− Xuất phát từ nhu cầu phải quản lý các hoạt động đầu tư và kinh doanh trong từng thời kỳ nhất định, thông qua việc quy định đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, sử dụng thuế suất và
Trang 1DANH SÁCH NHÓM 6 VÀ PHÂN CHIA CÔNG VIỆC
Danh sách nhóm 6:
1 Bùi Thị Tuyết Oanh (nhóm trưởng)
Phân chia công việc:
A Tổng hợp tài liệu và viết bài:
Chương 1: Tổng quan về thuế TNDN Bùi Thị Tuyết Oanh
Trần Thị Phương ThúyChương 2: Thực trạng thuế TNDN ở Việt Nam
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị Đinh Phan Toàn Trung
B Thuyết trình:
Trang 2MỤC LỤC
@&?
1 Khái niệm và đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp 5
2.1 Ảnh hưởng của khấu hao và giảm trừ thuế đối với đầu tư của công ty 17
III Kết quả áp dụng chính sách thuế TNDN ở Việt Nam trong thời gian qua 30
IV Đánh giá về tác động của chính sách thuế TNDN áp dụng ở Việt Nam 36
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
– -—
Như bất kỳ một quốc gia nào, đối với đời sống kinh tế xã hội, thuế đóng vai trò là công cụ quan trọng của Nhà nước để quản lý, điều tiết sản xuất kinh doanh cũng như phân phối tiêu dùng, thúc đẩy kinh tế phát triển Có được một hệ thống chính sách thuế phù hợp, đồng bộ, hoàn thiện và luôn theo kịp sự vận động phát triển của thực tiễn là điều kiện cần thiết và cấp bách Theo tinh thần đó, Đảng và Nhà nước ta trong quá trình vận hành, đổi mới nền kinh tế đã rất chú trọng đến cải cách
hệ thống thuế
Hệ thống thuế về tính chất được chia thành hai loại: thuế trực thu và thuế gián thu Tùy vào điều kiện phát triển, phương thức sản xuất và kết cấu xã hội của mỗi nước mà cơ cấu các khoản thu này có sự khác nhau Hiện nay, tại các nước phát triển
có xu hướng coi trọng thuế gián thu trong khi đó các nước đang phát triển lại có xu hướng ngược lại là coi trọng thuế trực thu trong đó có Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN)
Luật thuế mới có nhiều thay đổi trong đó đảm bảo thống nhất việc áp dụng thuế TNDN đối với mọi thành phần kinh tế, không phân biệt doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Đây là một chủ trương rất quan trọng của Nhà nước tạo ra bước tiến quan trọng trong lộ trình hướng tới xây dựng một luật thuế TNDN thống nhất và hoàn chỉnh Tuy nhiên, luật thuế mới bên cạnh những mặt tích cực đã bộc lộ những hạn chế, bất cập cần xem xét và sửa đổi, bổ sung Những vướng mắc này đang tác động tiêu cực đến các doanh nghiệp chịu tác động của Luật thuế TNDN Với lý do này nhóm 6 lớp Tài chính
doanh nghiệp quyết định chọn đề tài nghiên cứu của mình là: “Phân tích tác động của thuế
thu nhập doanh nghiệp” Trong đó có tìm hiểu về thuế TNDN, phân tích tác động của thuế
TNDN và đánh giá tình hình thực hiện chính sách thuế TNDN trong những năm qua, những mặt tích cực, hạn chế của chính sách thuế mới Qua đó đưa ra một số giải pháp và điều kiện cần thiết để thực hiện tốt các giải pháp nhằm mục đích phát huy hơn nữa vai trò to lớn của thuế TNDN trong điều kiện nước ta hiện nay, đồng thời đóng góp một phần vào công cuộc cải cách thuế của Việt Nam trong thời gian tới
Trang 5CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
I Tổng quan về thuế thu nhập doanh nghiệp
1 Khái niệm và đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp
1.1 Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp:
Thuế thu nhập công ty trên thế giới hay thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN)
ở Việt Nam là một sắc thuế thuộc loại thuế thu nhập, nó được hầu hết các quốc gia trên thế giới sử dụng vì tính hiệu quả và khả năng bao quát nguồn thu Mỗi nước với những đặc điểm kinh tế - chính trị - xã hội khác nhau mà quan niệm và cách thức
áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp là khác nhau Tuy nhiên, có thể đưa ra một khái
niệm được pháp luật Việt Nam và nhiều nước khác thừa nhận : Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu đánh vào phần thu nhập sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến thu nhập đó Thuế TNDN ra đời bắt nguồn từ những lý do chủ yếu sau đây:
− Thuế TNDN được sử dụng để điều tiết thu nhập của các nhà đầu tư nhằm góp phần đảm bảo công bằng xã hội
− Thuế TNDN là một trong những nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước và có xu hướng tăng lên cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế Khi nền kinh tế phát triển, đầu tư gia tăng, thu nhập của các doanh nghiệp và các nhà đầu tư tăng lên làm cho khả năng huy động nguồn tài chính của Nhà nước ngày càng ổn định và vững chắc
− Xuất phát từ nhu cầu phải quản lý các hoạt động đầu tư và kinh doanh trong từng thời kỳ nhất định, thông qua việc quy định đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, sử dụng thuế suất và các ưu đãi thuế TNDN, nhà nước thực hiện các mục tiêu quản lý vĩ mô
1.2 Đặc điểm thuế thu nhập doanh nghiệp:
− Thuế TNDN là thuế trực thu vì đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế TNDN là một, tức là không có sự chuyển giao gánh nặng thuế từ người nộp thuế sang người chịu thuế Đối tượng nộp thuế TNDN là tổ chức hoạt động sản
Trang 6xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ gọi chung là các doanh nghiệp.
− Thuế TNDN là loại thuế đánh vào lợi nhuận của các doanh nghiệp, vì thế thuế TNDN phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư Thuế TNDN được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế nên chỉ khi các doanh nghiệp, các nhà đầu tư có lợi nhuận mới phải nộp thuế TNDN
− Thuế TNDN là thuế khấu trừ trước thuế TNCN Thu nhập mà các cá nhân nhận được từ hoạt động đầu tư như: lợi tức cổ phần, lãi tiền gởi ngân hàng, lợi nhuận do góp vốn liên doanh, liên kết…là phần thu nhập được chia sau khi nộp thuế TNDN Do vậy thuế TNDN cũng có thể coi là một biện pháp quản lý thu nhập cá nhân
2 Nguyên tắc thiết lập thuế TNDN
Ở các nước tuy có sự khác nhau về phạm vi bao quát, đối tượng áp dụng, các mức thuế suất hoặc các các ưu đãi thuế TNDN, nhưng trong cách thiết lập thuế TNDN đều quán triệt các nguyên tắc cơ bản nhất định
• Thứ nhất, Thuế TNDN phải bao quát được mọi khoản thu nhập phát sinh trong hoạt động của các doanh nghiệp Việc bỏ sót nguồn thu không chỉ làm ảnh hưởng tới thu NSNN mà còn vi phạm nguyên tắc công bằng khi đánh thuế
• Thứ hai, thống nhất cách xác định thu nhập chịu thuế Để xác định chính xác thu nhập chịu thuế và đảm bảo công bằng giữa các đối tượng nộp thuế TNDN cần có sự thống nhất trong cách xác định thu nhập chịu thuế Thu nhập chịu thuế được xác định trong những trường hợp cụ thể sau:
+ Xác định nghĩa vụ nộp thuế thu nhập theo nguyên tắc cơ sở thường trú và nguồn phát sinh thu nhập Theo đó sẽ xác định được doanh nghiệp là đối tượng nộp thuế ở nước nào và doanh thu để tính thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp Theo nguyên tắc cơ sở thường trú, một doanh nghiệp được xem là cơ
sở thường trú của nước nào thì bị đánh thuế trên mọi khoản thu nhập, bất kể thu nhập đó phát sinh trong nước hay ngoài nước Theo nguyên tắc nguồn phát sinh thu nhập, một doanh nghiệp bị đánh thuế vào khoản thu nhập nếu khoản thu nhập
đó phát sinh tại nước đánh thuế, bất kể doanh nghiệp đó có phải là cơ sở thường trú của nước đó hay không
Trang 7+ Thu nhập phát sinh từ các hoạt động của doanh nghiệp là thu nhập bằng tiền hoặc tính ra được bằng tiền và ghi nhận trong kỳ tính thuế.
+ Thu nhập chịu thuế TNDN được xác định trên cơ sở doanh thu của doanh nghiệp và các khoản chi phí gắn liền với quá trình tạo ra doanh thu Tùy theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng nước trong từng thời kỳ nhất định mà các khoản chi phí miễn trừ được pháp luật quy định khác nhau
• Thứ ba, nguyên tắc khấu trừ chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế.+ Thuế TNDN thực chất điều chỉnh vào lợi nhuận của doanh nghiệp, trong khi đó lợi nhuận của doanh nghiệp có được bằng cách lấy doanh thu từ các hoạt động kinh doanh trừ đi các khoản chi phí Pháp luật của mỗi nước quy định các khoản chi phí được khấu trừ để xác định thu nhập chịu thuế có khác nhau nhưng thông thường phải là chi phí hợp lý và khi khấu trừ phải quán triệt các nguyên tắc sau:
+ Các khoản chi phí được khấu trừ phải là những khoản chi phí có liên quan tới việc tạo ra thu nhập của doanh nghiệp Đó là các khoản chi phí thực sự
có chi ra và có căn cứ hợp pháp; là các khoản chi phí có mức trả hợp lý: phù hợp với giá cả thị trường và các định mức kinh tế, kỹ thuật; khoản chi đó phải có tính thu nhập hơn là tính vốn Trong thực tế, các khoản chi phí được khấu trừ còn tùy thuộc vào tính chất phát sinh thu nhập và chi phí có liên quan
• Thứ tư, quy định thời gian để xác định thu nhập chịu thuế: Do tính chất phức tạp của các khoản thu nhập phát sinh và thời gian nhận được các khoản thu nhập, có những khoản thu nhập doanh nghiệp nhận được trong một năm, nhưng cũng có những khoản nhận trong nhiều năm nên việc quy định thời gian để xác định doanh thu và thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp có tính ước định để sao cho việc tính toán đơn giản, đảm bảo công bằng giữa đối tượng nộp thuế, đảm bảo nguồn thu cho NSNN và đảm bảo tính khả thi của việc đánh thuế Thực tiễn, các nước quy định khác nhau về thời gian xác định doanh thu làm cơ sở tính thuế, nhưng thông thường
là năm tài chính (12 tháng)
• Thứ năm, xác định thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp hợp lý: Thuế TNDN bị chi phối trực tiếp bởi các chính sách kinh tế, xã hội của Nhà nước, do đó, trong khi thiết kế nên có thuế suất phổ thông, các mức thuế suất ưu đãi và các trường hợp miễn, giảm thuế
Trang 8II Phạm vi ảnh hưởng của thuế TNDN
1 Tác động đến chủ sở hữu vốn
v Tác động đến chủ sở hữu vốn của các doanh nghiệp chịu thuế
+ Thuế TNDN là khoản chuyển giao thu nhập của doanh nghiệp cho Nhà nước, vì vậy nó làm giảm thu nhập khả dụng của các doanh nghiệp một khoản đúng bằng phần thuế đã chuyển giao cho Nhà nước
+ Mức giảm thu nhập của chủ sở hữu vốn (của doanh nghiệp) = t*EBT(t: tax - thuế suất; EBT: Earnings before tax – Thu nhập trước thuế)
Trên đồ thị, phần chênh lệch theo chiều dọc giữa EBT và EAT thể hiện phần giảm thu nhập của các chủ sở hữu vốn
v Tác động đến cung về vốn
Do thu nhập của chủ sở hữu giảm, nên với tư cách là người cung ứng vốn thì tổng cung về vốn của các chủ sở hữu giảm
Với tỷ lệ cung ứng biên về vốn so với thu nhập của chủ sở hữu vốn là k1, giả
sử Nhà nước cũng dùng một phần của khoản thu từ thuế này để tái đầu tư với xu hướng biên là k2 thì khả năng cung ứng vốn như sau:
Nhà nước Chủ sở hữu vốn Chung
EBT
EAT
t*EBT
E
Trang 9Thu nhập 0 EBT EBT
Nếu có thuế với thuế suất t
Cung vốn k2*t*EBT k1*(1-t) EBT =
k1*EBT –k1t*EBT
k1*EBT + t*EBT*(k2 - k1)
+ Nếu không đánh thuế thu nhập:
Với tỷ lệ cung ứng biên về vốn so với thu nhập của chủ sở hữu vốn là k1 thì khả năng cung cấp vốn của chủ sở hữu vốn là k1*EBT
+ Nếu có thuế với thuế suất t:
Khả năng cung cấp vốn của chủ sở hữu vốn là k1*EBT – k1t*EBT Như vậy
so với trường hợp không có thuế thì khả năng cung về vốn của các chủ sở hữu giảm một lượng k1t*EBT Tuy nhiên nếu coi Nhà nước cũng là một chủ sở hữu vốn thì cung vốn của xã hội là:
Cung vốn XHt = Cung của Nhà nước + Cung của chủ sở hữu
= k2*t*EBT+(k1*EBT–k1t*EBT)=k1*EBT+t*EBT*(k2-k1)
So với cung vốn của xã hội không có thuế thì cung vốn XHt nhỏ hơn, lớn hơn hay không đổi phụ thuộc vào hiệu số (k2-k1) Nếu k2>k1 thì có đánh thuế thu nhập lại càng làm tăng cung về vốn của xã hội
v Tác động đến lãi suất
Thuế TN tác động đến cung về vốn của từng chủ thể và của toàn xã hội, từ đó tác động đến lãi suất trên thị trường vốn Nếu trong điều kiện của nền kinh tế đóng (không có vốn di chuyển từ nước khác vào), ta thấy sự tác động này trên đồ thị sau :
S1
D
VốnLS
Trang 10- Nếu không có thuế : cung vốn của XH ở mức So, lãi suất ở mức r0
- Nếu có thuế :
+ TH k2 = k1 : cung vốn của XH không thay đổi ở mức S0, lãi suất vẫn giữ ở mức r
+ TH k2 < k1 : cung vốn của XH giảm xuống S1, lãi suất tăng lên r1
+ TH k2 > k1 : cung vốn của XH tăng lên ở mức S2, lãi suất giảm xuống r2
2 Tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp lên thu nhập từ tiền lương, tiền công của người lao động
Thuế thu nhập doanh nghiệp tuy không trực tiếp tác động lên thu nhập từ tiền lương, tiền công của người lao động ở các tổ chức kinh tế, nhưng nó sẽ ảnh hưởng gián tiếp rất lớn đến lĩnh vực này thông qua các tác động lên việc sử dụng nguồn thu nhập và phân phối lại thu nhập của doanh nghiệp Và từ những tác động này sẽ ảnh hưởng đến nguồn thu nhập của người lao động Sau đây chúng ta tiến hành phân tích các tác động kinh tế của thuế thu nhập doanh nghiệp lên tiền lương, tiền công
2.1 Tác động lên tiền lương từ việc sử dụng nguồn thu nhập của doanh nghiệp
Trong xu hướng chung ở hầu hết các quốc gia, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ngày càng giảm, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam Việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, giúp doanh nghiệp có điều kiện tăng tích luỹ, tăng thêm nguồn lực để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, đồng thời cũng bảo đảm tăng tính cạnh tranh với thế giới và khu vực trong điều kiện các nước đã hạ mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp để thu hút đầu tư
Khi chính phủ giảm thuế thu nhập, doanh nghiệp có điều kiện tích tụ nguồn vốn để gia tăng đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh và tạo nhiều công ăn việc làm, gia tăng tổng thu nhập tiền lương cho xã hội Trường hợp chính phủ gia tăng mức
Trang 11thuế suất thì tác động của nó sẽ ngược lại, động cơ kinh doanh của nhà đầu tư sụt giảm, các doanh nghiệp sẽ thu hẹp sản xuất vì lợi nhuận sau thuế thấp, dẫn đến việc làm ít đi, thất nghiệp gia tăng, và thu nhập từ tiền lương của người lao động giảm.
Khi thuế thu nhập giảm, doanh nghiệp sẽ gia tăng khả năng cạnh tranh và có
cơ hội gia tăng doanh số, lợi nhuận và điều này có tác động lên mức tiền lương của người lao động Trong những doanh nghiệp kinh doanh đạt hiệu quả cao, thường thực hiện chính sách tiền lương có lợi đối với người lao động hơn là những doanh nghiệp kinh doanh khơng hiệu quả hoặc có mức lợi nhuận thấp
2.2 Tác động lên nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công của người lao động
Chính tác động của việc giảm thuế thu nhập làm tăng lợi nhuận sau thuế của các doanh nghiệp Việc sử dụng nguồn thu nhập chênh lệch này của doanh nghiệp với mục đích tái đầu tư sản xuất, đồng thời việc có nhiều lợi nhuận hơn làm gia tăng thu hút đầu tư từ nước ngoài sẽ có tác động quan trọng lên nguồn thu nhập của người lao động
- Việc gia tăng đầu tư trong nước sẽ làm tăng cầu lao động và mức lương cân bằng trong nước sẽ gia tăng Khi sản lượng quốc gia tiến gần đến sản lượng tiềm năng, xã hội sẽ đạt mức toàn dụng về lao động Các doanh nghiệp phải nâng tiền lương cao hơn để thu hút lao động cho doanh nghiệp mình Ở những giai đoạn nền kinh tế bị suy thoái, thất nghiệp tăng thu nhập thực của người lao động có xu hướng giảm Chính vì thế, ở giai đoạn suy thoái các chính phủ thường sử dụng biện pháp giảm thuế, giản thuế nhằm kích thích năng lực sản xuất của các doanh nghiệp, theo
đó giải quyết cc vấn đề xã hội trong đó có thu nhập của người lao động
- Mặt khác khi nền kinh tế trong giai đoạn tăng trưởng, vì muốn ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp buộc phải thực hiện chính sách tiền lương hiệu quả để giữ người lao động Do đó mức tiền lương doanh nghiệp phải trả cao hơn mức cân bằng, hoặc doanh nghiệp gia tăng phúc lợi làm thu nhập thực của người lao động cao hơn
- Đối với những nước đang phát triển, khi thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài gia tăng cũng sẽ làm tăng mức lương cân bằng trong nước Ở các công ty đa quốc gia thường phải đối mặt với vấn đề quản trị nhân sự, nhất là chính sách tiền lương vì lao
Trang 12động trong các công ty này mang nhiều quốc tịch Do đó để kích thích tính hiệu quả của nhân viên và để mang tính công bằng trong toàn bộ hệ thống, các công ty này thường phải áp dụng chính sách trả lương theo công việc, tuy nhiên cũng cần phải cân nhắc đến mặt bằng lương của từng quốc gia Nhưng nhìn chung, mức lương của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cao hơn mức lương chung của toàn xã hội.
2.3 Tác động đến phân phối thu nhập
Vì thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu đánh vào người sở hữu vốn nên tác động của nó đến quá trình phân phối thu nhập là không rõ ràng Người được trực tiếp hưởng lợi hay bị thiệt hại khi có sự thay đổi mức thuế thu nhập lên các nhà đầu tư hoặc chính phủ nên không có ảnh hưởng đến thu nhập từ lương của người lao động Khi chính phủ giảm thuế thu nhập cho doanh nghiệp, ngoài những mục đích như kích thích đầu tư, gia tăng thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, chống suy thoái kinh tế,… chính phủ cón có mục tiêu kỳ vọng là sẽ gia tăng nguồn thu thuế trong tương lai Và nguồn thu ngân sách gia tăng sẽ giúp chính phủ thực thi các chính sách phúc lợi xã hội, trong đó có người lao động làm công ăn lương
Tóm lại, việc tăng hay giảm thuế thu nhập của chính phủ đối với các doanh nghiệp sẽ có tác động gián tiếp quan trọng đến tiền lương tiền công của người lao động thông qua hai cơ chế: nguồn thu nhập từ lương và sử dụng thu nhập của các doanh nghiệp
2.4 Tác động của thuế TNDN lên người sở hữu đất
Hiện nay, Chính phủ đã hạ mức thuế suất phổ thông từ 28% xuống 25%, đồng thời bỏ thu thuế bổ sung đối với thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất
Xét ví dụ sau đây về tác động của hai mức thuế suất thuế TNDN khác nhau lên Lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp A:
Trang 13Với thuế thuế suất 28% thì doanh nghiệp phài nộp 10,920 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước, đồng thời làm giảm lợi nhuận sau thuế xuống còn 28,080 tỷ đồng Khi chính phủ giảm thuế suất thuế TNDN từ 28% xuống còn 25% thì số thuế TNDN doanh nghiệp A phải nộp giảm xuống còn 9,750 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp tăng lên 29,250
tỷ đồng
Đây là chủ trương nhằm cạnh tranh quốc tế về thu hút đầu tư khi nhiều nước trong khu vực đã giảm mức thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm thực hiện ưu đãi trên diện rộng cho cả nền kinh tế Chẳng hạn Singapore hạ thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp từ 20% xuống còn 19%; Philippines giảm từ 35% xuống 30%, Trung Quốc giảm mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp từ 33% xuống còn 25%
Việc hạ mức thuế suất sẽ khuyến khích hoạt động nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh với quy định hàng năm doanh nghiệp sẽ được dành tối đa 10% thu nhập trước khi tính thuế để lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ
Bên cạnh đó, mức ưu đãi thuế sẽ được "tinh giản", chỉ còn lại 2 mức là 10 và 20% thay vì 3 mức như hiện nay là 10, 15, 20% Mục đích của việc giảm mức ưu đãi này là tạo cho chính sách ưu đãi được công bằng, minh bạch hơn và có trọng tâm, trọng điểm
Trang 14Mặc dù mức thuế suất phổ thông có giảm, đối tượng nộp thuế cũng ít đi (do
cá nhân, hộ gia đình sản xuất kinh doanh nộp thuế thu nhập cá nhân theo Luật Thuế thu nhập cá nhân mới), nhưng với những quy định đi kèm có tính rõ ràng, minh bạch
sẽ khuyến khích doanh nghiệp nâng cao tính tự giác trong kê khai nộp thuế thì nguồn thu này có khả năng tăng thu trong dài hạn
III Tầm quan trọng của thuế TNDN đối với đầu tư
1 Phân tích lý thuyết:
Để hiểu được hiệu ứng thuế công ty đối với quyết định đầu tư, phải bắt đầu bằng mô hình quyết định đầu tư trong một thế giới không có thuế công ty (đây là một giả định) Quyết định đầu tư được quyết định bằng việc công ty thiết lập lợi ích biên
và chi phí đầu tư bằng nhau Các công ty ước tính tiền lời sẽ nhận từ đầu tư chỉ khi nào lợi ích lớn hơn chi phí
Giả sử cứ mỗi đôla đầu tư vào thiết bị tạo ra FK cent đầu tư tăng thêm trong mỗi kỳ (sản phẩm biên của máy móc), gọi là lợi ích của đầu tư
Trong mỗi kỳ, thiết bị hao mòn một giá trị bằng giá trị δ tuyến tính/đô la (chẳng hạn là 10 cent cho mỗi đôla đầu tư máy móc)
Tuy nhiên khấu hao này không phải là tổng chi phí của thiết bị trong kỳ đó, công ty cũng phải tài trợ mua thiết bị, như vậy có nhiều cách công ty có thể tài trợ cho việc mua sắm thiết bị Chẳng hạn công ty có thể phát hành cổ phiếu
Khi đó, công ty phải chi trả tiền cổ tức ρ cho mỗi đô la đồng vốn huy động trong mỗi kỳ Như vậy, tổng chi phí cần thiết cho mỗi kỳ là δ + ρ
Nếu tỷ lệ khấu hao là 10% và công ty phải trả 10% cổ tức cho mỗi kỳ thì chi phí cho mỗi thời gian/1 đô la đầu tư thiết bị sẽ là 0,10 + 0,10 = 0,20 đô la
Có thể phân tích hàm ý đánh thuế công ty đối với quyết định đầu tư của công
ty bằng hình vẽ sau:
Trang 15Hình 1: Quyết định đầu tư trong điều kiện không có thuế
Hình này cho ta thấy chi phí biên và lợi ích biên đầu tư quyết định số tiền đầu
tư K
Đường lợi ích biên đo lường tiền thực trên mỗi đô la trong mỗi kỳ, FK Lợi ích biên giảm xuống khi đầu tư gia tang do giả thuyết sản phẩm biên giảm dần Tiền lời đối với mỗi đô la tăng thêm càng giảm bởi vì sản phẩm biên của mỗi đô la vốn tăng thêm càng giảm
Đường cong chi phí biên đo lường tiền lời mong đợi đối với mỗi đô la đầu tư tăng thêm trong mỗi kỳ hoặc đầu tư phải sinh lợi bao nhiêu trong mỗi kỳ để trang trải chi phí (bao gồm chi phí khấu hao và chi phí tài trợ)
Chi phí biên là hằng số: δ + ρ = 0,20 đô la như minh họa qua đường cong
MC1 Các doanh nghiệp đầu tư cho đến khi đồng đô la đầu tư biên tạo ra kết quả chi phí bằng lợi ích, chính là ở điểm A, tương ứng ở mức đầu tư K1
Các doanh nghiệp đầu tư cho đến khi đồng đô la đầu tư tiếp theo tạo ra vừa đúng mức tiền lời (0,20 đô la) để trang trải chi phí trong mỗi kỳ
Nếu công ty đầu tư ít hơn số tiền này (bên trái K1) thì tiền lời biên từ đô la đầu
tư thấp hơn chi phí biên của nó (0,20 đô la), vì thế đầu tư không nên thực hiện
Trang 162 Ảnh hưởng của thuế công ty đến đầu tư
Chúng ta sẽ phân tích khi có thuế suất τ đánh vào khoản thu nhập bằng tiền trừ đi chi phí lao động (không có giảm trừ thuế cho bất kỳ các khoản chi tiêu đầu tư) Thu nhập bằng tiền/số đô la chi tiêu thiết bị trong mỗi kỳ là FK, vì vậy khi đưa thuế công ty vào, thu nhập bằng tiền/đô la chi tiêu mua sắm sẽ giảm xuống còn FK(1- τ) bởi vì tiền thuế phải trả tính cho mỗi đô la thu nhập kiếm được
Sự giảm trừ này dẫn đến đường lợi ích biên di chuyển đến MB2 như trong hình vẽ bên dưới: đánh thuế thu nhập công ty đã làm giảm lợi ích biên đầu tư Chi phí/đô la đầu tư vẫn giữ ở mức δ + ρ, vì thế đường chi phí biên vẫn giữ ở mức ban đầu của nó Lựa chọn đầu tư tối ưu mới là ở điểm B và đầu tư giảm xuống K2
Hình 2: Quyết định đầu tư trong điều kiện có thuế công ty
Các công ty đầu tư ít hơn khi chính phủ phân phối thu nhập của họ qua thuế công ty Điều này bởi vì tỷ suất tiền lời sau thuế của công ty đối với đầu tư phải đủ lớn hơn để đáo ứng tỷ lệ tiền lời kỳ vọng, δ + ρ
Kết quả, tỷ suất tiền lời trước thuế phải cao hơn tỷ suất tiền lời không có thuế
và như vậy công ty ít đầu tư
Ví dụ, với thuế suất 50%, công ty kiếm được 40cent tiền lời cho 1 đô la đầu tư
để trả 20cent chi phí khấu hao và tiền vay
Trang 17Vì thế, công ty chắc chắn sẽ đầu tư ít hơn, họ ngưng đầu tư ở điểm mà đô la đầu tư biên có mức tiền lời 20cent Và như vậy, thuế công ty dẫn đến đầu tư ít hơn.
2.1 Ảnh hưởng của khấu hao và giảm trừ thuế đối với đầu tư của công ty
Như đã đề cập trong bài tiểu luận, do khấu hao phân bổ theo dòng thời gian
sử dụng tài sản cố định và để đánh giá dòng tiền chúng ta phải sử dụng phương pháp hiện giá (PDV)
Giá trị của bất kỳ số tiền khấu hao z là phương pháp hiện giá của dòng tiền khấu hao liên quan đến việc mua thiết bị mới
Nếu công ty mua máy mới (trừ toàn bộ giá trị của nó chỉ trong năm mua) thì
z sẽ là 1, bởi vì tiền khấu hao bằng 100% giá mua thiết bị Do tiền khấu hao phân bổ cho nhiều năm trong tương lai nên z sẽ giảm xuống
Khấu hao được tính vào chi phí nên giảm trừ thu nhập chịu thuế Vì thế mỗi
đô la tiền khấu hao tiết kiệm cho công ty τ đô la trong thanh toán thuế, bởi vì nó làm giảm thấp cơ sở thuế bằng 1 đô la
Nếu như tiền khấu hao đối với một công ty là phương pháp hiện giá của z thì
nó sẽ mang lại cho công ty giá trị (τ x z) đô la
Ví dụ, một công ty có thể chi tiêu đầu tư z=1 và thuế suất công ty là 35% thì tiền khấu hao liên quan đến mỗi 1 đô la giá mua thiết bị sẽ mang lại cho công ty giá trị là 35 cent trong việc giảm tiền thuế
Đưa vào khấu hao nghĩa là giảm chi phí của mỗi đô la thiết bị trong mỗi kỳ từ
Chính sách giảm trừ thế cho đầu tư cung cấp cho các công ty mức giảm trừ là
α cho mỗi đô la đầu tư trong năm
Cùng với khấu hao, chính sách giảm trừ cho đầu tư bù đắp chi phí đầu tư cho công ty
Trang 18Khi được kết hợp với tiền khấu hao, tiền lời kỳ vọng đối với một đô la đầu tư bây giờ giảm xuống từ từ (δ + ρ) giảm xuống còn (δ + ρ)x(1-[ τ x z]-α).
Hình 3: Quyết định đầu tư trong điều kiện có khấu hao và giảm trừ thuế đối với đầu tư công ty
Hình này cho thấy tác động của tiền khấu hao và giảm trừ thuế đối với đầu tư công ty Như trong hình 2 ở trên, đường lợi ích biên thích hợp của công ty là đường
MC2 sau thuế, sự giảm trừ tiền lợi kỳ vọng từ tiền khấu hao và giảm trừ thuế đối với đầu tư làm giảm MC từ MC1 đếnMC2 mà còn có giá trị (δ + ρ)x(1-[ τ x z]-α)
Quay lại ví dụ ở trên, với 10% tỷ lệ khấu hao cho mỗi kỳ (δ) và 10% tiền cổ tức (ρ) thì chi phí biên trước thuế là 0,20 đô la Giả sử hiện giá của tiền khấu hao đối với đầu tư bằng ½ giá mua thiết bị, z =0,5
Thuế suất thuế công ty là 35%, chính sách giảm trừ cho đầu tư là 10% Chi phí của mỗi đô la thiết bị trong mỗi kỳ, tiền lời kỳ vọng bởi nhà đầu tư trên mỗi đô la giảm xuống còn ở mức 0,2x(1-[0,35x0,5]-0,1)=0,145
Cân bằng tại điểm C, với mức đầu tư K3 Đây là điểm mà ở đó chi phí biên sau thuế và lợi ích biên sau thuế cho mỗi đô la đầu tư thiết bị trong mỗi kỳ bằng nhau (MB2=MC2) Mức đầu tư cao hơn trước khi đưa vào tiền khấu hao và giảm trừ thuế đối với đầu tư (K2) nhưng vẫn thấp hơn trước khi đưa vào thuế (K1)
0,145
Trang 19Sự giảm trừ lợi ích biên từ thu nhập tiền lời sau thuế vượt quá sự giảm trừ chi phí biên gồm tiền khấu hao và giảm trừ thuế đối với đầu tư vì thế đầu tư vẫn giảm về tổng thể bởi đánh thuế công ty.
2.2 Thuế suất thuế công ty thực tế:
Ảnh hưởng của thuế được tóm tắt qua thuế suất thuế công ty thực (ETR: effective corporate tax rate) – gia tăng phần trăm tỷ lệ tiền lời trước thuế so với vốn được yêu cầu đánh thuế Như các hình vẽ 1 và 2, khi thuế được đưa vào, tỷ lệ tiền lời kiếm được bởi các công ty trên số tiền đầu tư phải gia tăng để tài trợ tiền thuế Nó phải tăng bao nhiêu là hàm số của thuế suất, mức khấu hao và giảm trừ thuế đối với đầu tư
Ví dụ, với thuế suất 35% đánh vào thu nhập công ty và không có khấu hao và giảm trừ thuế đối với đầu tư Trước khi đánh thuế, tỷ lệ tiền lời thực tế của công ty phải bằng ít nhất tỷ lệ tiền lời kỳ vọng 20%
Sau khi đưa vào thuế công ty 35%, tỷ lệ tiền lời thực tế của công ty ít nhất 0,20/(1-0,35) = 30,7% để đáp ứng tiền lời kỳ vọng 20% Công ty phải đạt được tỷ suất tiền lời là 35% cao hơn mức tỷ suất từ đầu tư để trả tiền thuế và đáp ứng mức tiền lời kỳ vọng để bù đắp khấu hao và chi phí tài trợ
Kết quả là thuế suất công ty thưc tế là thuế suất pháp định 35%
Thuế suất thực tế của thuế công ty được đo lường như sau:
Do có thuế suất công ty mà sản phẩm biên của mỗi đô la đầu tư FK phải cao hơn để trả tiền thuế và đáp ứng tỷ suất tiền lời kỳ vọng Nếu không có khấu hao và giảm trừ thuế đối với đầu tư thì FK phải cao hơn 35% do đánh thuế
Trong trường hợp ở hình 3, với thuế suất 35% công ty phải có tỷ suất tiền lời cao hơn để trả thuế trên thu nhập kiếm được nhưng nó có thể có tỷ suất tiền lời thấp hơn vởi vì chi phí thiết bị được thay thế bởi khấu hao và giảm trừ thuế đối với đầu
tư Tính đến khấu hao và giảm trừ thuế đối với đầu tư, khấu hao thực tế là:
Nếu như cả z và α là zero (không có khấu hao và giảm trừ thuế đối với đầu tư) thì thuế suất thực tế là τ – thuế suất pháp định
Trang 20Với z=0,5 và ITC là 0,1 thì thuế suất thực tế là
Do bởi sự giảm trừ khấu hao và giảm trừ thuế đối với đầu tư, thuế suất thực tế bây giờ là 11,5% mặc dù thuế suất pháp định là 35%
Công ty phải kiếm tỷ suất tiền lời trước thuế đó là 11,5% cao hơn tỷ suất mà
nó kiếm được trước khi đánh thuế để đáp ứng tỷ suất tiền lời kỳ vọng 20% Điều này thấp hơn thuế suất pháp định bởi vì ITC và khấu hao bù đắp hiệu ứng đánh thuế
Thực tế, nếu z và α đủ lớn, thì thuế suất thuế công ty thực tế có thể âm Giả sử công ty có thể mua thiết bị, khấu trừ chi phí mua thiết bị ngay lúc mua z=1 thì thuế suất thực tế sẽ là
Thuế suất thực âm nghĩa là đường MC dốc xuống nhiều đến mức điểm C dịch hướng đến bên phải của điểm A và công ty đầu tư với thuế (K3) nhiều hơn khi không
- Biết trước một cách chắc chắn kết quả đầu tư
- Không có thuế thì các cổ đông của công ty sẽ bàng quan trong việc lựa chọn giữa 1 đô la chia cổ tức với 1 đô la giữ lại
Giả sử thị trường chúng khoán phản ánh chính xác giá trị của công ty thì 1 đô
la giữ lại làm giá trị cổ phiếu của công ty tăng 1 đô la 1 đô la vốn răng cũng bằng một đô la cổ tức mà cổ đông nhận được
Theo các giả định trước thì các cổ đông sữ không quan tâm đến việc liệu công
ty có phân phối lợi tức không
Trang 21Thực tế thì kết quả của các quyết định kinh tế luôn không chắc chắn và thu nhập công ty là đối tượng của nhiều thứ thuế khác nhau Khi cổ tức được chi trả, cổ đông sẽ phải nộp thuế, trong khi lợi tức giữ lại để tái đầu tư không bị đánh thuế Việc giữ lại lợi tức tạo nên một khoản lời trên vốn cho cổ đông nhưng họ không phải nộp thuế cho đến khi khoản lời được thực hiện (bán cổ phiếu hoặc chia cổ tức).
Ví dụ, công ty phát hành cổ phiếu tài trợ vốn cho đầu tư Khi thu được 1 đô la
từ đầu tư, công ty phải nộp thuế công ty tính trên 1 đô la Vì thế chỉ còn 1x(1- τc) là chia cho cổ đông (τc là thuế suất thuế công ty)
Nếu sử dụng tài trợ cổ phần, có một quyết định thêm: công ty thanh toán tiền cho các cổ đông như thế nào?
v Với tài trợ nợ: không có lựa chọn nào khác nào khác là thanh toán cho người vay dưới dạng trả lãi
v Với tài trợ cổ phần:
- Trả cổ tức: cổ đông phải nộp thuế thu nhập trên số tiền cổ tức nhận được Vì thế cuối cùng các cổ đông nhận được 1x(1- τc)x(1- τdiv) trong đó τdiv -là thuế thu nhập cá nhân đối với tiền nhận cổ tức Điều này dẫn đến việc đánh thuế trùng lắp đối với cổ tức, nghĩa là số tiền cổ tức vừa bị đánh thuế công ty vừa bị đánh thuế thu nhập cá nhân
- Tái đầu tư: nếu công ty tái đầu tư 1 đô la thì cổ đông sẽ thu được thu nhập chuyển nhượng vốn khi bán cổ phiếu Giả sử mỗi đô la đầu tư làm gia tăng thêm giá trị 1 đô la, cổ đông sẽ nhận được 1x(1- τc)x(1- τcg), τcg –là thuế suất thuế đánh vào thu nhập chuyển nhượng vốn thực tế
Thuế suất đánh vào thu nhập chuyển nhượng vốn thực tế thấp hơn thuế suất đánh vào lợi nhuận từ vốn pháp định do hang loạt các lợi ích từ hoạt động chuyển nhượng vốn)
Tóm lại, nếu sử dụng tài trợ cổ phần, công ty có thể thanh toán tiền cho các cổ đông theo 2 các cách sau: