1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nguồn gốc của sự ra đời tôn giáo theo quan niệm của tôn giáo học macxit và từ đó, giải thích sự tồn tại và phát triển của tôn giáo ở việt nam hiện nay

21 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 249,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo lý cơ bản của Phật giáo qua nội dung Tứ diệu đế và sự ảnh hưởng của giáo lý Phật giáo đến con người Việt Nam hiện nay...6 2.1... V.I.Lenin cho rằng “Sự bất lực của giai cấp bịbóc lộ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘIĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN: TÔN GIÁO HỌC ĐẠI CƯƠNG

Giảng viên: TS Nguyễn Hữu Thụ

Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thanh Hòa MSSV: 1803 2038

Trang 2

MỤC LỤ

1 Nguồn gốc của sự ra đời tôn giáo theo quan niệm của Tôn giáo học Macxit

và từ đó, giải thích sự tồn tại và phát triển của tôn giáo ở Việt Nam hiện nay 1

1.1 Nguồn gốc xã hội 1

1.2 Nguồn gốc nhận thức 4

1.3 Nguồn gốc tâm lý 5

2 Giáo lý cơ bản của Phật giáo (qua nội dung Tứ diệu đế) và sự ảnh hưởng của giáo lý Phật giáo đến con người Việt Nam hiện nay 6

2.1 Giáo lý cơ bản của Phật giáo (qua nội dung Tứ diệu đế) 6

2.2 Sự ảnh hưởng của giáo lý Phật giáo đến con người Việt Nam hiện nay 12

2.2.1 Ảnh hưởng của giáo lý Phật giáo về tư tưởng và đạo lý 12

2.2.2 Ảnh hưởng của giáo lý Phật giáo qua phong tục tập quán 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

Trang 3

1 Nguồn gốc của sự ra đời tôn giáo theo quan niệm của Tôn giáo học Macxit và từ đó, giải thích sự tồn tại và phát triển của tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

1.1 Nguồn gốc xã hội

Mối quan hệ giữa con người với tự nhiên

Lịch sử xã hội loài người là lịch sử phát triển kế tiếp nhau của các hình tháikinh tế - xã hội Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản nguyên thủy ra đời trên cơ sởnền sản xuất thấp kém Nền kinh tế tự nhiên lấy săn bắt, hái lượm là chính, Cuộcsống con người lệ thuộc nhiều vào thiên nhiên Mối quan hệ của con người với giới

tự nhiên được thực hiện thông qua những phương tiện và công cụ lao động mà conngười có Những công cụ và phương tiện lao động càng kém phát triển bao nhiêuthì con người càng yếu đuối trước tự nhiên bấy nhiêu, và những lực lượng tự nhiênthống trị con người càng mạnh bấy nhiêu Sự bất lực của con người nguyên thủytrong cuộc đấu tranh với giới tự nhiên là do sự hạn chế, sự yếu kém của các phươngtiện tác động thực tế của họ vào thế giới xung quanh Khi không đủ phương tiệncông cụ để đảm bảo kết quả mong muốn trong lao động, người nguyên thủy tìm đếnphương tiện tưởng tượng, hư ảo, nghĩa là tìm đến tôn giáo

F Engels đã nhấn mạnh rằng tôn giáo trong xã hội nguyên thuỷ xuất hiện dokết quả phát triển thấp của lực lượng sản xuất Nhưng tài liệu dân tộc học đã chứngminh quan điểm của F Engels: những nghi lễ có tính chất ma thuật có mối liên hệchặt chẽ với tính chất của hoạt động lao động của người nguyên thủy Ma thuật luôn

đi kèm với những dạng hoạt động lao động ở những nơi mà người nguyên thủykhông có hy vọng vào kết quả hoạt động lao động của mình, cũng như ở những nơi

mà các hiện tượng ngẫu nhiên đóng vai trò lớn

Mối quan hệ giữa con người với con người

Trong mối quan hệ này, có hai yếu tố quyết định là: tính tự phát của sự pháttriển xã hội, và ách áp bức giai cấp cùng chế độ người bóc lột người

Những quy luật phát triển của xã hội bao gồm những lực lượng mù quáng,trói buộc con người và có ảnh hưởng mang tính chất quyết định đến cuộc đời, số

Trang 4

phận của họ Những lực lượng đó, trong ý thức của con người, được thần thánh hóa

và mang hình thức của những lực lượng siêu nhiên F Engels cho rằng “Chẳng baolâu, bên cạnh những lực lượng thiên nhiên lại còn có cả những lực lượng xã hội tácđộng - những lực lượng này đối lập với con người một cách cũng xa lạ lúc đầucũng không thể hiểu được đối với họ, và cũng thống trị họ với các vẻ tất yếu bềngoài giống như bản thân những lực lượng tự nhiên vậy Những nhân vật ảo tưởng,lúc đầu chỉ phản ánh những sức mạnh huyền bí của các lực lượng tự nhiên, thì naylại vì thế có cả những thuộc tính xã hội và trở thành những đại biểu cho các lựclượng lịch sử”

Bên cạnh đó, sự áp bức giai cấp, chế độ bóc lột là một nhân tố quan trọnglàm nảy sinh tôn giáo Thời cổ đại, đã có rất nhiều các cuộc đấu tranh của người nô

lệ xảy ra, có thể kể đến Cuộc đấu tranh nô lệ do Spartacus lãnh đạo với 12 vạn quânnhưng cuộc đấu tranh này sau đó đã bị chính quyền đàn áp đẫm máu Bế tắc trongcuộc sống hiện thực, con người tìm sự giải thoát cho đời sống tinh thần, họ đã tìmthấy lối thoát đó ở thế giới bên kia V.I.Lenin cho rằng “Sự bất lực của giai cấp bịbóc lột trong quá trình đấu tranh chống bọn bóc lột tất nhiên đẻ ra lòng tin vào mộtcuộc đời tốt đẹp hơn ở thế giới bên kia, cũng giống y như sự bất lực của người dãman trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên đẻ ra lòng tin vào thần thánh, ma quỷ,vào những phép màu, ”

Từ nguồn gốc xã hội này, ở Việt Nam đã ra đời và phát triển một tín ngưỡngmang đậm bản sắc dân tộc Việt, đó là tín ngưỡng thờ Mẫu Tín ngưỡng thờ Mẫu là

sự phản ánh đời sống xã hội của con người Việt Nam Đời sống xã hội là yếu tốmang tính khách quan, có vai trò quyết định ảnh hưởng tới quá trình hình thành vàtồn tại của tín ngưỡng thờ Mẫu

Việt Nam là một quốc gia có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, lắm nắng,nhiều mưa Điều đó góp phần tạo nên sắc thái riêng biệt của nơi cư trú, các thiết chế

xã hội, thói quen, tâm lý và các hình thái tín ngưỡng, tôn giáo

Cơ sở kinh tế xã hội của Việt Nam trước đây dựa trên nền sản xuất nôngnghiệp là chính Trong sản xuất nông nghiệp, con người bị lệ thuộc khá nhiều vàothiên nhiên Để có thể sản xuất, con người phải “Trông trời, trông đất, trông mây/Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm” Nhiều khi không hiểu được những

Trang 5

thuận lợi và khó khăn do tự nhiên mang lại, con người thần thánh hóa các hiệntượng tự nhiên và gán cho chúng một sức mạnh siêu nhiên Điều đó làm xuất hiệntín ngưỡng thờ các thần, trong đó có các nữ thần như: Mẫu Thiên, Mẫu Địa, MẫuThoải, Mẫu Thượng Ngàn, tín ngưỡng thờ tứ Pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi,Pháp Điện,… Điều này thể hiện mối quan hệ của con người với tự nhiên trongnguồn gốc xã hội.

Bên cạnh đó, trong cuộc sống cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, vai trò củaphụ nữ được đề cao Người phụ nữ tham gia hầu hết các công việc đồng áng, tronggia đình lại là người “tay hòm chìa khóa” lo việc nội trợ Trong dân gian có nhữngcâu “nhất vợ nhì trời”, “lệnh ông không bằng cồng bà” hay “ruộng sâu trâu náikhông bằng con gái đầu lòng”, ý muốn tôn vinh vai trò của người phụ nữ Ngườiphụ nữ còn có vai trò quan trọng trong việc nuôi dạy con cái cho nên mới có câu

“phúc đứuc tại mẫu”, “con dại cái mang”,… Trong lịch sử đấu tranh dựng nước vàgiữ nước của dân tộc, có nhiều phụ nữ có tài, có đức, khi sống thì khôn, khi chết thùthiêng, được dân ngàn đời tôn thờ như: Hai Bà Trưng, Thái hậu Dương Vân Nga,Nguyên Phi Ỷ Lan, bà Chúa kho,…

Ngoài ra, tín ngưỡng thờ Mẫu được hoàn thiện dưới ảnh hưởng trực tiếp củahoàn cảnh kinh tế - xã hội và văn hóa Việt Nam thế kỳ XVI-XVII Vào thời kỳ này,

xã hội phong kiến Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về mọi mặt.Các cuộc chiến tranh xung đột tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiếnTrịnh – Mạc, Trịnh – Nguyễn và thiên tai, mất mùa liên tiếp xảy ra đã làm cho nềnkinh tế suy thoái Đời sống các tầng lớp nhân dân trong xã hội vô cùng cơ cực Đạođức phong kiến không còn được như trước, nhân nghĩa của Nho giáo bị coi thường

Ý thức hệ Nho giáo tỏ ra bất lực trước thời cuộc Các nhà Nho giáo có tâm có tàinhư Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Nguyễn Hằng cũng tỏ ra mệt mỏi, buôngxuôi, chủ trương xa lánh thời cuộc Nhân dân lao động có xu hướng tìm lối thoáttrong tín ngưỡng dân gian và tôn giáo Song Phật cũng không giúp họ lên cõi Niếtbàn, thần tiên cũng không cứu họ khỏi nỗi khổ trần gian Trong số các tầng lớpngười trong xã hội phong kiến thời kỳ này thì người phụ nữ bị chà đạp, vùi dậpnhiều nhất Tâm lý chán chường, bi quan và bế tắc của họ được phản ánh qua các

Trang 6

nhân vật trong văn học như Thúy Vân, Thúy Kiều, Thị Kính, Cúc Hoa, Ngọc Hoa,

Tín ngưỡng thờ Mẫu tứ phủ ra đời, một mặt là biểu hiện sự phản kháng củacác tầng lớp nhân dân nói chung và người phụ nữ nói riêng trong xã hội phong kiếnthối nát, bất công; mặt khác, cũng là sự kế thừa và phát triển truyền thống trọng nữcủa người Việt Sự ra đời của tín ngưỡng thờ Mẫu còn là tấm gương phản chiếu sựsuy tàn của xã hội phong kiến và ý thức hệ phong kiến – nguyên nhân làm cho conngười nói chung và phụ nữ nói riêng phải sống cuộc đời đau khổ, phản ánh khátvọng tự do, hướng thiện, về cuộc sống bình đẳng, hạnh phúc của con người Hìnhảnh người phụ nữ Việt Nam trước đó được biểu hiện tập trung ở hình tượng MẫuLiễu Hạnh Hình tượng Mẫu Liễu Hạnh hội tụ đầy đủ các đức tính tốt đẹp của ngườiphụ nữ: yêu chồng, thương con, đảm việc nhà, giỏi việc nước, kính trọng cha mẹ….Tất cả những điều này đã thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người trongnguồn gốc xã hội của tôn giáo

có ý thức đầu tiên, sống vào khoảng 10 vạn năm trước Khi khai quật mộ táng củangười Homosapiens, các nhà khoa học thấy rằng người chết được chôn ở tư thế nhưthai nhi trong bụng mẹ, nằm nghiêng, tay chân khép vào thân, đầu được dấu dướimột hòn đá, xác chết được bôi một lớp thổ hoàng, xung quanh có các dụng cụ sinhhoạt và đồ trang sức Điều đó chứng tỏ rằng cơ quan tư duy là não bộ của ngườiHomosapiens khá phát triển Ở họ đã hình thành ý niệm về cuộc sống sau khi chết,

về linh hồn, về sự tái sinh, là những yếu tố quan trọng trong ý thức tôn giáo Ý thức

Trang 7

về linh hồn chứng tỏ khả năng trừu tượng hóa của họ đã đạt được trình độ nhấtđịnh Ý thức đó, thực chất là sự phản ánh hư ảo những sức mạnh trần thế biến thànhnhững sức mạnh siêu trần thế Đúng như F Engels đã chỉ rõ “Tôn giáo sinh ra trongmột thời đại hết sức nguyên thủy, từ những khái niệm hết sức sai lầm, nguyên thủycủa con người về bản chất của chính họ và về thế giới tự nhiên bên ngoài, xungquanh họ”.

Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo còn gắn liền với đặc điểm của quá trìnhnhận thức Quá trình nhận thức là sự thống nhất biện chứng giữa nội dung kháchquan và hình thức chủ quan Mỗi một nhận thức mới của sự phản ánh hiện thực (từcảm giác đến tri giác, đến biểu tượng, rồi đến khái niệm, phán đoán suy lý) khôngnhững tạo ra khả năng mới để nhận thức thế giới sâu sắc hơn mà còn tạo ra khảnăng “xa rời” hiện thực, phản ánh sai lầm nó Thực chất, nguồn gốc nhận thức củatôn giáo cũng như của mọi ý thức sai lầm, chính là sự tuyệt đối hóa, sự cường điệumột mặt của chủ thể nhận thức (hay hình thức chủ quan), biến nó thành cái khôngcòn nội dung khách quan, không còn cơ sở “thế gian”, nghĩa là thành cái siêu nhiênthần thánh Sự nhận thức diễn ra theo chiều hướng phiến diện, đơn giản, xơ cứng, dẫn đến phản ánh sai lệch thế giới hiện thức chính là cơ sở hình thành các biểutượng thần thánh Ý thức tôn giáo chính là sự phản ánh gián tiếp, “xa rời” hiện thựcnhất

Tiếp tục với tín ngưỡng thờ Mẫu Thờ Mẫu bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ Nữthần có từ thời kỳ xã hội cộng sản nguyên thủy Thời kỳ này thì con người đã quangiai đoạn nhận thức trực quan cảm tính và bắt đầu có nhận thức cao hơn Lúc đầu,tục thờ Mẫu là tín ngưỡng thờ đa nữ thần, ngày nay người ta còn thấy dấu vết củahiện tượng này như việc thờ Mẹ Cây, Mẹ Nước, Mẹ Cá, Mẹ Đất,… Dần dần, vớitrình độ nhận thức phát triển cao hơn, người Việt đã “quy tụ” các nữ thần về một sốthần cơ bản và gọi và các thần Mẫu như: Mẫu Cửu Thiên Huyền Nữ, Mẫu ThượngNgàn, Mẫu Thoải, ba vị Mẫu này đại diện cho ba khu vực không gian địa lý khácnhau Đến nửa cuối thế kỷ XVI, người Việt còn sáng tạo ra một vị Mẫu mới – MẫuLiễu Hạnh để bổ sung vào Tam phủ, góp phần “hoàn thiện” đạo Mẫu

1.3 Nguồn gốc tâm lý

Trang 8

Một trong những nhu cầu thiết yếu của con người là giải tỏa, gửi gắm nhữngbức xúc trong đời sống tinh thần F Engels cho rằng “Tôn giáo vẫn có thể tồn tạiđược với tư cách là một hình thức trực tiếp, nghĩa là một hình thức cảm xúc trongquan hệ con người đối với các lực lượng xa lạ, tự nhiên và xã hội đang thống trịhọ” “Hình thức cảm xúc” ở đây là hình thức thể hiện của ý thức tôn giáo, của niềmtin vào lực lượng siêu nhiên.

Những trạng thái tâm lý tiêu cực như cô đơn, đau khổ sợ hãi, nỗi kinhhoàng, dễ dẫn con người ta đến với tôn giáo Con người tìm đến tôn giáo đểmong được sự an ủi, che chở, cứu giúp Tôn giáo như “thuốc phiện”, làm giảm nỗikhổ đau của con người trong thế giới thực tại Mặc dù chỉ là “hạnh phúc hư ảo”,

“mặt trời tưởng tượng” xoay xung quanh con người, nhưng tôn giáo lại có sức hấpdẫn kỳ lạ Tôn giáo nhiều khi là phương tiện khá hữu hiệu, giúp con người cân bằng

sự hẫng hụt tâm lý, giải thoát nỗi bất hạnh, cô đơn của con người trong cuộc sống

Thế kỷ XVI-XVII, xã hội phong kiến Việt Nam biến động, đời sống nhândân đói khổ, khó khăn Tín ngưỡng thờ Mẫu xuất hiện một vị Mẫu mới – Mẫu LiễuHạnh Khác với ba vị Mẫu còn lại, Mẫu Liễu Hạnh là đại diện cho dân chúng đanglầm than nói chung và người phụ nữ nói riêng Điều đó thể hiện khát vọng cuộcsống tự do, hạnh phúc của con người Mẫu Liễu Hạnh tượng trưng cho hy vọng, làniềm tin, sự ngưỡng mộ chân thành và sự tồn tại và khả năng cứu giúp của Mẫu đốivới con người

Những trạng thái tâm lý tích cực như sự hân hoan, vui sướng, mãnnguyện, một cách thái quá, đôi khi cũng có thể là một trong những nguyên nhândẫn con người đến tôn giáo Con người muốn được san sẻ trong tôn giáo những tìnhcảm vui sướng của mình, muốn được đắm mình trong không gian tôn giáo để đượcsống trong trạng thái ảo giác, được hướng về cái thiêng liêng, cao cả và đôi khi,được lãng quên hiện tại

Quay trở lại với tín ngưỡng thờ Mẫu Người Việt Nam sống chủ yếu bằngsản xuất nông nghiệp Khi mùa màng được bội thu, người ta tin tưởng đó là do sựgiúp đỡ của các Mẫu Các Mẫu đại diện cho khát vọng sâu sắc về một cuộc sống ấm

no, đầy đủ, về sự thoát khỏi nỗi lo lắng về cơm áo gạo tiền, về miếng ăn,

Trang 9

Ngoài ra, các yếu tố như thói quen, truyền thống, phong tục, tập quán cũng lànhững nguyên nhân tâm lý dẫn đến sự hình thành và phát triển tình cảm và niềm tintôn giáo.

2 Giáo lý cơ bản của Phật giáo (qua nội dung Tứ diệu đế) và sự ảnh hưởng của giáo lý Phật giáo đến con người Việt Nam hiện nay

2.1 Giáo lý cơ bản của Phật giáo (qua nội dung Tứ diệu đế)

Phật giáo vừa là một tôn giáo vừa là một trào lưu triết học, trong đó triết họcPhật giáo là cơ sở cho những giáo lý cơ bản của tôn giáo Phật giáo

Triết học Phật giáo là một hệ thống phức tạp, nó đề cập đến nhiều vấn đề củagiới tự nhiên, xã hội và tư duy Trong triết học Phật giáo chứa đựng những quanniệm duy vật và quan niệm duy tâm, đặc biệt nó đã xây dựng được phương phápbiện chứng hết sức sâu sắc Theo đánh giá của F Engels: Tư duy biện chứng duyvật có sớm nhất ở các nhà triết học duy vật Hy Lạp cổ đại và ở các tín đồ Phật giáo

sơ kỳ Song cũng cần lưu ý rằng, xét đến cùng (hay đưa về giải thích những vấn đề

cơ bản của triết học ở mặt thứ nhất) thì triết học Phật giáo là triết học duy tâm tôngiáo

Nếu coi Phật giáo là một tôn giáo giải thoát và việc giải thoát gắn với vai tròcủa con người, thì giáo lý cơ bản của Phật giáo là “Tứ diệu đế” và “Niết bàn” Vì

“Tứ diệu đế” là lý giải vấn đề về khổ và sự diệt khổ, và diệt khổ là để đến thế giới

“Niết bàn” Ở đây, chúng ta chỉ bàn về “Tứ diệu đế”

Tứ diệu đế được Phật giáo coi là 4 chân lý hay 4 nền tảng, gồm khổ đế, tập

đế, diệt đế và đạo đế

Khổ đế (Dukkha) là chân lý nói về sự khổ.

Dukkha tiếng Phạn có nghĩa là “đau khổ”, “đau đớn”, “buồn”, “sự cơ cực” tương phản với chữ “Sukkha” có nghĩa là hạnh phúc Dukkha ở diệu đế thứ nhấtcòn bao gồm những ý nghĩa sâu sắc hơn: “bất toàn”, “vô thường”, “trống rỗng”,

-“giả tạm” Dukkha trong nghĩa thông thường gọi là khổ Phật giáo đã cố gắng chỉ ranhững cái khổ của đời sống trần tục và quy nó vào “Bát khổ” (8 cái khổ) Đó là:

Sinh khổ: Sinh ra lại là con người và phải trải qua những cái khổ bên dưới,điều đó là khổ

Trang 10

Lão khổ: Bất lực vì tuổi già là khổ

Bệnh khổ: Bệnh tật làm tổn hại đến sức khỏe và tinh thần là khổ

Tử khổ: Dành cho những người sống khi phải đối mặt với cái chết, với sự ra

đi của người thân yêu; con người sợ hãi cái chết về khi chết, họ sẽ không biết đi đâu

về đâu là khổ

Sở cầu bất đắc khổ: Muốn mà không đạt được thì khổ

Ái biệt ly khổ: Thương yêu nhau mà phải xa nhau thì khổ

Oán tăng hội khổ: Thù ghét nhau mà phải sống với nhau thì khổ

Ngũ uẩn xí thịnh khổ: Cái khổ do hiện hữu năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành,thức), do sự phát huy mạnh mẽ của năm uẩn, chính là cái khổ do chấp thủ vào ngũuẩn gây ra Cụ thể:

Sắc uẩn gồm tứ đại: địa, thủy, hỏa, phong.

Thọ uẩn là cảm giác vui, khổ hoặc không vui, không khổ được cảm nhận do

sự tiếp xúc của 6 cảnh tương ứng bên ngoài là: hình sắc, mùi, âm thanh, vị, cứngmềm và những đối tượng của tư tưởng

Tưởng uẩn là ấn tượng, tri giác được phát sinh do sự tiếp xúc giữa 6 căn

(mắt, mũi, tai, lưỡi, thân và ý) với 6 cảnh bên ngoài giúp nhận biết sự vật là vật lýhay tâm lý

Hành uẩn (tư duy) là những thao tác của tâm thức, gồm những hoạt động của

ý chí Trong hành có “nghiệp” “Nghiệp” (Karma) là chính ý muốn Khi đã có ýmuốn, thì người ta thao tác bằng thân, miệng, ý (thân nghiệp, khẩu nghiệp, ýnghiệp) dẫn đến những hoạt động tốt, xấu

Cảm giác và cảm giác không phải là những hoạt động của ý chí, chúngkhông phát sinh nghiệp quả Chỉ có hành (những hoạt động do ý chí) như: chú ý (tácý), muốn (dục), xác định (thắng giải), tin (tín), định (kiên định), tuệ (trí tuệ), nghịlực (tinh tấn), tham (ham muốn), thù ghét (hận), ngu si (vô minh), kiêu căng (mạn),chấp vào thân xác (thân kiến) mới sinh nghiệp quả

Thức uẩn là phản ứng của các giác quan với 6 hiện tượng ngoại giới (hình

sắc, âm thanh, mùi, vị, sự vật tiếp xúc, tâm giới) Thức không nên xem là “tinhthần” đối lập với vật thể Nó tồn tại tùy thuộc vào vật thể được cảm giác, tri giác

Ngày đăng: 02/10/2021, 18:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w