1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định thành phần tinh dầu cây ngũ gia bì chân chim (schefflera octophyla harms) ở nghệ an

36 3,2K 30
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xác định thành phần tinh dầu cây ngũ gia bì chân chim (Schefflera octophyla Harms) ở Nghệ An
Tác giả Lê Thị Thu Hương
Người hướng dẫn PGS.TS Lê Văn Hạc, GS.TSKH Nguyễn Xuân Dũng, TS Hoàn Văn Lựu, ThS Trần Đình Thắng, Cô Nguyễn Thị Liên
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Hóa học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2004
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 902,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu thành phần hoá học và hoạt tính sinh học củanhững cây cỏ ở nước ta trong những thập kỷ qua còn có nhiều hạn chế,chưa đáp ứng được yêu cầu điều tra tài nguyên thiên nhiên,

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhậnđược sự hướng dẫn, giúp đỡ rất tận tình và chu đáo của:

- PGS.TS Lê Văn Hạc đã giao đề tài và trực tiếp hướng dẫn

- GS.TSKH Nguyễn Xuân Dũng - Khoa hoá Trường đại học khoahọc tự nhiên Đại học quốc gia Hà Nội đã phân tích thành phần hoá họctinh dầu

- TS Hoàn Văn Lựu - Phó trưởng khoa hoá đã có những góp ý vàchỉ dẫn quý báu, bổ ích

- ThS Trần Đình Thắng đã cung cấp nhiều thông tin tài liệu quantrọng

- Cô Nguyễn Thị Liên - Phụ tá phòng thí nghiệm hoá Hữu cơ đã tạođiều kiện cung cấp dụng cụ thiết bị hoá chất cho qúa trình làm thựcnghiệm

- Các bạn Ngô Hoài Nam và Hà Thị Hạnh lớp 40E3 Hóa đã giúp đỡtôi rất nhiều trong qúa trình lấy mẫu và làm thí nghiệm

- Các thầy giáo, cô giáo và cán bộ bộ môn Hoá hữu cơ - Khoa hoáTrường Đại học Vinh, cùng các bạn bè đã động viên và giúp đỡ trong quátrình hoàn thành luận văn này

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tất cả những sựđộng viên và giúp đỡ quý báu đó

Tháng 5 năm 2004

Lê Thị Thu Hương

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Mở đầu 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 5

3 Đối tượng nghiên cứu 5

Phần 1: Tổng quan 6

1.1 Đặc điểm thực vật cây họ nhân sâm 6

1.2 Một số chi họ nhân sâm 6

1.2.1 Chi Schefflera 6

1.2.2 Chi Acanthopanax 7

1.2.3 Chi Aralia 7

1.2.4 Chi Polyscias 7

1.2.5 Chi Panax 7

1.3 Một số cây thuộc họ nhân sâm 7

1.3.1 Cây đáng (Schefflera octophylla lour Harms) 7

1.3.2 Cây đinh lăng (Polyscias fruticora Harms) 7

1.3.3 Cây răng 8

1.3.4 Cây thôi hoang (Trewetia Palmata Vis) 8

1.3.5 Cây ngũ gia bì (Acanthopanax aculeatum Seen) 8

1.3.6 Cây tam thất (Panax repens Marx) 8

1.3.7 Cây ngũ gia bì hương (Atrifoliatus) 8

1.4 Cây ngũ gia bì chân chim (Schefflera octophylla lour Harms) 8 1.4.1 Đặc điểm thực vật học 8

1.4.1.1 Mô tả cây 9

1.4.2 Phân bố, chế biến và thu hái 10

1.4.3 Thành phần hoá học 10

1.4.4 Tác dụng dược lý 12

1.4.5 Công dụng và liều dùng 13

1.5 Thành phần hoá học và đặc tính tinh dầu 13

1.5.1 Đặc tính tinh dầu 13

1.5.2 Trạng thái tự nhiên và phân bố của tinh dầu 14

1.5.3 Tính chất vật lý của tinh dầu 15

Trang 3

1.5.4 Tính chất hoá học của tinh dầu 151.5.5 Ứng dụng của tinh dầu 16

Phần 2 :Phương pháp nghiên cứu 17

2.2 Phương pháp định lượng tinh dầu 172.3 Các phương pháp tách tinh dầu 182.3.1 Phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước 19

2.5 Phương pháp xác định thành phần hoá học của tinh dầu 192.5.1 Phương pháp sắc ký-khí 192.5.1.1 Bản chất của phương pháp sắc ký - khí 202.5.1.2 Ưu điểm của phương pháp 212.5.2 Phương pháp khối phổ 212.5.2.1 Bản chất của phương pháp 21

4.1 Hàm lượng tinh dầu ngũ gia bì chân chim 294.2 Thành phần hoá học của tinh dầu ngũ gia bì chân chim 29

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Nước ta nằm ở Đông Nam châu Á Có diện tích khoảng 330.000

Km2 trải dài trên 15 vĩ độ (khoảng 1650 Km) Có điều kiện tự nhiên kháthuận lợi: Nắng lắm, mưa nhiều, khí hậu nhiệt đới gió mùa vì vậy tạo chonước ta có một hệ thống thực vật phong phú và đa dạng đặc biệt là cácloài cây có tinh dầu và cây thuốc

Tinh dầu chứa các hợp chất thiên nhiên quý giá, nó có nhiều ứngdụng trong các lĩnh vực khác nhau như: Làm thuốc, làm gia vị, làm hươngliệu mỹ phẩm

Theo số liệu thống kê gần đây, hệ thực vật ở Việt Nam có hơn10.000 loài [9] trong đó có hơn 3200 loài cây được sử dụng trong y học

và 600 loài cây có chứa thành phần tinh dầu [1] Đây là một nguồn tàinguyên thiên nhiên rất quý báu của nước ta Tuy nhiên sự khai thác bừabãi không có kế hoạch đã làm cho diện tích tài nguyên rừng của nước ta

bị suy giảm nhanh chóng, nhiều loại cây đã trở nên khan hiếm, trong đó

có nhiều cây tinh dầu và thuốc

Việc nghiên cứu thành phần hoá học và hoạt tính sinh học củanhững cây cỏ ở nước ta trong những thập kỷ qua còn có nhiều hạn chế,chưa đáp ứng được yêu cầu điều tra tài nguyên thiên nhiên, cũng nhưđóng góp vào việc định hướng sử dụng bảo tồn và phát triển tài nguyênthực vật một cách hợp lý

Ngũ gia bì chân chim (Schefflera octophylla) thuộc họ Nhân sâmhay họ Ngũ gia bì gồm 70 chi và 850 loài, phân bổ chủ yếu ở vùng nhiệtđới, với ít đại diện ở vùng ôn đới

Ở nước ta trong thời gian gần đây đã sưu tầm được 21 chi và 96loài Phần lớn các loài cây trong họ này đều được sử dụng làm thuốc hoặclàm cây cảnh

Vì những lý do trên nên tôi chọn đề tài "Xác định thành phần hoáhọc tinh dầu cây ngũ gia bì chân chim (Schefflera octophylla) thuộc họNhân sâm (Araliaceae) ở Nghệ An nhằm mục đích: Xác định hàm lượngtinh dầu và thành phần định tính, định lượng của nó, qua đó góp phần tìm

Trang 5

kiếm và phát hiện thêm những hợp chất có giá trị trong thành phần tinhdầu ngũ gia bì chân chim để giới thiệu chúng với tư cách là nguồn nguyênliệu cho hoá dược, hoá mý phẩm.

2 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu:

Với mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn này bao gồm:

- Dùng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước để tách tinh dầu

từ bộ phận thân và cành của cây ngũ gia bì chân chim (Scheffleraoctophylla) và xác định hàm lượng của chúng

- Dùng sắc ký khí (GC) và sắc ký khí - khối phổ ký liên hợp MS) để xác định thành phần hoá học của tinh dầu thân và cành ngũ gia bìchân chim

(GC-3 Đối tượng nghiên cứu:

- Tinh dầu bộ phận thân, cành của cây ngũ gia bì chân chim(Schefflera octophylla) thuộc họ Nhân sâm (Arliaceae) ở Nghệ An

Trang 6

Phần 1: TỔNG QUAN

1.1 Đặc điểm thực vật cây họ nhân sâm:

Họ nhân sâm là họ tương đối lớn có gần 70 chi và 850 loài phân bốchủ yếu ở vùng nhiệt đới, với ít đại diện ở vùng ôn đới (chủ yếu là vùngĐông Nam Á, số lớn các chi và loài gặp ở Đông Nam Á, châu Úc và châuMỹ

Chủ yếu là cây gỗ nhỡ hay cây bụi, ít khi là cây thảo nhiều năm cóthân rễ, lá thường mọc cách, ít khi đối, ít khi nguyên (Gtlibertia) thường

lá chẻ chân vịt

Hoa tập hợp thành tán đơn, các tán này lại tập hợp thành cụm hoachùm, bông Hoa nhỏ đều, lưỡng tính nhưng đôi khi do giảm trở thànhhoa đơn tính Đài có 5 lá đài phần dưới dính lại, phần trên dời thành 5mảnh nhỏ

Tràng có 5-10, ít khi 3 cánh hoa, rời và xếp xen kẽ với đài Nhịbằng số cánh hoa và xen kẽ với cành, ít khi rất nhiều (40 ở Tupidanthus).Bao phấn mở dọc, màng hạt phân thành 3 rãnh lỗ, có khi 2 hay 4 rãnh lỗ

Bộ nhuỵ gồm 5-2 lá noãn dính lại với nhau làm thành bầu dưới, ít khi nửadưới hay trên có số ô tương ứng với số lượng lá noãn hợp thành và trongmỗi ô có hai noãn, nhưng chỉ có 1 phát triển thành hạt còn noãn kia khôngphát triển Số lượng ô của bầu có thể ít hơn hay nhiều hơn Vòi nhuỵ rờihay hoàn toàn dính lại với nhau một ít ở phần dưới, phần trên rời nhưngđôi khi vòi nhuỵ ngắn hoặc không có Quả mọng hay quả hạch, ít khi làquả song huyền [2]

1.2 Một số chi thuộc họ nhân sâm hay họ ngũ gia bì (Araliaceae):

1.2.1 Chi Schefflera:

- Chi này có 35 loài, gồm những cây mộc hay những cây gỗ nhỏ có

lá kép chân vịt có trên 5 lá chét, cây không có gai, lá có cuống dài, cáccuống lá chét bằng nhau, tròn, trơn tru, mép lá thường nguyên Nhiều loàilàm thuốc bổ mạch gân cốt, trừ phong, thấp khớp (S octophylla Harms,

Trang 7

S.Tonkinensis, R.Vig Spesvis, R.Vig.Snitidifolia Harms, S.VietnamensicGrush, Et Skvoorts).

1.2.2 Chi Acantho Panax.

- Chi này gồm có 5 loài, thường là cây nhỡ, thân trơn tru hoặc cógai nhọn, lá kép chân vịt 5-3 chét cuống lá chét ngắn, được sử dụng làmthuốc bổ máu, chữa phong thấp [2]

1.2.3 Chi Aralia:

- Chi Aralia gồm 12 loài, thường là cây nhỡ hay cây nhỏ mọc tựa,

có lá kép lông chim và cây thường có gai nhọn Cây cuống hay đơn chânchim (A.armata (Wall Seem) Mọc trên các nương rẫy cũ đất còn tốt vàven rừng, có thân và rễ dùng làm thuốc [2]

1.2.4 Chi Polyscias:

Chi này gồm 5 loài, cũng như chi Aralia nhưng cây nhỏ, không gai,

có lá chét sẻ sâu, cuống hoa có đốt Rễ dùng làm thuốc tăng sức dẻo daicủa cơ thể, tăng biên độ và tần số hô hấp [2]

1.2.5 Chi Panax:

Chi Panax gồm 3 loài, đều là cây thảo sống nhiều năm mang 1vòng, lá kép chân vịt Loài quan trọng nhất là cây tam thất (Panax,Pseudoginseng Wall) Một cây thuốc quý có tác dụng cầm máu, bổ tì, trịsuy nhược thần kinh [2]

1.3 Một số cây thuộc họ nhân sâm:

1.3.1 Cây đáng (Schefflera octophylla lour Harms).

Cây gỗ mềm, màu nâu, nhẵn, lá kép chân vịt 6-8 lá chét, thân dài,cuống lá dài tròn Hoa tụ tán trắng, hoa đều, cánh mềm, quả mọng hồng,

có cuống dài, mang 7-8 hạt Cây làm thuốc trừ sâu, mọc rất nhiều ở rừng,cây bụi hay đồi hoang [4]

1.3.2 Cây Đinh lăng (Polysciasi fruticosa Hamrs)

Cây bụi phân cành, nhánh nhiều lá nhỏ có răng cưa, hoa tụ tán lớn,cây trồng làm cảnh

Trang 8

1.3.3 Cây răng:

Cây bụi, cành nhánh dài mềm, bò rộng lá kép chân chim nhiều lầnrất lớn, loà xoà, lá chét thuôn nhọn Cây la đà có tán rất lớn, thưa, quảtròn Cây mọc phổ biến trên đồi hoang hay trong rừng

1.3.4 Cây thôi hoang (Trewtia palmata Vis).

Cây gỗ nhỡ có nhiều gai, lá to mọc tập trung ở đầu cành, xẻ chân vịtsâu, cuống dài, lá phình to ở gốc Hoa tụ tán lớn, màu trắng thơm Quảtròn bị ép Cây mọc ở nhiều vùng [4]

1.3.5 Cây ngũ gia bì (Acantho panax aculeatum seen):

Cây nhỏ, nhiều gai, cao 2-3 m, lá mọc so le, kép chân vịt, có 3-5 lá.Phiến lá chét hình bầu dục hay hơi thuôn dài, phiến lá chét hình bầu dụchay hơi thuôn dài, phía cuống hơi thót lại, đầu nhọn mỏng, mép có răngcưa to, cuống lá dài 4-7 cm Hoa mọc thành hình tán ở đầu cành Đầu mùa

hạ ra hoa nhỏ màu vàng xanh Quả mọng hình cầu, đường kính chừng2,5mm khi chín có màu đen Mọc hoang ở nhiều tỉnh miền bắc nước ta,hay gặp nhất là ở Lạng Sơn, Sapa, Vĩnh Phú, Bắc Thái, Hoà Bình, TuyênQuang, Quảng Châu-Trung Quốc Cây làm thuốc trị đau bụng, có tácdụng mạnh gân cốt [3]

1.3.6 Cây tam thất (Panax repens marx):

Cây thân bò, thân đơn, mang một vòng lá kép lông chim hoa tụ tánmàu xanh Quả dẹt màu đỏ 2 hạt Cây được dùng làm thuốc [4]

1.3.7 Cây Ngũ gia bì hương (A.trifoliatus):

Thuộc họ Araliaceae, chi A.cantho Panax, từ lâu được nhân dân ta

sử dụng làm thuốc chữa các bệnh ngoài da, bồi bổ sức khoẻ với nhữnghoạt tính quý báu như các loài nhân sâm [11]

1.4 Cây Ngũ gia bì chân chim (Schefflera octophylla lour Harms):

1.4.1 Đặc điểm thực vật học:

Ngũ gia bì chân chim còn có tên là nam sâm, cây chân chim, kotan(Lào), ngũ chỉ thông, áp cước, áp cước mộc, nga chưởng sài

Trang 9

Tên khoa học là Schefflera octophylla (lour) Harms (Araliaoctophylla lour) thuộc họ ngũ gia bì Araliaceae.

Ta dùng thân lá và rễ của cây chân chim làm thuốc

1.4.1.1 Mô tả cây:

Cây nhỡ hoặc cây to có thể cao từ 2-8m, lá kép hình chân vịt mọc so le có6-8 lá chét, cuống lá dài 8-30cm, lá chét nguyên hình trứng, đầu nhọn hayhơi tù dài 7-17cm, rộng 3-8cm, cuống lá chét ngắn 1,5 - 2,5 cm, cuống lá chét giữa dài hơn đo được 3-5cm, cụm hoa chuỳ hoặc chùm tán Hoa nhỏ màu trắng, số cánh hoa và nhị bằng nhau thường là 5, bao phấn 2 ngăn bầu hoa có 5-6 ngăn Quả mọng hình cầu, đường kính 3-4mm Khi chín

có màu tím sẫm đen, trong có 6-8 hạt Mùa hoa nở thu đông

Hình 1: Ảnh của cây Ngũ Gia Bì chân chim

Trang 10

1.4.2 Phân bố, chế biến và thu hái:

Mọc rải rác khắp nơi ở Việt Nam, nhiều nhất tại các tỉnh VĩnhPhúc, Phú Thọ, Lào Cai, Hoà Bình, Hà Tây, Bắc Giang, Bắc Ninh, NinhBình, Nam Định, Hà Nam Rễ đào về rửa sạch đất cát, bóc lấy vỏ hoặcthái mỏng, nếu là rễ nhỏ phơi hay sấy khô.[3]

Viện dược liệu Việt Nam nghiên cứu và tách ra từ dịch chiết của vỏthân rồi làm thí nghiệm trên động vật cho thấy nó có tác dụng hoạt huyết,kích thích hệ thần kinh một cách rõ rệt

Theo Dược điển Việt Nam tập II thì vỏ cây có vị cay, tính ấm, cómùi thơm đặc trưng, có thể tác dụng vào 2 thận, kinh can chủ trị bệnhthấp hàn, đâu lưng, nhức xương, đàn ông liệt dương, phụ nữ bị viêm âm

hộ, trẻ em còi xương chậm lớn, xẹp phù thũng Ngoài ra vỏ cây còn dùng

để đắp vào vết thương tụ máu, chân nứt nẻ, lá có tác dụng lợi tiểu [6]

1.4.3 Thành phần hoá học:

- Năm 1989 (Chem, Pharm, Bull., 37(10), 27-2730) J Kitajama vàcộng sự đã chiết từ lá Schefflera octophylla của Nhật hai tritecpennoitglucozit là O- L.rhamnopyranosyl và 3-epo-betutinin axit 3-O--D-glucopyranozit

- Năm 1990 (Chim Pharm Bull, 38(3) 714-716) vẫn tác giả trêncòn phát hiện thêm hai tritecpenoit sulfat cũng từ lá Schefflera octophyllamọc ở Nhật Bản: 3-epi-betulinic axit, 3-O-sulfat và betulinic axit 3-osulfat thu được từ tự nhiên và ở dạng tự do

- Tháng 12/1983 nhóm tác giả Jurgen Schmidt, Manfred,Leschewski, christime lcuhnt và gunter Adam (Viện hoá học thực vậtnghiên cứu GDR Halles, GDR và Vũ Việt Nam, Hoàng Văn Phiệt - Việnhoá học các hợp chất thiên nhiên - Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Côngnghệ Quốc gia Hà Nội đã tách ra từ vỏ cây Schefflera octophylla đượcmột chuối este axit béo tritecpen với số nguyên tử các bon từ C16 - C21 vàC23 - C29 trong phần axít béo Axit ocleanolic và axít 3 - hyđroxy - lup -20(29) - en 23, 28-dioic cũng đã được xác định

- Tháng 11/1991 nhóm tác giả Trần Văn Sung, Peter - Katalinic J;Adam G (Viện hoá học các hợp chất thiên nhiên Trung tâm Khoa học Tự

Trang 11

nhiên và Công nghệ Quốc gia Hà Nội) đã trách ra từ phần khô của vỏ câySchefflera octophylla được một tritecpen glucozit sunfat mới Từ các giữliệu phổ và do chuyển dịch hoá học, cấu trúc của thành phần mới đượcxác định là 3-epi-betulinic axit, 3-O-Sufat 28-O [-alpha - L - rhamnoryrichyl (1-4 - O - beta - D - gluco pyranozyl (1-6)] - -D-glucopyranozid.

- Năm 1991 nhóm tác giả Trần Văn Sung, StelicW Adam G (Việnhoá học các hợp chất thiên nhiên-Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Côngnghệ Quốc gia Hà Nội) Cùng với axit 3-epi - betulinic axit, 3 tritecpenglucojit được tách ra từ Schefflera octophylla

Cấu trúc của glucojit được xác định là:

28-O-[alpha - L - rharmnopyranoxyl (1-4) - O--D-glucopyranosyl(1-6)-beta-D-glucopyranosi des của 3--hydroxy - lup - 20 (29) -ene 23,

28 -đioic axit, và 3-epi-betulin axit bằng các dữ liệu phổ và sự chuyển đổihoá học, hai hợp chất trước lần đầu tiên được thấy trong cây

Tháng 4/1992 nhóm tác giả Trần Văn Sung, Adam G (Viện hoá họccác hợp chất thiên nhiên, Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốcgia Hà Nội) đã tách ra từ cây Schefflera octophylla một số saponintritecpennoit bidesmosi axetyl và cấu trúc được xác định là 3-epi-betulinicaxit 3-O--D-acetyglucopyranoside 28-[-L-rharm nopyranosyl (1-4) -O

-  - D - glucopyranosyl (1-6)] -  - D - O - glucopyranoside [1]

- Tháng 1/1992: Nhóm tác giả Trần Văn Sung, Lavan C, Porzel A,Steglich W, Adam G, Iistitute (Viện hoá học các hợp chất thiên nhiên,Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia Hà Nội) đã tách ra từ

vỏ của cây Schefflera octophylla một tritecpen mới và glucozit cùng vớiaxit asiatic và asiaticoside Trên cơ sở các dữ liệu phổ đặc biệt là2DNMR, và sự chuyển đổi hoá học, cấu trúc của hợp chất mới đã đượcxác định là axit 3- - hyđroxy-urs-12-ene-23,28-đioic và 3- - hyđroxy- -urs-12-ene-23,28 - đioic axit 28-O-[-L-rharmno pyranosyl (1-4) -O -beta -D - glycopyranosyl (1-6)] - -D -glycopyranoside

- Tháng 11/1994 nhóm tác giả Maeda C, Ohtani K, Kasai R,Yamasaki K, Nguyễn MD, Nguyễn TN, Nguyễn KQ (Viện nghiên cứudược phẩm đại học dược Hirosyma - Nhật Bản) đã tách ra từ vỏ của câyschefflera octophylla được 12 tecpen glucojit Ba trong số chúng được

Trang 12

xác nhận là asiaticoside, cauloside D và 3hyđroxy urs 12 ene 23, 28 đioic axit, 28 - O -  - L - rharmnopy ranosyl (1-4) -D-glucopyranosyl(1,6) -  -D -glucopyranoside.

-Cấu trúc của 9 glucozit mới đã được xác nhận bởi các bằng chứng

về phổ và hoá học bao gồm các hợp chất đã được biết đến: 12 glucozitgồm 6 cặp tương ứng ursen và oleanen glucozit và tất cả chúng có cùngmột nửa triose tại vị trí cacbon số 28 Tên của Scheffrosides A-F vàSchefroleasides B-F được đề nghị từ các cặp tương ứng của ursen vàoleanen glucozit

1.4.4 Tác dụng dược lý:

Nguyễn Văn Đàn, Lê Nguyên Dục và Trần Kim Lan (kỷ yếu côngtrình nghiên cứu dược liệu 1961 - 1971, 2, 176 - 181) đã sử dụng dungdịch chiết vỏ thân cây ngũ gia bì chân chim bằng cồn 400 theo tỷ lệ 1:1 thínghiệm trên súc vật đã đi đến một số kết luận sau đây:

1, Về mặt độc tính, ngũ gia bì chân chim có LD50 là 53,5g/kg thểtrọng trong khi nhân sâm có LD50 là 22,0g/kg thể trọng, tam thất là 9g/kgthể trọng Vậy theo thực nghiệm ngũ gia bì chân chim (nam sâm) ít độchơn những loại thuốc cùng họ

Trên súc vật thực nghiệm, khi dùng Nam sâm dài ngày không thấy

có tác dụng độc hại đối với các chức năng gan, thận và hằng số máu

2, Mặt khác qua một số thí nghiệm sau đây các tác giả đã cho rằngthường phải dùng Nam sâm với liều tương đối cao thì mới thu được tácdụng

- Tăng lực (tăng khả năng vận động) trên súc vật Với liều lượng 2,5

vỏ thân/kg Nam sâm làm tăng rõ rệt thời gian bơi của chuột trắng so vớinhóm đối chứng

- Với liều 0,75g/kg thể trọng vỏ thân Nam sâm (tiêm dưới da) có tácdụng kích thích rõ rệt trên thần kinh chuột nhắt đã tiêm thuốc ngủVeronal Natri

- Với liều dùng 5g vỏ/kg thể trọng (uống) Nam sâm có tác dụngchống lạnh rõ rệt đối với chuột nhắt trắng

Trang 13

- Với liều 2,5g/kg thể trọng (tiêm dưới da) vở Nam sâm chưa thểhiện tác dụng chống nóng trên chuột nhắt trắng.

- Với liều dùng 5g/kg thể trọng (uống) với vỏ Nam sâm không thểhiện được tác dụng kiểu oestrgen một cách chắc chắn (thí nghiệm trênchuột nhắt trắng cái đã thiến bỏ buồng trứng theo phương pháp Allen.Doisy

- Uống với liều 2,5g/kg thể trọng vỏ Nam sâm có tác dụng hạđường huyết rõ rệt trên chuột trắng thí nghiệm

3, Các tác giả đã đề nghị liều sử dụng cho người lớn là 6-10g bộtdược liệu khô trong một ngày và đưa ra sử dụng trên người 2 dạng bàochế của vỏ thân Nam sâm dạng rượu ngọt 1ml chứa 0,2 g bột dược liệukhô với tên langtonic (chai 5ml) ngày uống 2 lần, mỗi lần 10-30ml vàdạng elxia 1ml chưa 2 g bột dược liệu khô với tên là langgosin (lọ 150ml)ngày uống 5ml

1.5 Thành phần hoá học và đặc tính tinh dầu:

1.5.1 Vài nét về tinh dầu:

Tinh dầu hay còn gọi là tinh du, dầu thơm hay hương du là nhữnghỗn hợp có mùi thơm hay mùi khó chịu, có một số tính chất lý học chungnhưng thường gặp trong cây hay động vật Ví dụ: Tinh dầu sả, tinh dầubạch đàn, tinh dầu hoa hồng, tinh dầu xạ hương

Trong nhân dân, một số người nhầm lẫn tinh dầu với dầu béo nhưdầu lạc, dầu vừng Thực tế thì tinh dầu rất khác với dầu béo Tinh dầu làhỗn hợp của các chất hữu cơ phức tạp cùng các hyđrocacbon loại tecpen,các ancol dưới dạng este, các andehit, xeton, phenon trong khi dầu béo làeste của glixerin với axit béo

Trang 14

1.5.2 Trạng thái tự nhiên và phân bổ của tinh dầu:

Trong thiên nhiên tinh dầu tồn tại dạng tiềm tàng hay tự do: Tinhdầu ở trạng thái tiềm tàng vốn không phải là những thành phần bìnhthường trong cây, mà chỉ xuất hiện trong những điều kiện nhất định tươngứng với sự chết của một số bộ phận

Ví dụ: Tinh dầu trong nhân hạt mơ, hạt đào, hạt cải Tinh dầu hạt

mơ, hạt đào (Anđehytbenzoic) xuất hiện do tác dụng của men emulsin

Tinh dầu hạt cải (bạch giới tử) xuất hiện do tác dụng của một chấtmen gọi là myrosin trên một heterozit, ta sẽ được thứ tinh dầu hạt cải cóthành phần chủ yếu là senevolallylic hay izosulsunfoxianatalyl Ta còn cóthể kể loại tinh dầu tương tự trong cây châu thụ, cho tinh dầu có thànhphần chủ yếu là salixylatmetyl do tác dụng của men ganltheraza lên trênmột heterozit có tên là grultherin Tinh dầu trong củ tỏi xuất hiện do tácdụng của men allicnara trên một chất không phải là một hetazorit mà axitamin có chứa sunfua gọi là allinin chỉ có trong củ tỏi tươi Do tác dụngcủa allinaza, chất alliin sẽ cho một số sunfoxit gọi là allixin để cho chấtdisunfua allyl

Tinh dầu ở trạng thái tự do trong cây có thể được tạo thành và tậptrung ở những tế bào giống như những tế bào khác của cây hoặc lớn hơn(trong cây long não), nhưng thường tinh dầu ở trạng thái tự do được tậptrung ở những cơ quan bài tiết của cây; lông bài tiết của những cây họ hoamôi (Labiatae), họ cúc (Compositae) tinh dầu tập trung dưới dạng cutin;trong túi bài tiết liệt sinh họ sim, do sự phân chia liên tiếp của một tế bàorồi những tế bào non tách ra xa nhau tạo thành một khe trống, trong đótinh dầu tập trung hoặc những túi tiêu liệt sinh trong những họ cây cam,quýt, bắt đầu là một khe trống, sau đó một phần tổ chức bài tiết xungquanh được tiêu đi, hoặc những ống bài tiết của những cây họ thông, họhoa tán

Về mặt phân bố, tinh dầu có trong toàn bộ giới thực vật nhưng đặcbiệt trong một số họ như: Họ Thông, họ Cam, họ Sim, họ Hoa Môi Tất

cả các bộ phận trong cây đều có thể có tinh dầu, nhiều nhất ở ngọn manghoa nhưng cũng có cả trong rễ, trong thân rễ (gừng, nghệ ) trong vỏ cây(quế), trong gỗ (long não), trong quả (hồ tiêu, hạt hồi ) Cần lưu ý là

Trang 15

trong cùng một loại cây thành phần tinh dầu của những bộ phận khácnhau tuỳ theo điều kiện thu hái Ở vùng khí hậu nhiệt đới hàm lượng tinhdầu trong cây cao hơn ở những nơi khí hậu khác Ngoài ra người ta cònthấy những nòi hoá học đối với nhiều cây cho tinh dầu.

1.5.3 Tính chất vật lý của tinh dầu:

Trong điều kiện thường tinh dầu ở trạng thái lỏng (trừ một sốtrường hợp như tinh dầu bạc hà, long não nửa rắn nửa lỏng)

Tinh dầu dễ bay hơi, nhỏ một giọt tinh dầu trên giấy rất dễ biếnmất, vì thế tinh dầu được gọi là dầu bay hơi

Đa số tinh dầu có mùi thơm đặc trưng, một số ít có mùi khó chịu,thường ít khi có màu hoặc chỉ màu vàng nhạt (trừ tinh dầu vỏ quế có màunâu cánh nhán), những tinh dầu chứa azulen có màu xanh, tinh dầu thanhduơng bồ có màu sẫm

Hầu hết tinh dầu đều nhẹ hơn nước (tỷ trọng thường thấp hơn nước)trừ tinh dầu quế nặng hơn nước Tất cả các tinh dầu đều có năng suấtquay cực (năng suất chung của toàn bộ phần của tinh dầu) chỉ số khúc xạcao, cháy với ngọn lửa nhiều khói Tinh dầu bay hơi được với nước rất íttan trong nước nhưng làm cho nước có mùi thơm, tan được trong rượu,ete, phần lớn các dung môi hữu cơ và dầu béo

Tinh dầu là một hỗn hợp gồm nhiều chất khác nhau, vì thế không cónhiệt độ sôi nhất định, chúng ta có thể chưng cất phân đoạn để tách riêngthành phần hoá học khác nhau trong tinh dầu

Tất cả các loại tinh dầu đều có tính sát trùng và kháng sinh Một sốtinh dầu là dung môi vạn năng (có thể hoà tan các dung môi hữu cơ)

1.5.4 Thành phần hoá học của tinh dầu:

Tinh dầu phần lớn là những hỗn hợp của nhiều hoạt chất với những

tỷ lệ thay đổi, thành phần quan trọng nhất (về phương diện thơm có khichỉ có một tỷ lệ rất thấp) Thành phần trong tinh dầu bao gồm nhữnghidrocacbon, rượu tự do hay dưới dạng este, este của phenol, a xitphenolic, andehit, xeton, các a xit dưới dạng este, hợp chất nitơ, hợp chất

Trang 16

Các hidrocacbon béo thường ít đại diện, phần nhiều là những cácbon thơm hoặc nhóm tecpennic Trong các thành phần nói trên, thườngeste chiếm tỷ lệ cao nhất rồi đến rượu và andehyt.

Sau đây là một số hợp chất chính hay gặp trong thành phần tinhdầu

Hidrocacbon bao gồm:

- Hidrocacbon loại tecpen (chiếm nhiều nhất): Limonen, pinen,camphen, caryophylen, sylvestren

- Hidrocacbon no: heptan, paraphin

- Rượu etylic, metylic, xinamic, xitronelol, geraniol, linalol,bocneol, tecphineol, mentol, santalol, xineol

- Phenol và este phenolic: anetol, eugenol, safrol, capiro, thymol

- Andehit: andehit, benzoic, salixilic, xitral

- xeton: menton, campho, thujon

- Axit: (dưới dạng este) axít axetic, butyric, valerianic, benzoic,xinmic, salyxilic, fomic

- Những hợp chất chứa sunfua, ni tơ, halogen: Các tinh dầu cóSunfua trong các cây thuộc họ Chữ thập (Cruciferae) có một kiến trúc đặcbiệt gọi là senerol tức là este của a xít isosunfoxyanic

1.5.5 Ứng dụng của tinh dầu:

Từ lâu con người đã biết sử dụng tinh dầu ở dạng không tinh khiết:Hoa, lá, rễ, củ của cây chứa tinh dầu được dùng làm các vị thuốc bắc,thuốc nam để chữa bệnh Ngày nay với kỹ thuật phân tích hiện đại, người

ta đã phát hiện các hợp chất quý, hợp chất có những hoạt tính đặc biệttrong tinh dầu Vì vậy chúng có ứng dụng rất lớn trong công nghiệp dượcphẩm (nước hoa, sữa rửa mặt ) rượu mùi, dung môi hữu cơ Rất nhiềuloại tinh dầu có giá trị cao như tinh dầu hoa hồng, tinh dầu quế, tinh dầubạc hà, tinh dầu hoa nhài

Trang 17

2.1 Phương pháp lấy mẫu:

Trong một năm, hàm lượng tinh dầu không phải lúc nào cũng nhưnhau mà nó thay đổi tuỳ thuộc vào khí hậu, thời tiết và các điều kiệnngoại cảnh khác

Do vậy để thu được làm lượng tinh dầu (hay các thành phần mongmuốn trong tinh dầu) cao thì cần phải thu hái vào những thời điểm thíchhợp trong năm

Việc lấy và bảo quản mẫu có ảnh hưởng đến chất lượng và hàmlượng tinh dầu Tuỳ vào loại cây, có loại cần phải cất lúc tươi, khôngđược để khô nhưng cũng có loại cần phải ủ vài ba ngày hoặc để khô thìthu được nhiều tinh dầu hơn Nhiệt độ và ánh sáng cũng làm thay đổi hàmlượng và tính chất của một số tinh dầu vì vậy tốt nhất lấy mẫu cây vàobuổi sáng hoặc lúc chiều tối (khi trời mát mẻ) Nên lấy những mẫu sạch

để khi chưng cất không cần phải rửa Trường hợp mẫu bẩn quá hoặc lấy

cả rễ thì phải rửa sạch để khô nơi thoáng mát hoặc sấy khô ở 400C (Chú ý:Khi lấy mẫu và khi rửa phải cẩn thận không làm dập nát) Vì trong câytinh dầu ở trạng thái tự do, nó có thể được tạo thành và tập trung những tếbào giống như tế bào khác của cây hoặc lớn hơn, nhưng thường tinh dầu ởtrạng thái tự do, được tập trung cao ở cơ quan bài tiết, chẳng hạn ở lôngbài tiết của các cây thuộc họ hoa môi, tập trung dưới lớp cutin trong túibài tiết liệt sinh ở các cây họ cúc

Nếu chúng ta làm dập nát thì một phần tinh dầu sẽ hoà lẫn vào nướckhi rửa, vì thế mà hàm lượng tinh dầu sẽ giảm

Mẫu lấy xong phải cho vào túi bóng màu nâu sẫm để tránh ánhnắng mặt trời chiếu vào sẽ làm giảm hàm lượng của tinh dầu

2.2 Phương pháp định lượng tinh dầu:

- Về nguyên tắc xác định hàm lượng tinh dầu trong một nguyên liệu

là dựa vào chưng cất lôi cuốn hơi nước rồi đọc thể tích tinh dầu hứngđược hoặc cân lượng tinh dầu thu được tính làm lượng tinh dầu trong100g nguyên liệu

Dụng cụ đơn giản rẻ tiền đó là:

Trang 18

Một bình cầu dung tích 2 lít có cắm ống sinh hàn hồi lưu Bìnhhứng dùng để tách tinh dầu là bình Florentin, bao gồm hai nhánh, mộtnhánh chia từng ngấn, mỗi ngấn 1/10 ml Một nhánh nhỏ có đầu congxuống Trên đầu nhánh to có loe hình phễu chiều cao nhánh là 8 cm,nhánh nhỏ 6 cm Để tiến hành xác định hàm lượng tinh dầu ta cần cắt nhỏnguyên liệu cho vào bình cầu và một lượng nước khoảng 300ml, đun sôi,hơi nước và tinh dầu bốc lên ngưng tụ trong ống sinh hàn rơi xuống bìnhFlorentin Khi đun sôi thêm 15 phút nữa không thấy thể tích tinh dầu tănglên thì ngừng đun, để nguội, đọc thể tích tinh dầu và tỷ lệ phần trăm tinhdầu được tính theo công thức:

Trong đó: a: Thể tích đọc được (ml) (xem tỷ trọng tinh dầu 1).

b: Khối lượng nguyên liệu (g)

Tinh dầu sau chưng cất được làm khô bằng Na2SO4 và đựng trong

lọ tiêu chuẩn ở nhiệt độ từ 0-50C

2.3 Các phương pháp tách tinh dầu:

- Phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước

- Phương pháp ép

- Phương pháp dung môi hoà tan

- Phương pháp ướp

- Phương pháp lên men

Yêu cầu: - Tách tinh dầu phải có được thành phần và mùi thơm tự

nhiên như trong nguyên liệu

- Phải khai thác triệt để tinh dầu trong nguyên liệu với thời gianngắn và chi phí đầu tư ít, hiệu quả cao

- Kỹ thuật phải thuận tiện, nhanh chóng và có tính khả thi

2.3.1 Phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước.

b a

X%  .100

Ngày đăng: 25/12/2013, 11:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Ảnh của cây Ngũ Gia Bì chân chim - Xác định thành phần tinh dầu cây ngũ gia bì chân chim (schefflera octophyla harms) ở nghệ an
Hình 1 Ảnh của cây Ngũ Gia Bì chân chim (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w