1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm trường đại học vinh trong giai đoạn hiện nay luận văn tốt nghiệp đại học

78 1,4K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm trường đại học vinh trong giai đoạn hiện nay
Tác giả Lê Thị Hồng Thủy
Người hướng dẫn ThS. Lê Thị Nam An
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Giáo dục chính trị
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 915 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊKHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Đề tài: XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH TRONG GIAI ĐOẠN... Đây là một trong

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Đề tài:

XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH TRONG GIAI ĐOẠN

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của Ban chủ nhiệm Khoa, Hội đồng Khoa học khoa Giáo dục Chính trị, các thầy, cô giáo trong

tổ bộ môn Triết học Mác – Lênin, sự động viên khích lệ của gia đình cùng toàn thể các bạn sinh viên trong lớp 48A - Giáo dục Chính trị; đặc biệt là

cô giáo Th.s Lê Thị Nam An người trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này.

Mặc dù bản thân đã có nhiều trăn trở và nỗ lực nghiên cứu để hoàn thành khóa luận nhưng khó tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của thầy, cô giáo để tôi có thể tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và làm sâu sắc hơn đề tài của mình.

Với tình cảm chân thành nhất, tôi xin gửi tới Ban chủ nhiệm Khoa, Hội đồng Khoa học Khoa Giáo dục Chính trị, cùng tất cả các thầy, cô giáo trong khoa, gia đình và bạn bè; đặc biệt là cô giáo Th.s Lê Thị Nam An lời cảm ơn chân thành, lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt.

Vinh, tháng 5 năm 2011 Sinh viên

Lê Thị Hồng Thủy

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN

SVSP: Sinh viên sư phạm

TCN: Trước Công nguyên

TTSP: Thực tập sư phạm

XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN

A MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 4

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 7

3.1 Mục đích nghiên cứu 7

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Ý nghĩa của đề tài 8

7 Kết cấu của đề tài 8

B NỘI DUNG 9

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM .9

1.1.Đạo đức và đạo đức nghề nghiệp 9

1.1.1 Đạo đức 9

1.1.2 Đạo đức nghề nghiệp 12

1.2 Tầm quan trọng của việc xây dựng đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm 16

1.2.1 Sinh viên sư phạm là một đối tượng đặc thù trong ngành giáo dục - đào tạo ở trường đại học, cao đẳng 16

1.2.2 Những nhân tố tác động đến việc xây dựng đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm 18

1.2.3 Tính tất yếu của việc xây dựng đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm trong quá trình giáo dục - đào tạo 20

Trang 5

Chương 2

VẤN ĐỀ XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH

VIÊN SƯ PHẠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH TRONG GIAI

ĐOẠN HIỆN NAY 22

2.1 Trường Đại học Vinh đa ngành và công tác đào tạo sinh viên sư phạm 22

2.1.1 Một số nét khái quát về trường Đại học Vinh 22

2.1.2 Công tác đào tạo sinh viên sư phạm ở trường Đại học Vinh 27

2.1.3 Những nội dung đạo đức nghề nghiệp cần xây dựng cho sinh viên sư phạm 32

2.2 Xây dựng đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm trường Đại học Vinh trong giai đoạn hiện nay - Thực trạng và giải pháp 37

2.2.1 Thực trạng đạo đức và xây dựng đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm trường Đại học Vinh 37

2.2.2 Những giải pháp xây dựng đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm trường Đại học Vinh hiện nay 48

C KẾT LUẬN 60

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

PHỤ LỤC 68

Trang 6

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ông cha ta từng nói: “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, “một nghề chochín còn hơn chín nghề” Ngày nay, mỗi người khi chọn nghề, làm nghề luôntrăn trở tạo dựng uy tín nghề nghiệp với phương châm “uy tín quý hơn vàng”,

“uy tín tạo nên sự thịnh vượng”…Điều đó cho thấy, bên cạnh chuyên môn thìcái đức của nghề, cái tâm với nghề đã được con người coi trọng Bởi vậy, đạođức nghề nghiệp là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá nhân cách củangười làm trong nghề đó Từ xưa cho đến nay, dân tộc Việt Nam đã có truyềnthống tôn sư trọng đạo, tôn vinh nghề dạy học, tôn vinh người thầy giáo

“Không thầy đố mày làm nên” hay “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” Trong quanđiểm Nho giáo chính thống còn đặt vị trí người thầy quan trọng hơn cả cha

mẹ theo thứ bậc “Quân, Sư, Phụ” về phương diện giúp con người mở mang trítuệ, phát triển tài năng và hình thành những giá trị đạo đức Đồng thời, truyềnthống “tôn sư trọng đạo” của dân tộc Việt Nam cũng đặt ra những yêu cầu rấtcao thậm chí là khắt khe đối với đạo đức của người thầy giáo

Giáo dục và đào tạo đội ngũ giáo viên xứng đáng với truyền thống tốtđẹp là trọng trách của các trường đào tạo SVSP SVSP là một đối tượng đặcbiệt trong các trường đại học sư phạm, cao đẳng sư phạm Họ là những ngườiđược đào tạo để phục vụ sự nghiệp “trồng người”, những người học nghề dạyhọc, học để làm thầy giáo Người thầy là những người đào tạo những thế hệcho hai mươi năm, ba mươi năm sau, do đó hình ảnh người thầy không chỉtrong mắt mà thực sự đi vào trong tim các em Ngày nay, trước những biếnđổi mạnh mẽ của xu thế thời đại và sự phát triển như vũ bão của cuộc cáchmạng khoa học – kĩ thuật thì hệ thống nhà trường sư phạm phải có những đổimới căn bản về mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức đào tạo Trong

đó, phải đặc biệt coi trọng và thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng ĐĐNN choSVSP vì xây dựng và hình thành ĐĐNN được xem là một trong những nội

Trang 7

dung cơ bản nhằm đào tạo ra đội ngũ giáo viên đáp ứng chuẩn đạo đức nghềnghiệp, thực sự có năng lực và phẩm chất đạo đức.

Trong những năm qua, khi đất nước đã và đang chuyển mình hòa vào lànsóng hội nhập, mở rộng quan hệ hợp tác và giao lưu văn hóa với các nướctrên thế giới; một mặt, đã tạo nên nhiều chuyển biến tích cực và thu đượcnhiều thành quả to lớn trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như:kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, nghệ thuật và đặc biệt là giáo dục và đàotạo Nền kinh tế thị trường, xu hướng mở cửa đã đem lại những thay đổi tolớn trong nhận thức, hành vi và thái độ của SVSP và giáo viên về nghề dạyhọc Có thể nói: Đại bộ phận giáo viên và SVSP hiện nay rất năng động vàsáng tạo, mong muốn tạo ra và đóng góp nhiều của cải vật chất và tinh thầncho bản thân, gia đình và xã hội Họ mong được cống hiến, được làm giàuchính đáng và hưởng thụ những thành quả do bàn tay và khối óc của mình tạo

ra Đây là một trong những thay đổi rất lớn, là những phẩm chất mới trongĐĐNN của những người hành nghề sư phạm và những thầy cô giáo tương lai.Tuy nhiên, mặt trái của xu thế hội nhập cũng đã có những ảnh hưởngtiêu cực đến các vấn đề: đạo đức, luân lí, định hướng giá trị, thế giới quan,nhân sinh quan trong nhân cách của nhiều tầng lớp trong xã hội, trong đó cógiáo viên và SVSP Cụ thể, một bộ phận nhỏ giáo viên và SVSP chạy theo lốisống thực dụng, ích kỷ hẹp hòi, lý tưởng NN mờ nhạt, quá đề cao giá trị vậtchất Sự xuống cấp, suy thoái nhân cách của một bộ phận nhỏ này đã ảnhhướng tới sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh, sinh viên làmgiảm đi sự tôn vinh, yêu quý mà nhân dân dành cho những người thầy giáo.Một trong những nguyên nhân cơ bản của những biểu hiện tiêu cực nêu trênchính là sự nhận thức chưa đúng đắn, chưa sâu sắc về nghề sư phạm Vì vậy,xây dựng ĐĐNN cho SVSP là một nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng để đào tạo

ra những giáo viên có phẩm chất đạo đức mẫu mực, có nhân cách hoàn thiện.Đây cũng là vấn đề khó, phức tạp nhưng có tính cấp bách hiện nay trong cáctrường sư phạm hiện nay

Trang 8

Ngày 16/7/1959, Bộ trưởng Bộ Giáo dục ký Nghị định 375/NĐ thành lậpphân hiệu Đại học sư phạm Vinh, đánh dấu một sự kiện đáng ghi nhớ tronglịch sử nền giáo dục Việt Nam hiện đại Qua 50 năm xây dựng và trưởngthành, trường Đại học Vinh đã và đang đóng vai trò quan trọng trong hệ thốnggiáo dục ĐH Việt Nam Xuất phát từ chỗ một phân hiệu rồi trường Đại học

Sư phạm, Nhà trường đã đào tạo, bồi dưỡng giáo viên các cấp học cho đấtnước, góp phần xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí cho ngành giáodục Việt Nam Với thế mạnh là trung tâm đại học đa ngành, mà sư phạm lànòng cốt, trường trở thành trường chuẩn vừa đào tạo giáo viên các cấp, cán bộkhoa học kỹ thuật có chất lượng cao; vừa nghiên cứu khoa học đạt trình độtiên tiến thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế - xã hội trong khu vực và cả nước

Từ trường Đại học sư phạm Vinh trước đây đến trường Đại học Vinh hômnay, Nhà trường đã luôn tạo dựng và khẳng định được vị thế, uy tín của mìnhtrong hệ thống đại học nước nhà xứng đáng với danh hiệu “Ngọn cờ hồng trênquê hương Xô viết”[33; 114] Tuy nhiên, trong thời đại bùng nổ và phát triểnmạnh mẽ của khoa học, công nghệ và kĩ thuật, sự mở rộng nhanh chóng vàcạnh tranh quyết liệt giữa các trường ĐH, làm thế nào để Đại học Vinh giữvững và phát triển thương hiệu của mình, đặc biệt là “thương hiệu sư phạm”.Thiết nghĩ đào tạo ra những giáo viên có phẩm chất ĐĐNN rất quan trọng.Hơn nữa, thời kỳ mở cửa, hội nhập quốc tế bên cạnh những thuận lợi thì cũng

có nhiều vấn đề thách thức đặt ra đối với thế hệ trẻ nói chung và SVSP trườngĐại học Vinh nói riêng, như là sự suy thoái về đạo đức đi ngược lại với thuầnphong mĩ tục, truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc

Do đó, việc đẩy mạnh xây dựng ĐĐNN cho sinh viên tất cả các ngànhnghề là rất quan trọng và cần thiết, đặc biệt là đối với SVSP Vì vậy, chúng

tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Xây dựng đạo đức nghề nghiệp cho Sinh viên

Sư phạm trường Đại học Vinh trong giai đoạn hiện nay” làm khóa luận Tốt

nghiệp Đại học

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hàng ngàn năm nay dù trong chế độ xã hội nào ở phương Đông hayphương Tây, thì vai trò và vị trí của người thầy giáo cũng được đề cao “…đó

là người đã giữ gìn những di huấn thiêng liêng của các bậc tiền bối đã đấutranh cho chân lý và hạnh phúc, là chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, mởđường vươn tới tương lai”[29; 6], họ cũng là những người “…góp phần xuatan bóng tối của trí tuệ, đưa ánh sáng của thái dương đến những ngôi nhà cỏthấp bé”[7; 17] Họ là những người cần có tài cao đức trọng, trong đó mặt đạođức đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và đánh giá cao

Sinh thời, Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của người thầy giáotrong sự nghiệp cách mạng: “Tôi mong rằng trong một thời kì rất ngắn lònghăng hái và sự nỗ lực của anh chị em sẽ có kết quả vẻ vang Đồng bào ta aicũng biết đọc, biết viết cái vinh dự đó thì tượng đồng, bia đá nào cũng khôngbằng”[20; 220] hay “Thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo là người

vẻ vang nhất Dù là tên tuổi không đăng báo, không được thưởng huânchương, song người thầy giáo tốt là người anh hùng vô danh”[21; 492]

Ngày 29/06/1962 cố Tổng Bí thư Lê Duẩn trong bài phát biểu tại trườngĐại học sư phạm Hà Nội, đã nhấn mạnh: “Những người thầy giáo không yêunghề cũng có nghĩa là đồng chí đó không yêu người, càng yêu nghề bao nhiêuthì càng yêu người bấy nhiêu” Lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cốTổng Bí thư Lê Duẩn đã trở thành phương châm hành động của rất nhiều giáoviên dưới mái trường XHCN Các phẩm chất yêu người và yêu nghề là nhữngphẩm chất trụ cột, nền tảng trong ĐĐNN của nghề dạy học

Trong cuốn “Tâm lý học” do Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 1995,

tác giả Phạm Minh Hạc đã giành toàn bộ chương VIII để đề cập đến ngườithầy giáo Ở chương này tác giả chỉ ra các thành tố tạo nên nhân cách củangười thầy giáo đó là năng lực và đạo đức

Tác giả Lê Văn Hồng, trong công trình nghiên cứu “Tâm lý học lứa tuổi

và tâm lý học sư phạm” cho rằng: “người thầy giáo phải trau dồi nhân cách ;

Trang 10

[19; 169] Tác giả cũng đi sâu phân tích những đặc điểm của lao động sưphạm trên cơ sở đó chỉ ra các phẩm chất của người thầy giáo, đó là thế giớiquan khoa học, lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ, lòng yêu trẻ, lòng yêu nghề vànhững phẩm chất đạo đức và ý chí của người thầy giáo Đồng thời, tác giảcũng cho rằng trường sư phạm có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc xâydựng nên những cơ sở trọng yếu để hình thành nhân cách thầy giáo tương lai.Thời gian học tập và tu dưỡng của SVSP ở trường sư phạm như KTSP, TTSP,rèn luyện NVSP là cực kỳ quan trọng để tạo nên những tiền đề cần thiết kiếntạo nên nhân cách người thầy giáo hay ĐĐNN của nghề dạy học.

Hai tác giả Phạm Khắc Chương và Hà Nhật Thăng, trên cơ sở phân tíchcác giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam trong lịch sử giáo dục, đã chỉ ramột số phẩm chất của người thầy giáo “Thầy giáo là người giàu lòng nhân ái,sống mẫu mực, đạo đức trong sáng, không tham công danh, phú quý Có thểnói cái tâm, cái trí của thầy giáo là tấm gương sáng của con người trong cácthời kỳ lịch sử”[9; 94]

Tác giả Nguyễn Văn Phúc trong Tạp chí Triết học, số 7 (125) tháng 10/2001 cũng có đề cập đến vấn đề: “Xây dựng đạo đức nghề nghiệp trong

nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay” Tuy nhiên, tác giả chỉ đề cập đến

các nghề nghiệp nói chung chứ chưa làm rõ vấn đề xây dựng ĐĐNN choSVSP hiện nay như thế nào

Tác giả Phạm Đỗ Nhật Tiến đưa ra một cách gọi khác về ĐĐNN củanghề dạy học: “Sư đức”,“ …đến nay, trong các văn bản pháp quy của ta, vấn

đề sư đức chỉ được quy định một cách chung nhất, mang tính hình thức,không có giá trị pháp lý trong việc điều chỉnh cách ứng xử và ĐĐNN của giáoviên” Như vậy, theo tác giả vấn đề ĐĐNN cần được quy định cụ thể và rõràng trong các văn bản pháp quy để làm căn cứ cho người giáo viên có cáchứng xử và có chuẩn mực đạo đức phù hợp với nghề dạy học Tác giả cho rằng

cần phải xây dựng “Luật giáo viên” Đây là cách tiếp cận đạo đức nghề

nghiệp rất hợp lý trong tình hình hiện nay, khi mà “…việc phân tích thực

Trang 11

trạng đội ngũ giáo viên cho thấy chất lượng đạo đức của đội ngũ giáo viênđang là vấn đề bức xúc”.

Tác giả Vũ Thị Phương Lê trong Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Việt –

Trung có bài “Những giá trị cần định hướng cho SVSP Việt Nam trong giai

đoạn hiện nay” cũng đã nêu bốn nội dung cơ bản cần định hướng cho SVSP.

Tác giả cũng cho rằng: “SVSP là những người đang ở độ tuổi thanh niên, làcông dân của nước nhà Vì vậy, phải thống nhất giáo dục cả đạo đức, cảchuyên môn và thực hành pháp luật Sớm hình thành ý thức về nghề nghiệp,say mê học tập, sớm làm quen với lao động khoa học, sớm nảy nở tình yêu

NN sẽ giúp SV hình thành phong cách và bản lĩnh”[24; 123]

Những phẩm chất đạo đức mà giáo viên phải có cũng được thể hiện rõtrong Luật giáo dục sửa đổi được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

Việt Nam thông qua năm 2005 “Luật Giáo dục” ghi rõ: “Nhà giáo phải có

những tiêu chuẩn sau đây: phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt; đạt trình độ chuẩnđược đào tạo về chuyên môn và nghiệp vụ; đủ sức khoẻ theo yêu cầu NN; lýlịch bản thân rõ ràng”[25; 54]

Qua việc tìm hiểu các nghiên cứu của các tác giả, chúng tôi nhận thấy:các tác giả đều đánh giá cao vai trò của ĐĐNN trong nhân cách sư phạm củangười thầy giáo, và để hình thành các phẩm chất đó phải trải qua một quátrình rèn luyện lâu dài và phức tạp ở trường có đào tạo hệ sư phạm Ở trườngĐHV để đáp ứng nhu cầu của xã hội, trường ĐHV đã xây dựng chuẩn đầu racho các ngành nghề, trong đó đặt ra yêu cầu đối với hệ đào tạo sư phạm lànắm vững chuyên môn và nắm vững kiến thức NVSP, bên cạnh chuyên môntốt cần có trách nhiệm ĐĐNN đối với nghề dạy học Mục tiêu tổng quát củaNhà trường đến năm 2020 là: “xây dựng Trường Đại học Vinh thành trường

ĐH trọng điểm quốc gia, một số ngành học đạt tiêu chuẩn quốc tế, đảm bảo

số lượng và chất lượng đào tạo, đặc biệt là hệ sư phạm”[33; 111] Tuy nhiên,hiện nay vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách cụ thể vấn

đề xây dựng ĐĐNN cho SVSP trường Đại học Vinh trong tình hình mới

Trang 12

-trước những tác động tích cực và tiêu cực của xu thế hội nhập tới ĐĐNN củanghề sư phạm và tất nhiên chưa có những định hướng cụ thể khoa học trongxây dựng ĐĐNN cho SVSP phù hợp với giai đoạn hiện nay”.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, làm rõ nội dung cơ bản củaĐĐNN của nghề dạy học và đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng ĐĐNNcho sinh viên sư phạm trường ĐHV trong giai đoạn hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận: Làm rõ một số khái niệm liên quan đến vấn đềnghiên cứu như đạo đức, đạo đức nghề nghiệp, các yếu tố ảnh hưởng đến xâydựng đạo đức nghề nghiệp cho Sinh viên sư phạm…

- Nghiên cứu thực tiễn: Tìm hiểu thực trạng về đạo đức sinh viên sưphạm ĐHV, công tác xây dựng đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạmĐHV, nguyên nhân của thực trạng…

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu xây dựng đạo đức nghề nghiệp chosinh viên sư phạm ĐHV

4 Phạm vi nghiên cứu

Xây dựng đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm trường Đại họcVinh trong thời kỳ hội nhập

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các phươngpháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp logic – lịch sử

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê

- Phương pháp phân tích tài liệu

Trang 13

6 Ý nghĩa của đề tài

Làm cơ sở cho việc góp phần xây dựng đạo đức nghề nghiệp cho sinhviên sư phạm Đại học Vinh, hình thành những chuẩn mực đạo đức người giáoviên cho những thầy, cô giáo tương lai

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận được trình bày trong 2chương và 4 tiết:

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc xây dựng đạo đức nghề nghiệp chosinh viên sư phạm

Chương 2: Vấn đề xây dựng đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạmtrường Đại học Vinh trong giai đoạn hiện nay

Trang 14

B NỘI DUNG

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC NGHỀ

NGHIỆP CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM

1.1 Đạo đức và đạo đức nghề nghiệp

1.1.1 Đạo đức

Đạo đức là gì? nó cần thiết đối với mỗi con người và cộng đồng, xã hộinhư thế nào? chuẩn mực đạo đức và việc thực hiện chuẩn mực đạo đức đểđược chấp nhận, ngợi ca trong cộng đồng là những gì? Các giá trị đạo đứctruyền thống cần được kế thừa và phát huy như thế nào? Đó là những vấn đềđược người ta nói và viết không ngớt trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại vàmỗi dân tộc

Đặc biệt, trong những thập kỷ gần đây khi mà nền kinh tế bước vào thời

kỳ toàn cầu hóa, khu vực hoá thì những nét đồng điệu về kinh tế không thểxoá nhòa ranh giới về văn hóa, đạo đức; mà ngược lại, như một lẽ tự nhiên,lại làm cho những yếu tố về văn hóa, đạo đức rõ rệt hơn, nổi bật lên ở mỗicon người, mỗi quốc gia

Có thể nói, đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xãhội, điều chỉnh hành vi của con người, là sản phẩm của quá trình phát triểnlịch sử của xã hội và góp phần phản ánh tồn tại xã hội Trong sự nghiệp xâydựng xã hội xã hội chủ nghĩa, đạo đức vừa là mục tiêu, vừa là động lực pháttriển xã hội

Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạođức học xuất hiện hơn 26 thế kỷ trước đây trong triết học Trung Quốc, Ấn

Độ, Hi Lạp cổ đại

Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh là “mos” (moris) - lề thói, đạonghĩa Còn “luân lý” được xem như là đồng nghĩa với “đạo đức” có gốc từtiếng Hi Lạp là “ethicos” - lề thói, tập tục Khi nói đến đạo đức, tức là nói đến

Trang 15

những lề thói và tập tục biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người với ngườitrong sự giao tiếp với nhau hằng ngày

Ở Phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổđại xuất hiện sớm, được biểu hiện trong quan niệm về “đạo” và “đức” của họ.Đạo đức là một trong những phạm trù quan trọng của Triết học Trung Quốc

cổ đại “Đạo” có nghĩa là con đường, đường đi, về sau khái niệm “đạo” đượcvận dụng trong triết học để chỉ con đường tự nhiên “Đạo” còn có nghĩa làđường sống của con người trong xã hội

Khái niệm “đức” lần đầu tiên xuất hiện trong Kinh văn đời nhà Chu và

từ đó trở đi nó được người Trung Quốc cổ đại sử dụng nhiều Đức dùng đểnói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạonghĩa, là nguyên tắc luân lý Như vậy, có thể nói đạo đức của người TrungQuốc cổ đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra

mà mỗi người phải tuân theo

Ở Phương Tây, vấn đề đạo đức từ lâu đã thu hút sự quan tâm của nhiềunhà tư tưởng Cho đến nay, người ta vẫn coi Xôcrats (469 – 399 TCN) làngười đầu tiên đặt nền móng cho khoa học đạo đức học Còn Arixtôt (384 –

322 TCN) đã viết bộ sách Đạo đức học với 10 cuốn, trong đó ông đặc biệtquan tâm đến phẩm hạnh con người Nội dung của phẩm hạnh chính là chỗbiết định hướng, biết làm việc thiện Ông nói: “chúng ta bàn về đạo đứckhông phải để biết đức hạnh là gì mà là để trở thành con người có đức hạnh”

Có nhiều quan niệm khác nhau về đạo đức Theo từ điển Triết học thì:

“Đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội, một chế định xã hộithực hiện chức năng điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh vực củađời sống xã hội không trừ một lĩnh vực nào”[36; 165]

Hay “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyêntắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử củacon người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực

Trang 16

hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xãhội”[15; 7].

Đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xãhội, phản ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội Đạo đức cũng như các quanđiểm triết học, chính trị, nghệ thuật, tôn giáo, đều thuộc kiến trúc thượng tầng.Chế độ kinh tế - xã hội là nguồn gốc của quan điểm về đạo đức Các quanđiểm này thay đổi theo cơ sở đã đẻ ra nó Ví dụ: thích ứng với chế độ phongkiến, dựa trên cơ sở bóc lột những người nông nô bị cột chặt vào ruộng đất làđạo đức xã hội nông nô Thích ứng với chế độ tư bản dựa trên cơ sở bóc lộtngười công nhân làm thuê là đạo đức tư sản Chế độ xã hội chủ nghĩa tạo ramột nền đạo đức biểu hiện mối quan hệ hợp tác trên tình đồng chí và quan hệtương trợ lẫn nhau của những người lao động đã được giải phóng khỏi áchbóc lột Như vậy, sự phát sinh phát triển của đạo đức, xét đến cùng là một quátrình do sự phát triển của phương thức sản xuất quyết định

Trong bối cảnh đổi mới của đất nước cùng với xu hướng hội nhập quốc

tế mở rộng, các giá trị và phạm trù đạo đức ngày càng phong phú nhưngchúng ta vẫn luôn coi trọng phạm trù luân lý, kế thừa gạn lọc những nội dungđạo đức truyền thống dân tộc Bên cạnh việc kế thừa, phát huy những nộidung truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đạo đức ngày nay đòi hỏi con ngườiphải biết quan tâm đến những vấn đề nóng bỏng của xã hội, đất nước Cụ thểlà:

- Đạo đức được hiểu đó là trách nhiệm của con người trong việc thamgia giữ gìn, bảo vệ, thực hiện giải quyết những mâu thuẫn của thời đại mànhân loại đang phải đối mặt để xây dựng một môi trường tự nhiên, xã hội lànhmạnh cho con người được sống, được phát triển Đó là các vấn đề như: chiếntranh, hòa bình, dân số, môi trường, tệ nạn xã hội (ma túy, mại dâm, AIDS)…

- Đạo đức còn thể hiện ở hiệu quả của cá nhân trong quá trình hoàn thiệnnhân cách suốt đời, đóng góp của bản thân vào việc thực hiện các mục tiêu

Trang 17

của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng xã hội công bằng, dânchủ, văn minh.

- Người có đạo đức là người tự giác sáng tạo thực hiện tốt những quyđịnh của pháp luật, của xã hội; thực hiện có hiệu quả, có chất lượng caonhững nhiệm vụ, vị trí của bản thân trong công việc, trong xã hội và gia đình

- Đạo đức có liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, tư tưởng, phápluật, văn hóa, lối sống Là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặtnhân cách của một cá nhân đã được xã hội hóa Đạo đức được biểu hiện ra ởcuộc sống tinh thần, tâm hồn trong sạch; ở thái độ, cảm xúc, tình cảm, ở hành

vi hoạt động hàng ngày một cách có hiệu quả góp phần giải quyết các mâuthuẫn một cách hợp lý nhằm mang lại lợi ích cho xã hội, cho cộng đồng vàcho người khác; từ đó phát triển và hoàn thiện nhân cách bản thân…

1.1.2 Đạo đức nghề nghiệp

Trước hết, muốn tìm hiểu đạo đức nghề nghiệp là gì, các loại hình nghềnghiệp được phân chia như thế nào? chúng ta phải hiểu được khái niệm thếnào là nghề nghiệp? Theo từ điển Tiếng Việt “NN là một công việc mà người

ta thực hịên trong suốt cả cuộc đời” [35; 63]

Ví dụ: nghề dạy học, nghề y, nghề kinh doanh NN không chỉ đảm bảocuộc sống mà còn tôn vinh con người làm việc trong lĩnh vực NN đó Ví dụ:trong nghề dạy học có rất nhiều thầy giáo được nhân dân và cả xã hội tôn vinhnhư Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, La sơn Phu tử NguyễnThiếp, Nguyễn Đình Chiểu đến thầy giáo Nguyễn Tất Thành

Bất cứ một loại hình NN nào cũng có đối tượng quan hệ trực tiếp của nó.Dựa trên đặc điểm này, người ta đa chia NN thành 4 loại sau:

- Nghề quan hệ với kỹ thuật (thợ lắp máy, sữa chữa máy móc, gia công)

- Nghề quan hệ với tín hiệu (thợ sắp chữ, sửa bản in, đánh máy, mật mã)

- Nghề quan hệ với động vật và thiên nhiên (chăn nuôi, thú y, địa chất)

- Nghề quan hệ trực tiếp với con người (cán bộ quản lý, tuyên huấn, thầythuốc, bán hàng, sư phạm, hướng dẫn viên du lịch)

Trang 18

Dựa trên trình độ chuyên môn được đòi hỏi, có thể phân loại NN nhưsau:

- Các nghề không chuyên môn hoá: như nghề bốc; dỡ; vận chuyểnnguyên liệu, vật liệu Đây là những nghề sử dụng việc mang, vác trực tiếphoặc nhờ các phương tiện nửa cơ giới; những nghề này chỉ cần sự thích ứngtrong khoảng thời gian ngắn với những yêu cầu của lao động thấp (chỉ cần đạtđược một số ít tri thức và kĩ xảo NN)

- Các nghề nửa chuyên môn hoá: Là những nghề đỏi hỏi một trình độchuyên môn hạn chế, các tri thức và kĩ xảo nghề nghiệp chỉ đủ để thực hiệnnhững thao tác đơn giản hay những thao tác được chuyên biệt hoá một cáchchặt chẽ

- Các nghề chuyên môn hoá: Là những nghề đòi hỏi một quá trình đàotạo NN chính quy, cá nhân được nhận chứng chỉ công nhận tay nghề do các

cơ sở đào tạo cấp Trên cơ sở đó, người lao động được nhận vào làm việcthuộc lĩnh vực NN tương ứng Các chứng chỉ NN có thể chứng nhận một trình

độ chuyên môn ở mức cơ sở, trung cấp, cao đẳng, đại học…

Lựa chọn NN là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với cánhân mà còn đối với xã hội Nó không chỉ đơn thuần là sự lựa chọn một côngviệc cụ thể nào đó để nuôi sống bản thân, đóng góp cho gia đình và xã hội,

mà đó còn là sự lựa chọn một cách sống, lối sống cho tương lai Thực tế chothấy không phải tất cả thanh niên, sinh viên lựa chọn đúng đắn về NN

Theo các chuyên gia tư vấn về NN, có 2 nguyên nhân dẫn tới sự sai lầmtrong lựa chọn NN, đó là:

- Thái độ không đúng đối với tình huống khác nhau của việc lựa chọn

NN, cụ thể: thái độ với việc lựa chọn NN như là với việc lựa chọn một nơi cưtrú suốt đời; những thành kiến về NN; ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp củaNN; sự say mê chỉ xuất phát từ mặt bên ngoài hay một mặt cục bộ nào đó củaNN

Trang 19

- Thiếu tri thức, kinh nghiệm, thông tin về các tình huống NN, cụ thể:đồng nhất môn học với NN; những biểu tượng lỗi thời về tính chất lao độngcủa lĩnh vực NN; không hiểu về năng lực và động cơ của bản thân; khôngđánh giá đúng về những đặc điểm thể chất, thiếu sót của bản thân khi lựachọn NN Việc lựa chọn NN là rất quan trọng và phức tạp Về phía cá nhânphải có sự lựa chọn một cách tự giác, có suy nghĩ chín chắn Xã hội cần có sựhướng dẫn, định hướng NN trên cơ sở kết hợp được các yếu tố: nguyện vọng,năng lực của cá nhân; những đỏi hỏi của NN; những yêu cầu của xã hội đốivới các loại hình NN.

Đào tạo NN được hiểu là toàn bộ quá trình học tập của con người vànhững tích luỹ của cá nhân về kiến thức; kỹ xảo và các đặc điểm tâm lý.Ngoài ra, đào tạo NN còn được hiểu là toàn bộ các hoạt động, được triển khaitheo cá nhân hay tập thể, một cách ngẫu nhiên hay có tổ chức Đào tạo NNđược tiến hành thông qua các hình thức sau: dạy nghề, hoàn thiện NN, chuyênmôn hoá NN, đào tạo bằng kinh nghiệm, thông tin NN Ba hình thức đầuđược xem là các giai đoạn của việc đào tạo NN chính quy Hai hình thức sau

có thể gặp cả trong việc đào tạo chính quy lẫn trong đào tạo NN phi chínhquy Trong các hình thức trên, dạy nghề là quan trọng nhất Dạy nghề là hoạtđộng trang bị cho người học những kiến thức tối thiểu, các kỹ năng, kỹ xảo vànhững đặc điểm nhân cách để thực hiện tốt một loại hình NN nhất định

Mỗi loại hình NN luôn đặt ra cho những người trong lĩnh vực NN đónhững yêu cầu, quy tắc, chuẩn mực mà họ phải tự giác thực hiện Có baonhiêu loại NN thì cũng có bấy nhiêu loại ĐĐNN Ví dụ: ĐĐNN của ngườigiáo viên, công an nhân dân, bác sỹ, kỹ sư, huấn luyện viên, vận động viênthể thao, luật sư, dịch thuật, lái xe, người kinh doanh, nhà báo…

ĐĐNN luôn thể hiện qua hành vi NN và kết quả lao động ĐĐNN thựchiện các chức năng sau đây:

- Định hướng giáo dục những người làm việc trong NN để họ có đượcnhững phẩm chất phù hợp với xã hội, với NN

Trang 20

- Điều chỉnh hành vi của người làm việc trong NN phải tuân thủ nhữngquy tắc, chuẩn mực của lĩnh vực đó.

Với tư cách là phương thức kiếm sống, hoạt động nghề nghiệp là hoạtđộng cơ bản của con người Trong hoạt động nghề nghiệp, những lợi ích trựctiếp và thiết yếu nhất của con người được thực hiện Nhưng khi thực hiện lợiích của mình con người không thể không có quan hệ về mặt lợi ích với ngườikhác, với xã hội Vì thế, hoạt động nghề nghiệp cũng là hoạt động mà ở đónhững quan hệ đạo đức giữa con người với con người, giữa con người với xãhội được thể hiện Do tính đặc thù của của hoạt động nghề nghiệp mà xã hội

có những yêu cầu, những đòi hỏi cụ thể về nghề nghiệp cũng như về đạo đứcđối với từng dạng hoạt động nghề nghiệp nhất định Do đó, với mỗi loại hìnhnghề nghiệp có một số chuẩn mực đạo đức thể hiện một cách nổi bật, làmthành tính đặc thù đạo đức của nghề nghiệp đó Ví dụ: y tế là một trong nhữnglĩnh vực mà từ lâu đã đề xuất những yêu cầu đạo đức nghề nghiệp Do có liênquan trực tiếp đến sinh mạng của bệnh nhân, lĩnh vực này đỏi hỏi một tráchnhiệm cao, một sự tận tâm, một tình thương “lương y như từ mẫu”, đã hìnhthành nên chuẩn mực đạo đức của người thầy thuốc: tình thương, lương tâm,trách nhiệm; giữ chữ tín, trung thực là yêu cầu đạo đức của người kinh doanhchân chính; tận tụy với công vụ, thanh liêm, gương mẫu là yêu cầu đạo đứccủa người quản lý xã hội; với nghề luật sư ngoài các yếu tố Chân, Thiện, Mỹ,luật sư phải là người có khối óc thông minh, tấm lòng trong sáng, dũng cảm,biết lấy pháp luật và đạo đức xã hội làm cơ sở hoạt động mới xứng đáng với

sự tin cậy và tôn vinh của xã hội, đó chính là yêu cầu rất cao trong đạo đứcnghề nghiệp luật sư…Những yêu cầu, chuẩn mực đó một mặt là sự phản ánh

cụ thể những đòi hỏi của xã hội; mặt khác lại là động lực tinh thần để conngười có được hiệu quả tích cực trong hoạt động nghề nghiệp

Theo T.s Nguyễn Anh Tuấn “ĐĐNN là hệ thống các chuẩn mực đạo đứcphản ánh những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội, của bản thân NN đối với người

Trang 21

làm việc trong lĩnh vực NN đó, giúp họ hoàn thành nhiệm vụ của mình vớikết quả cao nhất”[30; 27]

Như vậy, ĐĐNN là một bộ phận của đạo đức xã hội, là đạo đức trongmột lĩnh vực cụ thể trong đạo đức chung của xã hội ĐĐNN bao gồm nhữngyêu cầu đạo đức đặc biệt, các quy tắc chuẩn mực trong lĩnh vực nghề nghiệpnhất định, nhằm điều chỉnh hành vi của các thành viên trong nghề nghiệp đósao cho phù hợp với lợi ích và sự tiến bộ xã hội ĐĐNN có mối quan hệ chặtchẽ với năng lực NN, chúng kết hợp với nhau, biểu hiện thông qua nhau, tạonên nhân cách của cá nhân hoạt động trong lĩnh vực NN nào đó Các phẩmchất NN là cơ sở để hình thành các năng lực NN Ví dụ: tình yêu đối với NNlàm cho cá nhân hăng say, tích cực sáng tạo trong NN Như vậy, tình yêu NN

là một trong những cơ sở để hình thành các năng lực NN Đồng thời, năng lực

NN sau khi được hình thành và rèn luyện lại có những ảnh hưởng đối với việchình thành các chuẩn mực về đạo đức trong lĩnh vực NN nào đó Ví dụ: cónăng lực giảng dạy và giáo dục tốt sẽ là cơ sở để củng cố lòng yêu nghề, yêutrẻ của người giáo viên

1.2 Tầm quan trọng của việc xây dựng đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm

1.2.1 Sinh viên sư phạm là một đối tượng đặc thù trong quá trình giáo dục – đào tạo ở trường đại học, cao đẳng

SVSP là sinh viên học tập trong các trường đại học, cao đẳng để trởthành người giáo viên Về cơ bản SVSP là những sinh viên học tập ở cáctrường đại học sư phạm, cao đẳng sư phạm Trong thực tiễn hiện nay, để mởrộng quy mô đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước, một số trường đại học, caođẳng đa ngành có đào tạo hệ sư phạm Những sinh viên được đào tạo để trởthành giáo viên trong các trường này cũng được coi là SVSP

SVSP là những trí thức trẻ, họ đang ở giai đoạn chuẩn bị tích cực nhấtcho tương lai nghề nghiệp của bản thân, chính vì vậy, đây cũng là lứa tuổi cónhiều ước mơ, hoài bão và khát vọng nhất Do đó, sự nhiệt tình năng động và

Trang 22

sáng tạo chính là những sức mạnh to lớn giúp họ làm chủ kiến thức, hìnhthành kỹ năng cơ bản và thái độ tích cực của nghề dạy học Quá trình đượcgiáo dục ở nhà trường là thời gian quý báu để SVSP tích lũy kiến thức chuyênmôn, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm làm hành trang cho công tác “dạy chữ, dạyngười” sau này

Đào tạo ngành sư phạm là đào tạo ra những người thầy để giáo dục chocác thế hệ trẻ Do vậy, bên cạnh việc giáo dục và nâng cao trình độ chuyênmôn cho sinh viên, ở các trường đại học cần coi trọng đúng mức việc giáodục đạo đức, đạo đức nghề nghiệp Đặc biệt, với SVSP họ phải thực sự giỏichuyên môn và nắm vững ĐĐNN Bởi SVSP là những người sẽ góp phầnhình thành và phát triển trí tuệ và nhân cách cho thế hệ trẻ Môi trường màngười giáo viên tương lai hoạt động là nhà trường, một trong ba môi trườngcủa quá trình giáo dục con người Lao động sư phạm của người thầy có nhữngđặc điểm:

- Nghề mà đối tượng quan hệ trực tiếp là con người

- Công cụ chủ yếu là trí tuệ, nhân cách của chính mình

- Tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội

- Đòi hỏi tính khoa học, tính mẫu mực, tính nghệ thuật và tính sáng tạocao

- Là lao động trí óc chuyên nghiệp

Hơn thế nữa, nghề dạy học là một nghề rất đặc biệt Không chỉ học sinh

mà cha mẹ học sinh và cả nhân dân cũng gọi bằng một từ thể hiện lòng kínhtrọng và biết ơn sâu sắc “Thầy” Chính vì điều này mà nghề dạy học và bảnthân người thầy giáo tự đỏi hỏi mình phải trau dồi những phẩm chất đạo đứchết sức cao đẹp: yêu nghề mến trẻ, bao dung, độ lượng

Như vậy, có thể khẳng định ĐĐNN của nghề dạy học, một bộ phận trongnhân cách sư phạm, là hệ thống các chuẩn mực đạo đức phản ánh những yêucầu, đỏi hỏi của xã hội, của nghề dạy học đối với người thầy giáo, giúp ngườithầy giáo hoàn thành nhiệm vụ của mình với kết quả cao nhất

Trang 23

1.2.2 Những nhân tố tác động đến việc xây dựng đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm

C Mác đã từng nói rằng: “Bản chất của con người không phải là một cái

gì trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bảnchất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” Điều đó có nghĩa là không

có con người trừu tượng, thoát li mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội màthông qua các mối quan hệ xã hội con người hoàn thiện nhân cách, đạo đứccủa mình Việc hình thành phẩm chất ĐĐNN cho SVSP là một quá trình lâudài và phức tạp, quá trình đó diễn ra trong nhiều môi trường khác nhau như:môi trường xã hội, môi trường sư phạm, môi trường gia đình…

Thứ nhất, các nhân tố của môi trường xã hội hằng ngày, hàng giờ tác

động đến nhận thức, thái độ, hành vi của SVSP SVSP là khách thể, chịu sựtác động của môi trường xã hội, phản ánh những thay đổi của các điều kiện vềkinh tế, chính trị, tôn giáo, pháp luật, văn hóa, dư luận xã hội Mặt khác,SVSP lại là những chủ thể tích cực trong hoạt động tự giáo dục và tự rènluyện của bản thân Các yếu tố trong môi trường xã hội tác động đến nhậnthức, thái độ và hành vi của SVSP đều thông qua “lăng kính chủ thể”, tức làSVSP tiếp thu một cách có chọn lọc đối với những tác động đó Môi trường

xã hội tác động đến nhận thức, thái độ, hành vi của SVSP theo hai chiềuhướng: tích cực và tiêu cực Môi trường xã hội còn thể hiện với tư cách là nơi

mà nhận thức, thái độ, hành vi của SVSP được thể hiện, bộc lộ và được đánhgiá Tức là, thông qua môi trường xã hội, có thể đánh giá được nhận thức, thái

độ, hành vi, của SVSP Vì vậy, có thể khẳng định môi trường xã hội là nhân

tố quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của nhân cách sư phạm hayđạo đức nghề nghiệp nghề dạy học

Thứ hai, môi trường sư phạm là một bộ phận của môi trường xã hội,

phản ánh trình độ phát triển của môi trường xã hội Trong đó, các tác độngtích cực được phát huy cao độ, mang “bản sắc sư phạm”, các tác động tiêucực được hạn chế một cách tối đa Như vậy, môi trường sư phạm về mặt lý

Trang 24

thuyết sẽ là lý tưởng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách nói chung

và nhân cách sư phạm nói riêng Môi trường sư phạm bao gồm nhiều yếu tố:điều kiện sinh hoạt; các quan hệ giao tiếp; nhân cách người thầy giáo; dưluận Như vậy, môi trường sư phạm là một môi trường xã hội đặc biệt SVSPđược sống, học tập, lao động, vui chơi trong môi trường sư phạm có nhiềuđiều kiện thuận lợi để rèn luyện và hình thành các phẩm chất ĐĐNN; đồngthời có khả năng phòng, chống những tác động tiêu cực từ môi trường xã hội

Có thể nói, môi trường sư phạm là nhân tố quan trọng hình thành cho SVSPnhững phẩm chất ĐĐNN nghề dạy học

Thứ ba, gia đình là nhân tố rất quan trọng đối với sự hình thành và phát

triển nhân cách nói chung, nhân cách sư phạm nói riêng Các yếu tố của giađình (quan hệ ruột thịt, huyết thống; nề nếp sinh hoạt; điều kiện sống; phươngthức giáo dục) ảnh hưởng một cách mạnh mẽ, sâu sắc tới nhận thức, thái độ,hành vi và thói quen của con người Mặt khác, gia đình cũng là môi trường đểcon người bộc lộ một cách trung thực nhất thái độ, hành vi, nhận thức và thóiquen của mình Như vậy, gia đình vừa được xem như một chủ thể giáo dục,vừa được xem như một môi trường giáo dục Đối với những SVSP sinh ra vàlớn lên trong gia đình có những người thân tham gia nghề dạy học, thì quátrình hình thành và phát triển các phẩm chất ĐĐNN của nghề dạy học diễn rathuận lợi hơn, thậm chí sự định hướng nghề dạy học của những SVSP nàycũng do các thành viên trong gia đình thực hiện Đối với những SVSP khác,

sự ảnh hưởng của yếu tố gia đình đối với quá trình hình thành và phát triểncác phẩm chất ĐĐNN của nghề dạy học cũng rất mạnh mẽ vì SVSP luôn chịuảnh hưởng bởi dư luận, định hướng NN, sự giáo dục của các thành viên tronggia đình Gia đình thực sự là một nhân tố tác động tới nhận thức, thái độ vàhành vi NN của SVSP

Như vậy, môi trường xã hội, môi trường sư phạm và gia đình là nhữngnhân tố quan trọng đối với sự hình thành các phẩm chất ĐĐNN của nghề dạyhọc Các phẩm chất ĐĐNN của nghề dạy học ở mỗi người giáo viên và SVSP

Trang 25

cũng phản ánh trong đó trình độ phát triển của môi trường xã hội, môi trường

sư phạm và phương thức giáo dục của gia đình Như vậy, môi trường xã hội,môi trường sư phạm và gia đình được xem là những lực lượng giáo dục tíchcực, động lực giáo dục mạnh mẽ, vừa là môi trường giáo dục con người nóichung và SVSP nói riêng Ngoài những nhân tố khách quan nêu trên, có thể

đề cập đến một số nhân tố chủ quan như: điều kiện sống, ý thức xây dựngĐĐNN của chính những SVSP

1.2.3 Tính tất yếu của việc xây dựng đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm trong quá trình giáo dục – đào tạo

Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế thị trường, sự phân công lao độngtrở nên cực kỳ sâu sắc, nhiều hoạt động trước đây không mang tính nghềnghiệp nay trở thành phương thức kiếm sống của con người; nhiều ngànhnghề mới xuất hiện Điều đó gây ra những khó khăn cho con người khi phảiứng xử trước những tình huống nghề nghhiệp Các chuẩn mực đạo đức chungcủa xã hội không còn đủ để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong hoạt độngnghề nghiệp Đặc biệt tác động của kinh tế thị trường đang làm cho nhữngđặc trưng và yêu cầu đạo đức nghề nghiệp thể hiện rõ hơn Do đó, việc xâydựng đạo đức nghề nghiệp nói chung và đạo đức nghề nghiệp nghề dạy họcnói riêng trở thành một vấn đề tất yếu

Tuy nhiên, không phải đến giai đoạn hiện nay, vấn đề xây dựng đạo đứcnghề nghiệp mới được đặt ra Giáo dục chuyên môn nghề nghiệp và giáo dụcĐĐNN là hai mặt tất yếu của quá trình giáo dục Song, trong phạm vi vànhiệm vụ nghiên cứu của đề tài này chúng tôi chỉ đề cập đến vấn đề xây dựngđạo đức nghề nghiệp mà thôi

“Nghề nào nghiệp ấy”, nghề nào cũng có những chuẩn mực đạo đứcriêng Hiện nay, có nhiều nghề trung gian thích ứng với sự năng động của nềnkinh tế thị trường Do đó, đạo đức nghề nghiệp ngày càng được chú trọngtrong giáo dục và được quan tâm chú ý bằng dư luận xã hội Đặc biệt, vớinghề “trồng người” như nghề dạy học, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp càng

Trang 26

được quan tâm trong quá trình đào tạo “Đào tạo thế hệ trẻ là sự nghiệp củaĐảng, là trách nhiệm của toàn dân, của xã hội Nhưng vai trò chính yếu nhất

là nhà trường Trong trường, học sinh có được đào luyện tốt, thì ra ngoài các

em mới trở nên tốt được”

Rõ ràng để có những thế hệ nhà giáo tương lai vừa có tài vừa có đức, đó

là trọng trách lớn lao và cũng hết sức khó khăn của các trường đại học, caođẳng Và để trở thành nhà giáo mẫu mực, làm gương cho các thế hệ trẻ, SVSPcần được xây dựng ĐĐNN ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường Hình ảnhcủa những người giáo viên tương lai này sẽ in đậm và có khi trở thành nhữngbiểu tượng nhân cách, những hình mẫu mà các em định hình cho mình trongtương lai

Kết luận chương 1: Xây dựng ĐĐNN cho SVSP là một phạm trù vô

cùng phong phú và phức tạp Trước sự phát triển như vũ bão của cuộc cáchmạng khoa học kỹ thuật và những biến đổi lớn lao của thời đại đã làm chođạo đức của một bộ phận nhỏ SVSP có những biểu hiện suy thoái Dẫn đếncông tác xây dựng ĐĐNN, ban đầu hình thành cho SVSP những phẩm chấtđạo đức cần thiết của nhà giáo cũng gặp nhiều khó khăn, thử thách mới nảysinh Để xây dựng ĐĐNN cho SVSP đạt kết quả mong muốn nhà trường sưphạm cần phải nắm bắt được các yếu tố tác động đến việc hình thành ĐĐNNcủa SVSP và nhận thấy xây dựng ĐĐNN cho SVSP là một tất yếu Đồng thờitrong giai đoạn hiện nay, công tác xây dựng ĐĐNN nói riêng và đào tạoSVSP nói chung phải bổ sung và phát triển những giá trị mới, những kinhnghiệm mới, cách thức mới, bài học mới từ những quốc gia có nền giáo dụchiện đại và phát triển

Trang 27

Chương 2

VẤN ĐỀ XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM ĐẠI HỌC VINH TRONG GIAI ĐOẠN

HIỆN NAY 2.1 Trường Đại học Vinh đa ngành và công tác đào tạo sinh viên sư phạm

2.1.1 Một số nét khái quát về trường Đại học Vinh

Ngày 16 tháng 07 năm 1959, Bộ trưởng Bộ Giáo dục ký Nghị định số375/ NĐ thành lập phân hiệu Đại học Sư phạm Vinh Cở sở đầu tiên của Nhàtrường được đóng tại Nhà dòng (cũ) thuộc thị xã Vinh lúc bấy giờ Phân hiệuĐại học Sư phạm Vinh đổi tên thành Trường Đại học Sư phạm Vinh theoQuyết định số 637/QĐ ngày 28 tháng 8 năm 1962 của Bộ trưởng Bộ Giáodục Ngày 25 tháng 4 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ kí Quyết định số62/2001/ QĐ-TTg đổi tên Trường Đại học Sư phạm Vinh thành Trường Đạihọc Vinh

Trường Đại học Vinh là đơn vị hành chính sự nghiệp, trực thuộc BộGiáo dục và Đào tạo, có tư cách pháp nhân, có tài khoản, có con dấu và biểutượng riêng Quyết định số 62/2001/QĐ-TTg ngày 25/4/2001 của Thủ tướngChính phủ đã quy định nhiệm vụ của trường Đại học Vinh là đào tạo giáoviên có trình độ đại học và từng bước mở thêm các ngành đào tạo khác phùhợp với khả năng của Trường và nhu cầu nhân lực của xã hội, nghiên cứukhoa học phục vụ phát triển kinh tế - xã hội

Trường Đại học Vinh là cơ sở đào tạo đại học đa ngành, đa cấp ở khuvực Bắc Trung Bộ, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao và thích ứngnhanh với thế giới việc làm; là trung tâm nghiên cứu khoa học, ứng dụng vàchuyển giao công nghệ, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của khuvực và cả nước; là trường đại học trọng điểm quốc gia, một số ngành đạt tiêuchuẩn quốc tế

Trang 28

Quy hoạch xây dựng trường Đại học Vinh đã xác định mục tiêu là xâydựng trường thành một cơ sở đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật đa lĩnh vực làtrung tâm nghiên cứu, tiếp thu và chuyển giao tiến bộ khoa học – công nghệcủa khu vực Bắc Trung Bộ nhằm: đào tạo giáo viên và cán bộ khoa học đangành, đa cấp; nghiên cứu khoa học – công nghệ gắn với đào tạo, thông tinkhoa học và triển khai các kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống xãhội; hỗ trợ, tư vấn về học thuật và bồi dưỡng cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộcho các trường đại học, cao đẳng, trung cấp, dạy nghề và các cơ sở khác trongkhu vực.

Định hướng trong những năm tới của Nhà trường được nêu trong Nghịquyết Đại hội Đảng bộ Trường nhiệm kì XXIX (2005- 2010) và Nghị quyếtHội nghị Đảng ủy (mở rộng) giữa nhiệm kì (26/04/2008) là huy động mọinguồn lực, khơi dậy mọi tiềm năng, mở rộng quan hệ hợp tác, phát huy sứcmạnh tổng hợp và dân chủ hóa Nhà trường để từng bước xây dựng và pháttriển trường Đại học Vinh thành đại học trọng điểm, tiến tới đạt tiêu chuẩnquốc tế ở một số ngành với phương châm: đi tắt, đón đầu, hiệu quả, đồng bộ

Trường có 18 phòng ban, trung tâm, viện, trạm: Tổ chức – Cán bộ, Hànhchính – Tổng hợp, Kế hoạch – Tài chính, Đào tạo, Khoa học – Thiết bị, Côngtác Chính trị - Học sinh, Sinh viên, Quản trị, Thanh tra giáo dục, Hợp tácQuốc tế, Bảo vệ, Ban quản lý các Dự án xây dựng, Trung tâm Thư viện,

Trang 29

Trung tâm Giáo dục thường xuyên, Trung tâm Đảm bảo Chất lượng, Trungtâm Tin học – Ngoại ngữ, Trung tâm Nội trú, Viện nghiên cứu Văn hóa vàNgôn ngữ, Trạm Y tế.

Trường có 8 trung tâm nghiên cứu, đào tạo, tư vấn và phục vụ: Trungtâm Môi trường và Phát triển nông thôn, Trung tâm Công nghệ phần mềm,Trung tâm nghiên cứu xóa đói giảm nghèo, Tiểu Dự án GD Đại học, Trungtâm tư vấn thiết kế và Chuyển giao công nghệ, Trung tâm Đào tạo và ứngdụng công nghệ thông tin, Trung tâm Kiểm định an toàn Thực phẩm – Môitrường, Trung tâm phục vụ Sinh viên

Chương trình giáo dục của trường Đại học Vinh được xây dựng trên cơ

sở chương trình khung của Bộ giáo dục và đào tạo, học hỏi kinh nghiệm cácchương trình tiên tiến trên thế giới, đáp ứng yêu cầu xã hội và đảm bảo tínhliên thông Hiện tại, trường Đại học Vinh đang áp dụng phương thức đào tạotheo học chế tín chỉ Sau năm 2010, trường Đại học Vinh sẽ đạt được một sốchương trình đào tạo tiên tiến

Sinh viên trường Đại học Vinh, với cương lĩnh “bản lĩnh, trí tuệ, vănminh, tình nguyện”[33; 100], được đến từ 50 tỉnh thành trong cả nước Trong

đó, có trên 600 sinh viên, học viên của Thái Lan, Lào, Trung Quốc…

Cho đến năm học 2010, quy mô đào tạo của trường như sau:

Thứ nhất, hệ đào tạo Đại học có 18 khoa với 45 ngành đào tạo Đại học,

gần 34.000 sinh viên (trong đó có hơn 20.000 học tập trung tại trường) vớicác ngành đào tạo:

Các ngành sư phạm cấp bằng Cử nhân sư phạm (16) gồm Toán học, Vật

lý, Hóa học, Tin học, Sinh học, Ngữ văn, Lịch sử, GD Chính trị, GD Chính trị

- quốc phòng, Tiếng Anh, Tiếng Pháp, Địa lý, GD Thể chất, GD Tiểu học,

GD mầm non, GD Thể chất – GD Quốc phòng

Các ngành cấp bằng Cử nhân khoa học chính quy (20): Ngữ văn, Lịch

sử, Toán học, Toán – Tin học ứng dụng, Vật lý – Tin ứng dụng, Hóa học,Sinh học, Tin học, Tiếng Anh, Khoa học môi trường, Quản trị kinh doanh, Kế

Trang 30

toán, Tài chính – Ngân hàng, Công tác xã hội, Việt Nam học (chuyên ngành

Du lịch), Luật, Chính trị - Luật, Quản lí đất đai, Quản lí tài nguyên Rừng –Môi trường

Các ngành cấp bằng kĩ sư (7): Nuôi trồng thủy sản, Nông học, Xây dựngdân dụng và công nghiệp, Công nghệ thông tin, Điện tử Viễn thông, Khuyếnnông và Phát triển nông thôn, Luật, Quản lý GD

Các ngành cấp bằng Cử nhân khoa học Tại chức tập trung (15): Ngữ văn,Lịch sử, Toán học, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Tin học, Tiếng Anh, Quản trịkinh doanh, Kế toán, Tài chính – Ngân hàng, Công tác xã hội, Việt Nam học(chuyên ngành Du lịch), Luật, Quản lí GD

Các ngành liên kết với các Trường ĐH (ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐHThủy sản Nha Trang, ĐH Quốc gia Hà Nội, ĐH Luật Hà Nội, Viện ĐH Mở):Hóa dầu, Điện tử Viễn thông, Tin học, Nuôi trồng Thủy sản, Xây dựng dândụng và Công nghiệp, Ngôn ngữ, Báo chí, Toán – Tin ứng dụng, Văn thư –Lưu trữ, Du lịch, cử nhân Luật… Trường đã liên kết đào tạo theo phươngthức Du học bán phần (2 + 2) với các nước Trung Quốc, Thái Lan…

Thứ hai, GD Phổ thông Trường Trung học phổ thông Chuyên ngoài

nhiệm vụ đào tạo HS khối chuyên hệ Trung học phổ thông với 5 môn chuyên:Toán, Tin, Vật lí, Hóa học, Tiếng Anh Trường còn được giao nhiệm vụ bồidưỡng kiến thức cho hệ Dự bị ĐH và Cử tuyển, SV nước ngoài và trung họcphổ thông không chuyên Tổng số học sinh của khối trên 1000 học sinh

Thứ ba, hệ đào tạo Sau ĐH: Kể từ 1976, khi trường nhận nhiệm vụ bồi

dưỡng Sau ĐH đến năm 2010 đã đào tạo được 25 khóa Trường đào tạo Caohọc cấp bằng Thạc sĩ cho 28 chuyên ngành: Đại số và Lý thuyết số, Toán Giảitích, Hình học và Tôpô, Lý luận và Phương pháp giảng dạy môn Toán, Lýluận Ngôn ngữ, Lý luận Văn học, Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Thế giới, Quanghọc, Phương pháp giảng dạy Vật lý, Hóa vô cơ, Hóa hữu cơ, Hóa phân tích,Phương pháp giảng dạy hóa học, Tổ chức và quản lý văn hóa giáo dục, Lýthuyết Xác suất và Thống kê Toán học, Thực vật, Động vật, Sinh lí động vật,

Trang 31

Phương pháp giảng dạy Sinh học, Giáo sục tiểu học, Văn học Việt Nam, Lýluận và phương pháp dạy học Văn và Tiếng Việt, Lý luận và phương phápdạy học Sử, Lý luận và phương pháp dạy học Ngoại ngữ; Đào tạo Nghiên cứusinh 10 chuyên ngành: Đại số và Lý thuyết số, Giải thích, Hình học Tôpô,Phương pháp giảng dạy Toán học, Lý luận Ngôn ngữ, Quang học, Thực vật,Phương pháp giảng dạy Vật lý, Hóa hữu cơ…

Đội ngũ cán bộ và công chức Hiện nay, trường có 856 cán bộ công

chức, trong đó có 583 giảng viên với chức danh, trình độ đào tạo như sau: 3Giáo sư, 34 Phó Giáo sư, 4 giảng viên Cao cấp, 133 giảng viên chính, 108Tiến sĩ, và 327 Thạc sĩ Có 274 chuyên viên, kỹ thuật viên, cán bộ hànhchính, phục vụ, trong đó có 11 chuyên viên chính, 52 Thạc sĩ

Hằng năm, trường có hơn 6000 SV tốt nghiệp, cung cấp cho xã hội mộtnguồn nhân lực dồi dào và đa dạng bao gồm giáo viên có trình độ ĐH, cửnhân Khoa học, cử nhân Kinh tế, Kĩ sư…

Quy trình đào tạo bước đầu thực hiện theo Hệ thống Tín chỉ Phươngpháp giảng dạy đã được đổi mới theo hướng ứng dụng Công nghệ thông tin

và phương tiện kĩ thuật hiện đại vào quá trình dạy – học, sử dụng bài giảngđiện tử, dạy học trực tuyến, phát huy tính tích cực, chủ động của người học

Từ khi thành lập trường cho đến nay, trường Đại học Vinh đã có nhữngbước phát triển toàn diện, vượt bậc Chất lượng đào tạo ngày càng được nângcao, quy mô đào tạo được mở rộng, nhất là việc mở thêm các ngành cử nhân(Hướng dẫn Du lịch thuộc Việt Nam học, Công tác xã hội, Khoa học Môitrường…), kĩ sư (Xây dựng dân dụng và công nghiệp, Điện tử Viễn thông,Quản lý tài nguyên Rừng – Môi trường, Quản lý đất đai, Nuôi trồng Thủysản, Nông học…) Do quá trình đào tạo đa ngành được triển khai chu đáo, có

kế hoạch nên trường Đại học Vinh ngày càng thu hút được con em khôngnhững của Bắc miền Trung mà còn trên cả nước theo học Trường cũng đã đạtđược những thành tựu quan trọng trên tất cả các mặt hoạt động như: xây dựng

cơ sở vật chất; phát triển đội ngũ cán bộ công chức; mở rộng quan hệ hợp tác

Trang 32

với các trường ĐH; các Viện nghiên cứu trong và ngoài nước; triển khai nhiều

dự án đầu tư, nghiên cứu, xây dựng phong trào sinh viên… Với thế mạnh củamột trường sư phạm hàng đầu, xây dựng trường ĐH đa ngành vẫn không làmyếu đi các ngành sư phạm và luôn xem công tác đào tạo sư phạm làm nòngcốt nhằm mục đích xây dựng thương hiệu sư phạm Đại học Vinh Vì vậy,công tác xây dựng ĐĐNN cho SVSP luôn được quan tâm chú ý

2.1.2 Công tác đào tạo sinh viên sư phạm ở trường Đại học Vinh

Trong xu thế hội nhập và phát triển, từ năm 2001, trường Đại học Sưphạm Vinh đổi tên thành trường Đại học Vinh Trở thành trường Đại học đa

ngành, tuy nhiên nhà trường vẫn “xác định sư phạm là ngành then chốt”

[5;113], vì vậy công tác đào tạo SVSP luôn nhận được sự quan tâm hàng đầu.Theo thống kê của Phòng Đào tạo trường Đại học Vinh (2011) số lượng sinhviên hệ chính quy tập trung toàn trường là: 12.230 SV Trong đó, sinh viên sưphạm chính quy là: 4.141 SV(chiếm 33.9%) chưa kể đến còn có nhiều sinhviên cử nhân khoa học học thêm NVSP hằng năm, Cử nhân khoa học chínhquy tập trung 5.271 SV (chiếm 43.1%), hệ đào tạo kỹ sư 2.818 SV (chiếm23%) Như vậy, số lượng SVSP vẫn chiếm một tỉ lệ khá cao trong tổng sốsinh viên toàn trường, tuy nhiên nhà trường luôn hướng tới việc đào tạo sinhviên sư phạm đạt chất lượng, chứ không chạy đua về số lượng Hiện nay, sinhviên sư phạm được đào tạo ở 16 mã ngành khác nhau như: Sư phạm Toán, Sưphạm Tin học, Sư phạm Vật lí, Sư phạm Hoá học, Sư phạm Sinh học, Sưphạm Giáo dục thể chất, Sư phạm Giáo dục thể chất – Giáo dục quốc phòng(ở khối ngành tự nhiên); ở khối ngành Xã hội như: Sư phạm Giáo dục Chínhtrị, Sư phạm Giáo dục chính trị - Giáo dục quốc phòng, Sư phạm Ngữ văn, Sưphạm Lịch sử, Sư phạm Địa lý; Sư phạm Giáo dục Tiểu học, Sư phạm Giáodục Mầm non, Sư phạm Tiếng Anh, Sư phạm Tiếng Pháp(ở khối ngành xãhội)

Theo điều 89, tại khoản 3, quy định của Luật giáo dục (2005), trườngĐại học Vinh tiếp tục thực hiện các chính sách ưu đãi đối với sinh viên sư

Trang 33

phạm như: miễn học phí đối với sinh viên sư phạm, tạo những điều kiện thuậnlợi cho sinh viên vay vốn theo quy định chung của Thủ tướng Chính phủ,chính sách cấp học bổng đối với những sinh viên nghèo vượt khó, sinh viên

hệ cử tuyển, con thương binh Ngoài ra, nhà trường còn kêu gọi các tổ chức,

cơ quan cấp, tài trợ các suất học bổng cho sinh viên như: Bộ Khoa học vàNghệ thuật bang Hessen, thuộc Cộng hoà Liên bang Đức; học bổngSAMSUNG; Hội đồng doanh nghiệp Nam Yang Ju; Ngân hàng Thương mại

cổ phần Bắc Á; Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel; học bổng VNPT;Mobifone Hàng năm, nhà trường còn trích ngân sách để cấp học bổngkhuyến khích cho những sinh viên đạt kết quả từ khá trở lên xét theo tỷ lệ10% mỗi lớp… Có thể nói, đó là một trong những nguồn động viên lớn để cổ

vũ, thúc đẩy tinh thần học tập, rèn nghề của những sinh viên sư phạm

Không những vậy, nhà trường còn tạo điều kiện cho sinh viên thực hiệnphương châm giáo dục: “Học với hành phải đi đôi, học mà không hành thìhọc vô ích Hành mà không học thì không trôi chảy” Đó cũng là con đường

thực hiện có hiệu quả nguyên lý giáo dục: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết

hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” [25; 1] Hàng năm, trường

Đại học Vinh tổ chức hoạt động Tháng rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, đó thực

sự là một sân chơi bổ ích cho sinh viên sư phạm – nơi đó sinh viên được thểhiện khả năng của mình, đồng thời có cơ hội học tập từ những sinh viên kháccác kỹ năng mềm như: nói trước đám đông; tập viết bảng; sưu tầm các bàitoán, bài văn hay; ngoài ra còn rèn luyện khả năng xử lý các tình huống sưphạm, hiểu biết sư phạm, hùng biện, lời bình cho một bức tranh, thi viết bảng,

đồ dùng dạy học tự làm, bài giảng truyền thống, bài giảng có ứng dụng côngnghệ thông tin…

Trong khung chương trình đào tạo của trường, tuỳ từng chuyên ngànhđến năm thứ ba SVSP được đi thực tế chuyên ngành mà mình theo học, nhàtrường hỗ trợ một phần kinh phí cho những chuyến đi thực tế giáo dục đó

Trang 34

Đồng thời nhà trường luôn chú ý chuẩn bị tốt mọi công tác cho SVSP nămthứ ba đi KTSP và SVSP năm cuối đi TTSP: “Kiến tập sư phạm” là học phầnlồng ghép từ hai nội dung: Thực hành tổng hợp về Tâm lý học và Giáo dụchọc, thực hiện trong hai tuần lễ Khối lượng kiến thức của học phần là một tínchỉ

“Kiến tập sư phạm” nhằm mục đích giúp giáo sinh (SVSP) sớm tiếp cậnvới giáo dục phổ thông, từ đó quán triệt các quan điểm của Đảng thể hiệntrong Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, Nghị quyết Ban chấp hành Trungương 4 khoá VII Đưa giáo sinh vào thực tế để SVSP tập vận dụng nhữngkiến thức về tâm lý – giáo dục học vào việc tìm hiểu học sinh; các hoạt độnggiáo dục cơ bản của nhà trường phổ thông, công tác của người giáo viên chủnhiệm lớp, sự phối hợp của các lực lượng giáo dục: gia đình – nhà trường –

xã hội; tạo điều kiện để giáo sinh làm quen với công tác giảng dạy một mônhọc ở phổ thông, theo tinh thần đổi mới phát huy tính tích cực độc lập của họcsinh, lấy học sinh làm trung tâm Bước đầu, hình thành ở giáo sinh tình cảmnghề nghiệp và một số kỹ năng sư phạm cần thiết: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng

tổ chức các hoạt động giáo dục, kỹ năng điều khiển, lãnh đạo một tập thể họcsinh, kỹ năng nghiên cứu khoa học giáo dục

“Thực tập sư phạm cuối khoá” (TTSP) là một học phần bắt buộc trongchương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ đối với sinh viên hệ đại học sưphạm Học phần TTSP có khối lượng kiến thức là năm tín chỉ, thực hiện trongvòng tám tuần lễ Thực tập sư phạm là điều kiện cần thiết để hình thànhkhuynh hướng nghề nghiệp sư phạm; hình thành nhân cách, đạo đức nghềnghiêp cho người giáo viên tương lai; đó cũng là điều kiện giúp trường sưphạm có khả năng kiểm tra mức độ khuynh hướng nghề nghiệp

Nhận thấy được tầm quan trọng của hoạt động KT – TTSP đối với việchình thành đạo đức nghề nghiệp cho SVSP Trong những năm qua, công tácchuẩn bị cho các hoạt động này được nhà trường tiến hành thực hiện một cáchnghiêm túc, khẩn trương Cụ thể: nhà trường đã chuẩn bị các văn bản quy

Trang 35

định và hướng dẫn KT – TTSP và các biểu mẫu cần thiết; phối hợp với các sởGiáo dục và Đào tạo để liên hệ các địa bàn KT – TTSP, kiểm tra, tổ chức triểnkhai, sơ kết, tổng kết TTSP trên địa bàn các tỉnh; ra quyết định thành lập cácđoàn KT – TTSP; cử cán bộ tham gia hướng dẫn KTSP, tham gia Ban chỉ đạoTTSP tỉnh và cán bộ theo dõi, kiểm tra các đoàn TTSP; chuẩn bị kinh phí vàcác điều kiện khác để phục vụ KT – TTSP; tổ chức hướng dẫn cho SVSPtrước khi đi KT – TTSP; hoàn chỉnh hồ sơ về kết quả KT – TTSP, tổng kết rútkinh nghiệm về công tác tổ chức KT – TTSP của trường Đại học Vinh Nhờ

có sự chỉ đạo kịp thời, sát sao của Ban giám hiệu nhà trường, các phòng banliên quan, các khoa đào tạo sư phạm mà công tác KT – TTSP của SVSPtrường Đại học Vinh luôn được đánh giá cao; không những hầu hết SVSPnắm vững về chuyên môn mà còn có tâm huyết với nghề, vừa học tập vừa rènnghề vừa hình thành được các phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cần có của mộtngười giáo viên trong tương lai thông qua hoạt động KT – TTSP

Theo thống kê của phòng đào tạo trường Đại học Vinh, số lượng sinh viên sư phạm chính quy của các ngành qua các năm là như sau: (xem bảng bên)

Trang 36

Bảng 2 1: Tổng số Sinh viên hệ sư phạm chính quy theo năm học và theo chuyên ngành đào tạo

(Nguồn: Phòng Đào tạo - ĐHV)

Trang 37

Chiến lược này phải bắt đầu từ vấn đề nhận thức toàn diện về đạo đức mới –đạo đức xã hội chủ nghĩa và trang bị những nguyên tắc đạo đức xã hội chủ

nghĩa cho thế hệ trẻ Bàn về điều này, trong Bài nói chuyện với sinh viên và

cán bộ Việt Nam đi học tập và công tác tại Matxcơva, Chủ tịch Hồ Chí Minh

nói: “Muốn xây dựng CNXH phải có những con người xã hội chủ nghĩa, tức

là phải có những con người có đạo đức xã hội chủ nghĩa Đạo đức xã hội chủnghĩa không phải ở đâu cũng biểu hiện giống nhau Ở nước ta, đạo đức xã hộichủ nghĩa là cần kiệm xây dựng nước nhà Mọi người thi đua học tập theocách xã hội chủ nghĩa, lao động theo xã hội chủ nghĩa, có đạo đức xã hội chủnghĩa” [20; 191]

Muốn đào tạo ra thế hệ lớp trẻ có đạo đức xã hội chủ nghĩa thì trước hếtphải trang bị những nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa cho thế hệ SVSP –đội ngũ nhà giáo tương lai Cụ thể là các nguyên tắc sau:

Thứ nhất, trung thành với chế độ xã hội chủ nghĩa.

SVSP cần được giáo dục lòng trung thành với chủ nghĩa xã hội Bởi họ

là những trí thức trẻ được đào tạo dưới mái trường XHCN, những gì họ đượcgiáo dục và đào tạo phải được phát huy trong công cuộc xây dựng xã hộiXHCN, xây dựng đất nước “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,văn minh”

Thứ hai, giáo dục chủ nghĩa yêu nước dựa trên lập trường giai cấp công

nhân

SVSP phải được giáo dục chủ nghĩa yêu nước trên lập trường giai cấpcông nhân, nghĩa là chủ nghĩa yêu nước XHCN Yêu nước là hết mình phục

vụ cho đất nước, sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ khi Tổ quốc cần

Thứ ba, xây dựng chủ nghĩa tập thể, chống chủ nghĩa cá nhân.

Nguyên tắc này cần được quán triệt cho SVSP, những người sẽ đào tạo

ra những thế hệ trẻ biết cống hiến cho tập thể, vì lợi ích tập thể, đẩy lùi chủnghĩa cá nhân, thói vị kỷ Cần làm cho SVSP thấy được “cá nhân chủ nghĩa

Trang 38

đẻ ra hàng trăm tính xấu như siêng ăn, biếng làm, kèn cựa, nghĩ đến mình màkhông nghĩ đến đồng bào, tham danh lợi, địa vị v.v ”[20; 145]

Thứ tư, xây dựng tinh thần lao động tự giác, sáng tạo.

Nguyên tắc xây dựng tinh thần tự giác, sáng tạo là nguyên tắc cần trang

bị cho sinh viên nói chung, SVSP nói riêng SVSP thuộc tầng lớp trí thức, laođộng của họ trong tương lai là việc giáo dục – đào tạo thế hệ trẻ Sản phẩmcủa họ phải là những con người biết quý trọng lao động, không phân biệt laođộng trí óc hay lao động chân tay Do đó, lao động sư phạm trước hết là laođộng một cách tự giác, sáng tạo

2.1.3.2 Hình thành tác phong sư phạm, văn hóa ứng xử sư phạm, ý thức tôn trọng học sinh

SVSP cần rèn dũa sự mẫu mực trong lời ăn, tiếng nói; gương mẫu trongcuộc sống; nghiêm khắc với bản thân; tác phong chững chạc; tự tin trong giaotiếp; biết tạo lập các quan hệ giao tiếp; biết điều khiển, tổ chức giao tiếp; nhạycảm, tinh tế và mô phạm trong các quan hệ giao tiếp; tôn trọng nhân phẩmcủa đối tượng giao tiếp; đồng cảm và chia sẻ với đối tượng giao tiếp

Hình thành tác phong sư phạm, xây dựng văn hóa ứng xử sư phạm làmột nội dung quan trọng giúp SVSP hình thành được tác phong, quan hệ phùhợp với yêu cầu của nghề dạy học, không bị ảnh hưởng bởi tác phong, quan

hệ ứng xử từ lối sống tiêu cực, ngoại lai SVSP là những thanh niên trẻ, rất dễtiếp thu cái mới, lối sống mới kể cả những thói hư, tật xấu, những thói quenkhông phù hợp với văn hóa dân tộc Vì vậy, hình thành cho SVSP tác phongmẫu mực, quan hệ ứng xử tốt là nội dung cần chú trọng trong xây dựngĐĐNN cho SVSP

2.1.3.3 Xây dựng tinh thần sẵn sàng nhận công tác ở những nơi khó khăn

Các trường đào tạo sư phạm cần xây dựng cho SVSP tinh thần sẵn sàngnhận công tác ở nơi khó khăn, vững vàng trước những thử thách của cuộcsống và nghề nghiệp; chia sẻ những khó khăn với nhân dân và học sinh ở nơi

Trang 39

công tác; không đòi hỏi thái quá; tìm ra những biện pháp khắc phục khó khăntrong nghề nghiệp; thương yêu và đồng cảm với học sinh; biết động viên đồngnghiệp và học sinh vượt qua khó khăn; lối sống giản dị, hòa nhập với nhândân và học sinh nơi công tác.

Tinh thần sẵn sàng nhận công tác ở những nơi khó khăn phải được xem

là một nội dung quan trọng trong xây dựng ĐĐNN cho SVSP Việc xây dựngcho SVSP tinh thần sẵn sàng nhận công tác ở những nơi khó khăn là sự chuẩn

bị tâm lý vững vàng cho SVSP trước khi ra trường, trước khi nhận công tác

Yêu nghề là yêu công việc dạy học và giáo dục; có ý chí và nghị lựcvượt qua những khó khăn và thử thách của nghề nghiệp; sẵn sàng nhận côngtác ở những nơi khó khăn, gian khổ; mong muốn cống hiến cả cuộc đời mìnhcho sự nghiệp giáo dục; luôn học hỏi những cái hay, mới, tiến bộ trong nghềnghiệp; luôn phấn đấu để thành đạt trong nghề nghiệp

Để xây dựng lòng yêu nghề cho SVSP cần xây dựng cho họ thái độ vàlối sống không tôn sùng, chạy theo giá trị vật chất tầm thường, biết trân trọngcác giá trị tinh thần của nghề dạy học, không lợi dụng vị trí nghề nghiệp đểmưu cầu lợi ích cá nhân, biết đặt lợi ích của tập thể, học sinh trên lợi ích củabản thân

Xây dựng lòng yêu trẻ là làm cho SVSP cảm thấy vui sướng khi đượctiếp xúc với trẻ; cống hiến cả cuộc đời mình cho thế hệ trẻ; sẵn sàng chia sẻhạnh phúc và bất hạnh của trẻ; biết tha thứ cho trẻ, khoan dung, độ lượng;giàu lòng nhân ái, vị tha; không nuông chiều trẻ; không mua chuộc trẻ; khôngđịnh kiến và trù dập trẻ; công bằng trong đối xử với trẻ; tôn trọng nhân cáchtrẻ; nhìn nhận, đánh giá trẻ trong tương lai; là chỗ dựa tin cậy cho trẻ; sẵnsàng phối hợp với cha mẹ trẻ trong giáo dục trẻ; động viên trẻ kịp thời, đúnglúc, đúng chỗ; yêu trẻ như yêu con em chính mình

Chỉ có lòng yêu trẻ, người giáo viên mới có động lực để vượt qua khókhăn, những cám dỗ, cạm bẫy của đời sống vật chất và hoàn thành nhiệm vụ

Ngày đăng: 25/12/2013, 11:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Chỉ thị 40 – CT/TW ngày 15/6/2004 về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 40 – CT/TW ngày 15/6/2004 về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2004
2. Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương, Tài liệu nghiên cứu Văn kiện Đại hội Đảng IX của Đảng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu Văn kiện Đại hội Đảng IX của Đảng
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
3. Báo cáo “Tháng rèn luyện nghiệp vụ sư phạm” và Tổ chức hội thi Nghiệp vụ sư phạm của sinh viên trường Đại học Vinh năm học 2010 – 2011 (2010), Phòng Đào tạo Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tháng rèn luyện nghiệp vụ sư phạm” và Tổ chức hội thi Nghiệp vụ sư phạm của sinh viên trường Đại học Vinh năm học 2010 – 2011
Tác giả: Báo cáo “Tháng rèn luyện nghiệp vụ sư phạm” và Tổ chức hội thi Nghiệp vụ sư phạm của sinh viên trường Đại học Vinh năm học 2010 – 2011
Năm: 2010
4. Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 (2002), Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010
Tác giả: Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2002
5. Chương trình công tác Đoàn và Phong trào Thanh niên năm 2010 – 2011, Đoàn trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình công tác Đoàn và Phong trào Thanh niên năm 2010 – 2011
6. Nguyễn Đình Chỉnh (1995), Thực tập sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tập sư phạm
Tác giả: Nguyễn Đình Chỉnh
Năm: 1995
7. Phạm Khắc Chương (1997), Cômenxki ông tổ của nền sư phạm cận đại, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cômenxki ông tổ của nền sư phạm cận đại
Tác giả: Phạm Khắc Chương
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1997
8. Phạm Khắc Chương - Nguyễn Thị Yến Phương, Đạo đức học (2007), Nhà xuất bản sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức học
Tác giả: Phạm Khắc Chương - Nguyễn Thị Yến Phương, Đạo đức học
Nhà XB: Nhà xuất bản sư phạm
Năm: 2007
9. Phạm Khắc Chương – Hà Nhật Thăng (1998), Đạo đức là nội dung quan trọng trong quá trình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức là nội dung quan trọng trong quá trình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm
Tác giả: Phạm Khắc Chương – Hà Nhật Thăng
Năm: 1998
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1997
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương khóa IX, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2002
12. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
13. Đạo đức học (1998), Nhà xuất bản GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức học
Tác giả: Đạo đức học
Nhà XB: Nhà xuất bản GD
Năm: 1998
14. Đổi mới, nâng cao năng lực vai trò, trách nhiệm, đạo đức của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục trong xu thế Việt Nam hội nhập quốc tế (2007), Nhà xuất bản Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới, nâng cao năng lực vai trò, trách nhiệm, đạo đức của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục trong xu thế Việt Nam hội nhập quốc tế
Tác giả: Đổi mới, nâng cao năng lực vai trò, trách nhiệm, đạo đức của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục trong xu thế Việt Nam hội nhập quốc tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động – Xã hội
Năm: 2007
15. Giáo trình Đạo đức học Mác – Lênin (2004), Nhà xuất bản lý luận Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Đạo đức học Mác – Lênin
Tác giả: Giáo trình Đạo đức học Mác – Lênin
Nhà XB: Nhà xuất bản lý luận Chính trị
Năm: 2004
16. Giáo trình Triết học Mác – Lênin (2005), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác – Lênin
Tác giả: Giáo trình Triết học Mác – Lênin
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
17. Nguyễn Kế Hào – chủ biên (2003), Giáo trình tâm lý lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Nhà xuất bản Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lý lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tác giả: Nguyễn Kế Hào – chủ biên
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học sư phạm
Năm: 2003
18. Nguyễn Sinh Huy – chủ biên (1995), Giáo dục học đại cương I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học đại cương I
Tác giả: Nguyễn Sinh Huy – chủ biên
Năm: 1995
19. Lê Văn Hồng – chủ biên (2001), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng – chủ biên
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2001
20. Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 4 (1995), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 4
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1995

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. 1: Tổng số Sinh viên hệ sư phạm chính quy theo năm học và  theo chuyên ngành đào tạo - Xây dựng đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm trường đại học vinh trong giai đoạn hiện nay luận văn tốt nghiệp đại học
Bảng 2. 1: Tổng số Sinh viên hệ sư phạm chính quy theo năm học và theo chuyên ngành đào tạo (Trang 35)
Bảng 2.2. Những biểu hiện tích cực về đạo đức của SVSP - Xây dựng đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm trường đại học vinh trong giai đoạn hiện nay luận văn tốt nghiệp đại học
Bảng 2.2. Những biểu hiện tích cực về đạo đức của SVSP (Trang 44)
Bảng 2.1. Nhận thức của SVSP về các giá trị đạo đức cần thiết TT Các giá trị đạo đức Nhận thức đúng Nhận thức sai - Xây dựng đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm trường đại học vinh trong giai đoạn hiện nay luận văn tốt nghiệp đại học
Bảng 2.1. Nhận thức của SVSP về các giá trị đạo đức cần thiết TT Các giá trị đạo đức Nhận thức đúng Nhận thức sai (Trang 44)
Bảng 2.3. Những biểu hiện tiêu cực về ĐĐNN của SVSP ĐHV TT Những biểu hiện tiêu cực về ĐĐNN Kết quả - Xây dựng đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm trường đại học vinh trong giai đoạn hiện nay luận văn tốt nghiệp đại học
Bảng 2.3. Những biểu hiện tiêu cực về ĐĐNN của SVSP ĐHV TT Những biểu hiện tiêu cực về ĐĐNN Kết quả (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w