Những năm vừa qua các ngânhàng rất quan tâm đến công tác phòng ngừa và xử lý rủi ro Điều không thể phủ nhận là trong nền kinh tế thị trường, rủi ro trong kinh doanh làđiều không tránh k
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÀI TẬP NHÓM QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG PHÂN TÍCH RỦI RO HOẠT ĐỘNG TRONG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
Giáo viên hướng dẫn: Học viên thực hiện:
PGS TS TRẦN HUY HOÀNG Nguyễn Thị Ngọc Hạnh 2611028
Nguyễn Thị Ái Huy 2611040
Cao Thị Trúc Linh 2611057
Đinh Tự Lực 2611059
Trần Thanh Tùng 2611109 Lớp: Cao học TCNH-K18
Tỷ lệ tham gia của các thành viên: 100%
Cần Thơ, tháng 9/2012 Tháng 09/2012
Trang 2MỤC LỤC Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHỮNG RỦI RO HOẠT ĐỘNG TRONG NGÂN HÀNG 2
1.1 Bản chất của rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng 2
1.2 Những rủi ro cơ bản trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng 2
1.2.1 Rủi ro tín dụng 2
1.2.2 Rủi ro thanh khoản 3
1.2.3 Rủi ro tỷ giá hối đoái 4
1.2.4 Rủi ro lãi suất 5
1.2.5 Rủi ro nguồn vốn 5
1.3 Ảnh hưởng của rủi ro đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng và nền kinh tế xã hội 6
1.3.1 Đối với Ngân hàng 6
1.3.2 Đối với nền kinh tế 6
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 7
2.1 Rủi ro tín dụng 8
2.2 Rủi ro lãi suất 9
2.3 Rủi ro thanh khoản 10
2.4 Rủi ro nguồn vốn 12
Trang 32.5 Rủi ro tỷ giá 13
Chương 3: BIỆN PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG 16
3.1 Biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng 16
3.2 Biện pháp làm giảm rủi ro lãi suất 17
3.2.1 Đối với NHNN 17
3.2.2 Đối với các NHTMCP trong nước 19
3.3 Biện pháp làm giảm rủi ro thanh toán (thanh khoản) 21
3.3.1 Đối với NHNN 21
3.3.2 Đối với các NHTMCP trong nước 21
3.4 Biện pháp làm giảm rủi ro về nguồn vốn 24
3.5 Biện pháp giảm rủi ro về tỷ giá hối đoái 24
KẾT LUẬN 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, hoạt động kinh doanh của cácngân hàng thương mại tiềm ẩn những rủi ro Các rủi ro đã và đang phát triển cùng với sựphát triển của các sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng Những năm vừa qua các ngânhàng rất quan tâm đến công tác phòng ngừa và xử lý rủi ro
Điều không thể phủ nhận là trong nền kinh tế thị trường, rủi ro trong kinh doanh làđiều không tránh khỏi, đặc biệt la rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có phảnứng dây truyền, lây lan và càng ngày có biểu hiện phức tạp Sự sụp đổ của ngân hàng ảnhhưởng tiêu cực đến toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị và xã hội của một nước
Ở Việt Nam, rủi ro trong hoạt động doanh của ngân hàng trở thành vấn đề trọng điểmđối với các nhà quản lý ngân hàng Để cho ngân hàng hoạt động ngày càng chất lượng,hiệu quả thì việc phân tích và quản lý rủi ro luôn đặt lên hàng đầu và quản trị rủi ro luôn
la vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng
Với tính chất thời sự và tầm quan trọng như vậy, chúng ta cần phải đánh giá cũngnhư phân tích rủi ro một cách sâu sắc, toàn diện nhằm phát huy một cách tối đa năng lựcquản lý đồng thời hạn chế mức thấp nhất những thiệt hại của nhưng rủi ro gây ra cho bảnthân ngân hàng cũng như nền kinh tế - xã hội nước ta Đó cũng chính là lý do chúng tôi
chọn đề tài : “Phân tích rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương
mại và các biện pháp hạn chế các rủi ro ”.
PHẦN NỘI DUNG
Trang 5CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHỮNG RỦI RO HOẠT ĐỘNG
TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG
1.1 Bản chất của rủi ro trong hoạt động trong kinh doanh ngân hàng
- Rủi ro là một sự không chắc chắn hay một tình trạng bất ổn Tuy nhiên, khôngphải bất cứ sự không chắc chắn nào cũng là rủi ro Chỉ có những tình trạng không chắcchắn nào có thể ước đoán được xác suất xảy ra mới được xem là rủi ro
- Rủi ro vừa mang tích tích cực vừa mang tính tiêu cực: Rủi ro có thể mang đếncho con người những tổn thất, mất mát, nguy hiểm, nhưng cũng có thể mang đến những
cơ hội, thời cơ Nếu tích cực nghiên cứu, nhận dạng đo lường rủi ro, chúng ta có thể tìmđược những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những tiêu cực và phát huy được những cơhội tích cực mang lại từ rủi ro
1.2 Những rủi ro cơ bản hoạt động trong kinh doanh ngân hàng.
1.2.1 Rủi ro tín dụng:
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra trong hoạt động kinhdoanh của ngân hàng Rủi ro tín dụng xảy ra khi bên đi vay, trong một giao dịch nào đókhông thực hiện được việc thanh toán tiền vay theo thời hạn và điều kiện trong hợp đồnglam cho người cho vay phải gánh chịu tổn thất tài chính
Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cảgốc và lãi của khoản vay Rủi ro tín dụng co nhiều hình thái cung bậc khác nhau tiềm ẩntrong suốt quá trình trước, trong và sau khi cho vay
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro rất đa dạng và phức tạp, việc quản lý và phòng ngừa
nó rất khó khăn Loại rủi ro này có thể xảy ra ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào Bởi lẽ, một rủi
ro nào đó của hoạt động cho vay cũng dẫn đến rủi ro cho ngân hàng Chính vì thế ngânhàng cần có những chính sách, biện pháp tích cực để ngăn ngừa rủi ro, hạn chế tối đanhững thiệt hại có thể xảy ra
1.2.2 Rủi ro thanh khoản
Trang 6Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro do ngân hàng thiếu khả năng chi trả do khôngchuyển đổi kịp tài sản ra tiền mặt hoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của cáchợp đồng thanh toán.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro thanh khoản trong hệ thống các ngân hàngbao gồm những nguyên nhân sau:
- Thứ nhất, do tăng trưởng tín dụng quá nóng Sự tăng trưởng tín dụng quá nóngcủa các ngân hàng đặc biệt là các ngân hàng thương mại (NHTM) đi kèm với cơ cấu đầu
tư không hợp lý, tập trung lớn vào đầu tư bất động sản chạy theo lợi nhuận sẽ phát sinhrủi ro cao khi thị trường đóng băng, tạo sự mất cân đối về kỳ hạn giữa tài sản có và tàisản nợ do ngân hàng đã sử dụng quá nhiều nguồn vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn.Chính điều này đã tạo ra sự rủi ro thanh khoản cao đối với NHTM
- Thứ hai, công tác dự báo và phân tích thị trường của các ngân hàng thương mạiViệt Nam còn nhiều hạn chế Các NHTM còn có tư tưởng ỷ lại quá nhiều vào cơ chế nhànước, trong khi các ngân hàng nước ngoài, ngoài việc chấp hành nghiêm túc các tỷ lệ antoàn còn thường xuyên nghiên cứu, dự báo sát các diễn biến của thị trường nên đã dựphòng vốn thanh khoản và điều chỉnh kịp thời, không bị động trước những tác động thịtrường
- Thứ ba, tính liên kết hệ thống giữa các NHTM để đảm bảo an toàn thanh toáncòn yếu, tạo sự cạnh tranh không lành mạnh, đẩy lãi suất lên cao tạo khe hở cho kháchhàng gửi tiền “làm giá, tăng lãi suất” hoặc rút tiền chuyển sang các NHTM khác dẫn đếnlàm suy yếu khả năng chống đỡ thiếu hụt thanh khoản của hệ thống
- Thứ tư, vấn đề quản trị thanh khoản tại các NHTM chưa tốt, thiếu hụt của cáccông cụ quản lý hữu hiệu…Ngân hàng Nhà nước cũng khó nắm bắt chắc chắn tình hìnhthanh khoản cũng như sự thay đổi lớn trong tài sản của mỗi NHTM để điều chỉnh quyđịnh của mình
Trang 7- Thứ năm, xuất phát từ phía khách hàng, đây được đánh giá là nhóm nguyên nhânkhiến các ngân hàng khó có thể dùng công cụ thị trường để điều tiết có hiệu quả thanhkhoản của các ngân hàng.
Trong điều kiện thông tin bất cân xứng, lại chưa minh bạch, một số khách hàng(kể cả pháp nhân) đã rút tiền ra khỏi ngân hàng này và chuyển sang ngân hàng khác, dân
cư rút tiền để mua vàng, mua đô la Mỹ để tích trữ…đã làm tăng tính bất ổn của thịtrường, nội và ngoại tệ, gây khó khăn cho chính khách hàng đã và đang sử dụng dịch vụgửi và vay tiền tại ngân hàng
1.2.3 Rủi ro tỷ giá hối đoái
Rủi ro hối đoái trong hoạt động ngân hàng là rủi ro phát sinh trong quá trình chovay ngoại tệ hoặc quá trình kinh doanh ngoại tệ khi tỷ giá biến động theo chiều hướng bấtlợi cho ngân hàng
Nếu tỷ giá hối đoái bán ra lơn hơn tỷ giá mua vào thì nhà kinh doanh có lãi vàngược lại thì bị lỗ
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tỷ giá tại các ngân hàng bao gồm:
- Trạng thái ngoại hối của ngân hàng không cân xứng, tức là có sự chênh lệch giátrị tài sản có và tài sản nợ ngoại hối hoặc chênh lệch giữa doanh số mua vào và bán ra củađồng tiền nước ngoài
- Sự mất cân đối của cung cầu ngoại tệ trên thị trường, cán cân thanh toán quốc tế,chính sách thuế quan, lãi suất giữa đồng ngoại tệ và nội tệ…
1.2.4 Rủi ro lãi suất
Trang 8Rủi ro lãi suất là hậu quả của những thay đổi về lãi suất, nó phát sinh khi có sựbiến động của chênh lệch lãi suất giữa lãi suất cho vay của ngân hàng với lãi suất phải trảcho việc đi vay, dẫn đến thu nhập ngân hàng bị giảm.
Rủi ro lãi suất có thể xảy ra là do:
- Lạm phát tăng, lãi suất buộc phải điều chỉnh theo xu hướng tăng lên, chi phí hoạtđộng ngân hàng cũng tăng lên, do đó làm giảm thu nhập của ngân hàng
- Do các ngân hàng áp dụng các loại lãi suất khác nhau trong quá trình huy độngvốn và cho vay
- Tuy vậy, rủi ro thiếu vốn có thể gây ra thiệt hại nghiêm trọng hơn gây khó khănlớn cho ngân hàng, hoạt động ngân hàng bị xáo trộn và khả năng cao nhất là ngân hàng
có thể xảy ra mất khả năng thanh toán và tuyên bố phá sản
1.3 Ảnh hưởng của rủi ro đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng và nền kinh tế xã hội
1.3.1 Đối với Ngân hàng
Trang 9- Về mặt tài chính: do không thu được nợ (gốc và lãi), Ngân hàng bị giảm doanhthu trong khi vẫn trả tiền lãi (lãi đầu vào) gây mất cân đối trong thu chi nghiệp vụ Nợquá hạn chính là hậu quả Ngân hàng gánh chịu, không thu được nợ vòng quay vốn tíndụng không thực hiện được, Ngân hàng không có khả năng đảm bảo vốn lưu động, hạnchế cả vai trò phục vụ lẫn khả năng kinh doanh của Ngân hàng.
- Về mặt xã hội: từ rủi ro tín dụng dẫn đến rủi ro thanh khoản làm mất lòng tintrong nhân dân gây ảnh hưởng đến tâm lý khách hàng gửi tiền
- Do tâm lý làm ăn thua lỗ, tâm lý của cán bộ, công nhân viên chán nản, không tintưởng vào khả năng hoạt động của chính mình làm cho thu nhập của họ ngày một giảmsút, mất công ăn việc làm …có thể dẫn đến phá sản của Ngân hàng
1.3.2 Đối với nền kinh tế
- Hoạt động của Ngân Hàng có liên quan trực tiếp đến nền kinh tế, các xí nghiệp
và dân cư Vì vậy khi rủi ro làm phá sản một số ngân hàng từ đó lan sang các ngân hàngkhác làm cho dân chúng mang một tâm lý sợ hãi nên dẫn đến tính trạng rút tiền trước thờihạn Như thế hệ thống ngân hàng bị rung chuyển và sẽ tác động xấu đến nền kinh tế Giá
cả biến động, việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị đình đốn, khả năng trả nợgặp khó khăn dẫn đến tình trạng đóng cửa làm cho nạn thất nghiệp ngày càng gia tăng, tệnạn xã hội bùng phát, đồng tiền mất giá tình trạng kinh tế vốn đã khó khăn nay lại càngkhó khăn hơn nếu không cứu giãn được có thể dẫn đến khủng hoảng nền kinh tế
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG
Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
Bất chấp nền kinh tế trong năm 2011 vẫn còn nhiều khó khăn, các ngân hàng vẫntiếp tục đạt được mức lợi nhuận cao từ hàng trăm đến hàng ngàn tỉ đồng, tùy theo quy môtừng ngân hàng Điều này đã không thể tránh khỏi những chỉ trích từ nhiều phía, đặc biệt
Trang 10là những doanh nghiệp đang gặp khó khăn, thua lỗ hoặc thậm chí phá sản Như nhiều ýkiến đã phân tích, mặc dù mức lợi nhuận, nếu nhìn vào con số tuyệt đối, thì có vẻ rất caonhưng nếu so sánh với quy mô tài sản (ROA) và vốn tự có (ROE) của ngân hàng thì chưahẳn là quá cao Điều đáng ngạc nhiên là, mặc dù có mức lợi nhuận cao nhưng xem ra vẫnchưa thể làm hài lòng các cổ đông ngân hàng và nhà đầu tư Bằng chứng là giá cổ phiếucủa các ngân hàng trên thị trường chứng khoán hiện vẫn ở mức rất thấp và cũng chưaphải quá hấp dẫn so với cổ phiếu các nhóm ngành khác như vài năm trước đây.
Điều này cho thấy rằng, thước đo mà nhà đầu tư đánh giá hiệu quả trong hoạt độngcủa ngân hàng không phải chỉ có lợi nhuận mà còn là rủi ro Mối quan hệ giữa lợi nhuận
và rủi ro được thể hiện thông qua giá trị của ngân hàng trên thị trường, tức thị giá cổphiếu của ngân hàng Nếu có ai đó tin rằng, lợi nhuận của ngân hàng cao một cách vô lýtrong điều kiện các doanh nghiệp đang khốn đốn thì một lẽ tự nhiên là họ sẽ bán cổ phiếudoanh nghiệp và đem tài sản hiện có để mua cổ phiếu ngân hàng Trong thực tế đã không
có một làn sóng như vậy diễn ra mỗi khi các ngân hàng công bố báo cáo tài chính Chắcchắn rằng các nhà đầu tư vẫn đủ tỉnh táo để nhận ra rằng lợi nhuận của ngân hàng khôngphải tự nhiên mà có mà lợi nhuận đó đang phản ánh những rủi ro mà ngân hàng đang gặpphải Có quá nhiều rủi ro mà các ngân hàng đang phải đối mặt như rủi ro lạm phát, thịtrường, lãi suất, hối đoái, tái đầu tư, tác nghiệp nhưng nổi bật trong năm 2011 cần phải
kể đến rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và đặc biệt là rủi ro chính sách
2.1 Rủi ro tín dụng
Như đã nói, thước đo lợi nhuận, ngay cả khi có bộ tiêu chuẩn kế toán tốt, vẫnkhông thể lượng hóa hết được hiệu quả hoạt động của ngân hàng Đặc biệt, nó không thểphản ánh hết được tất cả các loại rủi ro mà ngân hàng đang gặp phải Lợi nhuận mà ngânhàng công bố hiện nay có phần phản ánh rủi ro tín dụng thông qua các khoản trích lập dựphòng Tuy nhiên, ngay chính tiêu chuẩn và điều khoản trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
Trang 11theo quy định hiện hành vẫn còn nhiều khiếm khuyết, không phản ánh được thực chất cácnguy cơ rủi ro tín dụng mà ngân hàng đang gặp phải Chẳng hạn như các khoản cho vaykhi được bảo đảm bằng 100% giá trị tài sản cũng không đồng nghĩa với việc là sẽ không
có rủi ro tín dụng Tài sản đảm bảo được định giá vào thời điểm cấp tín dụng và để làm
cơ sở quyết định mức cho vay thay vì là thời điểm trả nợ và để làm cơ sở hoàn trả được
nợ vay Hơn nữa, với các khoản nợ được bảo đảm 100% giá trị tài sản thì mức trích lập
dự phòng rủi ro gần như bằng không, bất kể mức độ và xác suất xảy ra rủi ro tín dụngnhư thế nào Hơn nữa, trong điều kiện thị trường có nhiều biến động thì việc giá trị tàisản giảm sâu hoặc kém thanh khoản là hoàn toàn có thể xảy ra Đối với các ngân hàngViệt Nam, khi nhóm tài sản đảm bảo hiện nay chủ yếu là bất động sản thì việc thị trườngbất động sản xấu đi vừa không chỉ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng là cácnhà đầu tư bất động sản mà còn là các khoản nợ được thế chấp bởi bất động sản (bất độngsản dân cư) Trong những trường hợp như vậy, việc đánh giá lại giá trị tài sản đảm bảocũng như việc thực hiện bút toán điều chỉnh theo giá trị trường là rất cần thiết nhưng thực
tế đã bị bỏ qua hoặc không được tiến hành một cách thực chất và đúng bản chất của rủi rotín dụng
Bên cạnh đó, rủi ro tín dụng ở các ngân hàng Việt Nam còn do sự gia tăng củahiện tượng bất cân xứng thông tin trong bối cảnh bất ổn vĩ mô mà biểu hiện là hành vi lựachọn ngược Trái với quan điểm thông thường cho rằng khi lãi suất cho vay cao sẽ giúploại bỏ các dự án tồi có suất sinh lợi kém, đồng thời chọn lọc những dự án tốt với mứcsinh lợi cao Đáng tiếc, trong điều kiện Việt Nam, khi lãi suất cho vay quá cao thì chínhnhững con nợ rủi ro mới là đối tượng sẵn sàng tiếp cận vốn vay chứ không phải là con nợ
an toàn Nghĩa là, do ngân hàng không có thông tin đáng tin cậy về người đi vay và do đókhông thể phân biệt được con nợ tốt với con nợ xấu nên khi lãi suất quá cao đã đặt ngânhàng vào thế lựa chọn bất lợi chứ không hoàn toàn là người đi vay mới bị bất lợi Nhưvậy, nếu nhìn ở góc độ này thì việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) không khống chế trầnlãi suất cho vay không chỉ gây bất lợi cho người đi vay như một số phân tích mà ngay cảbản thân ngân hàng cũng sẽ gặp rủi ro do lựa chọn ngược Hiện, không có một đánh giá
Trang 12đáng tin cậy nào về tỷ lệ nợ xấu trong toàn hệ thống ngân hàng nhưng có điều chắc chắncon số đang tăng lên và tăng nhanh khi khả năng đảo nợ của doanh nghiệp đã đạt đếnđiểm giới hạn của nó.
2.2 Rủi ro lãi suất
Theo qui định của NHNN, trần lãi suất huy động đã bị khống chế ở mức 14%/nămcũng khiến các NHTM quy mô nhỏ gặp bất lợi so với các ngân hàng lớn trong việc hútvốn Trong khi các ngân hàng nhỏ đang phải chịu áp lực về tăng trưởng Điều này đãbuộc các ngân hàng này thường xuyên phải lách luật, châm ngòi cho các cuộc đua lãisuất Cạnh tranh hút vốn của các ngân hàng đang tái diễn không chỉ khiến mặt bằng lãisuất huy động đang vượt trần, mà còn tạo áp lực lạm phát do chi phí đẩy đang mạnh lêncùng với việc hàng loạt các mặt hàng thiết yếu tăng giá Khi lãi suất đầu vào bị đẩy lêncao, lãi suất đầu ra cũng bắt buộc tăng để ngân hàng đảm bảo lợi nhuận, do đó cản trởquá trình giảm lãi suất theo chủ trương của Chính phủ Bởi lãi suất đầu ra sẽ bằng lãi suấtdanh nghĩa gồm chi phí thu hút vốn, cộng với phần lợi nhuận dự kiến của ngân hàng.Hơn nữa, áp lực tăng lãi suất này đang tăng gánh nặng chi phí lên nền kinh tế Không ítdoanh nghiệp sẽ không thể chịu được mức lãi suất vay quá cao, khi đó dòng vốn sẽ khôngthể hỗ trợ phát triển sản xuất kinh doanh, điều đó sẽ kìm hãm tăng trưởng Hoặc nếu phảivay lãi suất cao, doanh nghiệp sẽ khó khăn trong việc cân đối lợi nhuận, thậm chí đứngtrước nguy cơ thua lỗ, phá sản Như vậy vô tình rủi ro đẩy về phía ngân hàng khi nợ xấutăng, nền kinh tế bị đe dọa về tăng trưởng bền vững
Trong bối cảnh các dòng tiền trong lưu thông đang bị siết lại để ngăn chặn lạmphát, nếu không quản lý được lãi suất đầu ra, áp lực lạm phát do chi phí đẩy lên nền kinh
tế sẽ càng gia tăng Việc không minh bạch trong huy động vốn của các ngân hàng nhỏ lẻdẫn tới sự cạnh tranh không công bằng giữa các ngân hàng Trong khi đó, người dân lạikhông hiểu được những rủi ro mà họ sẽ gặp phải, vì lợi ích trước mắt mà họ lũ lượt rúttiền ở các ngân hàng lớn để gửi tiền ở nơi có lãi suất huy động cao, nếu để lại thì cũngđòi phải có chính sách nọ kia gây khó cho các ngân hàng Đây thực sự là nỗi lo đối vớigiới tài chính - ngân hàng Các cấp có thẩm quyền cần nhanh chóng nhập cuộc và có biện
Trang 13pháp xử lý nghiêm minh với các hành vi trên Nếu không sẽ dẫn tới không chỉ rủi ro chochính những người có tiền đi gửi mà còn khó khăn cho những người thực sự cần vốn.Nền kinh tế Việt Nam sẽ càng ngày càng lâm vào tình trạng khủng hoảng nặng nề
2.3 Rủi ro thanh khoản
Khác với rủi ro tín dụng thường diễn ra theo một tiến trình, từ những dấu hiệu khókhăn ban đầu như tỷ lệ nợ xấu tăng dần đến quá trình tái cơ cấu nợ Trong khi đó, rủi rothanh khoản thường mang tính chất bất ngờ, không nhất thiết phải là những khó khăntrong bảng tổng kết tài sản, và đặc biệt nguy hiểm bởi khả năng lây lan có tính hệ thốngtrong một khoảng thời gian rất ngắn Có một số công cụ hay phương thức mà các ngânhàng có thể sử dụng nhằm giảm rủi ro thanh khoản như vay liên ngân hàng, vay tái cấpvốn của NHNN, phát hành chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng hoặc bán các tài sảnngắn hạn Tuy nhiên, hoạt động vay mượn trên thị trường liên ngân hàng hiện đang bịtắc nghẽn Công cụ vay tái cấp vốn của NHNN cũng ít khi phát huy hiệu lực do những trởngại hành chính từ quyết định cấp hạn mức tái cấp vốn và bản thân các ngân hàng cũngkhông có nhiều giấy tờ có giá đủ tiêu chuẩn để tái chiết khấu Các tài sản ngắn hạn nhằm
dự trữ thanh khoản như tín phiếu kho bạc cũng chỉ có quy mô nhỏ, lại được phân bổkhông đều và không hợp lý giữa các ngân hàng Thị trường mở không phải là sân chơicho tất cả các ngân hàng, đặc biệt đối với những ngân hàng đang gặp nhiều áp lực thanhkhoản nhất hiện nay
Hơn nữa, theo quy định của (NHNN), các ngân hàng thương mại chỉ được lấy30% vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn Tuy nhiên, nhìn vào biểu đồ lãi suất hiệnnay có thể khẳng định vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn lớn hơn nhiều so với con sốquy định Điều này đang tiềm ẩn nguy cơ rủi ro thanh khoản cho các ngân hàng.Thực raNHNN cũng đã nhìn ra vấn đề này nên từ năm 2009 đã giảm tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạncho vay trung và dài hạn từ 40% xuống còn 30% Nhưng nguy cơ vượt trần quy định này
là hoàn toàn có thể xảy ra Chúng ta đều biết do căng thẳng nguồn vốn nên tại các ngânhàng hiện nay, lãi suất huy động các kỳ hạn đều bằng nhau Thậm chí, lãi suất ngắn hạn
Trang 14gửi ngắn hạn, bản thân ngân hàng cũng không dám huy động dài hạn với lãi suất cao vì
sợ rủi ro Như vậy có thể khẳng định, vốn huy động đầu vào của các ngân hàng hiện naychủ yếu là ngắn hạn Tuy nhiên, đầu ra là cho doanh nghiệp, cá nhân vay thì hầu hết lại làdài hạn trong khi chỉ được phép sử dụng 30% vốn ngắn hạn cho vay dài hạn Đó là lý dokhiến nhiều ngân hàng phải lách bằng cách đưa ra các sản phẩm kỳ hạn dài nhưng chophép khách hàng rút tiền trước hạn và vẫn được hưởng lãi suất bằng lãi suất kỳ hạn thựcgửi Nói thẳng ra, cũng là ngắn hạn Điều đó khẳng định việc vượt trần 30% theo quyđịnh như nói trên là có thực Tất nhiên, khi vốn ngắn hạn cho vay dài hạn quá nhiều, rủi
ro thanh khoản là điều có thể dự báo
Cũng vì lao theo huy động kỳ hạn ngắn nên các khoản huy động liên tục đến hạn.Bên cạnh đó, khách hàng lại thường xuyên từ ngân hàng này qua ngân hàng khác để kiếmlãi suất cao hơn dẫn đến việc hụt tiền ở các ngân hàng Khi đó, ngân hàng buộc phải tănglãi suất để giữ khách hàng, vay qua đêm hoặc vay trên thị trường liên ngân hàng với kỳhạn ngắn Tất cả những động thái này đều dẫn đến chung một kết quả là đẩy lãi suất tăngcao Minh chứng rõ ràng nhất là lãi suất trên liên ngân hàng vẫn duy trì ở mức cao, chứng
tỏ các ngân hàng đang thực sự khát vốn và tìm mọi cách huy động vốn để bù đắp thanhkhoản Lãi suất huy động được NHNN quy định không vượt quá 14% nhưng thực tế đãlên tới 17%, 18% bởi ngân hàng lớn tăng lãi suất để giữ chân khách, ngân hàng nhỏ phảităng lãi suất vì thiếu thanh khoản Điều này tiếp tục hình thành một cuộc chạy đua lãisuất trên thị trường, dẫn đến nghịch lý biểu đồ lãi suất như nói trên Như vậy có thể thấy,rủi ro thanh khoản của các ngân hàng phần lớn đến từ việc huy động kỳ hạn ngắn chứkhông phải do thiếu hụt trong giao dịch với doanh nghiệp (tăng trưởng tín dụng chậm lại,hoạt động kinh doanh khó khăn nên giao dịch của doanh nghiệp với ngân hàng khó có thểtăng lên) Vì vậy, để mục tiêu thắt chặt tín dụng, kiềm chế lạm phát đạt hiệu quả, để antoàn thanh khoản cho các ngân hàng cần sự giám sát chặt chẽ của NHNN trong việc vượttrần lãi suất, vượt trần sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn
2.4 Rủi ro nguồn vốn