Hội chứng M.M.A viêm tử cung – Metritis, viêm vú – Mastitis, mất sữa – Agalactia là một trong những nguyên nhân chính làm hạn chế khả năng sinh sản của heo nái.. Hội chứng M.M.A ảnh hưởn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP - PHÂN HIỆU ĐỒNG NAI
TRẦN TRỌNG NGHĨA
Tên đề tài:
KHẢO SÁT HỘI CHỨNG BỆNH M.M.A TRÊN HEO NÁI ĐẺ
TẠI MỘT TRANG TRẠI HEO THUỘC TỈNH LÂM ĐỒNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Chăn nuôi Lớp: K62 Chăn nuôi Khoa: Nông học Khóa học: 2017 -2021
Đồng Nai - Năm 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP - PHÂN HIỆU ĐỒNG NAI
TRẦN TRỌNG NGHĨA
Tên đề tài:
KHẢO SÁT HỘI CHỨNG BỆNH M.M.A TRÊN HEO NÁI ĐẺ
TẠI MỘT TRANG TRẠI HEO THUỘC TỈNH LÂM ĐỒNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Chăn nuôi Lớp: K62 Chăn nuôi Khoa: Nông học Khóa học: 2017 -2021 Người hướng dẫn: ThS Bùi Thị Diệu Mai
Đồng Nai - Năm 2021
Trang 3LỜI CẢM ƠN Xin trân trọng cảm ơn
Ban Giám hiệu, cùng toàn thể quý thầy cô trong khoa Nông học và toàn thể
cán bộ công nhân viên trường Đại Học Lâm Nghiệp phân hiệu Đồng Nai đã tận
tình giảng dạy, truyền kinh nghiệm, kiến thức quý báu và tạo điều kiện tốt cho
chúng tôi trong suốt quá trình học tập vừa qua
Thành kính ghi ơn
Cô Bùi Thị Diệu Mai đã tận tình giúp đỡ, truyền đạt kiến thức, hướng dẫn
cho em trong suốt quá trình học cũng như trong quá trình thực hiện đề tài, hoàn
thành khóa luận tót nghiệp
Chân thành cảm ơn
Ban quản lí trại heo Duy Ngọc Tân Phú, Madaguoi
Cùng toàn thể các anh chị kĩ thuật, công nhân đã tận tình giúp đỡ, chỉ dạy
kiến thức, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu và tạo điều kiện thuận lợi cho
chúng tôi thực tập trong quá trình nghiên cứu tại trại
Em xin chân thành cảm ơn!
Đồng Nai, ngày 05 tháng 06 năm 2021
Sinh viên
Trần Trọng Nghĩa
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1
2.1 Mục tiêu 1
2.2 Yêu cầu 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1 Cấu tạo cơ quan sinh sản và một số đặc điểm sinh lý của heo nái 3
1.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục heo nái 6
1.1.2.1 Sự thành thục về tính 7
1.1.2.2 Chu kỳ tính và thời điểm phối giống thích hợp 8
1.1.3.1 Sinh lý tiết sữa của heo nái 11
1.1.3.2 Yếu tố cơ bản cấu thành năng suất sinh sản của heo nái 12
1.2 Tổng quát về hội chứng M.M.A 14
1.2.1 Viêm tử cung 15
1.2.1.1 Nguyên nhân 15
1.2.1.2 Triệu chứng 15
1.2.1.3 Phòng và trị bệnh 16
1.2.2 Viêm vú 16
1.2.2.1 Nguyên nhân 17
1.2.2.2 Triệu chứng 17
1.2.2.3 Phòng và điều trị bệnh 17
1.2.3.1 Nguyên nhân 18
Trang 51.2.3.2 Triệu chứng 18
1.2.3.3 Phòng và điều trị bệnh 18
1.2.4 Một số vi khuẩn thường gây ra hội chứng M.M.A 18
1.3 Một số biện pháp phòng ngừa hội chứng M.M.A 21
1.4 Tổng quan tình hình trong nước và trên thế giới 23
1.4.1 Nghiên cứu trên thế giới 23
1.4.2 Nghiên cứu trong nước 23
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT 25
2.1 Đối tượng và phạm vi khảo sát 25
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 25
2.1.2.1 Phạm vi về không gian 25
2.1.2.2 Phạm vi về thời gian 25
2.2 Nội dung nghiên cứu 25
2.3 Phương pháp nghiên cứu 25
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 25
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 26
2.4 Một số chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu 26
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1 Khảo sát một số chỉ tiêu lâm sàng của heo nái mắc hội chứng M.M.A 27
3.2 Kết quả xác định nguyên nhân chính gây hội chứng bệnh M.M.A ở đàn heo
nái 28
3.3 Khảo sát tỷ lệ mắc hội chứng M.M.A trên đàn heo nái sau sinh 31
3.4 Ảnh hưởng của hội chứng M.M.A đến năng suất sinh sản của heo nái 34
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 37
1 Kết luận 37
2 Đề nghị 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
Trang 6DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Một số chỉ tiêu lâm sàng khác của heo nái bình thường và heo nái mắc hội
chứng M.M.A 27
Bảng 4.2 Một số nguyên nhân gây hội chứng M.M.A 29
Bảng 4.3 Tỷ lệ heo nái mắc triệu chứng riêng lẻ của đến hội chứng M.M.A 31
Bảng 4.4 Tỷ lệ heo nái mắc triệu chứng kết hợp của đến hội chứng M.M.A 33
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của hội chứng M.M.A đến năng suất sinh sản của heo nái 35
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1 Nguyên nhân gây hội chứng M.M.A 30 Hình 4.2 Biểu đồ so sánh tỷ lệ heo nái mắc triệu chứng riêng lẻ của hội chứng M.M.A 32 Hình 4.2 Biểu đồ so sánh tỷ lệ heo nái mắc triệu chứng kết hợp của hội chứng M.M.A 33 Hình 4.3 Triệu chứng viêm tử cung trên heo nái ở trại 35 Hình 4.4 Triệu chứng viêm vú và mất sữa trên heo nái khảo sát ở trại 36
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Nuôi heo ở Việt Nam hiện nay là một lĩnh vực rất được quan tâm vì phục vụ chủ yếu nhu cầu thực phẩm trong nước cũng như xuất khẩu sang nước ngoài Trong lĩnh vực này, việc nâng cao năng suất sinh sản của đàn heo nái luôn là mối quan tâm, mục tiêu hàng đầu nhằm năng cao năng suất chăn nuôi Trong những năm gần đây, năng suất sinh sản của heo ở nước ta đã có nhiều cải thiện nhờ chất lượng con giống được nâng cao và chọn lọc tốt, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng heo nái dần được hoàn thiện và ứng dụng rộng rãi Điều này đã góp phần nâng cao dần số lứa đẻ của nái/năm và từ đó nâng cao bình quân số heo con cai sữa/nái/năm Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực đặc biệt đối với các nước chăn nuôi tiên tiến thì năng suất sinh sản của heo nái nước ta còn thấp
Hội chứng M.M.A (viêm tử cung – Metritis, viêm vú – Mastitis, mất sữa – Agalactia) là một trong những nguyên nhân chính làm hạn chế khả năng sinh sản của heo nái Hội chứng M.M.A ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của heo nái, làm giảm số lứa để trong năm hoặc có thể làm mất khả năng sinh sản của heo nái Không những thế hội chứng M.M.A còn là nguyên nhân làm cho tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy ở các đàn heo con trong giai đoạn bú sữa mẹ tăng cao do số lượng và chất lượng của sữa mẹ bị ảnh hưởng
Đã có các nghiên cứu và đưa ra các biện pháp khắc phục riêng lẻ từng triệu chứng bệnh: viêm tử cung, viêm vú, mất sữa Vì vậy việc nghiên cứu hội chứng M.M.A ở heo nái và tìm ra được biện pháp phòng trị là việc cần thiết Với mục đích góp phần vào quy trình kĩ thuật chăn nuôi heo nái, giúp phòng ngừa hội chứng M.M.A và nâng cao năng suất sinh sản của heo nái, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài “KHẢO SÁT HỘI CHỨNG BỆNH M.M.A TRÊN HEO NÁI ĐẺ TẠI MỘT TRẠI HEO THUỘC TỈNH LÂM ĐỒNG”
2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
2.1 Mục tiêu
Đánh giá được thực trạng hội chứng viêm vú, viêm tử cung và mất sữa
Trang 10(M.M.A) ở đàn heo nái đẻ
Đánh giá được ảnh hưởng của hội chứng M.M.A đến năng suất sinh sản của heo nái đẻ
2.2 Yêu cầu
Ghi nhận sự thay đổi một số chỉ tiêu lâm sàng của heo nái mắc hội chứng M.M.A
Ghi nhận nguyên nhân chính gây hội chứng bệnh M.M.A ở đàn heo nái
Ghi nhận và đánh giá tỷ lệ mắc hội chứng M.M.A ở đàn heo nái
Ghi nhận và đánh giá ảnh hưởng của hội chứng M.M.A đến năng suất sinh sản của heo nái
Trang 11Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Cấu tạo cơ quan sinh sản và một số đặc điểm sinh lý của heo nái
Bộ phân sinh dục của heo nái được chia làm 2 bộ phân bao gồm: bộ phận sinh dục bên trong (buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung và âm đạo) và bộ phận sinh dục bên ngoài (âm môn, âm vật và tiền đình)
Bộ phận sinh dục bên ngoài gồm: âm môn, âm vật và tiền đình
Âm hộ (Vulva), nằm dưới hậu môn Bên ngoài có hai môi (Labia vulvae) Nối liền hai môi bằng hai mép (Bima vulvae) Bờ trên hai môi của âm môn có sắc
tố đen, nhiều tuyến tiết chất nhờn và tuyến tiết mồ hôi
Âm vật (Clitoris), giống như dương vật được thu nhỏ lại Bên trong có các
thể hổng Trên âm vật có nếp da tạo ra mu âm vật (Praepatium clitoridis)
Tiền đình (Vestibulum vaginae sinus progenitalis), là giới hạn giữa âm môn
và âm đạo Trong tiền đình có màng trinh, phía trước màng trinh là âm môn, phía sau màng trinh là âm đạo Màng trinh có các sợi đàn hồi ở giữa và do hai lá niêm mạc gấp thành một nếp Sau màng trinh có lỗ niệu đạo
Bộ phận sinh dục bên trong gồm: âm đạo, tử cung, buồng trứng và ống dẫn trứng
Âm đạo (Vagina), trước là cổ tử cung, phía sau là tiền đình có màng trinh (Hymen) che lỗ âm đạo Âm đạo là một ống tròn để chứa cơ quan sinh dục khi giao phối, đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ
Cấu tạo âm đạo chia ba lớp:
Tử cung (Uterus): có cấu tạo phù hợp với chức năng phát triển và dinh dưỡng
bào thai Trứng được thụ tinh ở ống dẫn trứng rồi trở về tử cung làm tổ, ở đây hợp
tử phát triển là nhờ chất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ thông qua lớp niêm mạc tử cung
Trang 12cung cấp Tử cung còn có nhiệm vụ đẩy thai ra ngoài trong quá trình sinh đẻ nhờ vào các lớp cơ
Tử cung được cấu tạo bởi 3 lớp:
Ngoài cùng là tổ chức liên kết (Perimetrium)
Lớp cơ trơn (Myometrium): giữ vai trò quan trọng trong việc đẩy thai ra
ngoài Nó là lớp cơ trơn khỏe nhất trong cơ thể Bên trong các cơ trơn có những sợi liên kết đàn hồi và tĩnh mạch lớn Các lớp cơ đó đan vào nhau làm cho tử cung chắc, tính đàn hồi cao
Lớp niêm mạc tử cung (Endometrium): màu hồng, được phủ lên bằng những
tế bào biểu mô kéo dài thành lông nhung Xen kẽ giữa các tế bào biểu mô là các tuyến tiết chất nhầy Chất nhầy được gạt về cổ tử cung khi các lông rung động
Tử cung của heo thuộc loại tử cung phân nhánh (Uterus Bicorus) Tử cung được chia làm ba phần: cổ, thân và sừng tử cung Sừng tử cung thông với ống dẫn trứng Cổ tử cung thông với âm đạo Tử cung nằm trong xoang chậu, phía trên là trực tràng, phía dưới là bàng quang
Tử cung rất dài, trong đó thân tử cung nắng, hai sừng tử cung dài Cổ tử cung heo dài, tròn, không có gấp nếp dễ cho thụ tinh nhân tạo hơn trâu bò
Buồng trứng (Ovarium), gồm một đôi treo ở cạnh trước dây chằng rộng, nằm
trong xoang chậu Hình dáng của buồng trứng rất đa dạng nhưng phần lớn có hình bầu dục hoặc hình ovan, không có lõm rụng trứng
Buồng trứng có hai chức năng cơ bản là tạo giao tử cái và tiết các hormone: Estrogen, Progesterone, Oxytocine, Relaxin và Inhibin Các hormone này tham gia vào việc điều khiển chu kỳ sinh sản của heo cái Estrogen cần thiết cho sự phát triển của tử cung và hệ thống ống dẫn của tuyến vú Progesterone do thể vàng tiết ra giúp duy trì sự mang thai do nó kích thích sự phân tiết của tử cung để nuôi dưỡng thai,
ức chế sự co thắt của tử cung và phát triển nang tạo sữa của tuyến vú Oxytoxin được tiết ra chủ yếu bởi phần sau của tuyến yên nhưng cũng được tiết bởi thể vàng
ở buồng trứng khi heo cái gần sinh, nó làm co thắt cơ tử cung trong lúc sinh đẻ và cũng làm co thắt cơ trơn tuyến vú để thải sữa Ở heo, Relaxin do thể vàng tiết ra để
Trang 13giãn nở xương chậu, làm giãn và mền cổ tử cung, do đó mở rộng đường sinh dục khi gần sinh Inhibin có tác dụng ức chế sự phân tiết kích tố noãn (FSH) từ tuyến yên, do đó ức chế sự phát triển nang noãn theo chu kỳ
Có bốn loại noãn nang trong buồng trứng: Noãn nang nguyên thủy, noãn nang bậc 1, noãn nang bậc 2, noãn nang bậc 3 Noãn nang nguyên thủy nhỏ nhất và được bao bọc bởi một lớp tế bào biểu mô hình lập phương (tế bào nang) Khi cơ thể mới được sinh ra, buồng trứng đã có sẵn hai loại noãn nang này Noãn nang bậc một
có thể bị thoái hóa hoặc phát triển thành noãn nang bậc 2 Noãn nang bậc 2 hoặc nhiều lớp tế bào mang nhưng không có xoang nang (là khoảng trống chứa dịch nang) Noãn nang có xoang được xem như noãn nang bậc 3, chứa dịch nang và co thể trở nên trội hẳn để chuẩn bị xuất noãn Noãn nang có xoang bao gồm ba lớp: lớp bao ngoài, lớp bao trong và lớp tế bào hạt Lớp bao ngoài là mô liên kết lỏng lẻo Lớp bao trong sản xuất Androgen dưới tác của LH Lớp tế bào hạt tách rời lớp bao trong màng đáy mỏng Tế bào hạt sản xuất nhiều chất sinh học và trên bề mặt tế bào
có thụ thể tiếp nhận kich thích tố LH Những chất quan trọng được sản xuất bởi tế bào hạt là Estrogen, Inhibin và dịch nang
Ống dẫn trứng: còn gọi là vòi Fallop, nằm ở màng treo buồng trứng Khi có tinh trùng vào đường sinh dục của gia súc cái, tế bào trứng có thể bị đứng lại ở các đoạn khác nhau của ống dẫn trứng
Ống dẫn trứng được chia thành hai đoạn:
Đoạn ống dẫn trứng phía buồng trứng: phần đầu trên thông với xoang bụng ở gần buồng trứng, được phát triển to tạo thành một cái phễu để hứng tế bào trứng Loa kèn có nhiều tua, nhung mao rung động để hứng tế bào trứng Quá trình thụ tinh thường xảy ra khi trứng và tinh trùng gặp nhau ở 1/3 phía trên ống dẫn trứng
Đoạn ống dẫn trứng phía sừng tử cung: gắn với mút sừng tử cung Đoạn này phía ngoài là lớp liên kết sợi, được kéo dài từ màng treo buồng trứng Ở giữa là hai lớp cơ, cơ vòng phía trong, cơ dọc phía ngoài Trong cùng là lớp niêm mạc làm nhiệm vụ tiết niêm dịch Phía trên lớp niêm mạc có lớp nhung mao luôn rung động
để đẩy tế bào trứng hay hợp tử xuống tử cung làm tổ
Trang 14Cấu tạo ống dẫn trứng (vòi Fallop) gồm có phễu, phần rộng và phần eo Phễu
mở ra để tiếp nhận noãn và có những sợi lông nhung để tăng diện tích tiếp xúc với buồng trứng khi xuất noãn Phễu tiếp nối với phần rộng Phần rộng chiếm khoảng 1/2 chiều dài của ống dẫn trứng, đường kính tương đối lớn và mặt trong có nhiều nếp gấp với tế bào biểu mô có lông nhỏ Phần eo nối tiếp sừng tử cung, nó có thành dày hơn phần rộng và ít nếp gấp hơn
Vai trò cơ bản của ống dẫn trứng là vận chuyển trứng và tinh trùng đến nơi thụ tinh trong ống dẫn trứng (1/3 phía trên ống dẫn trứng), tiết các chất để nuôi dưỡng trứng, duy trì sự sống và gia tăng khả năng sống của tinh trùng, tiết các chất nuôi dưỡng phôi trong vài ngày trước khi phôi đi vào tử cung
Hình 1.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục của heo nái
1.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục heo nái
Đặc điểm sinh lý sinh dục của gia súc nói chung và loài heo nói riêng đặc trưng cho loài, có tính ổn định với từng giống vật nuôi Nó được duy trì qua các thế
hệ và luôn cũng cố, hoàn thiện qua quá trình chọn lọc Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng
Trang 15của một số yếu tố như: ngoại cảnh, điều kiện nuôi dưỡng chăm sócđể đánh giá đặc điểm sinh lý sinh dục của heo nái người ta thường tập trung nghiên cứu, theo dõi
1.1.2.1 Sự thành thục về tính
Theo nghiên cứu của Xuxoep và cs (1985) cho chúng ta biết sự thành thục
về tính được đánh dấu khi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Lúc này tất cả các bộ phận sinh dục như: buồng trứng, tử cung, âm đạo,… đã phát triển hoàn thiện và có thể bắt đầu bước vào hoạt động sinh sản Đồng thời với
sự phát triển hoàn thiện bên trong thì ở bên ngoài các bộ phận sinh dục phụ cũng xuất hiện và gia súc có phản xạ về tính hay xuất hiện hiện tượng động dục Tuy nhiên, thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tính biệt và các điều kiện ngoại cảnh cũng như chăm sóc nuôi dưỡng
8 tháng tuổi, heo lai F1 (ngoại × nội) thường động dục lần đầu ở 6 tháng tuổi
Điều kiện nuôi dưỡng, quản lý
Dinh dưỡng có đóng vai trò rất lớn đến tuổi thành thục về tính của heo nái Cùng một giống nhưng nếu được nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý tốt, gia súc phát triển tốt thì sẽ thành thục về tính sớm hơn và ngược lại
Điều kiện ngoại cảnh
Khí hậu và nhiệt độ cũng đóng vai trò rất lớn tới tuổi thành thục về tính của gia súc Những giống heo nuôi ở vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường thành thục về tính sớm hơn những giống heo nuôi ở vùng có khí hậu ôn đới và hàn đới
Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng tới sự thành thục của heo cái hậu
bị Nếu ta để một con đực đã thành thục về tính gần ô chuồng của những con cái hậu bị thì sẽ thúc đẩy nhanh sự thành thục về tính của chúng Theo Hughes (2000),
Trang 16nếu cho heo cái hậu bị tiếp xúc với đực 2 lần/ ngày, với thời gian 15- 20 phút thì 83% heo cái (ngoài 90kg) động dục lúc 165 ngày tuổi Heo cái hậu bị nếu nuôi nhốt liên tục sẽ có tuổi động dục lần đầu dài hơn heo nuôi chăn thả Vì heo nuôi có thời gian chăn thả sẽ tăng cường trao đổi chất, tổng hợp được sinh tố và có dịp tiếp xúc với heo đực, nên có tuổi động dục lần đầu sớm hơn
Tuy nhiên, một vấn đề cần lưu ý là tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc Vì vậy, để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường của heo mẹ và đảm bảo những phẩm chất giống của thế hệ sau nên cho gia súc phối giống khi đã đạt một khối lượng nhất định tuỳ theo giống Ngược lại, cũng không nên cho gia súc phối giống quá muộn vì ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của một đời nái đồng thời ảnh hưởng tới thế hệ sau của chúng
1.1.2.2 Chu kỳ tính và thời điểm phối giống thích hợp
Sau khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của heo được diễn ra liên tục và có tính chu kỳ Các noãn bào trên buồng trứng phát triển, lớn dần, chín
và nổi cộm trên bề mặt buồng trứng gọi là nang Graaf Khi nang Graaf vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng Mỗi lần trứng rụng con cái có những biểu hiện ra bên ngoài gọi là động dục Do trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục cũng theo chu kỳ Khuất Văn Dũng (2005)
Chu kỳ tính ở những loài khác nhau là khác nhau và ở giai đoạn đầu mới thành thục về tính thì chu kỳ chưa ổn định mà phải 2 – 3 chu kỳ tiếp theo mới ổn định Một chu kỳ tính của heo cái dao động trong khoảng từ 18 – 22 ngày, trung bình là 21 ngày và được chia thành 4 giai đoạn: giai đoạn trước động dục, giai đoạn động dục, giai đoạn sau động dục, giai đoạn nghỉ ngơi
Giai đoạn trước động dục
Đây là giai đoạn đầu tiên của chu kỳ tính, kéo dài 1 – 2 ngày, là thời gian chuẩn bị đầy đủ cho đường sinh dục của heo cái đón nhận tinh trùng, cũng như đảm bảo các điều kiện cho trứng và tinh trùng gặp nhau để thụ thai Trong giai đoạn này
có sự thay đổi cả về trạng thái cơ thể cũng như trạng thái thần kinh Ở giai đoạn này các noãn bao phát triển mạnh, thành thục và nổi rõ trên bề mặt buồng trứng, kích
Trang 17thước noãn bao thay đổi rất nhanh, đầu giai đoạn này noãn bao có đường kính là 4mm, cuối giai đoạn noãn bao có đường kính 10 – 12mm Các tế bào vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng lông nhung tăng, đường sinh dục bắt đầu sung huyết nhanh, hệ thống tuyến, âm đạo tăng tiết dịch nhày, niêm dịch ở cổ tử cung tiết ra làm cổ tử cung hé mở Các noãn bao chín, tế bào trứng tách khỏi noãn bao Tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung mở ra, niêm dịch chảy nhiều Con vật bắt đầu xuất hiện tính dục, âm hộ sưng lên, hơi mở và có màu hồng tươi, cuối giai đoạn
có dịch nhờn chảy ra Do hàm lượng Progesteron giảm xuống đột ngột nên con vật giảm ăn, hay kêu rống, thích nhảy lên lưng con khác nhưng không cho con khác nhảy lên lưng mình
Giai đoạn động dục
Đây là giai đoạn tiếp theo và thường kéo dài từ 2 – 3 ngày, tính từ khi tế bào trứng tách khỏi noãn bao Giai đoạn này các biến đổi của cơ quan sinh dục rõ nét nhất, niêm mạc âm hộ sung huyết, phù thũng rõ rệt và chuyển sang màu mận chín, niêm dịch từ âm đạo chảy ra nhiều, keo đặc hơn, nhiệt độ âm đạo tăng từ 0,3 – 0,7 độ C,
pH hạ hơn trước Con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ, đứng ngồi không yên, phá chuồng, ăn uống giảm, hoặc bỏ ăn, kêu rống trong trạng thái ngẩn ngơ, thích nhảy lên lưng con khác hoặc để con khác nhảy lên lưng mình Ở giai đoạn này, heo thích gần đực, khi gần đực thì luôn đứng ở tư thế sẵn sàng chịu đực, đuôi cong lên
và lệch sang một bên, hai chân sau dạng ra và hơi khụyu xuống sẵn sàng chịu đực (TS.Phùng Thị Vân - 2004)
Nếu ở giai đoạn này, tế bào trứng gặp tinh trùng và xảy ra quá trình thụ tinh tạo thành hợp tử thì chu kỳ sinh dục ngừng lại, gia súc cái ở vào giai đoạn có thai, đến khi đẻ xong một thời gian nhất định tuỳ loài gia súc thì chu kỳ sinh dục mới lại bắt đầu Nếu không xảy ra quá trình trên thì heo cái sẽ chuyển sang giai đoạn tiếp theo của chu kỳ tính
Giai đoạn sau động dục
Giai đoạn này kéo dài khoảng hai ngày, toàn bộ cơ thể nói chung và cơ quan sinh dục nói riêng dần trở lại trạng thái sinh lý bình thường Trên buồng trứng, thể
Trang 18hồng chuyển thành thể vàng, đường kính lên tới 7 - 8 mm và bắt đầu tiết Progesterone Progesterone tác động lên vùng dưới đồi theo cơ chế điều hoà ngược làm giảm tiết Oestrogen, từ đó làm giảm tính hưng phấn thần kinh, con vật dần chuyển sang trạng thái yên tĩnh, chịu khó ăn uống hơn, niêm mạc toàn bộ đường sinh dục tăng sinh, các tuyến ở cơ quan sinh dục ngừng tiết dịch, cổ tử cung đóng lại
Giai đoạn nghỉ ngơi
Giai đoạn này kéo dài từ 10 – 12 ngày, bắt đầu từ ngày thứ tư sau khi rụng trứng mà không được thụ tinh và kết thúc khi thể vàng tiêu huỷ Đây là giai đoạn con vật hoàn toàn yên tĩnh, cơ quan sinh dục hoạt động trở lại trạng thái sinh lý bình thường, trong buồng trứng thể vàng bắt đầu teo đi, noãn bao bắt đầu phát dục nhưng chưa nổi rõ trên bề mặt buồng trứng Toàn bộ cơ quan sinh dục dần xuất hiện những biến đổi chuẩn bị cho chu kỳ sinh dục tiếp theo
Trong chăn nuôi heo nái sinh sản, nắm được chu kỳ tính và các giai đoạn của quá trình động dục sẽ giúp cho người chăn nuôi có chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc cho phù hợp và phối giống kịp thời, đúng thời điểm, từ đó góp phần nâng cao năng suất sinh sản của heo nái
Chu kỳ động dục của heo cái được quyết định bởi 2 yếu tố thần kinh và thể dịch Khi các nhân tố ngoại cảnh như: ánh sáng, nhiệt độ, mùi con đực… tác động
và kích thích vùng dưới đồi (Hypothalamus) giải phóng ra các yếu tố tác động lên tuyến yên, kích thích thuỳ trước tuyến yên tiết FSH (Folliculo Stimulin Hormone)
và LH (Lutei Stimulin Hormone) FSH kích thích noãn bao phát triển đồng thời cùng với LH làm cho noãn bao thành thục, chín và rụng trứng Khi noãn bao phát triển và thành thục, tế bào hạt trong thượng bì bao noãn tiết ra Oestrogen chứa đầy trong xoang bao noãn Khi hàm lượng hormone này trong máu đạt 64 – 112% sẽ kích thích con vật có những biểu hiện động dục Đồng thời dưới tác động của Oestrogen cơ quan sinh dục biến đổi: tử cung hé mở, âm hộ, âm đạo sung huyết, tiết niêm dịch, sừng tử cung và ống dẫn trứng tăng sinh tạo điều kiện cho sự làm tổ của hợp tử sau này Cuối chu kỳ động dục thì Oestrogen lại kích thích tuyến yên tiết ra
Trang 19LH và giảm tiết FSH Khi lượng LH/FSH đạt tỷ lệ 3/1 thì sẽ kích thích cho trứng chín và rụng trứng Sau khi trứng rụng thể vàng được hình thành ở nơi bao noãn vỡ
ra Thể vàng tiết Progesterone giúp cho quá trình chuẩn bị tiếp nhận hợp tử ở sừng
tử cung đồng thời ức chế tiết GSH (Gonado Stimulin Hormone) của tuyến yên làm cho bao noãn trong buồng trứng của heo cái không phát triển được và kết thúc một chu kỳ động dục
Thời điểm phối giống thích hợp
Thời gian tinh trùng heo đực giống có thể sống được trong tử cung heo nái khoảng 45 – 48 giờ, trong khi thời gian trứng của heo nái tồn tại và thụ thai có hiệu quả là rất ngắn, cho nên phải tiến hành phối giống đúng lúc Thời điểm phối giống thích hợp nhất là vào giữa giai đoạn chịu đực
Đối với heo nái ngoại, heo lai, thời điểm phối giống tốt nhất là sau khi có hiện tượng chịu đực 6 – 8 giờ, hoặc cho phối vào cuối ngày thứ 3 và sang ngày thứ
4 kể từ lúc bắt đầu động dục Đối với heo nái nội thời điểm phối giống sớm hơn heo nái ngoại và lai 1 ngày, tức là vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 vì thời gian động dục ngắn hơn
1.1.3.1 Sinh lý tiết sữa của heo nái
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) quá trình tiết sữa của heo nái được chia làm hai giai đoạn:
Quá trình tổng hợp sữa:
Được điều tiết thông qua cơ chế thần kinh và thể dịch Dưới tác động của FSH và LH các tế bào thượng bì tuyến vú, tế bào mạch quản tổ chức phát triển mạnh Prolactin – Hormone thùy trước tuyến yên kích thích tế bào nang tuyến tổng hợp sữa từ nguyên liệu lấy trong máu Các nguyên liệu lấy trong máu nhờ vai trò của các hormone: STH, TSH, Glucagons, ACTH, STH kích thích quá trình trao đổi Lactoza, Cazein, MgSO4, kháng thể Cazein trong sữa được tổng hợp từ Glucoza, Fructoza ở trong huyết tương Mỡ sữa được tổng hợp từ Glycerin và axit béo
Quá trình thải sữa:
Cũng thông qua
Trang 20Cơ chế thần kinh và thể dịch Khi heo con bú tạo cảm giác truyền về trung ương đến vùng dưới đồi kích thích tuyến yên tiết Oxytocine Oxytocine kích thích
hệ cơ trơn đầu vú co bóp đẩy sữa ra ngoài Sự tiết sữa của heo nái không đều:
Lượng sữa được tiết ra trong một ngày đầu gọi là sữa đầu có thành phần khác với sữa thường Trong sữa đầu có 13,7 % Prealbumin; 11,8 Albumin; 12,7 % α- glubulin; 11,29 % β - glubulin và 45,29 % γ - glubulin Đây chính là các kháng thể
có chức năng miễn dịch cho heo con nếu heo con được bú ngay lượng sữa đầu Sự tiết sữa không Đều theo các lứa đẻ: sản lượng sữa tăng dần từ lứa 1 đến lứa 5 sau đó
giảm dần
1.1.3.2 Yếu tố cơ bản cấu thành năng suất sinh sản của heo nái
Tổng trọng lượng toàn ổ heo cai sữa sản xuất được của nái trên năm là yếu tố quan trọng đem lại hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi Cho dù người chăn nuôi có bán heo lúc cai sữa hay giữ lại nuôi thịt đều mang lại hiệu quả kinh tế cao Vậy muốn tổng trọng lượng toàn ổ heo con cai sữa sản xuất của nái trên năm cao thì số con cái sữa của nái trên năm và trọng lượng bình quân mỗi con heo cai sữa phải cao Để có được điều nên trên thì các nhà chăn nuôi không ngừng chọn giống tốt, áp dụng các thành tựu khoa học chăn nuôi mới, quy trình chăm sóc nuôi dưỡng tốt trong mọi lứa
và đẻ nhiều lứa trên một năm với số con chọn nuôi cao
Tuổi thành thục
Đây là một trong các chỉ tiêu được các nhà chăn nuôi quan tâm hàng đầu vì heo có tuổi đẻ lứa đầu tiên sớm thì điều đó nói lên heo thành tục và phối giống đậu thai sớm Điều này giúp các nhà chăn nuôi tiết kiệm được thời gian, thức ăn, công chăm sóc mà vẫn không ảnh hưởng đến năng suất của nái
Heo hậu bị thành thục trung bình vào khoảng 6 – 9 tháng tuổi Tuy nhiên, heo hậu bị cái lai có biểu hiện lên giống sớm hơn heo hậu bị cái thuần từ 1 – 4 tuần tuổi, rụng trứng nhiều hơn Do đó, số heo con đẻ ra trên ổ nhiều hơn
Tuổi đẻ lứa đầu
Chỉ tiêu này được các nhà chăn nuôi quan tâm nhiều Nếu nái đẻ lứa đầu sớm thì giúp cho nhà chăn nuôi giảm tốn kém nhiều chi phí nhưng năng suất sinh sản
Trang 21vẫn bình thường ở các lứa Nếu con nái đẻ lứa đẻ lứa đầu sớm, chứng tỏ con nái thành thục và phối giống đậu thai sớm Cho nên phải quan sát kỹ để phát hiện động dục và phối giống đúng thời điểm nhằm nâng cao năng suất con nái và đồng thời tăn khả năng đậu thai Nếu không phát hiện đúng lúc sẽ bỏ qua một chu kỳ gây lãng phí rất nhiều công chăm sóc và nuôi dưỡng
Số heo con đẻ ra trên ổ
Đây là chỉ tiêu rất quan trọng về kinh tế Nó phản ánh khả năng đẻ nhiều hay
ít con của giống, nói lên kỹ thuật của dẫn tinh viên trong việc thụ tinh và kỹ thuật chăm sóc heo nái chữa Để có nhiều heo con đẻ ra trên ổ, heo nái phải có số lượng trứng rụng nhiều, tỷ lệ thụ tinh cao, tỷ lệ chết phôi trong thời gian mang thai thấp Nhưng số trứng được thụ tinh do nhiều yếu tố nên không thể phát triển hết để trờ thành heo con Tuy nhiên, chất lượng tinh được phối cũng phải đạt chất lượng
Số heo con còn sống - tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa
Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ này như: thời gian đẻ lâu làm heo chết ngộp, tuổi của heo nái, số con sơ sinh chết trước hoặc sau khi sinh tăng cao từu lứa
đẻ thứ 7 trở đi Heo con có trọng lượng càng cao thì hy vọng sống càng cao
Số heo con cai sữa của nái trên năm
Đây là một trong những chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng nhất để đánh giá khả năng sinh sản của heo nái Chỉ tiêu này phụ thuộc vào thời gian cai sữa của heo con và số lượng heo con trong mỗi lứa đẻ Nó bao gồm hai vấn đề chính là số lứa đẻ của nái trên năm và số heo con cai sữa trên một ổ
Số lứa đẻ của nái trên năm
Để gia tăng số lứa đẻ của nái trên năm phải rút ngắn thời gian giữa hai lứa
đẻ, chúng ta chỉ cần rút ngắn thời gian cai sữa, thời gian từ khi cai sữa đến khi phối giống lại và đậu thai Thời gian mang thai thì không thể rút ngắn vì đó là đặc tính sinh học của mỗi loài
Trình độ quản lý và kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng có quyết định thời gian cai sữa dài ngắn Nếu chúng ta tiến hành cai sữa sớm cho heo con sẽ góp phần tăng lứa đẻ của nái trên năm Để rút ngắn thời gian cai sữa người ta cho heo con tập ăn
Trang 22sớm và cai sớm cho heo con ở độ tuổi 3 – 4 tuần tuổi là tốt nhất Nếu cai sữa heo con trước 3 tuần tuổi sẽ có nhiều ảnh hưởng đến nái như: có thể giảm số trứng rụng
ở lần phối giống lại và gia thăng tỷ lệ chết phôi ở lần mang thai kế tiếp
Số heo con cai sữa trên ổ
Số heo con cai sữa trên ổ liên quan đến các yếu tố như: kỹ thuật chăm sóc, khả năng tiết sữa và kỹ năng nuôi con của heo mẹ, hạn chế các yếu tố ảnh hưởng xấu cho heo Ngoài ra, số heo con cai sữa trên ổ còn chịu sự chi phối của nhiều yếu
tố khác như: số heo con đẻ ra, số heo con sơ sinh còn sống và tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa
Tổng trọng lượng toàn ở heo cai sữa sản xuất được của nái trên năm
Đây là chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá hiệu quả kinh tế Chỉ tiêu này muốn đạt cao thì phải kết hợp tất cả các biện pháp nhằm nâng cao các chỉ tiêu ở trên, đồng thời phải có chế độ chăm sóc nuôi dưỡng tốt trong giai đoạn nái nuôi con
1.2 Tổng quát về hội chứng M.M.A
Có hai quan điểm về sử dụng thuật ngữ hội chứng M.M.A Theo Đặng Đắc Thiệu (1978); Lê Minh Chí (1985); Berstchinger và Pohlenz (1980); Ross (1981); Smith (1985); Mercy (1990); Radostits và cộng sự(1997), những biểu hiện lâm sàng sau khi sinh ở heo nái từ 12 – 72 giờ bao gồm hiện tượng sốt (Persson và cộng sự, 1989), tử cung tiết nhiều dịch viêm (viêm tử cung); vú sưng cứng, nóng và đỏ lên (viêm vú); sữa giảm hay mất sữa (kém hay mất sữa) được gọi là hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa (Gardner và cộng sự, 1990) Trên từng cá thể, có thể bệnh xuất hiện với từng chứng riêng biệt hoặc kết hợp 2 – 3 triệu chứng cùng lúc, trong
đó chứng viêm tử cung thường xuất hiện với tần số cao (Lê Minh Chí, 1985) Tuy nhiên theo Taylor (1995), hội chứng M.M.A phải là sự kết hợp cả 3 chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa trên cùng một cá thể heo nái (trích dẫn bởi Nguyễn Như Pho, 2002)
Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ hội chứng M.M.A theo quan điểm của các tác giả Đặng Đắc Thiệu(1978); Lê Minh Chí(1985); Berstchinger và Pohlenz (1980) để diễn tả những cá thể bị viêm tử cung kèm theo
Trang 23mất sữa hoặc viêm tử cung kèm viêm vú được xem là mắc hội chứng M.M.A trên heo nái sau khi sinh (trường hợp heo nái bị viêm vú kèm theo mất sữa chúng tôi không nghiên cứu vì heo nái mắc triệu chứng này do nhiều nguyên nhân) Trường hợp cả ba triệu chứng xuất hiện trên cùng một cá thể được gọi là thể điển hình của hội chứng M.M.A
1.2.1 Viêm tử cung
Trong hội chứng M.M.A, viêm tử cung là hội chứng thường gặp nhất và xảy
ra ở nhiều cấp độ, thông qua tính chất của dịch viêm tiết ra từ tử cung, thường gặp các dạng viêm nhờ, viêm có mủ và viêm lẫn mủ
Viêm dạng nhờn: thường xuất hiện rất sớm sau khi sinh, lớp niêm mạc tử cung bị tổn thương nhẹ, kích thích tiết dịch nhờn tử cung, dịch viêm thường loãng, heo cợn, mùi tanh, sau vài ngày dịch tiết giảm dần Đôi khi không cần điều trị cũng
1.2.1.1 Nguyên nhân
Do phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo không đảm bảo vệ sinh hoặc thô bạo làm tổn thương niêm mạc tử cung gây viêm
Do can thiệp heo nái đẻ khó gây tổn thương đường sinh dục
Do kế phát từ bệnh: sẩy thai truyền nhiễm, parvovirus, sót nhau thai
Vi khuẩn từ môi trường xâm nhập vào cơ quan sinh dục của nái trong quá trình sinh đẻ
1.2.1.2 Triệu chứng
Trang 24Heo mẹ sốt, mệt mỏi, đường sinh dục có dịch biêm màu trắng đục chảy ra, mùi hôi thối khó chịu, chu kỳ động dục rối loạn
Kém sữa, đôi khi không cho con bú
1.2.1.3 Phòng và trị bệnh
Phòng bệnh
Vệ sinh sát trùng chuồng đẻ và tắm rửa vệ sinh nái sạch sẽ trước khi đưa vào chuồng đẻ Bảo đảm vệ sinh nguồn nước uống và thức ăn
Cho nái uống đủ nước trong giai đoạn nái mang thai khoảng 20lít/ nái/ ngày
và trong giai đoạn tiết sữa nuôi con từ 35 – 50 lít nước/ nái/ ngày
Có thể tiêm kháng sinh Colamp ngay sau khi sinh 1-2 giờ nhằm phòng ngừa M.M.A
Hạn chế khẩu phần nái trước khi sinh, giảm chất đạm, tăng cường chất xơ
Bổ sung Magnesium sulfate (MgSO4) với liều 2kg/ tấn thức ăn để giúp nhuận tràng, chống táo bón Chú ý cho nái uống đầy đủ nước
Hạ sốt với Acetaminophen hoặc Analgine, Vitamin C, Vitamin B2
Tiêm Oxytocin để tống các dịch nhầy ra
1.2.2 Viêm vú
Viêm vú thường ít gặp hơn viêm tử cung Viêm vú xảy ra ở một vú hoặc vài
vú có khi cả bầu vú, vú bị viêm thường sưng cứng, màu đỏ bầm, khi ấn vào còn để lại vết, vú không tiết sữa hoặc tiết sữa có lẫn máu Viêm vú ít xảy ra nhưng khi xảy
ra thì mức tác hại rất lớn vì tác động trưc tiếp đến heo con sơ sinh Nếu không chữa trị kịp thời, vú viêm sẽ bị teo lại, mất sữa, cũng có khả năng bị xơ hóa và mất khả
Trang 25năng tiết sữa
Xoa bóp vú viêm và lau sạch với nước ấm
Bấm răng cho heo con, cho heo con bú sữa đầu và cố định đầu vú phân đều cho từng con heo
Có thể sử dụng kháng sinh Ampicilline trihydrate, Marbofloxacin
Tiêm Oxytocin với liều thấp, nhiều lần trong ngày để giúp vú tiết sữa
Vệ sinh sát trùng chuồng đẻ và tắm rửa vệ sinh heo nái sạnh sẽ trước khi đưa vào chuồng đẻ
Đảm bảo vệ sinh nguồn nước và thức ăn Cho heo nái uống đủ nước trong giai đoạn nái mang thai và giai đoạn tiết sữa
Trang 26Dùng MgSO4 cho heo uống, sau 2 – 3 ngày heo có thể cho sữa bình thường Dùng một số loại thuốc kháng sinh đặc trị: Penicilin tiêm xung quanh vú ngày 2 lần, Streptomycin, bơm Teramycin vào vú viêm qua lỗ tiết sữa Trước khi bơm nên vắt cạn sữa trong vú viêm
1.2.3 Mất sữa
Kém sữa hay mất sữa thường là hậu quả của hai triệu chứng viêm tử cung và viêm vú Những xáo trộn về sinh lý của hai triệu chứng trên làm cho nái không thể tạo ra sữa ở mức bình thường Bệnh thường xảy ra từ 1 -3 ngày sau khi sinh hoặc có thể thấy ở bất cứ thời điểm nào trong giai đoạn nuôi con
1.2.3.1 Nguyên nhân
Do các bệnh của tuyến vú như: viêm vú, tắc ống tiết sữa và thải sữa
Do khẩu phần ăn thiếu dinh dưỡng trong thời gian dài
Do kế phát từ những bệnh như: viêm mủ tử cung, sót nhau, sảy thai truyền nhiễm, dịch tả, tụ huyết trùng
Do rối loạn nội tiết tố tiết sữa
1.2.3.2 Triệu chứng
Heo mẹ giảm lượng sữa hoặc mất hoàn toàn Con vật nằm úp bụng xuống nền chuồng không cho con bú, heo con lông xù, da thô gầy yếu, nằm mỗi nơi một con đi lại chậm chạp và chết dần
1.2.4 Một số vi khuẩn thường gây ra hội chứng M.M.A
Bình thường cổ tử cung luôn đóng và ngăn chặn các quá trình nhiễm trùng từ bên ngoài vào cổ tử cung Khi gia súc đẻ hoặc bị viêm đường sinh dục thì cổ tử cung thường mở Như vậy, các vi khuẩn từ ngoài sẽ xâm nhập vào đường sinh dục
và trong tử cung heo lúc đó thường có mặt của các loại vi khuẩn: Staphylococcus,
Trang 27Streptococcus, E Coli, Salmonella,
Streptococcus
Streptococcus là những vi khuẩn hình cầu hoặc hình bầu dục, đường kính
khoảng 1μ, đôi khi có vỏ bọc, bắt màu Gram (+), không có khả năng di động Vi khuẩn hình thành chuỗi dài, chiều dài của mỗi chuỗi từ 2 – 12 đơn vị hoặc hơn tùy thuộc vào điều kiện môi trường (Biền Văn Minh, 2003) và, Nguyễn Thanh Hà,
Dung huyết dạng (α): độc lực không cao
Dung huyết dạng (β): độc lực cao
Dung huyết dạng (γ): Không có khả năng gây bệnh
Vi khuẩn Streptococcus có sức đề kháng thấp với nhiệt độ và hóa chất: Ở 700C vi khuẩn bị diệt trong 30 – 40 phút, ở 1000C vi khuẩn bị diệt trong 1 phút, các chất sát trùng thông thường cũng dễ dàng tiêu diệt vi khuẩn
Staphylococcus
Là loại cầu khuẩn Gram(+), đường kính từ 0,7 – 1,0μm, không sinh nha bào
và thường không có vỏ, không có lông, không di động Trong bệnh phẩm, tụ cầu thường xếp thành từng đôi, chụm lại từng đám nhỏ hình chùm nho Môi trường lỏng các vi khuẩn thành từng đám nhỏ hoặc từng chuỗi ngắn (Vũ Thị Minh Đức, 2001)
thích hợp từ 7,2 – 7,6 Trong môi trường nước thịt: Sau khi nuôi cấy 5 -6h vi khuẩn
đã làm đục môi trường, sau 24h môi trường đục rõ hơn, lắng cặn nhiều, không có màng
Trong môi trường thạch thường: Sau khi nuôi cấy 24h, vi khuẩn hình thành
Trang 28khuẩn lạc tương đối to dạng S (Smouth) mặt khuẩn lạc hơi ướt, bờ đều nhẵn, mặt lồi đường kính từ 2 – 4mm Tùy vào màu sắc khuẩn lạc mà người ta chia ra các loại sau:
Tụ cầu có khuẩn lạc màu vàng thẫm (Staphylococcus aureus) có khả năng
gây bệnh cho động vật Màu vàng thẫm là do sự biến màu của chất Caroten Màu vàng thẫm thấy rõ nhất trong môi trường có chứa tinh bột hoặc acid béo bay hơi (Nguyễn Như Thanh và cs (1997)
Tụ cầu trắng (Staphylococcus albus) và tụ cầu vàng chanh (Staphylococcus citreus) không có độc lực và không có khả năng gây bệnh
Trong môi trường thạch máu: Staphylococcus aureus gây dung huyết mạnh
do có men Haemolysin với vòng dung huyết kép gồm phần dung huyết hoàn toàn ở trong và vòng dung huyết một phần ở phía ngoài trên thạch máu
Trong môi trường thạch Sapman: Là môi trường dùng để phân lập, xác định độc lực của tụ cầu khuẩn Nếu tụ cầu khuẩn có khả năng lên men đường Mannit sinh ra acid làm pH thay đổi (pH = 6,8) môi trường chuyển từ màu hồng sang màu vàng Tụ cầu không gây bệnh thì không có khả năng lên men đường Mannit, môi trường giữ nguyên màu hồng
Trong môi trường Gelatin: Vi khuẩn có men gelatilaza có tác dụng làm tan chảy gelatin
Tụ cầu khuẩn có sức đề kháng kém với nhiệt độ và hóa chất, ở 700C tụ cầu chết trong vòng 1h, ở 800C chết trong 10 phút, ở 1000C chết trong vài phút, acid pheenic 3%-5% diệt vi khuẩn trong 3 – 5 phút, Formol 1% diệt vi khuẩn trong 1h (Biền Văn Minh, 2003)
Salmonella
Theo các tác giả Biền Văn Minh, 2003[17], Nguyễn Như Thanh và cộng sự
(1997), Salmonella là vi khuẩn hiếu khí hay yếm khí tùy tiện khuẩn có kích thước
0,4 – 0,6 x 1 - 3μm không có nha bào và giáp mô, bắt màu Gram(-) Đa số các loài
Salmonella đều có khả năng di động mạnh Khi nhuộm vi khuẩn bắt màu toàn thân
hoặc hơi đậm ở hai đầu Chúng sống ở nhiệt độ thích hợp 370C, pH = 7,2 – 7,6
Trang 29Trong môi trường nước thịt: Ở 370C sau 24h, vi khuẩn làm đục môi trường, nuôi lâu lắng cặn, bề mặt có màng mỏng, lắc có vẩn mây, mùi tanh
Trong môi trường thạch thường: Ở 370C sau 24h, mọc thành khuẩn lạc tròn, trong, màu sáng hoặc xám, nhẵn bóng, hơi lồi ở giữa, đường kính từ 1,0 – 1,5mm
Trong môi trường Brilliant green agar: khuẩn lạc dạng S màu đỏ Vi khuẩn
bị diệt ở 600C sau 1h, ở 700C sau 20 phút, dung dịch NaOH 4%, HgCl2 1%, Formol 2% vi khuẩn bị tiêu diệt sau 20 phút
Eschirichia coli (E.coli)
E.coli là trực khuẩn hình gậy kích thước 2 – 3 x 0,6μm Trong cơ thể có hình
cầu trực khuẩn đứng riêng lẻ, đôi khi xếp thành chuỗi ngắn Phần lớn các E.coli đều
có lông, có khả năng di động, vi khuẩn E.coli không sinh nha bào, có thể có giáp
mô, bắt màu Gram (-) (Biền Văn Minh, 2003), Nguyễn Như Thanh và cộng sự (1997)
Theo tác giả Faibrother J M (1992): E.coli là trực khuẩn yếm khí hay hiếu khí tùy tiện, nhiệt độ thích hợp 370C, pH= 7,2 – 7,4 - Trong môi trường nước thịt: làm đục môi trường, có cặn màu tro, đôi khi có màu xám nhạt, mùi phân thối
Trong môi trường thạch thường: nuôi cấy sau 24h, khuẩn lạc tròn, ướt, không trong suốt, màu tro, hơi lồi đường kính 2 – 3mm
Trong môi trường thạch Macconkey: Khuẩn lạc dạng S màu đỏ
Trong môi trường Brilliant green agar: Khuẩn lạc dạng S có màu vàng chanh
Vi khuẩn bị diệt ở 600C trong vòng 15 phút, dung dịch HgCl2 1%, Formol 2% vi khuẩn bị tiêu diệt sau 5 phút Ngoài môi trường các chủng độc có thể tồn tại tới 4 tháng
1.3 Một số biện pháp phòng ngừa hội chứng M.M.A
Việc sử dụng kháng sinh để phòng ngừa hội chứng M.M.A và tiêm PGF2α kết hợp với lugol 0,1% thụt rửa tử cung ngày 1 lần cho hiệu quả rất cao, rút ngắn thời gian điều trị cũng như thời gian động dục lại của heo nái PGF2α tạo ra những cơn co bóp nhẹ nhàng giống như những cơn co bóp sinh lý ở tử cung giúp đẩy các
Trang 30chất bẩn và dịch rỉ viêm ra ngoài, nhanh chóng hồi phục cơ tử cung, phá vỡ thể vàng giúp gia súc động dục trở lại Kết hợp với Iodine trong Lugol có tác
dụng sát trùng, đồng thời qua niêm mạc tử cung Iodine được hấp thu giúp cơ tử cung hồi phục rất nhanh chóng, buồng trứng hoạt động, noãn bao bao phát triển, làm xuất hiện lại chu kỳ động dục
Khi gia súc bị bệnh viêm tử cung ở thể viêm cơ, viêm tương mạc thì không nên tiến hành thụt rửa bằng các chất sát trùng với thể tích lớn Vì khi bị tổn thương nặng, cơ tử cung co bóp yếu, các chất bẩn không được đẩy ra ngoài, lưu cữu trong
đó làm cho bệnh nặng thêm Nên dùng Oxytoxin hoặc PGF2α kết hợp với kháng sinh điều trị toàn thân và cục bộ
Các kháng sinh khuyến cáo: Streptomycin phối hợp với Penicillin, Chloramphenicol tiêm một lần ngay trước khi sinh, hoặc tetracycline cho ăn liên tục
3 ngày trước khi sinh hoặc đặt viên kháng sinh vào tử cung trong 3 ngày sau khi sinh đã cho kết quả tốt trong việc phòng ngừa hội chứng M.M.A
Dùng ampicillin phòng ngừa hội chứng M.M.A trên 3 nhóm heo: nhóm 1 tiêm bắp 50mg/kg thể trọng/ngày trong 3 ngày liên tục sau khi sinh, nhóm 2 dùng liều tương tự nhưng được cấp bằng đường thụt rửa, nhóm 3 sử dụng liều 200 mg cấp bằng đường thụt rửa có kết quả phòng ngừa hội chứng M.M.A tốt nhất Mendler và cs (1997) Sử dụng enrofloxacin với liều 2,5mg/Kg thể trọng trong 3 ngày liên tục sau khi sinh có tác dụng làm giảm tỷ lệ mắc hội chứng M.M.A và tiêu chảy heo con theo mẹ Wowron (1996) sử dụng viên kháng sinh sulfamethoxazole
và trimethoprime đặt tử cung sau khi sinh đã cho biết có tác dụng làm giảm bớt hội chứng M.M.A trên heo nái.( trích dẫn bởi Nguyễn Như Pho, 2002)
Về sử dụng kích thích tố, Johnson và Cockerill (1970): Thyroprotein có tác dụng kích thích sản xuất sữa trên cơ sở làm tăng toàn diện sự biến dưỡng của cơ thể Sử dụng 200g Thyroprotein trộn trong 1 tấn thức ăn cho nái ăn 1 tuần trước khi sinh và trong giai đoạn nuôi con Mercy (1990), Bilkei và Boleskei (1993) cho rằng oxytocin có kích thích thải sữa, co bóp tử cung để tống sản dịch hoặc nhau sót, có tác dụng phòng ngừa kém sữa và viêm tử cung