Với mục tiêu nghiên cứu các ảnh hưởng của các ngoạitác tiêu cực, nhóm chúng tôi chọn đề tài: “Phân tích nguyên nhân, tác động và các giảipháp khắc phục những ngoại tác tiêu cực của sản p
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
I/ Cơ sở lý luận: 3
1 Khái niệm: 3
2 Điều kiện tồn tại của ngoại tác: 3
3 Ảnh hưởng của ngoại tác: 5
3.1 Ngoại tác tiêu cực: 5
3.2 Ngoại tác tích cực: 6
4 Một số giải pháp khắc phục: 7
4.1 Nội bộ hóa ngoại tác: 7
4.2 Tổ chức hoạt động hợp tác của các cá nhân với nhau: 7
4.3 Sự can thiệp của Chính phủ: 8
II/ Phân tích nguyên nhân và tác động của thuốc lá 8
1 Giới thiệu về sản phẩm thuốc lá 8
2 Tình hình tiêu thụ và sản xuất thuốc lá: 9
2.1 Tình hình thế giới: 9
2.2 Tình hình Việt Nam: 9
2.3 Nguyên nhân của các ngoại tác tiêu cực: 12
4 Tác động ngoại tác tiêu cực của thuốc lá: 14
4.1 Đối với sức khỏe con người: 14
4.2 Đối với môi trường: 18
4.3 Đối với nền kinh tế: 18
III/ Những giải pháp khắc phục: 20
1 Sự can thiệp của chính phủ và cộng đồng: 20
1.1 Các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng các sản phẩm thuốc lá: 20
1.2 Các biện pháp giảm nguồn cung cấp: 23
1.3 Mở rộng hợp tác quốc tế trong phòng, chống tác hại của thuốc lá: 25
2 Hoạt động nội bộ hóa của doanh nghiệp: 25
3 Một số kiến nghị: 25
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế của các quốc gia và nền kinh tế toàn cầu trong những thập kỷ gần đây
đã có những bước phát triển vượt bậc Kỹ thuật – công nghệ được đổi mới liên tục,hàng hóa, mẫu mã ngày càng đa dạng, phong phú, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu củathị trường Tuy nhiên, cùng với sự phát triển đó, nền kinh tế toàn cầu đang phải đối mặtvới nhiều vấn đề về môi trường và đạo đức kinh doanh
Quá trình phát triển nhằm mục tiêu lợi nhuận mà không tính đến hậu quả lâu dàitrong tương lai đã và đang góp phần làm cạn kiệt nguồn tài nguyên, hủy hoại môitrường và đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe của con người Rất nhiều doanh nghiệp vìtheo đuổi đà tăng trưởng mà bỏ quên mất những yếu tố ngoại tác do chính doanh nghiệphay chính sản phẩm do mình sản xuất đem lại
Nhà nước và cộng đồng đã bắt đầu lên tiếng Nhiều sản phẩm độc hại cũng nhưnhững hành vi ảnh hưởng nghiêm trọng đến xã hội đã được hạn chế và ngăn chặn.Nhưng vẫn còn đó, những sản phẩm mà ảnh hưởng tiêu cực của nó là rất lớn và khókhắc phục vẫn tồn tại được, bởi nhu cầu của xã hội vẫn còn, ảnh hưởng của quy mô củanhững sản phẩm này khá mạnh mẽ Nhà nước và cộng đồng chỉ có thể can thiệp nhằmgiảm cung và cầu chứ không thể loại bỏ hoàn toàn, điển hình là sản phẩm thuốc lá
Đã có mặt từ lâu, nhưng chỉ đến vài thập kỷ gần đây, các tác hại của thuốc lá mớiđược nghiên cứu một các rộng rãi và cho thấy một sức lan tỏa nghiêm trọng của sảnphẩm này đến toàn thể xã hội Với mục tiêu nghiên cứu các ảnh hưởng của các ngoạitác tiêu cực, nhóm chúng tôi chọn đề tài: “Phân tích nguyên nhân, tác động và các giảipháp khắc phục những ngoại tác tiêu cực của sản phẩm thuốc lá”
Kết cấu của đề tài gồm ba phần:
Phần 1: Cơ sở lý luận
Phần 2: Phân tích nguyên nhân và tác động của sản phẩm thuốc lá
Phần 3: Những giải pháp khắc phục
Trang 3I/ Cơ sở lý luận:
Có nhiều khái niệm hay cách diễn giải khác nhau về ngoại tác, cụ thể như:
Ngoại tác là những hoạt động gây tác động phụ không chủ ý của sản xuất hay
tiêu thụ gây ảnh hưởng có lợi hay có hại cho người thứ ba mà những người nàykhông phải trả tiền hoặc không được trả tiền vì hoạt động đó
Ngoại tác là những lợi ích hay chi phí ảnh hưởng ra bên ngoài không đượcphản ánh qua giá cả
Ngoại tác là ảnh hưởng gây ra bởi hoạt động của một chủ thể kinh tế này và tácđộng trực tiếp tới chủ thể kinh tế khác (nghĩa là không thông qua cơ chế thịtrường)
Như vậy, nhìn chung, có thể hiểu, ngoại tác là những tác động không chủ ý
và không được phản ánh qua giá cả hoặc chi phí
Ví dụ: Một nhà máy luyện thép thải chất thải xuống sông làm ô nhiễm nước haynhà máy xi măng thải khí thải làm ô nhiễm không khí Đây là những ngoại tác gây ảnhhưởng có hại cho người khác
2. Điều kiện tồn tại của ngoại tác:
Hình 1.1: Thị trường hiệu quả
Thị trường đạt hiệu quả khi lợi ích biên của xã hội bằng lợi ích biên của tưnhân Và như vậy, ngoại tác sẽ tồn tại khi:
Trang 4– Cái giá phải trả hoặc lợi ích của tư nhân không bằng cái giá phải trả hoặc lợiích của xã hội.
– Phúc lợi của người tiêu dùng hay người sản xuất bị ảnh hưởng bởi nhữngngười tiêu dùng hay những người sản xuất khác
– Các chi phí, các lợi ích không được xem xét đầy đủ bởi những người sản xuấthay những người tiêu dùng khi họ tiến hành các hoạt động sản xuất hay tiêu dùng
Chi phí xã hội = Chi phí tư nhân + chi phí ngoại tác
Chi phí tư nhân: là những chi phí được chi trả trực tiếp bởi người tiêu dùng trong
các hoạt động tiêu dùng của họ hay bởi người sản xuất trong các hoạt động sảnxuất của họ
Giá thị trường đối với hàng hóa và dịch vụ là những ví dụ rõ ràng về chi phí tưnhân vì các chi phí này phải được trả để hưởng thụ hàng hóa và dịch vụ Tương
tự, doanh nghiệp phải trả tiền nguyên liệu, lao động, nhiên liệu để sản xuất ra sảnphẩm
Chi phí ngoại tác: là chi phí được chi trả bởi người tiêu dùng hay người sản xuất
không phải là những người tiến hành các hoạt động đó
Ví dụ: một người lái xe chạy từ TP Hồ Chí Minh đến Bình Dương thì chỉ phảitốn tiền xăng, còn những người khác thì phải trả những chi phí do anh ta làm ônhiễm không khí, tạo ra tiếng ồn, góp phần làm tắt nghẽn giao thông… Đây lànhững chi phí ngoại tác đối với người sử dụng xe theo nghĩa là họ không phải trảnhững chi phí này
Lợi ích xã hội = lợi ích tư nhân + lợi ích ngoại tác
Lợi ích tư nhân: lợi ích thu được một cách trực tiếp của người tiêu dùng từ hoạt
động tiêu dùng của họ, hay lợi ích thu được một cách trực tiếp của người sảnxuất từ hoạt động sản xuất của họ
Ví dụ: tất cả các hoạt động tiêu dùng được thực hiện vì tạo ra các lợi ích tư nhân:người tiêu dùng được thỏa mãn, người sản xuất thu được lợi nhuận
Lợi ích ngoại tác: là lợi ích của những người tiêu dùng hay những người sản
xuất không phải là những người tiến hành các hoạt động đó thu được
Ví dụ: một nhà máy năng lượng chuyển từ việc sử dụng nguồn nhiên liệu là dầumazut sang khí tự nhiên có thể giảm bớt chi phí sản xuất và đồng thời giảm được lượng
Trang 5khí ô nhiễm sinh ra từ nhà máy, đó là lợi ích ngoại tác đối với những cư dân sống gầnnhà máy (họ có lợi do giảm được chi phí y tế liên quan tới ô nhiễm không khí).
3 Ảnh hưởng của ngoại tác:
Ảnh hưởng của ngoại tác là một loại thất bại thị trường Lý luận chuẩn tắccho rằng trong cơ chế thị trường, các nguồn lực được phân bổ một cách tối ưu Tuynhiên, các ảnh hưởng không thông qua thị trường, thì không xác định được giá trao đổi(giá cả sản phẩm không còn phản ánh giá trị xã hội của nó) Điều này dẫn tới chi phíhoặc lợi ích theo nhận thức của cá nhân không thống nhất với chi phí hoặc lợi ích thật
sự của xã hội Vì thế, các doanh nghiệp có thể sản xuất quá nhiều hay quá ít, nên sựđiều tiết của thị trường là vô hiệu quả
Có hai loại ảnh hưởng của ngoại tác đó là ảnh hưởng ngoại tác tiêu cực vàảnh hưởng ngoại tác tích cực
Hình 1.2: Ảnh hưởng ngoại tác tiêu cực gây tổn thất xã hội
Trang 6Trong Hình 1.2, đường cung của xí nghiệp (cũng tức là đường chi phí biên của xínghiệp) nằm dưới đường cung theo xã hội (chi phí biên đối với xã hội cao hơn) Tổnthất xã hội được đo bằng hình tam giác ABC.
Hình 1.3: Ảnh hưởng ngoại lai tích cực dẫn tới tổn thất xã hội.
xã hội
A
C
Chi phí biên Đường chi phíbiên của xã hội
Đường chi phíbiên của
xí nghiệp
D
D
Trang 7Trong Hình 1.3, đường cầu cá nhân của gia đình tích cực nằm thấp hơn đường cầucủa xã hội, bởi nhận thức về lợi ích ròng biên của gia đình thấp hơn lợi ích ròng biêncủa xã hội Trong trường hợp này cũng có một tổn thất xã hội được đo bằng tam giácABC
=> Nhìn chung, ảnh hưởng của ngoại tác dù tốt hay xấu đều ảnh hưởng đến sựphát triển và gây ra tổn thất xã hội vô ích
4 Một số giải pháp khắc phục:
Từ những ảnh hưởng trên, các nhà kinh tế học cũng đưa ra một số giải pháp nhằmhạn chế những tổn thất xã hội vô ích này, gồm
4.1 Nội bộ hóa ngoại tác:
Đây là giải pháp không cần có sự can thiệp của Chính phủ Có nghĩa là hìnhthành các đơn vị kinh tế có quy mô thích hợp để phần lớn hậu quả của hành vi ngoại tácdiễn ra trong khuôn khổ đơn vị đó
Ví dụ: Chủ vườn táo trở thành người nuôi ong Điều này chỉ có thể làm được khivườn táo đủ lớn để ong chỉ ở trong vườn táo
4.2 Tổ chức hoạt động hợp tác của các cá nhân với nhau:
S
Lợi ích biên đường lợi ích biên của xã hội
Đườnglợi ích ròng biên của cá nhân
Tổn thất
xã hội
Lượng cung
mà cá nhân sẵnsàng
Lượng cung mà
xã hội mong muốn
B
S
Trang 8 Trong một số trường hợp, mọi người có thể tự giải quyết được vấn đề ảnh hưởngngoại tác Định đề Coase cho rằng các bên tham gia có thể thương lượng với nhau vànhất trí về một giải pháp có hiệu quả Tuy nhiên, đôi khi họ không thể đạt được kết cục
có hiệu quả do có quá nhiều bên liên quan và điều đó làm cho quá trình thương lượngtrở nên khó khăn
Ví dụ: Việc bồi thường hay đền bù; sự trừng phạt của xã hội,
4.3 Sự can thiệp của Chính phủ:
Khi mọi người không tự giải quyết được vấn đề ảnh hưởng ngoại tác và khi mộtảnh hưởng ngọai tác khiến cho thị trường không đạt được sự phân bổ có hiệu quả, thìchính phủ xuất hiện
Chính phủ có thể phản ứng theo một trong hai cách:
+ Một là, thực hiện các chính sách có tính chất chỉ huy và kiểm sóat để điềuchỉnh hành vi một cách trực tiếp
+ Hai là, thực hiện các chính sách dựa trên thị trường để tạo ra những kích thíchsao cho các nhà ra quyết định tư nhân tự chọn cách giải quyết vấn đề
Ngoài những các trên, còn rất nhiều các giải pháp khác để khắc phục của ngoạitác, tùy thuộc vào ngành nghề và đặc trưng cùa sản phẩm Trong phần tiếp theo, các tácđộng của thuốc lá sẽ được phân tích để thấy rõ được sự cần thiết của các giải pháp nàynhư thế nào
II/ Phân tích nguyên nhân và tác động của thuốc lá
1 Giới thiệu về sản phẩm thuốc lá
Thuốc lá là tên gọi của một loại sản phẩm được làm chủ yếu từ nguyên liệu láthuốc lá đã thái sợi, được cuốn hay nhồi định hình bằng giấy, có dạng hình tròn (thường
có độ dài dưới 120 mm, đường kính khoảng 10 mm) Thuốc lá điếu thường được đốtcháy ở một đầu, để cháy âm ỉ nhằm mục đích tạo khói và khói này theo dòng khí vàomiệng người hút từ đầu đối diện (thường có gắn đầu lọc)
Trong thời đại ngày nay, thuốc lá thương mại và thuốc lá sợi hiếm khi có chứasợi thuốc tinh khiết Các nhà sản xuất thường thêm phụ gia để giữ hương vị được lâu,tăng chất lượng màu sợi, để giữ chất lượng sợi và thậm chí để thay đổi hoàn toàn chấtlượng cảm nhận của khói thuốc
Trang 9Ngoài các phụ gia, thuốc lá sợi, đặc biệt là các loại chất lượng thấp, thường bị xử
lý nhiều Trong quá trình xử lý lá thuốc đầu tiên, lá được bỏ gân và được cắt thành lớpmỏng Vì lá thuốc ở quá trình này khá khô nên nó tạo ra nhiều vụn thuốc Các nhà máysản xuất đã phát triển các phương pháp thu hồi số vụn thuốc này và lại biến chúngthành nguyên liệu sử dụng được (được gọi là "lá thuốc tái chế")
Các đường gân lá bị bỏ ra, vốn không thích hợp để sử dụng khi giữ nguyêntrạng, trước kia bị loại bỏ hay ép mỏng thành các phiến lớn vì chúng chứa nhiều nitơ.Tuy nhiên, các quá trình xử lý mới đã được phát triển để ép chúng và chế biến trộn lẫnvào sợi thuốc Tất cả các quá trình ấy cho phép nhà sản xuất thuốc lá có được số lượngthuốc lớn nhất với lượng nguyên liệu thô thấp nhất
2 Tình hình tiêu thụ và sản xuất thuốc lá:
2.1 Tình hình thế giới:
Theo số liệu thống kê năm 2000, khoảng 5.5 nghìn tỷ điếu thuốc lá đượcsản xuất hàng năm trên thế giới trong ngành công nghiệp thuốc lá, và được tiêu thụ bởitrên 1,1 tỷ người Cũng theo số liệu thống kê này, tỷ lệ nam nữ hút thuốc có chênh lệchrất lớn
Người hút thuốc lá Ở các nước phát triển Ở các nước đang phát triển Nam 30 – 40% 40 – 70%
Nữ 20 – 40% 2 – 10%
Năm quốc gia đứng đầu danh sách tiêu thụ là Trung Quốc, Mỹ, Nhật, Nga
và Indonesia Hàng năm, có trung bình khoảng trên 15 tỷ điếu thuốc được tiêu thụ trongmột ngày trên thế giới Và thuốc lá giết chết một nửa số người sử dụng nó Một nửa sốnày chết ở lứa tuổi trung niên
Trên quy mô toàn cầu, thuốc lá được WHO xếp vào hàng thứ 4 trong số 10nguy cơ hàng đầu đe dọa sức khỏe, với khoảng 4,9 triệu ca tử vong mỗi năm Nếukhông có biện pháp can thiệp, con số này có thể lên đến 10 triệu vào năm 2030; trong
đó 70% số thiệt hại sẽ thuộc về các nước đang phát triển
2.2 Tình hình Việt Nam:
Tại thị trường Việt Nam, ngành công nghiệp thuốc lá vẫn không ngừngphát triển trong thời gian vừa qua Và cho đến nay, nó đã trở thành ngành:
Trang 10 Có phạm vi rộng: Rất ít các ngành có phạm vi rộng như ngành công nghiệp
thuốc lá Việt Nam hiện nay Ngành công nghiệp thuốc lá Việt Nam bao gồm trồngcây thuốc lá để tạo nguyên liệu, bảo quản sơ chế, sản xuất thuốc lá cho đến cáchoạt động tiêu thụ và phân phối sản phẩm Ngành này cấu thành nên một bộ phậnquan trọng của nền kinh tế và cơ cấu xã hội của Việt Nam, với trên 360,000 người
có công ăn việc làm nhờ vào ngành này, theo con số thống kê của Hiệp hội Thuốc
lá Việt Nam năm 2007 Trong thời gian hoạt động tại Việt Nam chúng tôi đã tạo rarất nhiều công ăn việc làm mới tại trụ sở chính ở Tp Hồ Chí Minh, tại 4 vănphòng tại Tp Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng và Cần Thơ cũng như tại nhà máyliên doanh với Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam (Vinataba)
Đóng vai trò là nguồn thu thuế chủ yếu: Thuế thuốc lá là một nguồn thu chủ
yếu của ngân sách Trung ương cũng như ngân sách tỉnh Năm 2007, ngành thuốc
lá đã đóng góp 8000 tỉ đồng tiền thuế cho ngân sách nhà nước và là ngành có mứcđóng thuế cao thứ ba sau dầu khí và phát điện.Chúng tôi liên tục được công nhận là tổ chức hoàn thành các nghĩa vụ nộp thuếđúng thời hạn, phối hợp tốt với các cơ quan thuế địa phương và luôn luôn tuân thủcác quy định về thuế
Là ngành canh tác phi lương thực thực phẩm có quy mô lớn: Thuốc lá là
ngành canh tác phi lương thực có quy mô lớn nhất thế giới Người nông dân lựachọn trồng cây thuốc lá vì đây là giống cây sinh trưởng phát triển mạnh trên cácvùng đất cằn cỗi, điều kiện thời tiết khắc nghiệt và có mức giá tiêu thụ ổn định.Nông dân có thể có thu nhập tốt từ những khoảnh ruộng thuốc lá nhỏ, cho phép họ
có thể sử dụng khoản thu đó đầu tư vào canh tác các cây nông sản Kĩ thuật sửdụng để trồng cây thuốc lá đảm bảo chất lượng cũng giúp cho cải thiện việc canhtác các cây trồng khác
Với quy mô và năng lực hiện tại của ngành, các doanh nghiệp thuốc lá ViệtNam đã không ngừng gia tăng hoạt động của mình Hiện mười doanh nghiệp đang dẫnđầu ngành bao gồm:
Bảng xếp hạng DN Sản xuất, kinh doanh thuốc lá, nguyên liệu thuốc lá
STT BXH G1000 Doanh nghiệp
1 27 TỔNG CÔNG TY THUỐC LÁ VIỆT NAM
2 102 TỔNG CÔNG TY CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM ĐỒNG NAI
3 113 CÔNG TY TNHH MTV THUỐC LÁ SÀI GÒN
Trang 114 138 TỔNG CÔNG TY KHÁNH VIỆT
5 213 CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI KHATOCO
6 214 CÔNG TY LD THUỐC LÁ BAT-VINATABA
7 574 CÔNG TY TNHH MTV THUỐC LÁ THĂNG LONG
8 984 CÔNG TY LIÊN DOANH THUỐC LÁ VINASA
Số điểm bán lẻ thuốc lá mà Sở Công thương quản lý được bằng giấy phép
đã hơn 700 điểm Đây là những điểm đáp ứng đủ điều kiện bán lẻ thuốc lá mà Nghịđịnh 119/2007 về sản xuất, kinh doanh thuốc lá quy định như có đăng ký kinh doanh,
có địa điểm kinh doanh cố định, địa chỉ rõ ràng Bên cạnh đó, vẫn còn rất nhiều các tủthuốc lá hè phố hiện nay không được cấp giấy phép bán lẻ do không đăng ký kinhdoanh, không có địa điểm cố định và hơn nữa là chiếm dụng lòng, lề đường để kinhdoanh, điều này cho thấy mạng lưới kinh doanh thuốc lá Việt Nam đa dạng và rộngkhắp như thế nào
Sự phát triển của ngành công nghiệp thuốc lá hiện nay ở Việt Nam là mộtđiều hoàn toàn dễ hiểu Bởi vào năm 2000, lượng tiêu thụ thuốc lá của mỗi người dânViệt Nam ở mức 500 -1.488 điếu/ năm Và đến thời điểm này chắc chắn rằng tỷ lệ đócòn cao hơn nữa Bởi hiện nay, thuốc lá ở Việt Nam vẫn được bán với giá rất rẻ Người
có thu nhập thấp vẫn có thể mua hút thường xuyên với giá 600 đồng/gói không đầu lọc
và 1.500 đồng/gói có đầu lọc
Trong số những người hút thuốc thì tỷ lệ nam giới chiếm đến 50 % và nữgiới chỉ có 3,4% trên tổng dân số (theo thống kê của Tổ chức Sức khỏe Thế Giới caonhất châu Á) Trong đó, 26% thanh thiếu niên có độ tuổi từ 15 – 24 hút thuốc lá Trên40% nam cán bộ y tế và 1,3 % nữ cán bộ y tế hút thuốc lá Với tỷ lệ này, Việt Namđang nằm trong nhóm những nước có tỷ lệ nam giới hút thuốc nhiều nhất trên thế giới
Việc tiêu thụ thuốc lá nhiều như trong thời gian vừa qua cũng đồng nghĩavới việc, số lượng người chết do thuốc lá cũng không ngừng gia tăng Mỗi năm có40.000 người tử vong do những nguyên nhân liên quan đến thuốc lá, gấp 3 lần số ngườichết do tai nạn giao thông Nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời, 10% dân số ViệtNam nghĩa là vào khoảng 7,5 triệu người Việt Nam sẽ chết sớm do hút thuốc lá và tớinăm 2020 số người Việt Nam chết do sử dụng thuốc lá sẽ nhiều hơn số người chết doHIV/AIDS, lao, tai nạn giao thông và tự tử cộng lại Đặc biệt, trong thời gian gần đây,mạng lưới tiếp thị thuốc lá đang nhằm vào trẻ em và thanh niên Việt Nam Tiến sĩ Jean-Marc Olivé, Trưởng đại diện WHO Việt Nam, lên tiếng: "Ngành công nghiệp thuốc lálợi dụng tính dễ bị tổn thương của giới trẻ Họ biết rằng giới trẻ đánh giá không đúng
Trang 12mức nguy cơ gây nghiện của nicotine và những hậu quả sức khỏe thương tâm tiếp sau
đó Thậm chí nhiều chiêu thức quảng cáo đánh lừa thanh thiếu niên thử điếu thuốc đầutiên và không chứa nicotin để đầu độc họ" Đây thực sự là một thách thức lớn đối vớiViệt Nam
2.3 Nguyên nhân của các ngoại tác tiêu cực:
2 3.1 Thành phần của sản phẩm:
Nguyên nhân chủ yếu nhất dẫn đến những ảnh hưởng của thuốc lá chính là thànhphần cấu tạo nên nó Thuốc lá là một loại cây có độc, nhất là những lá già, có hàmlượng Nicotin cao Thuốc lá khi sử dụng sẽ tạo ra 3 kiểu khói chính:
Dòng khói chính (MS) là dòng khói do người hút thuốc hít vào thở ra Đó
là luồng khí đi qua gốc của điếu thuốc có chứa hơn 4700 chất khác nhau gồm nhữngchất chính sau:
Nicotine: là một chất không màu, chuyển thành màu nâu khi cháy và có mùi
thuốc khi tiếp xúc với không khí Nó được hấp thụ qua da, miệng và niêm mạcmũi hoặc hít vào phổi Người hút thuốc trung bình đưa vào cơ thể 1 đến 2 mgNicotin mỗi điếu thuốc hút Cơ quan Kiểm soát Dược và thực phẩm Hoa Kỳ(FDA) xếp nicôtin vào nhóm các chất có tính chất dược lý gây nghiện chủ yếu.Nicotin được sử dụng ở liều thấp, tạo ra sự sảng khoái nhẹ nhàng, làm dịu cơn đói
và bớt mệt mỏi Tuy nhiên, nếu dùng lâu dài sẽ gây lệ thuộc và độc hại cho cơ thể,liều cao sẽ gây chết người
Monoxit carbon (khí CO): Khí CO có nồng độ cao trong khói thuốc lá và sẽ
được hấp thụ vào máu, gắn với hemoglobine với ái lực mạnh hơn 20 lần oxy Vớingười hút trung bình 1 bao thuốc mỗi ngày thì hàm lượng hemoglobine khử có thểtới 7-8% Sự tăng hemoglobine khử làm chuyển dịch đường cong phân tách oxy-hemoglobin dẫn đến giảm lượng oxy chuyển đến tổ chức gây thiếu máu tổ chức và
có lẽ góp phần hình thành các mảng xơ vữa động mạch
Các phân tử nhỏ trong khói thuốc lá: Khói thuốc lá chứa nhiều chất kích
thích dạng khí hoặc dạng hạt nhỏ Các chất kích thích này gây nên các thay đổicấu trúc của niêm mạc phế quản dẫn đến tăng sinh các tuyến phế quản, các tế bàotiết nhầy và làm mất các tế bào có lông chuyển Các thay đổi này làm tăng tiết
Trang 13nhày và giảm hiệu quả thanh lọc của thảm nhày-lông chuyển Phần lớn các thayđổi này có thể hồi phục được khi ngừng hút thuốc.
Các chất gây ung thư: Trong khói thuốc lá có trên 40 chất trong số đó gồm cả
các hợp chất thơm có vòng đóng như Benzopyrene có tính chất gây ung thư Cáchoá chất này tác động lên tế bào bề mặt của đường hô hấp gây nên tình trạng viêmmạn tính, phá huỷ tổ chức, biến đổi tế bào dẫn đến dị sản, loạn sản rồi ác tính hoá
Dòng khói phụ (SS) là khói thuốc từ đầu điếu thuốc đang cháy toả ra vào khôngkhí, nó không bao gồm phần khói thuốc do người hút thở ra Điều đáng ngạc nhiên
là SS có nhiều hỗn hợp gây ung thư mạnh hơn MS Điều này là bởi vì SS thường bịtạp nhiễm hơn MS SS cũng khác với MS ở chỗ các sản phẩm độc có thể tồn tạidưới dạng khác ví dụ nicotine chủ yếu ở dạng hạt rắn trong khói dòng chính, nhưnglại ở dạng khí trong khói thuốc môi trường- Khói thuốc phụ là khói toả ra ở đầu điếuthuốc để cháy tự nhiên khi không hút và thành phần chất độc chứa trong khói thuốcphụ cũng tương tự như trong khói thuốc chính nhưng cao hơn rất nhiều lần vì vậy nórất nguy hiểm cho người hút đặc biệt là những người hút thuốc thụ động
Khói thuốc môi trường (ETS) là hỗn hợp của dòng phói phụ và khói thở ra củadòng khói chính cũng như các chất tạp nhiễm khuếch tán qua giấy quấn thuốc lá vàđầu điếu thuốc giữa các lần hút ETS rất giống với MS, nó bao gồm hơn 3.800 loạihoá chất, ẩn chứa rất nhiều độc hại
2 3.2/ Những nguyên nhân xã hội:
Sự phát triển của ngành công nghiệp thuốc lá hiện nay phần nào xuất phát từ ýthức tiêu dùng của người dân Mặc dù, những cảnh báo về tác hại của thuốc lá đã đượctuyên truyền và phổ biến rộng rãi nhưng vẫn rất nhiều người vẫn không thể cai nghiện
do cơn nghiện đã ăn sâu vào thói quen Mặt khác, giới trẻ với những suy nghĩ muốnchứng tỏ mình lại tìm đến thuốc lá và rồi khi muốn dứt ra cũng không được Chínhnhững điều này đã và đang làm gia tăng tác động của các ngoại tác
Mặt khác, Nhà nước tuy thấy được những hậu quả này nhưng lại không có biệnpháp quản lý một cách có hiệu quả Ngành công nghiệp thuốc là vẫn là một ngành côngnghiệp đem lại nguồn thu lớn Việc loại bỏ hoàn toàn ngành hàng này có thể gây tổnthất cho kinh tế quốc gia và phản ứng của những người tiêu thụ Do dó, Nhà nước thật
sự chưa tìm ra con đường đi hiệu quả trong khi ngoại tác đang ngày càng gia tăng
Trang 144 Tác động ngoại tác tiêu cực của thuốc lá:
4.1 Đối với sức khỏe con người:
Vai trò gây bệnh của hút thuốc đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứutrên thế giới cũng như ở nước ta Hút 01 điếu thuốc tức là đã tự mình làm mất đi 5,5phút cuộc sống Tuổi thọ trung bình của người hút thuốc ngắn hơn so với người khônghút thuốc từ 05 đến 08 năm Hút thuốc làm tăng tỷ lệ tử vong từ 30 đến 80%, chủ yếu là
do các bệnh ung thư (ung thư phổi), bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, các bệnh timmạch… Mức độ tăng nguy cơ phụ thuộc vào tuổi bắt đầu hút (hút thuốc càng sớm thìnguy cơ càng cao), số lượng thuốc hút trung bình với đơn vị là bao/năm tính bằng cáchlấy số bao thuốc hút trung bình hàng ngày nhân với số năm hút (số lượng thuốc hút bao/năm càng lớn thì nguy cơ càng cao) và thời gian hút càng dài thì nguy cơ cũng cànglớn
4.1.1Hút thuốc và bệnh ung thư:
Ung thư phổi:
Cách đây gần 50 năm Doll và Hill đã chỉ ra rằng hút thuốc lá gây ung thư phổi
và tỷ lệ tử vong do ung thư phổi tăng theo số lượng thuốc hút Trên thế giới tỉ lệ mắcung thư phổi tăng khá nhanh trong vòng 60 năm qua, tăng hơn nhiều so với các loại ungthư chính khác và tỉ lệ này cho thấy có sự liên quan mật thiết với việc số người hútthuốc tăng lên Tỷ lệ ung thư phổi thấp ở những quần thể dân cư không phổ biến hútthuốc lá
Hút thuốc là nguyên nhân chính gây ung thư phổi, khoảng 87% trong số 177,000
ca mới mắc ở Mỹ năm 1996 là do thuốc lá, còn lại là do các nguyên nhân khác như: ônhiễm môi trường, bệnh nghề nghiệp, ăn uống, cơ địa và các yếu tố di truyền 90%trong số 660.000 ca được chẩn đoán ung thư phổi hàng năm trên thế giới là người hútthuốc lá Giả định nguy cơ của những người không hút thuốc lá bị ung thư phổi là 1 thìnguy cơ bị ung thư phổi của những người hút thuốc cao hơn gấp 10 lần so với nhữngngười không hút thuốc Mức độ tăng nguy cơ khác nhau tuỳ theo loại tế bào ung thư,nguy cơ bị ung thư biểu mô tế bào vảy và ung thư biểu mô tế bào nhỏ ở những ngườihút thuốc tăng 5 đến 20 lần trong khi nguy cơ bị ung thư biểu mô tuyến và ung thư biểu
mô tế bào lớn tăng 2 đến 5 lần so với những người không hút thuốc