1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích tính khó hiểu của hợp đồng bảo hiểm

16 530 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích tính khó hiểu của hợp đồng bảo hiểm
Tác giả Nhóm 107
Người hướng dẫn Trần Nguyên Đán
Trường học Trường Đại học Kinh tế TP.HCM
Chuyên ngành Tài chính - Doanh nghiệp
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2011
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 204 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khoản 1 điều 12 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định: “ Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, d

Trang 1

KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

  

BÀI LUẬN PHÂN TÍCH TÍNH KHÓ HIỂU CỦA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM

Giảng viên hướng dẫn: Trần Nguyên Đán Nhóm thực hiện: Nhóm 107

Lớp: TC01 – VB2K13

TP.HCM, năm 2011

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

1 Tổng quan về hợp đồng bảo hiểm 2

1.1 Khái niệm về hợp đồng bảo hiểm 2

1.2 Các loại hợp đồng bảo hiểm 2

1.3 Tính chất của hợp đồng bảo hiểm 3

2 Tính khó hiểu của hợp đồng bảo hiểm 3

2.1 Định nghĩa tính khó hiểu của hợp đồng bảo hiểm 3

2.2 Các nguyên nhân dẫn đến tính khó hiểu 3

2.2.1 Bản chất của hợp đồng 3

2.2.2 Hệ thống pháp luật 6

2.2.3 Thị trường bảo hiểm Việt Nam 7

2.3 Các tác nhân khác làm tăng tính khó hiểu 8

2.3.1 Người môi giới bảo hiểm 8

2.3.2 Người tham gia bảo hiểm 8

2.4 Hậu quả của tính khó hiểu 9

3 Giải pháp kiến nghị 14

3.1 Về phía nhà nước 14

3.2 Về phía doanh nghiệp bảo hiểm 14

3.3 Về phía người mua bảo hiểm 15

Trang 3

1 Tổng quan về hợp đồng bảo hiểm

1.1 Khái niệm về hợp đồng bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm là căn cứ quan trọng quy định quyền và nghĩa vụ của DNBH và người tham gia bảo hiểm theo thỏa thuận của 02 bên Khoản 1 điều 12 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định:

“ Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.”

Định nghĩa này có độ chênh so với định nghĩa về hợp đồng bảo hiểm được

quy định tại Điều 567 Bộ luật dân sự 2005: "Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận

giữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm"

Từ hai định nghĩa này có thể thấy sự mâu thuẫn trong quan điểm về đối tượng được nhận tiền bảo hiểm, trong luật kinh doanh bảo hiểm đối tượng được nhận tiền bảo hiểm là người thụ hưởng hoặc người được bảo hiểm, Bộ luật dân sự không quy định về người thụ hưởng mà chỉ quy định về bên được bảo hiểm và trong luật cũng không làm rõ hơn về khái niệm bên được bảo hiểm

1.2 Các loại hợp đồng bảo hiểm kinh doanh

Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm được chia thành 3 loại đang tồn tại

a) Hợp đồng bảo hiểm tài sản:

Là loại bảo hiểm lấy tài sản có trên và trong phạm vi thuộc quyền sở hữu, quản lý, trông nom,, kiểm soát của người được bảo hiểm làm đối tượng bảo hiểm Khi xảy ra rủi ro tổn thất về tài sản như mất mát, hủy hoại về vật chất, người bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm căn cứ vào giá trị thiệt hại thực tế và mức độ đảm bảo thuận tiện hợp đồng Bảo hiểm tài sản có thể là bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu; bảo hiểm thân tàu, thuyền, xe cơ giới; bảo hiểm hỏa hoạn

b) Hợp đồng bảo hiểm con người:

Đối tượng của các loại hình này, chính là tính mạng, thân thể, sức khỏe của con người Người ký kết hợp đồng bảo hiểm, nộp phí bảo hiểm để thực hiện mong muốn nếu như rủi ro xảy ra làm ảnh hưởng tính mạng, sức khỏe của người được bảo hiểm thì họ hoặc một người thụ hưởng hợp pháp khác sẽ nhận được khoản tiền do người bảo hiểm trả Bảo hiểm con người có thể là bảo hiểm nhân thọ hoặc bảo hiểm tai nạn - bệnh

c) Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự:

Đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm phát sinh do ràng buộc của các quy định trong luật dân sự, theo đó, người được bảo hiểm phải bồi thường bằng tiền cho người thứ 3 những thiệt hại gây ra do hành vi của mình hoặc do sự vận hành của tài sản

Trang 4

thuộc sở hữu của chính mình Bảo hiểm trách nhiệm dân sự có thể là bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp hoặc bảo hiểm trách nhiệm công cộng

1.3 Tính chất của hợp đồng bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm có một số tính chất chung trong khuôn khổ những quy định của pháp luật về hợp đồng dân sự, ngoài ra còn có một số tính chất riêng biệt của ngành bảo hiểm như:

- Tính tương thuận: Hợp đồng bảo hiểm được thiết lập dựa trên sự chấp

thuận của cả đôi bên trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tự do giao kết trong khuôn khổ pháp luật

- Là hợp đồng song vụ: các bên ký kết đều có quyền và nghĩa vụ, quyền của

bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại, người bảo hiểm phải đảm bảo cho các rủi ro còn người được bảo hiểm thì phải trả phí bảo hiểm

- Tính chất may rủi: nếu không tồn tại rủi ro thì không có việc giao kết cũng

như không tồn tại hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm

- Tính chất tin tưởng tuyệt đối: để tồn tại và có thể thực hiện được hợp

đồng bảo hiểm thì hai bên phải có sự tin tưởng lẫn nhau

- Tính chất phải trả tiền: bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ trả tiền phí bảo

hiểm, người bảo hiểm có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra

- Tính chất gia nhập: nội dung chính của hợp đồng do người bảo hiểm soạn

trước theo mẫu, bên mua bảo hiểm sau khi đọc thấy phù hợp thì gia nhập hợp đồng

- Tính dân sự, thương mại hỗn hợp: bên mua bảo hiểm có thể là thể nhân

hoặc pháp nhân dân sự hay thương mại, người bảo hiểm cũng có thể là một pháp nhân dân sự hay thương mại, do đó mối quan hệ giữa họ có thể có tính dân sự hoặc thương mại thuần túy hoặc dân sự - thương mại hỗn hợp

2.Tính khó hiểu của hợp đồng bảo hiểm

2.1 Định nghĩa tính khó hiểu của hợp đồng bảo hiểm

Tính khó hiểu của hợp đồng bảo hiểm là viê ̣c người tham gia bảo hiểm không hiểu hoă ̣c hiểu không đầy đủ, không chính xác về nô ̣i dung của hợp đồng bảo hiểm

2.2 Các nguyên nhân dẫn đến tính khó hiểu của hợp đồng bảo hiểm

2.2.1 Bản chất của hợp đồng

•Tính khó hiểu là hệ quả của các tính chất riêng có của hợp đồng bảo hiểm

Thứ nhất, xuất phát từ tính may rủi của hợp đồng bảo hiểm Việc giao kết, thực hiện hợp đồng bảo hiểm gắn liền với những rủi ro tức những biến cố không chắc chắn Chính vì vậy mà nhà bảo hiểm chỉ đồng ý chịu trách nhiệm bảo hiểm trong một

số trường hợp, nên khi soạn thảo hợp đồng công ty bảo hiểm sẽ đưa ra nhiều tình huống giả định (nếu thế này thì , nếu thế kia thì…, ngoại trừ… v v…) Điều này làm cho câu văn sử dụng để diễn đạt luôn phức tạp Hơn nữa, nhà bảo hiểm miêu tả

Trang 5

các trường hợp giả định ở mức độ khái quát cao làm người đọc phải cố gắng hình dung ra các trường hợp đó Tất nhiên, vì trình độ rất khác nhau và lĩnh vực hoạt động rất khác nhau nên không phải ai cũng có thể có trình độ, hiểu biết chuyên môn đầy đủ

để hiểu tường tận một cách thống nhất với nhà bảo hiểm

Từ đó, dẫn đến mâu thuẫn là các định nghĩa trong hợp đồng bảo hiểm không phù hợp với cách hiểu thông thường Ví dụ, nếu theo thông thường là sự va chạm dẫn đến thương tích thì trong hợp đồng muốn được bảo hiểm phải là một lực tác động lên cơ thể con người, bất ngờ, ngoài ý muốn, mối quan hệ giữa thương tật và tác động bên ngoài

Ví dụ về một trường hợp rắc rối câu chữ trong hợp đồng bảo hiểm trong vụ tranh chấp giữa Ngân hàng Đại Tín và công ty bảo hiểm AAA

Cơn mưa chiều 1.8.2008 kết hợp với triều cường khiến nhiều tuyến đường trong TP.HCM biến thành sông Nước ngập đường Hồ Hảo Hớn (Q.1), tràn vào tòa nhà Chi nhánh Ngân hàng Thương mại cổ phần Đại Tín (số 75 Hồ Hảo Hớn), làm tầng hầm đang chứa đầy xe bị ngập nước Trong đó có chiếc xe Mercedes biển số 52P

-1980 bị hư hỏng nặng

Theo tường trình của Ngân hàng Đại Tín tại UBND P.Cô Giang, Q.1 thì khoảng

16 giờ ngày 1.8.2008 cơn mưa bắt đầu Nửa tiếng sau, nước tràn vào tầng hầm trụ

sở Đến 17 giờ, tầng hầm bị ngập trong nước hơn 0,5m Toàn bộ nhân viên của ngân hàng đã tập trung xử lý để hạn chế thiệt hại xảy ra Tuy nhiên, do mực nước dâng cao và độ dốc của đường hầm khá lớn nên không thể đem xe ra khỏi tầng hầm Mực nước tiếp tục dâng cao hơn 1m làm ngập hệ thống dẫn điện vào tòa nhà Toàn bộ nhân viên của ngân hàng phải sơ tán khỏi tòa nhà để tránh tai nạn về điện.

Sáng 2.8.2008, Ngân hàng Đại Tín đã thông báo tai nạn cho Bảo hiểm AAA qua điện thoại và dịch vụ cứu hộ mang xe đi giám định thiệt hại Kết quả làm việc của các bên cho biết ngân hàng bị thiệt hại gần 400 triệu đồng do các hư hỏng của xe Mercedes 52P-1980.

Trước đó, Ngân hàng Đại Tín có ký kết hợp đồng số P080 – 710 – 08/0046 với Bảo hiểm AAA Theo hợp đồng thì phạm vi bảo hiểm: âm va, lật đổ; hỏa hoạn, cháy nổ; bão, lũ lụt, sụt lở, sét đánh, động đất, mưa đá; mất toàn bộ xe; tai nạn rủi ro bất ngờ khác ngoài những điểm loại trừ Sau khi nhận thấy trường hợp chiếc xe Mercedes nằm trong phạm vi tai nạn rủi ro bất ngờ, Ngân hàng Đại Tín đã yêu cầu AAA trả tiền bảo hiểm.

Tuy nhiên, AAA cho rằng rủi ro ngập nước gây hư hỏng hệ thống điện của chiếc Mercedes không thuộc phạm vi hợp đồng Theo yêu cầu của Bảo hiểm AAA, Đài khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ có công văn trả lời: “Diễn biến thời tiết trên không phải là bão, không phải là lũ lụt Hiện tượng này là do giông mạnh gây ra mưa to làm cho ngập nhiều nơi” Dựa vào lý do này Bảo hiểm AAA từ chối bồi thường thiệt hại cho ngân hàng mà chỉ hỗ trợ 50 triệu đồng để khắc phục một phần thiệt hại Bên Ngân hàng Đại Tín không chấp nhận cách giải quyết này Vụ việc xảy ra đến nay đã hơn nửa năm nhưng cả hai bên chưa có tiếng nói chung và Ngân hàng Đại Tín gửi đơn khiếu nại đi khắp nơi.

Trang 6

Chiều 20.3.2009, trao đổi với PV Thanh Niên, ông Phạm Trường Khê, Phó tổng giám đốc Bảo hiểm AAA cho biết: “Sau khi Bảo hiểm AAA tiếp nhận tin báo đã cử chuyên viên giám định phối hợp với Ngân hàng Đại Tín và HAXACO để kiểm định thiệt hại đối với chiếc Mercedes Nguyên nhân khiến chiếc xe bị hư hỏng không thuộc phạm vi bảo hiểm nên chúng tôi không đền bù mà chỉ hỗ trợ 50 triệu đồng cho Ngân hàng Đại Tín để khắc phục một phần sự cố” Theo ông Khê lý giải thì “rủi ro bất ngờ” là những rủi ro xảy ra trong khoảng thời gian chỉ trong tích tắc, không lường trước được Sự cố nước mưa từ ngoài đường tràn ngập tầng hầm (mưa bắt đầu từ lúc 16 giờ, nước mưa tràn vào tầng hầm lúc 16 giờ 30, đến 17 giờ nước trong tầng hầm ngập 0,5m) là xảy ra trong một thời gian dài nên không phải là tai nạn rủi

ro bất ngờ Theo ông Khê, những trường hợp xem là rủi ro bất ngờ như xe bị cành cây rơi trúng hoặc đang chạy đột ngột mất tay lái lao xuống biển

Mặt khác theo quy định của Luật Dân sự, đối với những hợp đồng soạn sẵn, nếu

có những điều khoản, từ ngữ có cách hiểu không rõ ràng thì sẽ giải thích sao cho có lợi cho người được bảo hiểm Cách giải thích như trên của Bảo hiểm AAA là không thỏa đáng

Trích:http://tuvanluat.com.vn/index.php/tin-du-an/dau-tu/phap-luat/nghien-cuu-luat/mua-ban-doanh-nghiep/cau-chu

 Thứ hai, xuất phát từ tính gia nhập của hợp đồng bảo hiểm, biểu hiện ở chỗ hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng theo mẫu, mở sẵn và doanh nghiệp bảo hiểm là bên đưa ra các điều khoản mẫu (do Bộ Tài chính ban hành hoặc phê duyệt) để khách hàng xem xét trả lời chấp nhận trong một khoảng thời gian hợp lý; nếu khách hàng đồng ý tham gia bảo hiểm đồng nghĩa với việc chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo điều khoản mẫu mà doanh nghiệp bảo hiểm đã đưa ra, chứ không phải hình thành từ việc đàm phán trực tiếp của hai bên như các hợp đồng mua bán khác Điều này đòi hỏi người mua bảo hiểm phải đọc thật kỹ để thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trước khi

ký kết và trong khi thực hiện hợp đồng bảo hiểm Nhưng, ngay cả khi đọc kỹ, nếu không có sự giúp đỡ, tư vấn của người hoạt động chuyên ngành, chưa chắc người mua bảo hiểm có thể hiểu đúng và thống nhất với người soạn thảo các điều khoản Các điều khoản trong hợp đồng mâu thuẫn với nhau

- 3.1.1: “Người tham gia bảo hiểm, người được bảo hiểm có trách nhiệm kê khai đầy đủ, trung thực tất cả những điều thực tế đang biết và cần phải biết về các rủi

ro có trước khi yêu cầu bảo hiểm cũng như các thông tin có liên quan theo yêu cầu của Bảo Việt”

- 14: Các trường hợp nhầm lẫn khi kê khai thì nếu như người tham gia bảo hiểm có sự nhầm lẫn khi kê khai tuổi, giới tính của người được bảo hiểm thì giữa nhà bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm sẽ có sự thống nhất điều chỉnh hợp đồng theo thông tin chính xác

Các điều khoản trong hợp đồng và phần phụ lục không thống nhất với nhau

- Hơ ̣p đồng: điều khoản chung chung

- Phần phụ lục tiếp theo lại có những quy định rất cụ thể và chặt chẽ

Trang 7

•Ngoài ra, đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, tính khó hiểu cũng xuất phát

từ các tính chất riêng có của nó: bảo hiểm nhân thọ có tính “đa mục đích” (bảo vệ, tiết kiệm và đầu tư), dài hạn và có nhiều chủ thể tham gia vào hợp đồng (người mua bảo hiểm, người được bảo hiểm, người thụ hưởng,…), vì thế, hệ thống sản phẩm nhân thọ rất đa dạng về chủng loại: sản phẩm chính (sinh kỳ, tử kỳ, niên kim, trọn đời, hỗn hợp,…), sản phẩm bổ trợ (tai nạn, bệnh, từ bỏ thu phí ) và phức tạp (sản phẩm kết hợp, sản phẩm có khả năng chuyển đổi, liên kết nhân mạng,…) Điều này dẫn đến có sự mâu thuẫn giữa tính phức tạp, chuyên biệt của sản phẩm bảo hiểm với mức độ hiểu biết về bảo hiểm chưa cao của đại đa số khách hàng, tức là khách hàng không hiểu hết tính năng của từng loại sản phẩm, dễ nhầm lẫn giữa các loại sản phẩm

•Trong một hợp đồng bảo hiểm riêng lẻ đã tồn tại tính khó hiểu, trong những hợp đồng hỗn hợp, phức tạp thì tính khó hiểu đó càng tăng

2.2.2 Hệ thống pháp luật

Hệ thống văn bản pháp lý chi phối hợp đồng bảo hiểm hiện nay còn nhiều bất cập Hợp đồng bảo hiểm hiện nay tùy trường hợp và tùy lọai chịu sự chi phối điều chỉnh bởi nhiều nguồn luật như Luật Kinh doanh Bảo Hiểm, Bộ luật Hàng Hải, Bộ luật Dân Sự, pháp lệnh hợp đồng kinh tế Chính vì thế, gây khó khăn cho cả những người hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm lẫn người dân bình thường trong việc tiếp cận hợp đồng bảo hiểm do mâu thuẫn trong quy định giữa các nguồn luật khác nhau

Cụ thể, mâu thuẫn trong quy định giữa luật dân sự và luật kinh doanh bảo hiểm

Điều 578 Bộ Luật Dân Sự 1995 về bảo hiểm tính mạng: “Trong trường hợp bảo

hiểm tính mạng thì khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, bên bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm hoặc người đại diện theo uỷ quyền của họ; nếu bên được bảo hiểm chết thì tiền bảo hiểm được trả cho người thừa kế của bên được bảo hiểm”.

Luật Kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (2000): “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt

động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.”

Ví dụ về sự mâu thuẫn trong luật:

Vụ kiện giữa nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Thảo và bị đơn là Công ty TNHH BHNT Prudential Việt Nam (sau đây gọi tắt là Prudential VN) Theo đơn khởi kiện, ngày 7.2.2006 bà Thảo mua BHNT của Prudential VN cho con trai là Nguyễn Văn Nghĩa, thời hạn đóng bảo hiểm 15 năm, giá trị hợp đồng 70 triệu đồng cho sản phẩm

“Phú tích lũy định kỳ gia tăng”, kèm theo sản phẩm bổ trợ “chết và tàn tật” là 80 triệu đồng Bà Thảo đã đóng tiền được 1 năm (7.590.000 đồng) Tối 5.3.2006, trên đường từ Vĩnh Long về Sa Đéc (Đồng Tháp), đến cầu Cái Cam (Vĩnh Long) thì Nghĩa bị tai nạn giao thông, tử vong Sau đó, bà Thảo yêu cầu Prudential VN xem xét, đền bù quyền lợi bảo hiểm, nhưng Prudential VN từ chối không đền bù vì cho rằng hợp đồng bảo hiểm trước đó đã vô hiệu, không có hiệu lực

Trang 8

Lý do Prudential VN đưa ra là trước khi ký hợp đồng mua bảo hiểm bà Thảo đã

vi phạm, không kê khai trung thực về tình trạng sức khỏe của anh Nghĩa Vì vậy, Prudential VN chỉ trả lại số tiền bà Thảo đã đóng Không chấp nhận, bà Thảo đưa

vụ việc ra tòa nhờ phân xử

Tháng 8.2008, vụ kiện được TAND tỉnh Đồng Tháp đưa ra xét xử sơ thẩm Tòa

sơ thẩm áp dụng Luật Kinh doanh bảo hiểm để xem xét vụ kiện Theo tòa, hợp đồng BHNT của bà Thảo đã bị vô hiệu vì theo quy định của Prudential VN thì bà Thảo phải kê khai đầy đủ, khẳng định rõ “có” hoặc “không” các câu hỏi trong phần khai chi tiết về sức khỏe, mà cụ thể ở câu số 7(b): bạn đã, đang có sử dụng ma túy hoặc chất gây nghiện không?, bà Thảo đánh dấu chéo vào ô "không"; trong khi ngày 18.12.2001, Trung tâm y tế dự phòng Đồng Tháp ra thông báo anh Nghĩa bị HIV HĐXX nhận xét bà Thảo đã vi phạm phần cam kết, khai không trung thực được quy định tại điều 18, 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm nên tuyên bác yêu cầu của bà Thảo đòi Prudential VN bồi thường 150 triệu đồng

Tại phiên tòa phúc thẩm, HĐXX nhận định bà Thảo mua BHNT không phải vì mục đích kinh doanh, nên đây chỉ là hợp đồng dân sự Việc Tòa sơ thẩm áp dụng Luật Kinh doanh bảo hiểm xem xét vụ kiện là không phù hợp Tòa phúc thẩm cũng cho rằng, quy định ghi trong hợp đồng “nếu kê khai không trung thực thì hợp đồng

sẽ vô hiệu” là vi phạm pháp luật Bởi lẽ, hợp đồng chỉ vô hiệu khi vi phạm các điều cấm của pháp luật, được quy định trong Bộ luật Dân sự Ngoài những lý do trên, do bản án sơ thẩm còn có những vi phạm tố tụng khác nên HĐXX tuyên hủy án sơ thẩm

để xét xử lại

Theo lãnh đạo một công ty bảo hiểm, quy định ràng buộc trong mẫu hợp đồng tranh chấp tại phiên tòa được rất nhiều các công ty bảo hiểm sử dụng Vì vậy, từ kết quả của vụ kiện này, rất có thể nhiều công ty bảo hiểm sẽ phải điều chỉnh mẫu hợp đồng, liên quan đến hàng vạn khách hàng.

Theo: http://tuvanluat.com.vn/index.php/tin-du-an/dau-tu/phap-luat/nghien-cuu-luat/mua-ban-doanh-nghiep/can-trong

Do đó, luật sư Nguyễn Văn Hậu, Đoàn luật sư TP HCM, đã nhận định: “đọc các hợp đồng nước ngoài soạn thảo có cảm giác rất mệt và khó chịu, vì quá nhiều quy định trong đó Nhưng nhờ vậy mà việc đảm bảo các điều kiện thực hiện hợp đồng của họ khá dễ dàng Còn các hợp đồng trong nước thì ngược lại, đọc rất nhẹ nhàng dễ chịu, nhưng khi thực hiện thì dễ gặp những tình huống rắc rối pháp lý bất ngờ” Ngoài ra,

•Luật Kinh doanh bảo hiểm còn thiếu sự giải thích một số thuật ngữ rất phổ biến trong hợp đồng bảo hiểm như “giá trị hoàn lại” và “chi phí hợp lý”

•Luật Kinh doanh bảo hiểm chưa quy định hợp lý về việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm con người

•Luật Kinh doanh bảo hiểm có những quy định mâu thuẫn liên quan đến hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng bảo hiểm

2.2.3 Thị trường bảo hiểm Việt Nam

Trang 9

Ngành bảo hiểm là một ngành du nhập vào nước ta và cũng chỉ mới trong thời gian đầu Hầu hết các hợp đồng bảo hiểm, đặc biệt, là hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đều dựa theo mẫu của nước ngoài nên khi chuyển đổi ngôn ngữ, một số từ ngữ còn rất mới mẻ và khó hiểu chưa được bổ sung vào từ điển tiếng Việt phổ thông (trong khi đó vẫn chưa có từ điển thuật ngữ chuyên ngành bảo hiểm nhân thọ đầy đủ)

Thị trường bảo hiểm nhân thọ nước ta chỉ thực sự phát triển trong những năm gần đây Nhận thức của người dân về bảo hiểm còn nhiều hạn chế mà việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật bảo hiểm cho người dân một cách rộng rãi hình như chưa được quan tâm đúng mức Một khi chưa biết nhiều về bảo hiểm và pháp luật bảo hiểm thì khi tiếp cận với hợp đồng bảo hiểm nói chung, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nói riêng gặp khó khăn, khó hiểu là điều dễ hiểu

2.3 Các tác nhân khác làm tăng tính khó hiểu

2.3.1 Người môi giới bảo hiểm

•Số lượng nhà môi giới bảo hiểm có trình độ ở Việt Nam hiện nay còn hạn chế

•Nhà môi giới thường muốn tối đa hóa số lượng hợp đồng mà không quan tâm đến chất lượng, đến lợi ích của người mua bảo hiểm

Có một số đại lý vì lợi ích cục bộ (tiền hoa hồng chẳng hạn) đã khuyên khách hàng: "Khai đại khái thôi " Cái "đại khái" ấy khi có chuyện mới vỡ ra là sai về nguyên tắc Giả sử khách hàng đều khai sai, các hãng đổ tội cho đại lý "vô đạo đức" thì khách hàng vẫn mất trắng

•Đối tượng nhắm đến của những người môi giới là những người thân quen Dựa trên sự tin tưởng của những người này mà họ có những giải thích sai lệch về hợp đồng bảo hiểm

2.3.2 Người tham gia bảo hiểm

• Nhận thức của người dân về bảo hiểm còn nhiều hạn chế, cộng với những khó hiểu trong hợp đồng khiến họ khó tiếp cận và hiểu thấu đáo các điều khoản trong hợp đồng

Ví dụ

NS Lê Dung có người hàng xóm là Nguyễn Văn Thuỷ, một đại lý chính thức của Prudential Thông qua ông Thuỷ, NS Lê Dung đã ký kết hợp đồng mua một bảo hiểm của Prudential Sau khi Lê Dung đột ngột qua đời, con trai chị (cháu Tuấn) đã đến hỏi ông Thuỷ thì được trả lời là sẽ chi trả 60 triệu đồng tiền bảo hiểm Nhưng khi đến gặp lãnh đạo của Prudential thì được trả lời: "Mẹ cháu đã kê sai một số khoản trong hợp đồng, nên hãng không thanh toán" Bấy giờ mới hay Lê Dung đã khai sai thực sự.

Cụ thể: Với câu hỏi trong vòng 6 tháng qua, bạn có phải điều trị bởi một bác sĩ nào không, trong vòng 5 năm qua, bạn có phải điều trị , đặc biệt là câu hỏi "Bạn đã

đi nước ngoài chưa? Nếu có, xin biết tên quốc gia bạn đến?", NS Lê Dung đều khai

là không Nhưng Prudential đã có đủ căn cứ để chứng minh cái sai ấy Chẳng hạn,

Trang 10

năm 1999, chị Lê Dung đã bị xuất huyết não (báo chí có đưa tin) Chị cũng đã đi học

ở Nga, đi biểu diễn ở rất nhiều nước.

Theo: Theo_VnExpress.net

• Do tin tưởng vào nhà môi giới và nhà bảo hiểm; cũng như do tâm lý chủ quan, hoặc cho rằng khi xảy ra tranh chấp do tính khó hiểu của những điều khoản này thì

họ là những người có lợi

Vấn đề đặt ra là khi nhân viên bảo hiểm mời chào và cùng khách hàng thực hiện hợp đồng, tất cả khách hàng đều kê khai rất xuề xoà, hay nói đúng hơn, nhiều khách hàng không ý thức được tính chất phức tạp của hợp đồng mà mình đăng ký Nếu khách hàng nào cũng khai sai một số điều khoản thì các hãng bảo hiểm sẽ không bao giờ phải mất một đồng nào cho việc chi trả bảo hiểm

2.4 Hậu quả của tính khó hiểu

2.4.1 Gây ra tranh chấp dẫn đến tốn kém thời gian và tiền bạc của nhà bảo hiểm cũng như của người tham gia bảo hiểm

Ví dụ điển hình:

Ông Nguyễn Văn T và Bà Ngô Thị K tham gia Hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ thời hạn 05 năm cho chính mình với số tiền bảo hiểm (STBH) ghi tại Phụ lục 1- Mục III của Hợp đồng Bảo hiểm như sau:

+ STBH của Hợp đồng chính (Bảo hiểm và tiết kiệm): 20.000.000 đồng

+ STBH của Điều khoản riêng I(Bảo hiểm thương tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn): 20.000.000 đồng

+ STBH của Điều khoản riêng II (Bảo hiểm chi phí phẫu thuật): 20.000.000 đồng Đến ngày đáo hạn Hợp đồng bảo hiểm nói trên, Công ty bảo hiểm nhân thọ PT

đã thanh toán cho Ông T và Bà K với STBH của Hợp đồng chính cho mỗi người là 20.000.000 đồng cộng với lãi chia thêm.

Được sự tư vấn của Văn phòng Luật sư HV, ông T và bà K đã làm đơn yêu cầu Bảo Việt Nhân thọ PT thanh toán thêm STBH của các điều khoản riêng I, II với lý do viện dẫn là tại Điều 2 điểm 2.1 điều khoản Hợp đồng chính có ghi: “Đến ngày đáo hạn hợp đồng bảo hiểm, Công ty sẽ thanh toán cho người được bảo hiểm toàn bộ số tiền bảo hiểm đã cam kết tại Phụ lục 1- Mục III của Hợp đồng Bảo hiểm”.

Thực tế, đề nghị của bà K với sự viện dẫn như trên là không có cơ sở pháp lý do

đã hiểu điều khoản này một cách quá cứng nhắc, máy móc theo hướng “chẻ chữ” mà không căn cứ vào các cách thức giải thích hợp đồng đã được quy định tại Điều 408

Bộ luật dân sự năm 1995 (do tại thời điểm giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm của bà K và ông T., Bộ luật dân sự 2005 chưa ra đời nên Bảo Việt lấy Bộ luật dân

sự 1995 để giải thích) Lý do như sau:

Thứ nhất, bản chất của hợp đồng chính và điều khoản riêng I, II mà ông T và bà

K đã tham gia là hoàn toàn khác nhau Hợp đồng chính là loại sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp vừa tiết kiệm vừa bảo hiểm (nghĩa là trong thời hạn có hiệu lực của hợp

Ngày đăng: 25/12/2013, 10:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w