1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp để phát triển kinh tế trang trại ở huyện can lộc hà tĩnh luận văn tốt nghiệp đại học

102 540 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Thực Trạng Và Đề Xuất Một Số Giải Pháp Để Phát Triển Kinh Tế Trang Trại Ở Huyện Can Lộc- Hà Tĩnh
Tác giả Lê Thị Lộc
Người hướng dẫn Th.s. Trần Hậu Thìn
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Khuyến Nông & Phát Triển Nông Thôn
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ các quan điểm trên đây ta có thể rút ra khái niệm chung về kinh tế trang trại: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất trong Nông- Lâm- Ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là sả

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

- -LÊ THỊ LỘC

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG

TRẠI Ở HUYỆN CAN LỘC- HÀ TĨNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KỸ SƯ NGÀNH: KHUYẾN NÔNG & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Vinh, 07/ 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG

TRẠI Ở HUYỆN CAN LỘC- HÀ TĨNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KỸ SƯ NGÀNH KHUYẾN NÔNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Người thực hiện: Lê Thị Lộc

Người hướng dẫn: Th.s Trần Hậu Thìn

Vinh, 07/2011

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn tốt nghiệp này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một khóa luận tốt nghiệp nào

Tôi xin cam đoan, mọi việc giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn tốt nghiệp đều được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Sinh viên

Lê Thị Lộc

Trang 4

Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn tới tất cả các thầy, cô giáo Trường Đại học Vinh và khoa Nông- Lâm- Vinh đã dạy bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

và nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ, nhân viên phòng NN& PTNT, phòng Thống kê, phòng Môi trường Đặc biệt là anh Phan Anh Đức, chuyên viên phòng NN& PTNT phụ trách lĩnh vực trang trại của huyện Can Lộc trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình thực tập và nghiên cứu, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tiếp cận, tìm hiểu và nghiên cứu

Qua đây tôi cũng xin chân thành cảm ơn lãnh đạo UBND các xã, thị trấn và các chủ trang trại trên địa bàn huyện Can Lộc đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp thông tin và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn bố mẹ, anh chị em và bạn bè đã giúp đỡ động viên tôi trong quá trình học tập và thực hiện khóa luận

Vinh, ngày 30/06/2011

Sinh viên

Lê Thị Lộc

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3

1.1 Cơ sở lý luận ……… 3

1.1.1 Các khái niệm, bản chất và tính tất yếu khách quan của sự ra đời mô hình kinh tế trang trại ở nước ta 3

1.1.1.1 Các khái niệm 3

1.1.1.2 Bản chất của kinh tế trang trại 4

1.1.1.3 Tính tất yếu khách quan sự ra đời mô hình kinh tế trang trại ở nước ta 5

1.1.2 Đặc trưng của kinh tế trang trại 7

1.1.3 Vị trí, vai trò của kinh tế trang trại 9

1.1.4 Các loại hình và tiêu chí xác định trang trại 11

1.1.4.1 Các loại hình kinh tế trang trại 11

1.1.4.2 Tiêu chí xác định kinh tế trang trại 12

1.1.5 Điều kiện ra đời và phát triển của kinh tế trang trại 14

1.2 Cơ sở thực tiễn 17

1.2.1 Trên thế giới 17

1.2 2 Ở Việt Nam 19

1.2.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan 22

CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 25

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 25

2.2 Nội dung nghiên cứu 25

2.3 Phương pháp nghiên cứu 25

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 25

2.3.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp 26

2.3.1.2 Điều tra thực địa……… 26

Trang 6

2.3 2 Phân tích và xử lý số liệu……… 27

2.3.2.1 Phương pháp thống kê kinh tế 27

2.3.2.2 Phương pháp so sánh 27

2.3.3 Phương pháp xử lý và tổng hợp số liệu 27

2.3.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 27

2.4 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu 29

2.4.1 Điều kiện tự nhiên 29

2.4.1.1 Vị trí địa lý 29

2.4.1.2 Khí hậu 29

2.4.1.3 Đất đai và địa hình 31

2.4.1.5 Cảnh quan và môi trường 31

2.4.1.6 Các nguồn tài nguyên 32

2.4.2 Điều kiện kinh tế- xã hội 33

2.4.2.1 Kinh tế nông nghiệp 35

2.4.2.2 Kinh tế công nghiệp- Tiểu thủ công nghiệp 36

2.4.2.3 Kinh tế thương mại và dịch vụ 37

2.4.2.4 Dân số và lao động 37

2.4.2.5 Tình hình Văn hoá - Giáo dục - Y tế 38

2.4.6 Cơ sở hạ tầng 38

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40

3.1 Thực trạng chung về phát triển kinh tế trang trại của huyện 40

3.1.1 Thực trạng chung 40

3.1.1.1 Số lượng và cơ cấu loại hình trang trại 40

3.1.1.2 Quy mô và kết quả sản xuất trang trại năm 2010 41

3.1.1.3 Quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển trang trại của huyện 45

3.1.2 Thực trạng phát triển của các trang trại điều tra 46

3.1.2.1 Một số đặc điểm cơ bản của các trang trại điều tra 46

3.1.2.2 Thực trạng các yếu tố sản xuất của trang trại 50

3.1.2.3 Thực trạng về thị trường các sản phẩm 61

3.2 Kết quả sản xuất kinh doanh của các trang trại điều tra 63

3.2.1 Hiệu quả kinh tế 63

3.2.1.1 Chi phí sản xuất kinh doanh 63

3.2.1.2 Thu nhập của trang trại 65

Trang 7

3.2.1.3 Hiệu quả kinh tế 68

3.2.2 Tác động xã hội, môi trường 70

3.2.2.1 Tác động xã hội 70

3.2.2.2 Tác động đến môi trường 71

3.3 Những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Can Lộc 71

3.3.1 Thuận lợi: 71

3.4.2 Khó khăn: …72

3.4 Một số yếu tố ảnh hưởng khác 74

3.5 Một số giải pháp để phát triển kinh tế trang trại ở huyện Can Lộc 76

3.5.1 Giải pháp về thị trường 76

3.5.2 Giải pháp về vốn 77

3.5.3 Giải pháp về phát triển khoa học công nghệ và nâng cao tình độ ứng dụng khoa học công nghệ vào trang trại 78

3.5.4 Giải pháp về đất đai 78

3.5.5 Giải pháp về nguồn nhân lực 79

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 80

1 Kết luận 80

2 Khuyến nghị 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

- ASEAN :

- BVTV :

- CCKT :

- CNH- HĐH :

- KTNN :

- KTTT :

- KT- XH :

- NQ/TW :

- NTTS :

- NN& PTNT :

- SXKD :

- TBKHKT :

- TP :

- TT :

- TW :

- UBND :

- WTO :

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

Bảo vệ thực vật

Cơ cấu kinh tế Công nghiệp hóa- hiện đại hóa Kinh tế nông nghiệp

Kinh tế trang trại Kinh tế- xã hội Nghị quyết trung ương Nuôi trồng thủy sản Nông nghiệp và phát triển nông thôn Sản xuất kinh doanh

Tiến bộ khoa học kỹ thuật Thành phố

Trang trại Trung ương

Ủy ban nhân dân

Tổ chức thương mại thế giới

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Bảng thống kê một số chỉ tiêu trong năm 2006 và 2010

Bảng 2.2 Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp ở huyện Can Lộc trong 4 năm (2006

- 2009) theo giá cố định 1994

Bảng 3.1 Các loại hình trang trại của Huyện phân bố theo các đơn vị hành chính

năm 2010

Bảng 3.2 Đặc điểm chủ yếu của các hộ và các mẫu điều tra

Bảng 3.3 Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 của các trang trại điều tra

Bảng 3.4 Quy mô sử dụng đất của các trang trại điều tra

Bảng 3.5 Vốn sản xuất của trang trại điều tra

Bảng 3.6 Tình hình sử dụng lao động của các trang trại

Bảng 3.7 Trình độ lao động của các chủ trang trại điều tra

Bảng 3.8 Tình hình sử dụng máy móc thiết bị của các trang trại điều tra

Bảng 3.9 Tình hình chế biến và tiêu thụ sản phẩm của các trang trại điều tra năm 2010Bảng 3.10 Chi phí sản xuất của các trang trại

Bảng 3.11 Thu nhập của các trang trại điều tra

Bảng 3.12 Hiệu quả kinh tế của các trang trại điều tra năm 2010

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ HÌNH VẼ

Hình 3.1 Diện tích đất huyện Can Lộc

Hình 3.2 Lớp tuổi tham gia phỏng vấn

Hình 3.3 Tỷ lệ giới tính tham gia phỏng vấn

Hình 3.4 Tình hình lao động của các trang trại tham gia phỏng vấn

Hình 3.5 Trình độ học vấn của chủ trang tham gia phỏng vấn

Hình 3.6 Cơ cấu thu nhập của trang trại điều tra năm 2010

Sơ đồ 3.1 Quá trình tiêu thụ hàng hóa của các trang trại điều tra huyện Can Lộc

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Kinh tế trang trại ở nước ta đã tồn tại từ lâu, nhưng chỉ phát triển mạnh mẽ trong vài năm gần đây Có thể nói việc thực hiện chỉ thị 100 của Ban Bí thư TW Đảng (Khoá 4), Nghị quyết 10 - NQ/TW của Bộ Chính trị (Tháng 4/1988) về phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân đã đặt nền móng cho sự ra đời của kinh tế trang trại với những thành tựu của công cuộc đổi mới, sản xuất nông nghiệp có bước phát triển vượt bậc, nhiều hộ nông dân có tích luỹ, đã tạo điều kiện cho kinh tế trang trại phát triển Đặc biệt là sau khi luật đất đai ra đời năm

1993, thì kinh tế trang trại mới có bước phát triển khá nhanh và đa dạng Việc phát triển kinh tế trang trại đã đem lại lợi ích to lớn về nhiều mặt, làm thay đổi đáng kể bộ mặt KT- XH của các vùng nông thôn

Huyện Can Lộc có tổng diện tích tự nhiên hơn 30 ngàn ha, trong đó đất Nông nghiệp 18.700 ha chiếm 62,3%, đất phi Nông nghiệp 7.580 ha chiếm 25,3% và đất chưa sử dụng 3.8000 ha chiếm 12,4% Trước đây kinh tế trang trại kém phát triển, nhưng từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 7, lần thứ 8, lần thứ 10 Đảng ta đã có những chủ trương về giao đất, khoán đất, cho thuê đất để phát triển kinh tế trang trại

Do vậy kinh tế trang trại trong những năm gần đây có sự phát triển cả số lượng, quy

mô và chất lượng hiệu quả kinh tế Kinh tế trang trại đã và đang từng bước khẳng định vai trò vị trí của nó trong sản xuất nông nghiệp của địa phương Các loại hình trang trại ở Can Lộc chủ yếu là các trang trại kinh doanh tổng hợp, trang trại trồng cây lâu năm (cây ăn trái), trồng rừng và chăn nuôi Tuy nhiên, kinh tế trang trại ở Can Lộc phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của địa phương Bên cạnh một số trang trại đã và đang hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, còn một bộ phận rất lớn các trang trại còn lúng túng trong việc tổ chức sản xuất, áp dụng khoa học kỹ thuật, định hướng đầu tư cho sản xuất kinh doanh, tìm kiếm thị trường

Xuất phát từ thực tế đó tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá thực

trạng và đề xuất một số giải pháp để phát triển kinh tế trang trại ở huyện Can Lộc- Hà Tĩnh” nhằm đánh giá thực trạng, đưa ra giải pháp khắc phục khó khăn

để thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển

Trang 12

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về kinh tế trang trại để nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại

- Đánh giá thực trạng hiệu quả kinh tế trang trại tìm ra các tiềm năng, trở ngại của vùng để phát triển kinh tế trang trại, từ đó xác định nguyên nhân ảnh hưởng đến

sự phát triển kinh tế trang trại

- Đề xuất định hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Can Lộc

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm cơ sở khoa học cho việc phát triển kinh tế trang trại và khẳng định tính đúng đắn của việc phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Can Lộc

Đồng thời thông qua việc đánh giá điều kiện tự nhiên, KT- XH với sự phát triển kinh tế trang trại của huyện Can Lộc làm cơ sở cho những định hướng cho các trang trại ở địa phương theo hướng phát triển nông nghiệp hàng hoá bền vững Từ đó góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và nâng cao nhận thức về các giải pháp phát triển, khắc phục các khó khăn và khai thác hợp lý các tiềm năng sẵn có của địa phương

Trang 13

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Các khái niệm, bản chất và tính tất yếu khách quan của sự ra đời mô hình kinh tế trang trại ở nước ta

1.1.1.1 Các khái niệm

Tuy trang trại ra đời rất sớm ở Việt Nam, song các khái niệm và nhận dạng đầy

đủ về kinh tế trang trại còn nhiều ý kiến khác nhau Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu, khái niệm về kinh tế trang trại :“Trang trại là hình thức tổ chức kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá với qui mô tương đối lớn, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực Nông, Lâm, Ngư nghiệp”[17]

Lênin đã phân biệt kinh tế trang trại “Người chủ trang trại bán ra thị trường hầu hết các sản phẩm làm ra, còn người tiểu nông thì dùng đại bộ phận sản phẩm sản xuất được, mua bán càng ít càng tốt”

Quan điểm của Mác đã khẳng định, điểm cơ bản của trang trại gia đình là sản xuất hàng hoá, khác với kinh tế tiểu nông là sản xuất tự cấp tự túc, nhưng có điểm giống nhau là lấy gia đình làm cơ sở làm nòng cốt [17]

Ở các nước tư bản phát triển như Mỹ, Anh và một số vùng lãnh thổ ở Châu Á: như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc và một số nơi khác trong khu vực Họ quan niệm: “Trang trại là loại hình sản xuất Nông- Lâm- Ngư nghiệp của hộ gia đình nông dân sau khi phá vỡ vỏ bọc sản xuất tự cấp, tự túc khép kín của hộ tiểu nông, vươn lên sản xuất nhiều nông sản, hàng hoá, tiếp cận với thị trường, từng bước thích nghi với nền kinh tế cạnh tranh” [19]

Từ các quan điểm trên đây ta có thể rút ra khái niệm chung về kinh tế trang trại:

“Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất trong Nông- Lâm- Ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường” [12]

Trang 14

Trang trại là một đơn vị kinh tế hộ gia đình có tư cách pháp nhân, được Nhà nước giao quyền sử dụng một số diện tích đất đai, rừng, biển hợp lý Để tổ chức lại quá trình sản xuất Nông- Lâm- Ngư nghiệp theo hướng CNH- HĐH Tích cực áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới nhằm cung ứng ngày càng nhiều sản phẩm hàng hóa có chất lượng cao hơn cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu Nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội của từng đơn vị diện tích, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống của mọi người tham gia [11]

- Trang trại nói chung là cơ sở sản xuất nông nghiệp, ở đây nói về trang trại trong nền kinh tế thị trường thời kỳ công nghiệp hoá, với các khái niệm cụ thể sau:

Ở nước ta, kinh tế trang trại được hình thành chủ yếu từ sự phát triển của kinh

tế hộ gia đình Bởi vì hầu hết chủ trang trại đều là người trực tiếp quản lí, điều hành sản xuất kinh doanh, lao động chủ yếu là người trong gia đình Quá trình tích tụ và tập trung đất đai để hình thành trang trại không phải do tước đoạt và mua bán đất đai,

mà chủ yếu thông qua sự điều tiết thông qua quyền sử dụng đất, giao khoán đấu đấu thầu, cho thuê đất đai thường là gò đồi, cằn cỗi và các đầm phá hoang hoá

KTTT là loại hình tổ chức sản xuất rất linh hoạt cả về qui mô và tổ chức sản xuất Trang trại là hình thức tổ chức lao động hàng hoá dựa trên cơ sở lao động, đất đai tư liệu sản xuất cơ bản của hộ gia đình hoàn toàn tự chủ sản xuất kinh doanh, bình đẳng với các tổ chức kinh tế khác, sản phẩm làm ra là chủ yếu là để bán và tạo nguồn thu nhập cho gia đình [18]

Kinh tế trang trại đến nay đó khẳng định vị trí của mình trong sản xuất hàng hoá thời kỳ công nghiệp hoá ở các ngành sản xuất Nông- Lâm- Ngư nghiệp ở các vùng kinh tế ở nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Đã thích ứng với các trình độ công nghiệp hoá khác nhau [14],[19]

1.1.1.2 Bản chất của kinh tế trang trại.

Từ sau nghị quyết X của Bộ Chính Trị (Tháng 4 / 1998) về đổi mới kinh tế nông nghiệp, quan hệ sản xuất trong nông nghiệp nước ta được điều chỉnh một bước Song phải đến nghị quyết VI của Ban chấp hành TW (khoá VI - 3/1989) hộ gia đình xã viên mới được xác định là đơn vị kinh tế tự chủ cùng với một loại các chính sách kinh tế được ban hành Kinh tế hộ nông dân nước ta đã có bước phát triển đáng kể

Trang 15

Một bộ phận nông dân có vốn, kiến thức, kinh nghiệm sản xuất và quản lý, có ý chí làm ăn đã đầu tư và phát triển Nông- Lâm- Thuỷ sản, họ trở lên khá giả Trong đó một số hộ chuyển sang sản xuất hàng hoá Song đại bộ phận các hộ nông dân sản xuất với mục tiêu chủ yếu là để tiêu dùng, số sản phẩm đưa ra bán trên thị trường là sản phẩm dư thừa Sau khi đã dành cho tiêu dùng Số sản phẩm hàng hoá một mặt chưa ổn định, còn phụ thuộc vào kết quả sản xuất từng năm và mức tiêu dùng của từng gia đình và mặt khác “Họ chỉ bán cái mà mình có chứ chưa bán cái mà thị trường cần” [19].

Như vậy muốn phân biệt kinh tế trang trại với kinh tế hộ nông dân là căn cứ và mục tiêu sản xuất Đối với hộ nông dân mục tiêu sản xuất của họ là để tiêu dùng, sản xuất nhắm đáp ứng nhu cầu đa dạng về lương thực, thực phẩm và các nhu cầu khác của họ Ngược lại, mục tiêu sản xuất của kinh tế trang trại là sản xuất hàng hoá lớn nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường về các loại Nông- Lâm- Thuỷ sản, sản phẩm sản xuất ra là để bán C Mác đã nhấn mạnh “Kinh tế trang trại bán đại bộ phận nông sản được sản xuất ra thị trường, cán hộ nông dân thì bán ra mua càng ít bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu Như vậy trình độ phát triển của kinh tế hộ nông dân chỉ dừng lại

ở sản xuất hàng hoá phải tự cung tự cấp Để có nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn phải chuyển kinh tế hộ nông dân sang phát triển kinh tế trang trại

1.1.1.3 Tính tất yếu khách quan sự ra đời mô hình kinh tế trang trại ở nước ta.

Từ đầu thập kỷ 90 lại đây, nền nông nghiệp của chúng ta đã có những bước chuyển mình “vĩ đại”, tổng sản lượng lương thực cũng như số lượng và chủng loại các loại gia súc, gia cầm, thuỷ sản, các loại rau, hoa quả đều có sự tăng trưởng vượt bậc, năm sau cao hơn năm trước Từ một đất nước luôn phải nhập khẩu lương thực, chúng ta đã vươn lên tự cung cấp đủ nhu cầu trong nước và có một lượng xuất bán

Sự chuyển mình vĩ đại ấy do nhiều nguyên nhân, song có một nguyên nhân rất chủ yếu, rất quan trọng là hộ nông dân được quyền tự chủ trong sản xuất và trong kinh doanh Tuy nhiên Đảng và nhà nước ta đã sớm nhận ra rằng tiềm năng và khả năng sản xuất của hộ nông dân sẽ bị kìm hãm và sản xuất dẫu có phát triển hơn trước, song cũng mang tính tự cung, tự cấp, khó tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá vì nó bị bó hẹp tổng diện tích canh tác 400- 600 m2/khẩu như thường thấy ở các hộ nông dân đồng bằng bắc bộ và trung bộ Khắc phục tình trạng này, Đảng và Nhà nước đã chủ trương

Trang 16

giao đất, giao rừng, giao vùng đất hoang hoá, vùng đầm, bãi cho hộ nông dân có nhu cầu cũng như cho phép họ chuyển nhượng và tích tụ ruộng đất để phát triển sản xuất Kết quả là một loại hình sản xuất mới ra đời, sản xuất theo hướng hàng hoá, tiếp cận với thị trường, gắn liền với quá trình CNH- HĐH Đó chính là hình thức sản xuất trang trại [14].

Trong lịch sử nông nghiệp, kiểu tổ chức kinh tế xã hội đầu tiên là sản xuất tự cấp tự túc Những sản phẩm được sản xuất ra nhằm thoả mãn nhu cầu nào đó của chính bản thân người sản xuất, chưa dùng để trao đổi, mua bán nên sản xuất trong tái sản xuất gồm hai khâu: sản xuất xong thì tiêu dùng Quá trình sản xuất có tính khép kín [10]

Tuy nhiên trong vài năm trở lại đây, kinh tế hộ đã có sự chuyển dịch từ tiểu nông, sản xuất tự cấp tự túc lên KTTT sản xuất hàng hoá vốn là nhân tố không thể thiếu được để thúc đẩy CNH- HĐH nông nghiệp nông thôn, mà thực chất là hiện đại hoá nông nghiệp, văn minh hoá nông thôn, tri thức hoá nông thôn

Có thể nói đây là do sự tất yếu khách quan của quá trình phát triển sản xuất từ đơn giản đến phức tạp, từ qui mô nhỏ đến qui mô lớn, đặc biệt là do sự phân công lao động trong xã hội diễn ra mạnh mẽ Khi qui mô sản xuất tăng lên, nhu cầu về lao động tăng Do đó các hộ sản xuất kinh tế phải thuê thêm lao động bên ngoài Thêm vào đó, các hộ gia đình đã từng bước chuyển sang kinh tế sản xuất hàng hoá tạo ra khối lượng sản phẩm ngày càng nhiều Vì lẽ đó, kinh tế sản xuất hộ gia đình đã từng bước chuyển dần sang các hộ sản xuất hàng hoá Những hộ sản xuất giỏi, tha thiết với nghề nông đã trở thành những chủ trang trại gia đình, hoặc trang trại tư nhân Nó phản ánh xu hướng vận động tất yếu của nông nghiệp từ sản xuất nhỏ sang sản xuất lớn [19]

Sự phát triển kinh tế xã hội theo nhu cầu khách quan đã hình thành một hình thái sản xuất Nông- Lâm- Ngư nghiệp để sản xuất hàng hoá, với qui mô lớn, ,đầu tư cao hơn và hiệu quả kinh tế xã hội cũng cao hơn so với kinh tế sản xuất cá thể, hộ gia đình, đó là KTTT [21]

Trang trại là một loại hình sản xuất nông nghiệp được hình thành tương đối sớm trên thế giới, tuỳ từng thời kỳ mà có những hình thức, tên gọi khác nhau nhưng đều có

Trang 17

đặc điểm chung là sản xuất hàng hoá tự chủ với quy mô lớn Phát triển kinh tế trang trại là xu hướng tất yếu trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn hiện nay Ngày nay, trang trại là loại hình tổ chức sản xuất phổ biến trong nền nông nghiệp của hầu hết các quốc gia trên thế giới [22].

1.1.2 Đặc trưng của kinh tế trang trại [12]

Việc nghiên cứu những đặc trưng của kinh tế trang trại có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu cũng như trong thực tiễn quản lý Để xác định những đặc trưng của kinh tế trang trại, cần xuất phát từ những điểm khác biệt mang tính bản chất của kinh tế trang trại so với các hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung khác và

so với kinh tế nông hộ Điều này đòi hỏi phải xuất phát từ khái niệm về kinh tế trang trại đã được trình bày ở trên Với quan điểm như vậy, kinh tế trang trại mang những đặc trưng cơ bản sau đây:

- Phát triển kinh tế trang trại gắn với sản xuất Nông, Lâm, Thuỷ sản theo hướng hàng hoá và theo nhu cầu thị trường

Trải qua hàng thế kỷ, phát triển KTTT thực tế đã chứng minh đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại là sản xuất nông sản hàng hoá theo nhu cầu của thị trường.KTTT là hình thức kinh tế từng bước đưa nông dân từ hộ nông nghiệp tự cấp tự túc lên các hộ nông nghiệp hàng hoá Vai trò khách quan mang tính lịch sử này của kinh tế trang trại gắn liền với tính hai mặt của hộ nông dân, với trình độ phát triển của sản xuất nông nghiệp và sự giao lưu hàng hoá giữa thành thị và nông thôn [26]

Đặc trưng về mục đích sản xuất hàng hoá là đặc trưng quan trọng nhất của kinh

tế trang trại, bởi vì mục đích sản xuất hàng hoá chi phối và ảnh hưởng lớn, thậm chí quyết định tới các đặc trưng khác của KTTT

Quy mô của trang trại lớn gấp nhiều lần quy mô của hộ gia đình hay kiểu tiểu nông Nó được đánh giá bằng diện tích đất đai sử dụng, hay bằng giá trị sản lượng làm ra trong một năm hoặc đo bằng tỷ suất hàng hoá của trang trại

- Tư liệu sản xuất trong trang trại thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập.

Trang 18

Trong các trang trại mà tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu của chủ trang trại trong trường hợp đi thuê hoặc được giao quyền sử dụng thì tư liệu sản xuất đều thuộc quyền sử dụng của một người chủ độc lập.

- Quá trình tích tụ ruộng đất và vốn đầu tư được tập trung tới quy mô nhất định theo yêu cầu phát triển sản xuất hàng hoá.

Trong nông nghiệp cũng như trong ngành sản xuất vật chất khác, sản xuất hàng hoá chỉ có thể được tiến hành khi các yếu tố sản xuất được tập trung tới quy mô nào

đó Do đó ở các trang trại, sản xuất hàng hoá chỉ có thể được thực hiện khi ruộng đất, tiền vốn, tư liệu sản xuất được tập trung tới quy mô cần thiết (đủ lớn) Đặc trưng này được quy định bởi chính đặc trưng về mục đích sản xuất của trang trại ở các trang trại tư nhân, quy mô tập trung các yếu tố sản xuất lớn hơn hẳn so với các trang trại gia đình, còn các trang trại gia đình mặc dù có quy mô lớn hơn nhiều so với kinh

tế họ tự cấp, tự túc, song nói chung vẫn nằm trong khuôn khổ gia đình, chịu sự giới hạn nhất định của các yếu tố sản xuất nội lực Do vậy, sự tập trung các yếu tố sản xuất (ruộng đất, tiền vốn, tư liệu sản xuất, lao động ) ở đây dù theo yêu cầu sản xuất hàng hoá song cũng có những giới hạn nhất định

Đặc trưng về sự tập trung các yếu tố sản xuất của kinh tế trang trại có thể biểu thị về mặt lượng bằng những chỉ tiêu chủ yếu sau:

+ Quy mô diện tích ruộng đất của TT (nếu là TT chăn nuôi thì là số lượng gia súc, gia cầm )

+ Quy mô vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh của trang trại

- Tổ chức và quản lý sản xuất theo phương thức tiến bộ dựa trên sự chuyên môn hoá sản xuất, thâm canh, ứng dụng TBKHKT, thực hiện hoạch toán, điều hành sản xuất hợp lý và thường xuyên tiếp cận thị trường.

Về trình độ chuyên môn hoá sản xuất trong các TT: Chuyên môn hoá sản xuất của

TT là quá trình gắn liền với việc chuyển phương hướng sản xuất của trang trại từ sản xuất đa dạng, đa canh kết hợp trồng trọt với chăn nuôi sang sản xuất chuyên canh, tập trung vào một vài nông sản hàng hoá có lợi thế so sánh và khả năng sinh lời cao

- Chủ trang trại là người có ý chí, có năng lực tổ chức quản lý, có kiến thức và kinh nghiệm sản xuất, đồng thời có hiểu biết nhất định về kinh doanh.

Trang 19

Người chủ TT là người có những tố chất cần thiết để tổ chức và quản lý hoạt động SXKD của trang trại Những tố chất cần thiết và chủ yếu của chủ TT là: Có ý chí và quyết tâm làm giàu từ nghề nông; Có năng lực tổ chức quản lý; Có kiến thức

và kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp, đồng thời có hiểu biết nhất định về hoạch toán, phân tích kinh doanh, tiếp cận thị trường

- Phát triển kinh tế trang trại giải quyết việc làm cho người lao động:

Thông thường các TT trong Nông, Lâm, Ngư nghiệp đều có quy mô sản xuất lớn hơn hẳn so với quy mô sản xuất của hộ nông dân Ngay trong các TT gia đình quy mô sản xuất cũng thường lớn hơn khoảng 3 lần so với quy mô sản xuất bình quân của một hộ nông dân trong vùng Điều này dẫn đến nhu cầu về lao động trong các TT đều vượt quá khả năng nguồn lao động gia đình và do đó các TT đều có thuê mướn lao động

Quy mô thuê mướn lao động của trang trại trong các loại hình khác nhau và phụ thuộc chủ yếu vào các loại hình trang trại và quy mô sản xuất của các trang trại Có hai hình thức thuê mướn lao động trong các trang trại đó là: Thuê lao động thường xuyên và thuê lao động theo thời vụ Trong hình thức thuê lao động thường xuyên, trang trại thuê người lao động làm việc ổn định quanh năm, còn trong hình thức thuê lao động theo thời vụ, trang trại chỉ thuê người lao động làm việc theo thời vụ sản xuất

Thông thường các trang trại tư nhân có quy mô sản xuất lớn thì thuê cả lao động thường xuyên và lao động thời vụ, trong đó lao động thường xuyên là chủ yếu Các

TT tiểu nông thuê cả hai loại lao động, nhưng lao động thời vụ là chủ yếu, còn TT gia đình do quy mô sản xuất nhỏ hơn các loại hình TT trên nên thường là lao động thời vụ.”[12]

1.1.3 Vị trí, vai trò của kinh tế trang trại

Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, NTTS, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ Nông, Lâm, Thuỷ sản

Trang 20

Phát triển KTTT nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý góp phần phát triển nông nghiệp bền vững; tạo việc làm, tăng thu nhập; khuyến khích làm giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo; phân bổ lại lao động, dân cư, xây dựng nông thôn mới.

Quá trình chuyển dịch, tích tụ ruộng đất hình thành các trang trại gắn liền với quá trình phân công lại lao động ở nông thôn, từng bước chuyển dịch lao động nông nghiệp sang làm các ngành phi nông nghiệp, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá trong nông nghiệp và nông thôn [20]

Ở nước ta KTTT mặc dù mới phát triển trong những năm gần đây nhưng đóng vai trò quan trọng thể hiện rõ ở nhiều mặt: kinh tế, xã hội và môi trường

- Về mặt kinh tế, các trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hoá cao, khắc phục dần tình trạng sản xuất phân tán, manh mún, tạo nên những vùng chuyên môn hoá, tập trung hàng hóa và thâm canh cao Mặt khác qua thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trang trại góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn Do vậy, phát triển KTTT góp phần tích cực thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn [17]

- Về mặt xã hội, phát triển KTTT góp phần quan trọng làm tăng số hộ giàu trong nông thôn, tạo thêm việc làm và tăng thêm thu nhập cho lao động Điều này rất

có ý nghĩa trong giải quyết vấn đề lao động và việc làm, một trong những vấn đề bức xúc của nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay [17]

- Về mặt môi trường, do sản xuất kinh doanh tự chủ và vì lợi ích thiết thực, lâu dài của mình mà các chủ TT luôn có ý thức khai thác hợp lý và quan tâm bảo vệ các yếu tố môi trường, trước hết là trong phạm vi không gian sinh thái TT và sau nữa là trong phạm vi từng vùng Các trang trại ở trung du, miền núi đã góp phần quan trọng vào việc trồng rừng, bảo vệ rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai Những việc làm này đã góp phần tích cực cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái trên các vùng của đất nước [17]

Trang 21

1.1.4 Các loại hình và tiêu chí xác định trang trại

1.1.4.1 Các loại hình kinh tế trang trại [14]

Phân loại theo quy

mô Phân Phân

Phân loại theo loại hình sản xuất Phân Phân

Phân loại theo chủ thể kinh

doanh

Khá lớn: 5-10 ha

+ Trồng cây ăn quả+ Trồng cây lâu năm + Trồng cây lương thực, thực phẩm

Trang trang tư nhân kinh doanh nông nghiệp

(Nguồn: Nghiên cứu các giải pháp phát triển KTTT huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên)

1.1.4.2 Tiêu chí xác định kinh tế trang trại

Ở Việt Nam, kinh tế trang trại mới hình thành trong những năm gần đây, những

đã có sự hiện diện hầu hết các ngành sản xuất, Nông, Lâm nghiệp, ở các vùng kinh tế với các quy mô và phương thức sản xuất kinh doanh đa dạng, nhưng và là vấn đề mới nên chưa xác định được tiêu chí cụ thể để nhận dạng và phân loại trang trại về định tính và định lượng

Trang 22

- Mức độ tập trung hoá và chuyên môn hoá các điều kiện và yếu tố sản xuất cao hơn hẳn (vượt trội) so với sản xuất của nông hộ, thể hiện ở quy mô sản xuất như: Đất đai, đầu con gia súc, lao động, giá trị Nông- Lâm- Thuỷ sản hàng hoá.

- Chủ trang trại có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sản xuất, biết

áp dụng tiến bộ KH- KT, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất, sử dụng lao động gia đình và thuê lao động bên ngoài sản xuất hiệu quả cao, có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ

Tiêu chí định lượng

Dùng để phân biệt rõ ràng trang trại, không phải trang trại và để phân loại các trang trại khác nhau Ngày 23/6/2000 Liên Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục thống kê đã ra Thông tư số 69/2000/TTLT/BNNTCT; Sau đó ngày 4/7/2003 Bộ Nông nghiệp và PTNT ra Thông tư số 74/TT-BNN về việc sửa đổi bổ sung mục III của thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 23/6/2000 hướng dẫn xác định tiêu chí kinh tế trang trại

Cụ thể như sau:

* Các đối tượng và ngành sản xuất được xem xét để xác định là KTTT: Hộ nông dân, hộ công nhân viên Nhà nước và lực lượng vũ trang đã nghỉ hưu, các loại đô thị và cá nhân chuyên sản xuất (bao gồm Nông nghiệp, Lâm nghiệp, NTTS) hoặc sản xuất nông nghiệp là chính, có kiêm nhiệm các hoạt động dịch vụ phi nông nghiệp ở nông thôn

* Tiêu chí định lượng để xác định là kinh tế trang trại:

- Một hộ sản xuất Nông nghiệp, Lâm nghiệp, NTTS được xác định là trang trại phải đạt một trong hai tiêu chí về giá trị sản lượng hàng hoá bình quân 1 năm, hoặc quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế

- Đối với hộ sản xuất kinh doanh tổng hợp có nhiều loại sản phẩm hàng hoá của các ngành Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thuỷ sản thì tiêu chí để xác định trang trại là giá trị sản lượng hàng hoá, dịch vụ bình quân 1 năm

* Tiêu chí xác định kinh tế trang trại :

Trang 23

Một hộ sản xuất Nông nghiệp, Lâm nghiệp, NTTS được xác định là trang trại phải đạt một trong hai tiêu chí định lượng sau đây:

1 Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân 1 năm phải đạt từ 40 triệu đồng trở lên/TT

2 Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế

2.1 Đối với trang trại trồng trọt

- Trang trại trồng cây hàng năm: Từ 2 ha trở lên

- Trang trại trồng cây lâu năm: Từ 3 ha trở lên

- Trang trại lâm nghiệp: Từ 10 ha trở lên

2.2 Đối với trang trại chăn nuôi:

a) Chăn nuôi đại gia súc (Trâu, Bò, )

- Chăn nuôi sinh sản: Có thường xuyên 10 con trở lên

- Chăn nuôi lấy thịt: Có thường xuyên 50 con trở lên

b) Chăn nuôi gia súc (Lợn, Dê, )

- Chăn nuôi sinh sản: Có thường xuyên 20 con trở lên đối với Lợn, 100 con trở lên đối với Dê

- Chăn nuôi lấy thịt: Có thường xuyên 100 con trở lên đối với Lợn (không kể Lợn sữa), 200 con trở lên đối với Dê

c) Chăn nuôi gia cầm (Gà, Vịt, Ngan, Ngỗng ) có thường xuyên từ 2.000 con trở lên (không tính số con dưới 7 ngày tuổi)

2.3 Trang trại NTTS:

Diện tích nuôi trồng thuỷ sản có từ 2 ha trở lên (riêng đối với nuôi Tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên)

2.4 Trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp:

Là những trang trại có từ 2 hoạt động sản xuất Nông, Lâm nghiệp và NTTS khác nhau trở lên và mỗi hoạt động đều đạt về quy mô hoặc mức giá trị hàng hoá và dịch vụ như quy định cho trang trại bình quân từ 40 triệu đồng trở lên/năm

Trang 24

Đối với các loại sản phẩm nông lâm nghiệp, NTTS có tính chất đặc thù như: Trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thuỷ sản, thuỷ đặc sản thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hoá bình quân một năm đạt từ 40 triệu đồng trở lên.

 Bộ NN& PTNT vừa ban hành Thông tư số 27/2011/TT- BNNPTNT quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại Theo đó, các trang trại được xác định theo lĩnh vực sản xuất (trang trại trồng trọt; trang trại chăn nuôi; trang trại lâm nghiệp )

Cá nhân, hộ gia đình sản xuất Nông nghiệp, Lâm nghiệp, NTTS đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại phải thỏa mãn điều kiện sau: Đối với cơ sở trồng trọt, NTTS, sản xuất tổng hợp phải có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu 3,1 ha đối với vùng Đông Nam

Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại, giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên (tiêu chí xác định kinh tế trang trại được điều chỉnh phù hợp với điều kiện KT- XH của đất nước trong từng thời kỳ, ổn định trong thời gian tối thiểu là 5 năm) UBND huyện, quận, thị xã, TP trực thuộc tỉnh là cơ quan cấp, cấp đổi, cấp lại và thu hồi giấy chứng nhận kinh tế trang trại Chủ trang trại được hưởng các chính sách khuyến khích hỗ trợ phát triển và có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định hiện hành [38]

1.1.5 Điều kiện ra đời và phát triển của kinh tế trang trại

Theo Nghị Quyết của Chính Phủ về kinh tế trang trại Số: 03/2000/NQ-CP Ngày

02 Tháng 02 năm 2000 Nhà nước đã có những tác động tích cực như sau:

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, kinh tế hộ nông dân đã phát huy tác dụng to lớn, tạo sức mạnh mới trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp và kinh

tế nông thôn Trên nền tảng kinh tế tự chủ của hộ nông dân đã hình thành các TT được đầu tư vốn, lao động với trình độ công nghệ và quản lý cao hơn, nhằm mở rộng quy

mô sản xuất hàng hoá và nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh trong cơ chế thị trường

Trang 25

Hiện nay, hình thức KTTT đang tăng nhanh về số lượng với nhiều thành phần kinh tế tham gia, nhưng chủ yếu vẫn là TT hộ gia đình nông dân và một tỷ lệ đáng kể của gia đình cán bộ, công nhân, viên chức, bộ đội, công an đã nghỉ hưu Hầu hết các

TT có quy mô đất đai dưới mức hạn điền, với nguồn gốc đa dạng, sử dụng lao động của gia đình là chủ yếu; một số có thuê lao động thời vụ và lao động thường xuyên, tiền công lao động được thoả thuận giữa hai bên Hầu hết vốn đầu tư là vốn tự có và vốn vay của cộng đồng; vốn vay của tổ chức tín dụng chỉ chiếm tỷ trọng thấp Phần lớn trang trại phát huy được lợi thế của từng vùng, kinh doanh tổng hợp, lấy ngắn nuôi dài

Sự phát triển của KTTT đã góp phần khai thác thêm nguồn vốn trong dân, mở mang thêm diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá, nhất là ở các vùng trung du, miền núi và ven biển; tạo thêm việc làm cho lao động nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo; tăng thêm nông sản hàng hoá Một số trang trại đã góp phần sản xuất và cung ứng giống tốt, làm dịch vụ, kỹ thuật tiêu thụ sản phẩm cho nông dân trong vùng

Nhà nước khuyến khích phát triển và bảo hộ kinh tế trang trại Các hộ gia đình, cá nhân đầu tư phát triển kinh tế trang trại được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài theo pháp luật để SXKD

Nhà nước đặc biệt khuyến khích việc đầu tư khai thác và sử dụng có hiệu quả đất trống, đồi núi trọc ở trung du, miền núi, biên giới, hải đảo, tận dụng khai thác các loại đất còn hoang hoá, ao, hồ, đầm, bãi bồi ven sông, ven biển, mặt nước eo vịnh, đầm phá để sản xuất Nông, Lâm, Ngư nghiệp theo hướng chuyên canh với tỷ suất hàng hoá cao Đối với vùng đất hẹp, người đông, khuyến khích phát triển KTTT sử dụng ít đất, nhiều lao động, thâm canh cao gắn với chế biến và thương mại, dịch vụ, làm ra nông sản có giá trị kinh tế lớn Ưu tiên giao đất, cho thuê đất đối với những hộ nông dân có vốn, kinh nghiệm sản xuất, quản lý, có yêu cầu mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp hàng hoá và những hộ không có đất sản xuất nông nghiệp mà có nguyện vọng tạo dựng cơ nghiệp lâu dài trong nông nghiệp

Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát huy kinh tế tự chủ của hộ nông dân, phát triển KTTT đi đôi với chuyển đổi hợp tác xã cũ, mở rộng các hình thức kinh tế hợp tác, liên kết SXKD giữa các hộ nông dân, các TT, các nông, lâm trường

Trang 26

quốc doanh, doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác để tạo động lực và sức mạnh tổng hợp cho nông nghiệp, nông thôn phát triển.Nhà nước hỗ trợ về vốn, khoa học- công nghệ, chế biến, tiêu thụ sản phẩm, xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho các TT phát triển bền vững Tăng cường công tác quản lý Nhà nước để các trang trại phát triển lành mạnh, có hiệu quả.Bên cạnh đó còn có các điều kiện để hình thành và phát triển KTTT như:

- Thứ nhất: yếu tố kinh tế nông hộ Cùng với quá trình phát triển của nền kinh

tế, kinh tế nông hộ ngày càng phát triển Quá trình tích tụ và tập trung ruộng đất, vốn, lao động, tri thức KHKT đến một quy mô nhất định sẽ hình thành KTTT

- Thứ hai: Kinh tế thị trường là yếu tố có tính chất quyết định đối với phát triển KTTT KTTT phát triển như thế nào phụ thuộc rất lớn vào kinh tế thị trường.TT sản xuất ra những sản phẩm gì có đáp ứng được nhu cầu của thị trường hay không?

Ngày nay thị trường tiêu thụ nông sản ngày càng rộng lớn khi Việt Nam là thành viên quan trọng của ASEAN, WTO, là bạn hàng lâu năm và tin cậy của nhiều nước, nhiều khu vực, các chính sách hỗ trợ trong và ngoài nước giành cho nông nghiệp, nông thôn, nông dân ngày càng mở rộng về quy mô và phạm vi

- Thứ ba: Sự phát triển của KHKT KHKT có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến sự phát triển của KTTT Trong những năm qua nhiều thành tựu KHKT đã được áp dụng mạnh mẽ và nhanh chóng vào trong nông nghiệp Nhờ sự phát triển của KHKT đã tạo

ra nhiều sản phẩm hàng hoá như là yếu tố đầu vào cho sản xuất của các TT đó là các loại vật tư, phân bón, giống cây con các loại, máy móc thiết bị Chính những yếu tố đầu vào có chất lượng tốt đã tạo ra một khả năng to lớn góp phần tăng năng suất, sản lượng và chất lượng của sản phẩm nông nghiệp Số lượng TT ngày càng tăng lên trong đó có nhiều TT đã mạnh dạn ứng dụng KHKT vào SXKD những loại cây trồng vật nuôi, những loại sản phẩm mới có năng suất và chất lượng cao hơn và do đó làm tăng hiệu quả SXKH của các TT một cách rõ rệt

Ngoài ra còn có các điều kiện như: Có sự hỗ trợ của ngành công nghiệp chế biến Có sự hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hóa; Có một bộ phận dân cư có nguyện vọng, sở thích hoạt động sản xuất nông sản hàng hoá

Trang 27

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Trên thế giới

Kinh tế trang trại có lịch sử phát triển lâu đời, các chuyên gia về sử học và kinh tế học thế giới đã chứng minh từ thời đế quốc La Mã, các trang trại đã hình thành, trong đó, lực lượng sản xuất chủ yếu là các nô lệ Ở Trung Quốc trang trại có

từ đời nhà Đường Với nước ta,trang trại hình thành và phát triển dưới thời nhà Trần, với tên gọi chung là các “thái ấp”.Trang trại trên thế giới bắt đầu phát triển mạnh khi chế độ tư bản chủ nghĩa ra đời Năm 1802 ở Pháp có 5.672.000 trang trại, năm 1882

ở Tây Đức có 5.276.000, năm 1990 ở Mỹ có 5.737.000, Thái Lan năm 1963 có 3.214.000, Ấn Độ có hơn 44 triệu trang trại [28]

Quá trình phát triển công nghiệp, số lượng các trang trại giảm, nhưng quy mô

về diện tích và quy mô về doanh thu tăng lên Hiện nay ở Mỹ có 2,2 triệu trang trại, sản xuất mỗi năm 50% sản lượng đậu tương và ngô trên thế giới; ở Pháp có 0,98 triệu trang trại sản xuất một lượng nông sản gấp 2,2 lần nhu cầu trong nước; 1500 trang trại của Hà Lan mỗi năm sản xuất 7 tỷ bông hoa, 600 triệu chậu hoa; 4 triệu lao động trong các trang trại của Nhật Bản (chiếm 3,7% dân số cả nước) nhưng bảo đảm lương thực, thực phẩm cho hơn 100 triệu người Như vậy trang trại là một mô hình tổ chức sản xuất phổ biến trong nông nghiệp, xu thế tất yếu của sản xuất nông nghiệp hàng

hóa [28]

Trên thế giới Xuất hiện cách đây khoảng hơn 200 năm, cho đến những năm cuối thế kỷ XX, kinh tế trang trại mà đặc biệt là trang trại gia đình đã trở thành mô hình sản xuất phổ biến nhất của nền nông nghiệp các nước phát triển, chiếm tỷ trọng lớn tuyệt đối về đất đai cũng như khối lượng nông sản, đặc biệt ở các nước Anh, Pháp, Nga nơi bắt đầu cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đầu tiên của nhân loại [14].Trải qua hàng mấy thế kỷ đến nay kinh tế trang trại tiếp tục phát triển ở những nước tư bản chủ nghĩa lâu đời cũng như các nước đang phát triển, các nước công nghiệp mới và đi vào những xã hội chủ nghĩa với cơ cấu và quy mô sản xuất khác nhau

Trang 28

Châu Âu các nước của cuộc cách mạng công nghiệp lần I đã xuất hiện hình thức

tổ chức trang trại nông nghiệp sản xuất hàng hóa thay thế cho hình thức sản xuất tiểu nông và hình thức điền trang của các thế lực phong kiến quý tộc [17]

Ở nước Anh đầu thế kỷ thứ XVII sự tập trung ruộng đất đã hình thành lên những xí nghiệp công nghiệp tư bản tập trung trên quy mô rộng lớn cùng với việc sử dụng lao động làm thuê Mọi hoạt động SXKD nông nghiệp ở đây giống như mô hình hoạt động của các công xưởng công nghiệp, thực tế cho thấy, sản xuất nông nghiệp tập trung, quy mô và sử dụng nhiều lao động làm thuê đã không dễ dàng mang lại hiệu quả mong muốn Sang đầu thế kỹ XX, lao động nông nghiệp bắt đầu giảm, nhiều nông trại đã bắt đầu giảm lao động làm thuê Khi ấy thì 70 - 80% nông trại gia đình không thuê lao động Đây là thời kỳ thịnh vượng của nông trại gia đình,

vì khi lao động nông nghiệp giảm thì sự phát triển của công nghiệp, dịch vụ đã thu hút lao động nhanh hơn độ tăng của lao động nông nghiệp [24]

Tại nước Mỹ và các nước Tây Âu kinh tế trang trại đã xuất hiện từ những năm

1950, tuy nhiên ngày càng số lượng trang trại ngày càng ít đi, tại Mỹ năm 1950 có 5.648.000 trang trại đến năm 1992 còn 1.920.000 trang trại, diện tích trang trại bình quân của các trang trại ngày càng tăng, tại Mỹ diện tích bình quân năm 1950 là 86 ha, đến năm 1992 là 198,7 ha [23]

Tại Anh năm 1950 diện tích bình quân TT là 36 ha, đến năm 1987 là 71 ha [24] Tại các nước Châu Á KTTT chịu sự chi phối của điều kiện tự nhiên, dân số nên

có những đặc điểm khác với TT ở các nước Châu Âu về quy mô và số lượng trang trại Tại các nước Châu Á do đất canh tác trên đầu người vào loại thấp trên thế giới như Đài Loan: 0,47 ha; Malaixia: 0,25 ha; Hàn Quốc: 0,53 ha…, trong khi đó ở các quốc gia Châu Á đều có dân số đông nên có ảnh hưởng đến quy mô TT [24]

Chính vì vậy ở các nước Châu Á nói chung, hiện tượng tích tụ ruộng đất diễn ra chậm nên tình trạng manh mún, phân tán ruộng đất cũng là một trong trở ngại trong vấn đề phát triển KTTT

Đối với các nước Châu Âu, nước Mỹ thì trang trại bao gồm: TT gia đình; TT liên doanh, TT liên doanh cổ phần và TT ủy thác cho người nhà, bạn bè quản lý, sản xuất Trong đó trang trại gia đình là loại hình TT mà mỗi gia đình có tư cách pháp

Trang 29

nhân riêng do người chủ hộ hay một người có năng lực và uy tín trong gia đình đứng

ra quản lý, ở nhiều nước phát triển, những chủ TT muốn được nhà nước công nhận thì trình độ quản lý và tư cách pháp nhân phải tốt nghiệp các trường kỹ thuật và quản

lý nông nghiệp, đồng thời có kinh nghiệm qua thực tập lao động sản xuất kinh doanh một năm ở các trang trại khác Các chủ trang trại họ đều là những chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp, có trình độ học vấn, họ thường xuyên liên hệ đối với các cơ quan khoa học để thu thập thông tin kinh tế kỹ thuật, tham gia hội thảo khoa học Đây là loại hình trang trại phổ biến còn các loại hình trang trại liên doanh, trang trại liên doanh cổ phần thì đây là loại hình trang trại có quy mô lớn, được chuyên môn hoá sản xuất, sử dụng lao động làm thuê là chủ yếu Ở Mỹ và các nước Châu Âu thì nguồn vốn và lao động của họ có những thuận lợi hơn so với các nước Châu Á, các trang trại được mua chịu tư liệu sản xuất, được hỗ trợ vay vốn với lãi xuất thấp để mua tư liệu sản xuất Về lao động và kỹ thuật, các trang trại ở Châu Âu và các nước phát triển tăng cường sử dụng máy móc hiện đại và mức độ cơ giới ngày càng từng bước tiến tới tự động hoá, tin học hoá, hoá học hoá trong sản xuất, trong các trang trại số lượng lao động trong nông nghiệp của gia đình cũng như lao động làm thuê ngày càng giảm dần [17]

1.2 2 Ở Việt Nam

Ngay từ những năm đầu công nguyên, khi phong kiến Trung Quốc sang đô hộ nước ta, do không nắm được cơ sở bên dưới của xã hội là các làng xã, nhà Hán chủ trương muốn giữ được đất đai mới chiếm được, đã lập nên các đồn điền để tướng lĩnh, binh lính cai quản, sử dụng tội nhân hoặc dân nghèo canh tác, gắn với "điền địa"

có lẽ vì vậy được gọi là các đồn điền [19]

Trong thời kỳ phong kiến dân tộc, một số triều đại phong kiến đã có những chính sách khai khẩn đất hoang bằng cách lập đồn điền hoặc doanh điền Trong nông nghiệp, các hình thức sản xuất tập trung biểu hiện dưới các hình thức và tên gọi khác nhau như: điều trang, điền doanh, thái ấp, điền tranh nhà chùa

Từ giữa thế kỷ XIX với chính sách bóc lột thuộc địa của thực dân Pháp, nền kinh tế nước ta bắt đầu có sự biến đổi quan trọng Trong nông nghiệp, hệ thống đồn điền gắn liền với sản xuất hàng hoá bắt đầu phát triển, chủ yếu là của người Pháp

Trang 30

Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, đồn điền là những vùng ruộng đất do người Pháp mua hoặc được Chính phủ thuộc địa Pháp nhượng, cấp cho Các chủ đồn điền có toàn quyền quyết định đối với việc SXKD trên ruộng đất đó Trong thời kỳ Pháp thuộc, cũng đã có một số đồn điền của người Việt Nam nhưng không nhiều [24].

Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, cơ chế kế hoạch hoá tập trung được áp dụng trong nền nông nghiệp cả nước, một loại Nông, Lâm trường quốc doanh đã ra đời, do ta tiếp thu những đồn điền cây công nghiệp của tư sản mại bản, của Ngụy quyền và một số mới được xây dựng trên những vùng đất hoang, ở những nơi có vị trí xung yếu về quốc phòng Cho đến năm 1982, ở miền Nam đã xây dựng được 250 nông trường Các nông trường ở miền Nam đã quản lý 180.000 ha đất đai cùng với nông trường cả nước chiếm 3% diện tích nông nghiệp, nhưng cung cấp 6% giá trị sản phẩm nông nghiệp và 20% giá trị nông phẩm xuất khẩu của cả nước (chiếm 100% sản lượng cao su xuất khẩu, 50% chè xuất khẩu)

Sau Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (1988), Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, Luật đất đai, Luật dân sự, luật doanh nghiệp, Luật đầu tư và các Nghị định nhằm thể chế hoá chính sách đối với kinh tế tư nhân trong nông nghiệp Nghị quyết Hội nghị TW lần thứ năm (khoá VII) năm 1993 đã chủ trương khuyến khích phát triển các Nông, Lâm, Ngư trại với quy mô thích hợp Luật đất đai năm

1993 và Nghị định 64/ CP ngày 27/9/1993 cũng đã thể chế hoá chính sách đất đai đối với các hộ gia đình và cá nhân trong việc kinh doanh nông nghiệp Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII năm 1996 và sau đó, Nghị quyết Hội nghị TW lần thứ tư (khoá VIII) tiếp tục khuyến khích phát triển KTTT với các hình thức khác nhau [25]

Trong những năm gần đây, đặc biệt là từ sau Nghị quyết 10 của Bộ chính trị, ở hầu hết các địa phương trong cả nước, KTTT đã phát triển rất nhanh chóng Nhiều địa phương

đã có những chính sách cụ thể khuyến khích phát triển loại hình này Thực tiễn đã chứng

tỏ rằng loại hình KTTT tuy mới hình thành nhưng có hiệu quả, đem lại những lợi ích to lớn về nhiều mặt khơi dậy tiềm năng về đất đai, lao động, tiền vốn trong dân cư, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đồng thời nó đã trở thành động lực mới góp phần thúc đẩy nông nghiệp nước ta phát triển mạnh mẽ trong thời gian qua [18]

Trang 31

Mặc dù đã xuất hiện từ rất sớm nhưng kinh tế trang trại ở Việt Nam mới chỉ phát triển mạnh trong những năm gần đây, đặc biệt kể từ khi thực hiện Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung Ương (1981), Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân và sau khi Luật Đất đai ra đời năm 1993 Cho đến khi Chính phủ ban hành nghị quyết 03/2000/ NQ - CP ngày 02/02/2000 về kinh tế trang trại đã nhấn mạnh chủ trương của Chính phủ trong việc phát triển kinh tế trang trại.Tạo điều kiện hợp pháp cho loại hình kinh tế trang trại phát huy năng lực sản xuất, kinh doanh thông qua các chính sách ưu đãi về nhiều mặt đối với KTTT.

Cùng với các hộ gia đình công nhân viên chức làm nông nghiệp, lại có tích lũy về vốn, kinh nghiệm sản xuất và kinh nghiệp quản lý, tiếp cận được với thị trường, thì sản xuất nông nghiệp mới thoát khỏi cái vỏ tự cấp, tự túc và vươn tới nền sản xuất hàng hóa

- KTTT là một loại hình kinh tế phổ biến trong Nông, Lâm, Ngư nghiệp hình

thành và phát triển ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Loại hình này cũng đã và đang hình thành ở nông nghiệp nông thôn Việt Nam trong những năm gần đây, là hình thức tổ chức kinh tế khơi dậy và phát huy những tiềm năng sẵn có, thích hợp trong việc cơ giới hóa, công nghiệp hóa và áp dụng KHKT tiên tiến vào SXKD trong nông nghiệp

Ở Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) đã chỉ ra trong thời kỳ quá độ

ở nước ta phải là “nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần” và tiếp đến (4/1989) trong nông nghiệp có Nghi quyết 6 (khóa VI) năm 1989 đã khẳng định rằng “gia đình xã viên trở thành những đơn vị kinh tế tự chủ”, đồng thời luật doanh nghiệp tư nhân cũng được công bố ngày 3/1/1991 Đó là cơ sở để chủ trang trại phát triển với tốc độ

và quy mô ngày càng cao lớn hơn

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN& PTNT), năm

1989 cả nước ta có 5.215 trang trại; đến năm 1992 tăng lên đến 13.246 trang trại, nhiều gấp 2,53 lần so với năm 1989; đến năm 1999 cả nước có 9.0167 trang trại, tăng 6,80 lần so với năm 1989 Diện tích đất kinh doanh nông nghiệp trong cùng thời gian

tử năm 1989 đến 1992 đã tăng từ 22.946 ha lên 58.282 ha, gấp 2,54 lần, đến năm

1999 tăng lên 369.282 ha, gấp 6,81 lần so với năm 1992 và gấp 17,29 lần so với năm

Trang 32

1989 Vốn đầu tư của các trang trại cả nước, nếu tính từ khi mới thành lập ở năm

1989 của 5.215 trang trại có chừng 513.677 triệu đồng thì đến năm 1999 của 90.167 trang trại đã đầu tư đến 18.030.000 triệu đồng nhiều hơn gấp 35,1 lần [23]

Tính đến giữa năm 2009 cả nước có khoảng 150.102 TT, bình quân mỗi tỉnh

có 2.382 TT, chủ yếu tập trung ở Đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Hồng Từ năm 2000 đến nay, mỗi năm tăng thêm khoảng 8.600 TT Những địa phương có nhiều quỹ đất Nông, Lâm nghiệp và diện tích mặt nước chưa sử dụng, hay vùng kinh tế năng động, thì KTTT phát triển nhanh [23]

Hiện nay, có 47,2% TT trồng trọt nông nghiệp; 26,1% trang trại NTTS; 13,3% TT chăn nuôi; 0,7% trang trại lâm nghiệp và 9,7% trang trại SXKD tổng hợp Các loại hình trên có xu hướng chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng NTTS và chăn nuôi Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, sông Hồng và Nam Trung Bộ đã chuyển hàng ngàn ha lúa sang NTTS Ở những vùng sản xuất nguyên liệu gắn với khu công nghiệp chế biến, như Mía đường, Dứa… thì TT trồng trọt nông nghiệp vẫn ổn định và phát triển

Trong 5 năm qua, tốc độ tăng trưởng bình quân của kinh tế trang trại là 13,8% Năm 2007, tổng vốn sản xuất của hệ thống trang trại đạt 29.320,1 tỉ đồng, vốn sản xuất bình quân của một trang trại là 257,8 triệu đồng Nhiều trang trại ở các tỉnh phía Nam như: Lâm Đồng, Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu có quy

mô vốn bình quân hơn 500 triệu đồng Lợi nhuận bình quân từ KTTT đạt gần 120 triệu đồng/trang trại, cao gấp 15 lần so với lợi nhuận bình quân của nông hộ Giá trị sản phẩm hàng hóa của các trang trại cao hơn mức bình quân chung của cả nước từ 7-10% Tỉ lệ hàng hóa của nhiều trang trại đạt hơn 90% như cà phê, cao su… Một số trang trại đã kết hợp sản xuất và chế biến, nên đạt hiệu quả kinh tế cao

1.2.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan

Nông nghiệp nông thôn Việt Nam đã có bước phát triển không ngừng trong thời kì đổi mới Đại hội IX của Đảng đã đánh giá: "Kinh tế tăng trưởng khá.Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân hàng năm 7% Nông nghiệp phát triển liên tục đặc biệt là sản xuất lương thực.Việc nuôi trồng và khai thác thủy sản, hải sản được mở rộng" Sự thắng lợi

Trang 33

của nền nông nghiệp VN bắt nguồn từ cơ chế giải phóng sức lao động của người nông dân như "khoán 10", tổ chức lại Hợp tác xã nông nghiệp, khuyến khích nông thôn làm giàu bằng mọi hình thức tổ chức sản xuất, mới nhất là KTTT Khi bàn đến "những yếu tố trực tiếp tác động đến phát triển nông nghiệp và nông thôn", viện chiến lược phát triển (Bộ kế hoạch và đầu tư) nhận định: "Trong thời gian gần đây yếu tố kinh tế trang trại đã thúc đẩy tăng trưởng một số sản phẩm nông nghiệp; thể hiện xu thế hiện đại hóa phát triển nông nghiệp" Mục tiêu của cách mạng Việt Nam thời gian tới là thực hiện chiến lược kinh tế xã hội 10 năm 2001 - 2010, "chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng CNH- HĐH" Chính vì vậy phát triển KTTT là một yêu cầu không thể thiếu trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà Nước ta [20].

Có thể nói, KTTT ra đời và phát triển đã tạo điều kiện để những người nông dân tự làm giàu trên mảnh đất của mình bằng sức lực của chính mình Trên cơ sở đó,

họ đã góp phần làm cho quê hương của mình ngày càng phát triển Đồng thời, nhờ sự giao lưu học hỏi giúp đỡ lẫn nhau giữa các chủ trang trại, các hộ còn khó khăn đã có điều kiện gia tăng sản xuất, giải quyết vấn đề việc làm cho người dân Từ đó góp phần không nhỏ vào chương trình xoá đói giảm nghèo 135 của Chính phủ

Vì thế hiện nay KTTT đang được nhiều người quan tâm đến, từ các tổ chức trong nước, các cấp chính quyền đến toàn thể nhân dân nhằm tập trung để phát triển kinh tế nông nghiệp

Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu như: “Hỏi đáp về kinh tế trang trại” của Phạm Công Chung, NXB Văn hóa (2005), “Phát triển và quản lý trang trại trong cơ chế thị trường” của PGS TS Lê Trọng, NXB Văn hóa dân tộc (2000) “Một số luận điểm về kinh tế trang trại" của tác giả Trần Đức, Kinh tế trang trại vùng đồi núi, NXB Thống kê, Hà Nội, 1998; "KTTT đột phá mới trong nông nghiệp" của Phạm Quang Lê, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 12 năm 1999; "Về KTTT

và kinh tế hợp tác" của tác giả Quang Cận, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 9 năm 1999

“Khảo sát kinh tế trang trại”, của PGS TS Nguyễn Sinh Cúc, Tạp chí nghiên cứu kinh

tế, số 248, năm 1999; “Thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở nước ta” của GS TS Nguyễn Thế Nhã, Tạp chí nghiên cứu kinh tế, số 257, năm 1999; “Về phát triển kinh tế trang trại ở nước ta” của PGS TS Lê Du Phong, Báo Nhân dân, số 16377, năm 2000;

“Vai trò KTTT trong sự nghiệp xây dựng kinh tế và củng cố quốc phòng ở nông thôn

Trang 34

nước ta Nhìn chung các cuốn sách và bài viết nêu trên đều tập trung phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về sự ra đời, hình thành và phát triển của loại hình kinh tế này; khẳng định vai trò của nó đối với phát triển KT- XH, đưa ra được những quan niệm, đặc trưng cơ bản của KTTT, luận giải cơ sở khoa học về phát triển loại hình kinh tế này, nhưng chưa đạt được sự tường tận và hệ thống

Ở Hà Tĩnh cũng có nhiều báo chí và hội thảo đề cập đến phát triển kinh tế trang trại, mấy năm gần đây cũng có nhiều đề tài nghiên cứu như: “Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Thạch Hà- Hà Tĩnh” của Trần Văn Sơn (2009), “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Hương Sơn- Hà Tĩnh” của Phan Thị Cúc (2009) Ở Can Lộc cũng có các báo cáo về tình hình phát triển KTTT nhưng vẫn chưa phát huy hết lợi thế và khắc phục được khó khăn để phát triển KTTT của địa phương Vì thê đề tài “Đánh giá thực trạng và

đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện Can Lộc - Hà Tĩnh” của tôi dựa trên cơ sở lý luận có tính kế thừa vận dụng vào tình hình thực tiễn nghiên cứu phân tích thực trạng phát triển KTTT ở huyện Can Lộc và từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, góp phần nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân địa phương

Trang 35

CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu các trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp, trồng trọt, chăn nuôi, NTTS, lâm nghiệp trên địa bàn huyện Can Lộc

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Do thời gian thực hiện đề tài có hạn nên tôi chỉ tiến hành điều tra phỏng vấn

60 trang trại trên địa bàn huyện Can Lộc, chủ yếu là loại hình trang trại kinh doanh tổng hợp Đề tài chỉ tập trung tiến hành đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại huyện Can Lộc

- Tính hiệu quả của các trang trại chủ yếu chỉ mới dựa vào các chỉ số như: hiệu quả sử dụng đất, hiệu quả sử dụng vốn, thu nhập của trang trại/ chi phí

- Thời gian thực hiện đề tài: Từ ngày 01 tháng 2 năm 2010 đến ngày 15 tháng 5 năm 2010

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở huyện Can Lộc

- Đánh giá hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các trang trại

- Những thuận lợi, khó khăn ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại của huyện Can Lộc

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế trang trại bền vững ở Can Lộc

2.3 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài đúng mục tiêu và nội dung, đề tài thực hiện các phương pháp nghiên cứu sau:

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

2.3.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp

+ Số liệu thống kê qua Niên giám thống kê hàng năm của huyện

Trang 36

+ Các thông tin, tài liệu có liên quan đến các vấn đề TT, KTTT, hiệu quả kinh

tế TT trên thế giới và Việt Nam thu thập qua báo chí, tạp chí, mạng Internet

+ Các báo cáo Nghị Quyết, số liệu cơ bản tình hình kinh tế xã hội của tỉnh, huyện, xã nghiên cứu thu thập tại Phòng NN& PTNT huyện Can Lộc

+ Các đề án, báo cáo tổng kết hàng năm về hoạt động của TT trên địa bàn huyện Can Lộc

2.3.1.2 Điều tra thực địa

- Lựa chọn địa điểm: Tiến hành điều tra các TT trên địa bàn huyện Can Lộc

Can Lộc là một huyện nằm ở phía Bắc cách thành phố Hà Tĩnh khoảng

20 km, trong những năm gần đây mô hình KTTT trên địa bàn phát triển nhanh về

số lượng và chất lượng cũng như quy mô, từng bước khẳng định vị trí vai trò là hình thức sản xuất kinh doanh phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa bàn, tạo ra một lượng giá trị hàng hóa lớn về Nông, Lâm, Thủy sản và có quy

mô vượt trội nhiều lần so với kinh tế hộ gia đình Tuy nhiên để phát huy được hết tiềm năng thì cần có hướng đi thích hợp với thế mạnh của vùng nhằm tạo ra một lượng giá trị hàng hóa lớn, hiệu quả kinh tế cao

- Chọn mẫu điều tra: Mẫu điều tra được lựa chọn theo sự hướng dẫn của chuyên viên phòng NN& PTNT và cán bộ nông nghiệp xã Trong năm 2011 toàn huyện Can Lộc có 804 trang trại phân bố rải rác ở tất cả các xã trong huyện Tuy nhiên tôi chỉ chọn lựa 71 trang trại đại diện cho toàn huyện, căn cứ vào tỉ lệ trang trại của huyện trên từng xã Căn cứ vào tỷ lệ các trang trại ở các xã trong huyện từ

đó lấy số lượng trang trại theo một tỷ lệ của từng xã và từng loại hình trang trại [Xem rõ ở phụ lục 1 và phụ lục 2]

- Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc: Xây dựng phiếu điều tra, xin giấy giới thiệu của phòng NN& PTNT huyện đến gặp trưởng Ban nông nghiệp xã và nhờ đưa đến các trang trại phỏng vấn trực tiếp các chủ trang trại theo phiếu điều tra đã lập

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Tham khảo ý kiến của các chuyên viên, các cán

bộ nông lâm nghiệp của phòng nông nghiệp cũng như phòng địa chính, phòng môi

Trang 37

trường của huyện Và tham khảo ý kiến và thu thập kinh nghiệm của các cá nhân, các

hộ nông dân làm ăn giỏi

- Sử dụng các công cụ của PRA kết hợp với quan sát thực tế nắm bắt một số

thông tin của trang trại

2.3 2 Phân tích và xử lý số liệu

2.3.2.1 Phương pháp thống kê kinh tế

- Phương pháp này được dùng để tổng hợp kết quả điều tra nhằm phản ánh các đặc điểm cơ bản của mô hình và phân loại chúng theo các loại mô hình sản xuất trên đất vườn đồi, phân tổ theo giá trị sản xuất và tỷ trọng các nông sản phẩm hàng hoá trong mô hình: phân tổ theo quy mô diện tích, lao động chính, số đầu cây, con trong

mô hình Trên cơ sở đó phân tích kết quả, đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình, rút ra những nhận xét và kết luận

2.3.2.2 Phương pháp so sánh

Dùng để so sánh các chỉ tiêu, nội dung tương ứng như:

+ So sánh kết quả hiệu quả kinh tế của từng thành phần trong mô hình

+ So sánh kết quả hiệu quả kinh tế của các mô hình kinh tế trang trại khác nhau giữa các tiểu vùng hoặc trên cùng tiểu vùng…

+ So sánh hiệu quả kinh tế giữa các mô hình kinh tế trang trại điển hình ở các

mô hình với nhau từ đó thấy được đặc điểm cơ bản và ưu nhược điểm làm cơ sở để

đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của từng loại mô hình trang trại

2.3.3 Phương pháp xử lý và tổng hợp số liệu

Số liệu điều tra trang trại sau khi thu thập đủ được tiến hành kiểm tra, rà soát, loại bỏ những thông tin, số liệu bất hợp lý trong quá trình phỏng vấn và chuẩn hoá lại các thông tin làm cơ sở cho việc phân tổ và được nhập vào máy tính, tạo thành một

cơ sở dữ liệu Sau đó dùng các phần mềm Excel để tính toán, tổng hợp đưa ra các bảng biểu, các chỉ tiêu nghiên cứu phù hợp với mục tiêu và nội dung đã đặt ra của đề tài

2.3.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu

Những chỉ tiêu phản ánh đặc điểm của chủ trang trại

Trang 38

- Tuổi đời, giới tính

- Thành phần xuất thân, thành phần chính trị

- Trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn

- Nghề nghiệp

Những chỉ tiêu phản ánh nguồn lực sản xuất của trang trại

- Quy mô lao động

- Quy mô diện tích đất đai

- Quy mô vốn đầu tư

- Quy mô tư liệu sản xuất chủ yếu

Những chỉ tiêu phản ánh trình độ tiêu thụ sản phẩm của trang trại

- Mức độ chế biến nông sản phẩm

- Tỷ lệ sản phẩm tiêu thụ theo kênh

- Tỷ lệ sản phẩm tiêu thụ theo thị trường

Những chỉ tiêu biểu hiện kết quả sản xuất kinh doanh của trang trại

- Tổng khối lượng sản xuất ra trong năm

- Tổng giá trị sản xuất

- Tổng thu nhập

- Khối lượng sản phẩm hàng hóa

- Tỷ suất sản phẩm hàng hóa = Giá trị sản phẩm hang hóa/ Tổng giá trị sản xuất

Những chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả KTTT

- Tổng giá trị sản xuất/1 đơn vị diện tích

- Tổng giá trị sản xuất/ chi phí

- Chỉ tiêu thu nhập/ vốn đầu tư/ trang trại

- Thu nhập/ 1 lao động gia đình/ 1 tháng

- Thu nhập/ 1 đơn vị diện tích

- Tổng giá trị sản xuất/ vốn đầu tư

- Tổng thu nhập/ vốn đầu tư

Trang 39

- Tổng thu nhập/ 1 đơn vị diện tích, tổng thu nhập/ 1 lao động/1 tháng, tổng thu nhập trên vốn đầu tư: Là thu nhập tính trên một đồng chi phí trung gian, một đồng chi phí, một công lao động, một đơn vị diện tích, một vốn đầu tư

2.4 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu

2.4.1 Điều kiện tự nhiên

2.4.1.1 Vị trí địa lý

Can Lộc là 1 trong 12 huyện thị của tỉnh Hà Tĩnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam có vị trí địa lý từ 18’19/36” đến 18034’24’’ vĩ độ Bắc, 1050 36’24” đến 1050

56’42” Kinh độ Đông.

Giáp danh của huyện bao gồm:

Phía Bắc giáp huyện Nghi Xuân và thị xã Hồng Lĩnh, phía Tây Bắc giáp huyện Đức Thọ, phía Tây Nam giáp huyện Hương Khê, phía Nam giáp huyện Thạch Hà, phía Đông và Đông Nam giáp huyện Lộc Hà Can Lộc cách thủ đô Hà Nội 330 km, cách thành phố Vinh khoảng 30 km, cách thị xã Hồng Lĩnh khoảng 15 km và cách thành phố Hà Tĩnh khoảng 20 km.

2.4.1.2 Khí hậu

Can Lộc - Hà Tĩnh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa: Mùa hè nóng

ẩm, mưa nhiều và chịu ảnh hưởng của gió Phơn tây nam khô nóng; mùa đông lạnh,

ít mưa.

Mùa nóng bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10.

Mùa lạnh bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.

Trang 40

Nhiệt độ bình quân qua các năm dao động từ 22,9 oC – 25,10 oC Cao nhất từ tháng 6 đến tháng 8 có khi nhiệt độ lên đến 39,7 oC và thấp nhất là vào tháng 12 và tháng 1 nhiệt độ có khi xuống dưới 8 oC

Lượng mưa bình quân hằng năm khoảng 2400 mm /năm (riêng các tháng từ tháng 8 đến tháng 10 lượng mưa khoảng 1200 mm chiếm 50% lượng mưa trung bình trong năm)/ Số lượng mưa trung bình trong năm ở Can Lộc khoảng 145 ngày đến 160 ngày

Độ ẩm bình quân ở Can Lộc 84,5%, tháng cao nhất là 92%, tháng thấp nhất là 70% Độ ẩm thường cao vào những tháng cuối xuân đầu Hè, thường thấp vào những tháng mùa Đông

Sương mù: Thường xuất hiện ở Can Lộc vào khoảng tháng 2 và tháng 3, tập trung nhiều vào tháng 3 Bình quân hằng năm có 15 đến 20 ngày có xuất hiện sương

mù và thường kéo dài 4 đến 5 giờ mỗi ngày

Chế độ gió: Tốc độ gió trung bình khoảng 7,5 m/s Do đặc điểm của địa hình phía tây có dãy núi Trường sơn nên cơ chế gió có sự thay đổi theo mùa Gió mùa Đông bắc thường xuất hiện từ 8 đến tháng 2 năm sau, có năm kéo dài đến cuối tháng 3, trung bình mỗi năm có khoảng 3 đến 5 đợt gió mùa kéo dài kèm theo mưa dầm và nhiệt độ hạ thấp Gió Phơn Tây Nam thường xuất hiện vào khoảng tháng 4 đến tháng 8 hằng năm, mạnh nhất vào tháng 6 và 7, đây là thời gian nóng nhất trong năm, lượng bốc hơi nước lớn, độ

ẩm xuống thấp Bình quân hằng năm có 4-5 cơn bão lớn nhỏ đổ bộ vào Can Lộc

Số giờ nắng hằng năm từ 1629 đến 1872 giờ, trung bình các tháng mùa đông

có số giờ nắng từ 70 -80 giờ/tháng, còn mùa hè có khoảng 180 đến 190 giờ/tháng Vì

số giờ nắng phân bố không đều trong năm nên việc bố trí cây trồng thích hợp có ý nghĩa quan trọng để tăng năng suất cây trồng và bố trí sử dụng đất hợp lý

Nhìn chung khí hậu Can Lộc thích ứng với nhiều loại cây trồng, vật nuôi của vùng nhiệt đới, song sự khắc nghiệt của thời tiết cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế - xã hội Do vậy, trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp và cây lúa nói riêng cần phải bố trí cơ cấu và thời vụ hợp lý

2.4.1.3 Đất đai và địa hình

Ngày đăng: 25/12/2013, 11:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Quang Cận “Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 12 năm 1999; "Về KTTT và kinh tế hợp tác", Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 9 năm 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 12 năm 1999; "Về KTTT và kinh tế hợp tác
9. Phạm Công Chung “Hỏi đáp về kinh tế trang trại”, NXB Văn hóa (2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về kinh tế trang trại”
Nhà XB: NXB Văn hóa (2005)
10. Trần Lệ Thị Bích Hồng “Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại tại địa bàn huyện Đồng hỷ, tỉnh Thái Nguyên”, Trường Đại học kinh tế và quản trị kinh doanh, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại tại địa bàn huyện Đồng hỷ, tỉnh Thái Nguyên”
12. Trần Văn Mão “Thực trạng và định hướng phát triển trang trại ở Lâm Đồng”; elib.lhu.edu.vn/bitstream/123456789/1500/1/9-98t9.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và định hướng phát triển trang trại ở Lâm Đồng
1. Các văn bản pháp luật về kinh tế trang trại (2001), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
3. Nghị quyết 03/2000/NQCP về kinh tế trang trại, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Khác
4. Phòng thống kê huyện Can Lộc (2010), Báo cáo các hệ thống chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu của huyện Can Lộc qua các năm Khác
5. Phòng Nông nghiệp huyện Can Lộc (2010), Báo cáo các hệ thống chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu của huyện Can Lộc qua các năm Khác
6. Bộ Nông nghiệp và PTNT - Tổng cục Thống kê (2000), thông tư liên tịch số 62/2003/TTLT/BNN - TCTK ngày 20/5/2003 về hướng dẫn tiêu chí xác định kinh tế trang trại, Hà Nội Khác
7. Bộ Nông nghiệp và PTNT(2003) thông tư số 74/2003/TT/BNN, ngày 04/7/2003 về sửa đổi bổ sung mục III của thông tư 69/2000/ TTLT/BNN - TCTK ngày 23/6/2000 về hướng dẫn tiêu chí xác định kinh tế trang trại, Hà Nội Khác
11. Trần Kiên(2000), Làm giàu bằng kinh tế trang trại, NXB Thanh niên Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp ở huyện Can Lộc trong 4 năm  (2006 - 2009) theo giá cố định 1994 - Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp để phát triển kinh tế trang trại ở huyện can lộc   hà tĩnh luận văn tốt nghiệp đại học
Bảng 2.2. Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp ở huyện Can Lộc trong 4 năm (2006 - 2009) theo giá cố định 1994 (Trang 45)
Bảng 3.1. Các loại hình trang trại của Huyện phân bố theo các đơn vị hành chính  năm 2010 - Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp để phát triển kinh tế trang trại ở huyện can lộc   hà tĩnh luận văn tốt nghiệp đại học
Bảng 3.1. Các loại hình trang trại của Huyện phân bố theo các đơn vị hành chính năm 2010 (Trang 54)
Bảng 3.3:  Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 của các trang trại điều tra - Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp để phát triển kinh tế trang trại ở huyện can lộc   hà tĩnh luận văn tốt nghiệp đại học
Bảng 3.3 Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 của các trang trại điều tra (Trang 61)
Bảng 3.5. Vốn sản xuất của trang trại điều tra - Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp để phát triển kinh tế trang trại ở huyện can lộc   hà tĩnh luận văn tốt nghiệp đại học
Bảng 3.5. Vốn sản xuất của trang trại điều tra (Trang 64)
Bảng 3.6: Tình hình sử dụng lao động của các trang trại - Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp để phát triển kinh tế trang trại ở huyện can lộc   hà tĩnh luận văn tốt nghiệp đại học
Bảng 3.6 Tình hình sử dụng lao động của các trang trại (Trang 67)
Bảng 3.8: Tình hình sử dụng máy móc thiết bị của các trang trại điều tra - Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp để phát triển kinh tế trang trại ở huyện can lộc   hà tĩnh luận văn tốt nghiệp đại học
Bảng 3.8 Tình hình sử dụng máy móc thiết bị của các trang trại điều tra (Trang 69)
Sơ đồ 3.1 thể hiện mức tiêu thụ hàng hóa ở địa bàn nghiên cứu. - Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp để phát triển kinh tế trang trại ở huyện can lộc   hà tĩnh luận văn tốt nghiệp đại học
Sơ đồ 3.1 thể hiện mức tiêu thụ hàng hóa ở địa bàn nghiên cứu (Trang 72)
Sơ đồ 3.1. Quá trình tiêu thụ hàng hóa của các trang trại điều tra huyện  Can Lộc - Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp để phát triển kinh tế trang trại ở huyện can lộc   hà tĩnh luận văn tốt nghiệp đại học
Sơ đồ 3.1. Quá trình tiêu thụ hàng hóa của các trang trại điều tra huyện Can Lộc (Trang 73)
Bảng 3.11. Thu nhập của các trang trại điều tra năm 2010 - Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp để phát triển kinh tế trang trại ở huyện can lộc   hà tĩnh luận văn tốt nghiệp đại học
Bảng 3.11. Thu nhập của các trang trại điều tra năm 2010 (Trang 75)
BẢNG HỎI: TÌM HIỂU VỀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KTTT  I. THÔNG TIN CHUNG VỀ TRANG TRẠI: - Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp để phát triển kinh tế trang trại ở huyện can lộc   hà tĩnh luận văn tốt nghiệp đại học
BẢNG HỎI: TÌM HIỂU VỀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KTTT I. THÔNG TIN CHUNG VỀ TRANG TRẠI: (Trang 96)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w