường, cùng với đó là động cơ học tập chưa đúng và đủ mạnh của học viên,ngoài ra, công tác kiểm tra, đánh giá HĐHT của học viên chậm được đổi mới,tiến hành chưa thường xuyên nên nhiều học viên chưa hình thành được hứngthú trong HĐHT, cũng như chưa thực sự quan tâm đến nhiệm vụ học tập,thường có tư tưởng và hành vi “xả hơi” sau khi thi, bằng lòng với kết quảthực tại để rồi buông xuôi mục tiêu phấn đấu; thụ động trong tìm hiểu và tiếpthu, vận dụng các tri thức khoa học vào thực tiễn cuộc sống; học tập và rèn

luyện cầm chừng, tự do, tùy tiện cá biệt có học viên không chịu khép mình

vào tổ chức, lười học tập và rèn luyện, do đó kết quả học tập, rèn luyện sa sút,điều này đối với học viên năm cuối thì biểu hiện rõ nét nhất Tất cả nhữngbiểu hiện đó khiến cho học viên thiếu tích cực, cố gắng trong học tập

Tâm lý ngại khó, ngại khổ trong học tập Để có kết quả học tập tốt, đòi

hỏi học viên phải không ngừng nỗ lực cố gắng vượt qua mọi khó khăn thửthách, đặc biệt đối với các môn học ở ngoài thao trường, bãi tập, có nhiềukhắc nghiệt, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng Bên cạnh đó, học viên phảithay đổi cách thức, PPHT so với bậc học phổ thông Tuy nhiên, tâm lý “ngạikhó khăn, ngại gian khổ” vẫn tồn tại ở không ít học viên, nhất là học viên lànhững thí sinh tự do thi tuyển vào trường, chưa trải qua môi trường rèn luyệntrong lực lượng vũ trang, nhiều học viên, trong học tập thì lười suy nghĩ, lười

tư duy, có tư tưởng “trông chờ, ỷ lại”, “học theo mùa vụ”, trong nội dung thực

Trang 34

hành thì rụt rè, thiếu tự tin, có cố gắng chỉ là để “nín thở” cho qua, cốt đạtđiểm yêu cầu Những biểu hiện tâm lý này gây trở ngại cho hoạt động họctập của học viên ở nhà trường.

Thiếu quyết tâm, nỗ lực trong quá trình học tập HĐHT của học viên

nhằm lĩnh hội tri thức, hình thành KN, kỹ xảo, rèn luyện phẩm chất nhâncách, đây là quá trình khó khăn, phức tạp đòi hỏi chủ thể phải có ý chí quyết tâmcao và nghị lực mạnh mẽ mới có thể vượt qua được những trở ngại, huy độngđược trí lực, tâm lực và thể lực để thực hiện có hiệu quả hoạt động này Trênthực tế, bên cạnh những học viên có ý chí quyết tâm và nghị lực mạnh mẽ,ngày đêm miệt mài, sáng tạo tìm tòi đổi mới PPHT thì vẫn còn không ít họcviên thiếu quyết tâm, nỗ lực trong học tập Một bộ phận không nhỏ học viênnhận thức sai lệch đối với nhiệm vụ trung tâm là học tập và rèn luyện, chạytheo mục đích cá nhân tầm thường Biểu hiện ở hành vi tuyệt đối hoá nhiệm

vụ học tập như một phương tiện để tiến thân, không quan tâm đúng mức đếnnhiệm vụ rèn luyện tư thế, tác phong, phẩm chất, nhân cách người CAND,dẫn đến những tư tưởng, hành vi đố kị, cục bộ, bè phái, chia rẽ, xem nhẹ cácmặt công tác khác Trên thực tế, có không ít học viên đăng ký nguyện vọngnơi công tác khi ra trường vì nhu cầu trước mắt, tham vọng cá nhân, lựa chọnnơi nhàn hạ, ít gian khổ, thậm chí có học viên “bằng mọi cách” để về đượcnơi công tác theo ý định Đây là những biểu hiện tâm lý cản trở, làm giảmchất lượng học tập của học viên

Tư tưởng “trung bình chủ nghĩa” trong quá trình học tập, rèn luyện.

Tư tưởng này xuất phát từ cách nghĩ: đã vào được trường là ra trường, là cócông ăn việc làm ổn định, chỉ cần “nín thở” qua 2 - 3 năm học tập ở trường,không cần cố gắng nhiều là được thăng cấp trung sỹ, thượng sỹ Đối với

các hoạt động của tập thể, học viên thấy đúng không ủng hộ, thấy sai

không đấu tranh Trên thực tế, vào thời điểm cuối khóa, học viên có sựphân tách rõ rệt thành hai bộ phận: một bộ phận có kết quả học tập tiệm

Trang 35

cận với mức giỏi hoặc mức khá thì tích cực phấn đấu, bộ phận còn lại đãđạt được kết quả trung bình hoặc khá nhưng xa với tiệm cận khá và tiệmcận giỏi thì có tư tưởng thỏa mãn dừng lại, thiếu ý thức trong việc phấn đấu

vươn lên, đặc biệt có trường hợp cho rằng: “học tập bình thường, ra

trường trung sĩ” Những trạng thái tâm lý nói trên đều có thể khiến học

viên chưa thật sự cố gắng trong học tập và rèn luyện

Thực tế cho thấy, học viên Trường TCCSVT, phần lớn đều là học sinhvừa rời khỏi nhà trường phổ thông, bước đầu làm quen với môi trường học tậpmới Vì thế đối với HĐHT ở nhà trường còn nhiều xa lạ đối với các em Từ chế

độ ăn, ngủ, trực, gác, tập luyện, học tập trên lớp cũng như giờ học tập ngoạikhóa…Từ đó, ở các em có thể nảy sinh nhiều thái độ, tình cảm khác nhau đối vớihoạt động học tập Xét trên phương diện tích cực, ở học viên có thể xuất hiện nhữngthái độ, tình cảm, xúc cảm tích cực đối với hoạt động học tập ở một môi trường mớinhư: tính tò mò đối với học tập, tính ham học hỏi, niềm khao khát, lòng quyết tâmhọc tập, niềm vui, hứng thú học tập, tinh thần kiên trì vượt khó vv Ở trạng tháithái độ, tình cảm này sẽ thúc đẩy học viên học tập tích cực Ngược lại, ở học viêncũng có thể xuất hiện những thái độ, tình cảm tiêu cực đối với hoạt động học tậpnhư coi thường việc học tập, thờ ơ, lo lắng, sợ hãi, căng thẳng, chán nản khi gặpnhững vấn đề nảy sinh như: việc phải thực hiện nghiêm điều lệnh, việc phải trựcgác, cấm trại, mệt mỏi do chế độ học tập rèn luyện ở cường độ cao…

Những khó khăn tâm lý về mặt cảm xúc, tình cảm trên đây của họcviên này sẽ làm giảm đi tính tích cực, chủ động, tự giác trong hoạt động họctập của học viên từ đó dẫn đến hiệu quả học tập không cao

1.3.2 Khó khăn về mặt hành vi

Chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập của học viên được đánh giá bằngnhững hành động, hành vi cụ thể của mỗi học viên trong quá trình học tập Tuynhiên, trên thực tế, do những khó khăn về nhận thức và thái độ trong HĐHT nêu

Trang 36

trên nên quá trình học tập, học viên còn gặp nhiều khó khăn về hành vi Nhữngkhó khăn này trực tiếp dẫn đến kết quả học tập còn nhiều hạn chế, bất cập Cóthể khái quát một số khó khăn về hành vi cơ bản sau:

Thiếu KN tự học Để nâng cao chất lượng học tập thì học viên phải sử dụng

linh hoạt nhiều PPHT khác nhau Muốn vậy, học viên phải có những KN sửdụng các PPHT này Hệ thống KN tự học của học viên rất phong phú gồm

KN lập kế hoạch và xác định mục tiêu ; KN ghi nhớ; KN tìm kiếm thông tin;

KN tổng hợp, hệ thống hóa kiến thức; KN ôn tập; KN tự kiểm tra đánhgiá….Những KN này phản ánh năng lực, trình độ tự học của người học viên.Tuy nhiên, thực tiễn tự học của học viên ở nhà trường cho thấy, còn khá nhiềuhọc viên thiếu những KN tự học này Mặc dù, học viên có nhận thức đúng đủ

về mục tiêu học tập, có động cơ thái độ tốt và quyết tâm cao trong học tậpnhưng do thiếu những KN tự học nên khó có thể nâng cao chất lượng, hiệuquả học tập của mình Cũng do thiếu KN tự học, nên nhiều học viên còn có tư

tưởng “cần cù bù thông minh”, thiếu tự tin, băn khoăn, lo lắng, khi gặp khó

khăn trong học tập thì lúng túng, ngại giao tiếp, trao đổi Những biểu hiện đóđều tạo nên những rào cản tâm lý từ bên trong khiến cho chất lượng học tậpcủa học viên chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra

Phương pháp học tập chưa phù hợp Đối với cấp học phổ thông, phương

pháp thường thấy là chủ yếu thầy cô giảng và đọc cho học sinh ghi chép, ít có giờthảo luận và trao đổi trong quá trình học Ở bậc học cao hơn, các thầy cô giáo chỉđóng vai trò là người hướng dẫn học viên tìm kiếm tài liệu và nghiên cứu, nhữnglời giảng của các thầy cô chỉ mang tính chất gợi ý, và hướng dẫn học viên thảoluận, tự nghiên cứu viết tiểu luận còn chủ yếu dựa vào khả năng tự tiếp thu, tựnghiên cứu và sử lý kiến thức của học viên đối với bài học đó Chính vì sự khácnhau đó mà làm cho nhiều học viên rất bỡ ngỡ trong việc xác định và tìmkiếm một số PPHT hiệu quả nhất cho mình Đối với học viên TrườngTCCSVT cũng vậy, học viên gặp không ít khó khăn vướng mắc trong các

Trang 37

hoạt động cụ cụ thể Nhất là mang những thói quen, cách thức PPHT ở bậcphổ thông như ghi chép, nghe giảng, ôn tập, thi kiểm tra… một cách thụđộng, chưa biết cách tìm kiếm, chắt lọc thông tin, hệ thống hóa, khái quát hóakiến thức, thảo luận nhóm…ở bậc học mới Hậu quả đó dẫn đến một bộ phậnhọc viên khó thích nghi với phương pháp dạy học ở bậc học mới, học viên

“mong muốn” được thầy đọc cho trò ghi, dạy theo "bày cỗ sẵn" Trò tích cực ghi và học thuộc lòng; đến mùa thi người học lại “trả lại” đầy đủ những gì

thầy đã cung cấp Điều đó đã cản trở việc đổi mới phương pháp dạy học ởNhà trường, trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng tiếp thu, lĩnh hội tri thức củachính học viên Thực tế trên đòi hỏi hỏi các lực lượng sư phạm trong nhàtrường cần có nhiều nội dung, hình thức bồi dưỡng PPHT cho học viên

Chưa hình thành được KN sử dụng phương tiện trong học tập Trong thời

đại công nghệ thông tin hiện nay, để nâng cao chất lượng học tập, học viên khôngnhững phải có KN, PPHT hợp lý mà còn phải biết kết hợp sử dụng các phươngtiện học tập, gắn liền với xu hướng ứng dụng công nghệ Hơn nữa, do đặc điểmcác môn thực hành tại trường luôn gắn với các trang, thiết bị nghiệp vụ công an

Do đó, sử dụng các phương tiện học tập hiện đại như: máy tính, các phương tiệnnghe nhìn và những phần mềm học tập, kết hợp với nghiên cứu sử dụng thànhthạo các trang, thiết bị của ngành công an sẽ hỗ trợ rất lớn cho học viên trong quátrình học tập Để sử dụng hiệu quả các phương tiện học tập này đòi hỏi mỗi họcviên phải có trình độ và KN sử dụng chúng Nhưng trên thực tế, mặc dù cácphương tiện này đã từng bước được trang bị nhưng do trình độ và KN sử dụng củahọc viên còn hạn chế nên hiệu quả sử dụng chưa cao, chưa biết khai thác thế mạnhcủa các phương tiên học tập trên vào quá trình học tập Đặc biệt, khả năng ứngdụng công nghệ thông tin, ứng dụng các phần mềm mô phỏng trong xây dựng tìnhhuống giả định thực hành nghiệp vụ công an của nhiều học viên còn hạn chế, điều

đó ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập của học viên Vì vậy, bồi dưỡngnâng cao năng lực, KN sử dụng phương tiện học tập hiện đại là một biện phápquan trọng để nâng cao chất lượng học tập cho học viên hiện nay

Trang 38

Khả năng khắc phục những thói quen học tập ở bậc phổ thông Thói

quen học tập thầy đọc cho trò ghi, dạy theo "bày cỗ sẵn" Trò tích cực ghi và

học thuộc lòng; đến mùa thi người học lại “trả lại” đầy đủ những gì thầy đãcung cấp ở bậc học phổ thông vẫn còn được lưu giữ trong cách thức, PPHTcủa học viên, nhất là học viên năm thứ nhất, thói quen học tập này dẫn đến sựthụ động của học viên trong quá trình học tập Điều này làm giảm tính tíchcực, sáng tạo của học viên trong việc lựa chọn, sử dụng PPHT, khiến cho họcviên lệ thuộc vào những thói quen này, khó tiếp cận với phương pháp dạy họcmới Để nâng cao chất lượng học tập đòi hỏi học viên phải vượt qua đượcnhững thói quen này, thay đổi căn bản những hành động, thao tác trong họctập, thay đổi cách thức sử dụng PPHT sao cho phù hợp với bản thân học viên,giúp họ nhanh chóng lĩnh hội tri thức, hình thành KN, kỹ xảo học tập, biếtcách tự học, tự hoàn thiện bản thân đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo

*

* *Nghiên cứu KKTL trong HĐHT của học viên ở Trường TCCSVT là vấn đềcấp thiết hiện nay nhưng chưa có nhiều công trình đi sâu, nghiên cứu, làm rõ Kếthừa các công trình nghiên cứu trước đó, với kinh nghiệm dạy học tại TrườngTCCSVT, chúng tôi tiến hành xây dựng 3 khái niệm cơ bản làm công cụ cho quátrình nghiên cứu nội dung của đề tài: khó khăn tâm lý, khó khăn tâm lý trong họctập và khó khăn tâm lý trong HĐHT của học viên ở Trường TCCSVT

Từ những đặc điểm HĐHT của học viên, chúng tôi đã chỉ ra những biểuhiện khó khăn tâm lý trong HĐHT của học viên Trường TCCSVT NhữngKKTL này được biểu hiện trên 3 nội dung: khó khăn về nhận thức, khó khăn

về thái độ và khó khăn về hành vi Phát hiện ra những biểu hiện cụ thể củanhững khó khăn này là cơ sở để khảo sát thực trạng và đề xuất những biệnpháp khả thi nhằm khắc phục những KKTL trong HĐHT của học viên TrườngTCCSVT hiện nay

Trang 39

Chương 2 THỰC TRẠNG KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC VIÊN

TRƯỜNG TRUNG CẤP CẢNH SÁT VŨ TRANG 2.1 Các phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn này chúng tôi sử dụng kết hợp các nhóm phươngpháp sau:

* Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:

Chúng tôi tiến hành đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá và khái quáthoá các tài liệu lý luận cũng như các công trình nghiên cứu khác có liênquan đến vấn đề khó khăn tâm lý, hoạt động học tập để xây dựng cơ sở lýluận cho luận văn

* Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra bằng anket

Mục đích: Nhằm tìm ra những biểu hiện khó khăn tâm lý trong học tậpcủa học viên, tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục

Nội dung điều tra: kết quả hoạt động học tập của học viên; những biểu

hiện khó khăn tâm lý của học viên trong hoạt động học tập

Cách thức tiến hành: Chúng tôi tiến hành điều tra trên 80 giáo viên,

40 cán bộ quản lý giáo dục và 150 học viên trường TCCSVT để thu thậpkết quả phục vụ cho luận văn Xây dựng ba loại mẫu phiếu trưng cầu ýkiến dùng cho 3 nhóm khách thể nghiên cứu đó là: mẫu phiếu dùng chohọc viên; mẫu phiếu dùng cho giáo viên; mẫu phiếu dùng cho cán bộ quản

lý giáo dục

Để đánh giá thực trạng KKTL trong HĐHT của học viên Trường Trungcấp Cảnh sát Vũ trang một cách khách quan, chính xác chúng tôi chia sự đánhgiá về các biểu hiện của KKTL thành ba mức độ với quy ước điểm như sau:Cao (3 điểm) - Trung bình (2 điểm) - Thấp (1 điểm)

Trang 40

Sử dụng công thức tính khoảng điểm:

n

n

L 1 (trong đó L: là khoảngđiểm, n: số các khoảng điểm), ta có L = 0.67

Áp dụng công thức tính điểm trung bình cộng (X ) đối với từng biểuhiện cụ thể, tiến hành xác định thứ hạng của biểu hiện đó Điểm trung bìnhcộng của từng biểu hiện được xác định như sau: thấp (từ 1 - 1,67 điểm); trungbình (từ 1,67 - 2,34 điểm); cao (từ 2,34 - 3 điểm)

Sau khi có được (X ) của từng biểu hiện cụ thể, so sánh kết quả của nhữngnhóm khách thể khác nhau, chúng tôi sẽ có các kết luận tương đối chính xác vềthực trạng KKTL trong HĐHT của học viên Trường TCCSVT hiện nay

Cách thức tiến hành: Chúng tôi tiến hành quan sát các biểu hiện bềngoài về thái độ, hành vi trong học tập của học viên để thu thập các tài liệu cóliên quan phục vụ cho luận văn

- Phương pháp trao đổi, tọa đàm

Nội dung trao đổi: những biểu hiện khó khăn tâm lý của học viên tronghoạt động học tập và biện pháp khắc phục

Cách thức tiến hành: Thông qua trò chuyện với những học viên TrườngTCCSVT chúng tôi tìm hiểu một số vấn đề có liên quan đến các KKTL tronghọc tập Trên cơ sở đó khảo sát thực trạng và đưa ra một số biện pháp khắcphục những khó khăn tâm lý ấy ở các em

- Phương pháp chuyên gia

Chúng tôi tiến hành xin ý kiến các giáo viên, cán bộ hướng dẫn để xâydựng một số khái niệm công cụ như: KKTL, KKTL trong học tập và chuẩn

Ngày đăng: 03/10/2021, 07:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Kết quả khó khăn về nhận thức - LUẬN văn THẠC sĩ   khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên trường trung cấp cảnh sát vũ trang
Bảng 2.2. Kết quả khó khăn về nhận thức (Trang 43)
Bảng 2.4. Kết quả khó khăn về thái độ - LUẬN văn THẠC sĩ   khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên trường trung cấp cảnh sát vũ trang
Bảng 2.4. Kết quả khó khăn về thái độ (Trang 46)
3 Chưa hình thành được KN sử dụng phương tiện - LUẬN văn THẠC sĩ   khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên trường trung cấp cảnh sát vũ trang
3 Chưa hình thành được KN sử dụng phương tiện (Trang 48)
Bảng 2.6. Khó khăn về mặt hành vi - LUẬN văn THẠC sĩ   khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên trường trung cấp cảnh sát vũ trang
Bảng 2.6. Khó khăn về mặt hành vi (Trang 48)
Bảng 3.1. Tổng hợp kết quả khảo sát những khó khăn tâm lý của giảng viên (Đánh giá của 150 học viên, 120 cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên) - LUẬN văn THẠC sĩ   khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên trường trung cấp cảnh sát vũ trang
Bảng 3.1. Tổng hợp kết quả khảo sát những khó khăn tâm lý của giảng viên (Đánh giá của 150 học viên, 120 cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên) (Trang 50)
3 Chưa hình thành được những động cơ đúng, đủ mạnh thúc đẩy hoạt động học tập - LUẬN văn THẠC sĩ   khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên trường trung cấp cảnh sát vũ trang
3 Chưa hình thành được những động cơ đúng, đủ mạnh thúc đẩy hoạt động học tập (Trang 89)
1 Chưa thực sự quan tâm đến nhiệm vụ học tập 2Tâm lý ngại khó, ngại khổ trong học tập  - LUẬN văn THẠC sĩ   khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên trường trung cấp cảnh sát vũ trang
1 Chưa thực sự quan tâm đến nhiệm vụ học tập 2Tâm lý ngại khó, ngại khổ trong học tập (Trang 90)
3 Chưa hình thành được KN sử dụng phương tiện trong học tậphọc tập - LUẬN văn THẠC sĩ   khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên trường trung cấp cảnh sát vũ trang
3 Chưa hình thành được KN sử dụng phương tiện trong học tậphọc tập (Trang 90)
3 Chưa hình thành được những động cơ đúng, đủ mạnh thúc đẩy hoạt động học tập - LUẬN văn THẠC sĩ   khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên trường trung cấp cảnh sát vũ trang
3 Chưa hình thành được những động cơ đúng, đủ mạnh thúc đẩy hoạt động học tập (Trang 94)
4 Chưa hình thành được những hành động, thao tác và KN học tập phù hợp Những yếu tố tâm lý khác: - LUẬN văn THẠC sĩ   khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên trường trung cấp cảnh sát vũ trang
4 Chưa hình thành được những hành động, thao tác và KN học tập phù hợp Những yếu tố tâm lý khác: (Trang 94)
3 Chưa hình thành được KN sử dụng phương tiện trong học tập - LUẬN văn THẠC sĩ   khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên trường trung cấp cảnh sát vũ trang
3 Chưa hình thành được KN sử dụng phương tiện trong học tập (Trang 95)
4 Chưa hình thành được những hành động, thao tác và KN học tập phù hợp Những yếu tố tâm lý khác: - LUẬN văn THẠC sĩ   khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên trường trung cấp cảnh sát vũ trang
4 Chưa hình thành được những hành động, thao tác và KN học tập phù hợp Những yếu tố tâm lý khác: (Trang 99)
3 Chưa hình thành được những động cơ đúng, đủ mạnh thúc đẩy hoạt động học tập - LUẬN văn THẠC sĩ   khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên trường trung cấp cảnh sát vũ trang
3 Chưa hình thành được những động cơ đúng, đủ mạnh thúc đẩy hoạt động học tập (Trang 99)
3 Chưa hình thành được KN sử dụng phương tiện trong học tập - LUẬN văn THẠC sĩ   khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên trường trung cấp cảnh sát vũ trang
3 Chưa hình thành được KN sử dụng phương tiện trong học tập (Trang 100)
Chưa hình thành được KN sử   dụng   phương   tiện   trong học tập - LUẬN văn THẠC sĩ   khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học viên trường trung cấp cảnh sát vũ trang
h ưa hình thành được KN sử dụng phương tiện trong học tập (Trang 115)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w