Trong đó, heo nái mang thai là giai đoạn quyết định đến sự sống còn của một trại, trong giai đoạn này heo nái có nhiều đặc điểm thay đổi, do vậy việc chăm sóc nuôi dưỡng chúng phải phù h
Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu tổng quát
Khảo sát được một số chứng bệnh trên heo nái mang thai để có nhũng thông tin khoa học cần thiết nhằm phục vụ cho việc định hướng và phát triển đàn heo của trang trại.
Mục tiêu cụ thể
- Quan sát, theo dõi và ghi nhận những biểu hiện bệnh trên heo nái mang thai
- Theo dõi phương pháp điều trị và hiệu quả điều tri tại trại
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng sinh sản và hạn chế một số bệnh thường gặp lên lợn nái mang thai
TỔNG QUAN
Giới thiệu về trại chăn nuôi heo Duy Ngọc Tân Phú thị trấn Madaguoi, tỉnh Lâm Đồng
Trại chăn nuôi sản xuất heo giống Duy Ngọc Tân Phú với diên tích 10ha nằm trên địa bàn thôn 4, xã Madaguoi, thị trấn Madaguoi, huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng Nằm trên khu vực giáp ranh giữa tỉnh Đồng Nai và tỉnh Lâm Đồng Điều kiện giao thông: Do vị trí trại heo Kim Hòa nằm sâu trong đồi núi cách xa khu dân cư nên hạn chế được dịch bệnh lây lan và không ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh hoạt của người dân xung quanh Ngoài ra, trại heo Kim Hòa còn nằm gần đường lớn nối liền quốc lộ nên rất thuận tiện cho việc vận chuyển heo, thức ăn và các sản phẩm chăn nuôi
1.1.1.2 Đất đai Địa hình đồi núi phần nhiều là đất feralít vàng đến vàng nhạt phát triển trên đá mẹ Granít, ít đất bồi tụ ven sông suối, độ phì của đất thuộc dạng khá nên thích hợp cho việc trồng rừng Nên có điều kiện thuận lợi cho việc thoát nước, không bị ngập úng, tránh được sạt lở tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng chuồng trại
Trại sử dụng nguồn nước ngầm từ giếng khoan để cung cấp nước uống cho toàn trại heo, nước được bơm lên và trữ ở các bể và được lọc qua các và xử lý bằng chlorine 3-5g/1000 lít nước Sau đó được hệ thống bơm tự động lên bồn chứa cao, rồi theo hai con đường một là dẫn thẳng vào các dãy chuồng để cung cấp nước cho heo uống, hai là cung cấp nước cho hệ thống dàn lạnh, nước tắm heo, rửa chuồng
1.1.1.4 Khí hậu Đạ Huoai có độ cao trung bình 300m so với mặt biển, khí hậu rất khác với Đà Lạt, Bảo Lộc, nhưng rất gần với khí hậu các tỉnh miền Đông Nam Bộ Đạ Huoai nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhưng khí hậu cao thấp có nét đặc trưng riêng của một trong ba huyện phía nam tỉnh Lâm Đồng, nhiệt độ trung bình cao, biên độ dao động ngày và đêm không lớn đặc biệt thời hạn nắng nhiều với 7,5 giờ / ngày, ẩm độ không thích hợp với các tập đoàn cây trồng vùng ôn đới nhưng rất thích hợp với những cây trồng vùng nhiệt đới., mưa khá điều hòa
Nhiệt độ trung bình hàng năm 22 - 24 °C, nhiệt độ cao nhất 34 - 35 °C Đạ Huoai chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa tây nam, lượng mưa hàng năm cao Cường độ mưa lớn và nhiều ngày Mùa khô từ tháng 11 đến hết tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10
Trại đang sử dụng nguồn điện chính là nguồn điện lưới quốc gia
Ngoài sử dụng nguồn điện cao thế từ điện lưới quốc gia trại còn trang bị hệ thống máy phát điện hiện đại chạy bằng dầu dự phòng những ngày mất điện
Trại chủ yếu sản xuất, cung cấp heo con cai sữa cho các khách hàng có nhu cầu mua heo Các sản phẩm phụ của quá trình chăn nuôi heo như phân, các heo loại thải
Cơ cấu tổ chức của trại bao gồm 39 người, trong đó có 01 trưởng trại 01 thư ký,
8 kĩ thuật, 25 công nhân và 4 bảo vệ
Ban quản lý: có trưởng trại (quản lí kỹ thuật) và thư ký (quản lí chi tiêu, phát lương cho công nhân)
Tổ nái mang thai: 02 kĩ thuật, 04 công nhân phụ trách trông coi từng trại nái mang thai
Tổ nái đẻ: 05 kĩ thuật, 20 công nhân phụ trách đỡ đẻ chăm sóc nuôi dưỡng nái đẻ, nuôi con, chăm sóc heo con cai sữa và vệ sinh chuồng trại sau khi bán heo con
Tổ tạp vụ, bếp, bảo vệ có 6 người
Cơ cấu đàn heo được trình bày qua bảng 1.1
Bảng 1.1 Cơ cấu đàn heo
1.1.5 Con giống và quản lí đàn giống
Giống heo ở trại gồm có heo nái giống Yorkshire và giống heo 2 máu (Yorkshire x Landrace ) Heo đực giống gồm có giống Duroc và giống Landrace Tạo ra các con lai máu hai máu để trại sử dụng làm heo giống và con lai ba máu cung cấp cho các trại khách hàng nuôi heo thịt
Heo đực giống: mỗi đực giống đều có thẻ theo dõi riêng, hàng tuần đều tiến hành lấy mẫu tinh để phân tích chất lượng tinh dịch và số lượng tinh trùng nhằm đánh giá sức sản xuất của đực giống
Heo nái: mỗi nái có thẻ theo dõi và mã vạch riêng, ghi chép đầy đủ thông tin ngày sinh, số tai bố, ngày nhập và những chỉ tiêu quan trọng như ngày sinh, ngày đẻ dự kiến, số con đẻ ra, số con sơ sinh còn sống, số ngày nuôi con, số con cai sữa khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa Đối với phối giống trại áp dụng hình thức phối giống nhân tạo cho heo nái
Heo con: phân chia thành từng ô để tiện quản lí Hàng tuần tiến hành cân trọng lượng, phân loại heo heo con để có biện pháp quản lí, chăm sóc tốt hơn
Chuồng trại nuôi heo được xây dựng thành từng dãy riêng biệt, hai mái lợp tole và có lớp cách nhiệt, nền bằng xi măng Trong trại có 13 dãy chuồng: một dãy cách ly, một chuồng heo đực giống và nuôi heo hậu bị một dãy nái cai sữa, 4 dãy chuồng nái mang thai, 6 dãy nái đẻ, có lối đi riêng ở giữa dùng để chuyển heo từ trại này sang trại kia Trong mỗi dãy có các ô chuồng được làm bằng sắt và có cửa để cho heo ra vào Các dãy chuồng được xây dựng theo kiểu chuồng kín, bên trong có 4 hệ thống làm mát và có 12 quạt hút không khí trong chuồng nái mang thai và 8 quạt hút khí trong chuồng nái đẻ ra để giảm nhiệt độ và tạo sự thông thoáng trong trại Nền chuồng được làm bằng xi măng và có độ dốc thích hợp để thuận tiện cho nước và các chất thải được lưu thông dễ dàng, độ dốc 4% Trại áp dụng hệ thống máng ăn bán tự động và nước uống tự động
Kích thước chuồng trại của nái mang thai và nái khô là 0,65 m x 2,2 m/ô/ con, đối với kích thước chuồng nái đẻ là 1,85 m x 2,2 m/ô/con Còn đối với heo hậu bị và cách ly chuồng có kết cấu giống với chuồng nuôi heo thịt, một dãy chuồng với vách ngăn chia dãy chuồng làm hai ngăn riêng biệt , mỗi ngăn chia làm hai ô nhỏ để thuận tiện cho việc chăm sóc và nuôi dưỡng heo cách ly heo hậu bị
Thức ăn trong trại được cung cấp bởi công ty CÔNG TY TNHH DINH DƯỠNG Á CHÂU (ANT) Thức ăn cho heo hậu bị, heo nọc, nái khô, nái mang thai là loại cám trại V5, heo nái đẻ là cám V6S Đối với cám dành cho heo con là loại V844
Đặc điểm sinh lý của heo nái mang thai
1.2.1 Tuổi phối giống lần đầu
Theo Trần Thị Dân (1997), heo thường được phối giống khi đạt khối lượng khoảng 110 kg từ sau 7 – 10 tháng tuổi Đối với heo hậu bị nên phối 12 – 36 giờ và heo nái rạ 18 – 36 giờ sau khi có biểu hiện động dục
1.2.2 Mang thai và nhu cầu dinh dưỡng khi mang thai
Theo Võ Văn Ninh (2003), sự mang thai là sau khi phối giống 21 ngày thấy nái không động dục trở lại thì coi như heo đã đậu thai Thời gian mang thai kéo dài từ 114 – 115 ngày (3 tháng, 3 tuần, 3 ngày) Nếu nái mang thai nhiều con có khả năng sinh từ ngày 113, nếu ít con có thể sinh từ ngày 115 – 118, nhưng nếu nái sinh sớm từ ngày
108 trở lại thì rất khó nuôi
1.2.2.2 Nhu cầu dinh dưỡng khi mang thai
Theo Võ Văn Ninh (2003), sự mang thai được chia làm hai giai đoạn Giai đoạn chửa kì 1: Thường kéo dài khoảng 60 ngày, thời gian này phôi và thai còn nhỏ, sử dụng ít chất trong máu của mẹ, dưỡng chất còn lại của nái được dùng để dự trữ tạo sữa sau này Thiếu dưỡng chất trong thức ăn của heo nái ở giai đoạn này có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của phôi thai như tăng hiện tượng tiêu phôi, nái còn ít thai sống khi đẻ mà chứa nhiều thai khô Thừa dưỡng chất cũng gây ảnh hưởng đến tiêu phôi và làm nái trở nên mập mỡ Ở giai đoạn này khí hậu cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của thai Nên nái cần được yên tĩnh, nhiệt độ ẩm độ chuồng nuôi thích hợp
Giai đoạn chửa kì 2: Khoảng 54 – 55 ngày, thời kì này thai đã lớn, sử dụng nhiều dưỡng chất trong máu của mẹ để phát triển Do đó, thiếu dưỡng chất trong thức ăn của nái sẽ làm cho heo con sơ sinh có tầm vóc nhỏ, khó nuôi, tỷ lệ hao hụt cao Nhưng nếu quá dư thừa dưỡng chất, bào thai sẽ tăng trọng nhiều, có tầm vóc lớn làm cho nái đẻ khó, đẻ không ra phải can thiệp kéo thai, móc thai gây tổn thương bộ phận sinh dục làm nái viêm nhiễm
1.2.3 Sự biến đổi toàn thân cơ thể mẹ có thai
Khi gia súc có thai, kích tố hoàng thể và nhau thai làm thay đổi cơ năng hoạt động một số tuyến nội tiết khác Vì vậy hiện tượng ăn uống, trạng thái dinh dưỡng, quá trình trao đổi chất của con mẹ được nâng cao cho nên thời kỳ đầu có thai, gia súc thường béo hơn và lông mượt hơn trước lúc có thai Nhưng có thai thời kỳ cuối, bào thai phát triển mạnh và nhanh chóng nên nhu cầu dinh dưỡng tăng cao Giai đoạn này, nếu khẩu phần ăn của mẹ không đảm bảo đủ nhu cầu về các dưỡng chất thì không
14 những bào thai phát triển không bình thường mà sức khỏe gia súc mẹ cũng giảm sút nhiều Bào thai ngày càng phát triển, áp lực xoang chậu và xoang bụng thay đổi nên ảnh hưởng đến hoạt động của hệ tuần hoàn và hô hấp Nhu cầu oxy của bào thai dần nâng cao ở giai đoạn cuối thai kỳ nên tầng số hô hấp của mẹ tăng lên và có khi còn biểu hiện trạng thái thở dốc Mặt khác, số lần đại tiện của gia súc mẹ tăng lên nhưng mỗi lần thải được ít Ở cuối thai kỳ, gia súc mẹ thường đi lại, hoạt động nặng nề, chậm chạp, nhanh mệt
1.2.4 Sự thay đổi ở cơ quan sinh dục
Khi gia súc có thai, hai buồng trứng to nhỏ không đều nhau Buồng trứng phía sừng tử cung có thai thường lớn hơn buồng trứng bên kia Trên mặt ngoài buồng trứng xuất hiện thể vàng Loài gia súc đa thai thường có số lượng hoàng thể nhiều hơn số lượng bào thai do có một số trứng không được thụ tinh
Khi gia súc có thai, toàn bộ tử cung xuất hiện những thay đổi về cấu tạo, tính chất, vị trí, khối lượng, thể tích, Dây chằng tử cung được dài ra nên đầu mút sừng tử cung và buồng trứng được đưa về phía trước và phía dưới, xa vị trí cũ Hệ tuần hoàn ở cơ quan sinh dục được tăng cường, lượng máu đến cung cấp cho niêm mạc tử cung rất nhiều nên niêm mạc được phát triển và dày lên Các tuyến tử cung cũng được phát triển mạnh và tăng cường tiết niêm dịch Niêm mạc tử cung hình thành nhau mẹ
Khối lượng tử cung khi có thai gấp 5-20 lần so với khi ko thai, kích thước và thể tích của nó gấp hàng trăm lần Mỗi một tế bào được phát triển dài thêm 7-11 lần và dày hơn 3-5 lần Cổ tử cung có vai trò quan trọng trong việc bào vệ bào thai phát triển bình thường Cổ tử cung được khép kín hoàn toàn, niêm mạc và các nếp nhăn phát triển dày lên Những tế bào thượng bì đơn tiết tăng cường tiết dịch đặc, có tác dụng đóng nút cổ tử cung Niêm dịch này lúc đầu có màu trắng trong, về sau chuyển thành màu vàng nâu, số lượng và độ dính cũng được tăng lên
1.2.5 Những thay đổi hormone sinh dục
Bào thai được phát triển bình thường dưới tác dụng điều hòa của các hormone buồng trứng, nhau thai và tuyến yên
Nửa đầu thai kỳ: nhau thai được hình thành và phát triển, tiết ra prolan B Chất này có tính chất giống như LH của thùy trước tuyến yên Nó kích thích thể vàng phát triển và tăng tiết progesterone, làm cho niêm mạc tử cung phát triển và dày thêm Nhau thai còn tiết progesterone và Folliculin có tác dụng ức chế tuyến yên không tiết ra Gonado stimulin A, vì vậy buồng trứng không có quá trình phát triển, trưởng thành của noãn bào và không có hiện tượng rụng trứng trong suốt thời gian cơ thể mang thai
Nửa sau thai kỳ: hàm lượng progesterone giảm dần trong máu và folliculin tăng dần đến mức tối đa Folliculin kích thích tử cung co thắt, thuận lợi cho quá trình sinh đẻ.
Một số bệnh thường gặp trên heo nái mang thai
Bệnh sảy thai trên heo nái mang thai: các trường hợp sẩy thai thường thấy như tiêu thai, sinh non, thai khô, chết thai thối rửa, biểu hiện thú mẹ giảm khả năng sinh sản
Thú mẹ đã bị sẩy thai thì lần sau có thể động dục trở lại và có khả năng thụ thai Mang nhiều tác hại đến cơ thể thú cái như khoảng cách hai lứa đẻ kéo dài, thú mẹ dễ bị viêm tử cung, vô sinh hoặc lây lan bệnh khi sẩy thai truyền nhiễm Sảy thai là hiện tượng thường xuyên trong đàn với tỷ lệ suất hiện thấp (ít hơn 1%) nhưng nếu đạt 2,5% cần xác định nguyên nhân
Nguyên nhân: truyền nhiễm, thú bị các bệnh truyền nhiễm như bệnh do
Do các yếu tố xuất phát từ cơ thể mẹ hay bào thai như yếu tố di truyền của thú mẹ đối với sự có mang, biểu lộ sự phát triển phôi thai không phù hợp với cơ thể mẹ
Sự phân tiết các hormone sinh dục trong giai đoạn mang thai không bình thường giữa hai nhóm hormone phát triển trứng chín và hormone an thai
Do các yếu tố tuyến nội tiết, ngoài ra cũng do một số nguyên nhân bên ngoài có thể tác động đến sẩy thai như sự nhiễm trùng đường sinh dục thú mẹ, viêm niêm mạc tử cung, âm đạo do tác nhân là các vi khuẩn thường trực có sẵn như Staphylococcus aureus hay lây nhiễm theo đường truyền tinh dịch, tình trạng viêm nặng có thể gây ra tình trạng huyết nhiễm trùng Do cơ thể nhiễm các độc chất từ thức ăn như Arsenic, Nitrate chì, Phenolthiazine hay do các tác nhân cơ học như nái mang thai bị trược té, bị rượt đuổi, chen lấn khi ăn uống, bị húc đá vào bụng Do khẩu phần thức ăn không đầy đủ thành phần dinh dưỡng như protein, vitamin, muối khoáng
Lợn nái có biểu hiện không rõ ràng trong một số trường hợp ( Enterovirus, Parvovirus, một số bệnh Leptospirosis), hoặc có biểu hiện khác như Erysipelas, nái có biểu hiện bị bệnh, bỏ ăn, ủ rủ
Trong hoặc sau khi sảy thai, âm hộ có thể bị dính máu, đuôi và chân sau có thể được bôi bằng chất dịch dính
Heo mẹ bị ốm hoặc cũng có khi bình thường
Mắc bệnh một số loại bệnh nhất định
Tỷ lệ sẩy thai thông thường là 2%, tuy nhiên, nếu mắc tai xanh nặng có thể gây ra tỷ lệ sẩy thai là 20%
Trong chăn nuôi heo nái ta thường gặp những nái mang thai bỏ ăn nhưng không biểu hiện sốt, trường hợp này thường xảy ra sau khi gieo tinh được 1 – 2 tháng, có con mang thai vào tháng thứ 3 vẫn bỏ ăn
Heo bỏ ăn có thể do những nguyên nhân sau:
Do rối loạn nội tiết tố sau khi heo đã đậu thai Một số hormone tăng hoặc giảm nên ảnh hưởng đến tính thèm ăn
Do thai bị chết khô từ 1 – 2 con Trường hợp chết này do nhiều nguyên nhân như độc tố nấm mốc và thức ăn Hay bệnh truyền nhiễm như dịch tả, thương hàn
Khi thai bị chết chất độc hấp thu vào máu gây nhiễm độc huyết, làm cho cơ thể uể oải, mệt nhọc và bỏ ăn
Do thai quá nhiều, ở giai đoạn gần đẻ, do thai con thúc mạnh làm cơ thể mẹ bị đau bụng nên dẫn đến bỏ ăn
Theo Nguyễn Văn Thành và Đỗ Hiếu Liêm (1998), tiêu chảy còn là tình trạng bệnh lý xảy ra trên các loại động vật với các đặc điểm gia tăng lượng phân thải, lượng nước trong phân và gia tăng số lần thải phân Triệu chứng tiêu chảy xảy ra theo hai cơ chế:
Tiêu chảy do rối loạn chức năng ở đường ruột, rối loạn chức năng tiêu hóa, hấp thu và tiết dịch tiêu hóa: Các đại phân tử không được phân giải hoặc được phân giải nhưng không hoàn toàn do thiếu các enzyme tiêu hóa hoặc có enzyme nhưng điều kiện môi trường không phù hợp cho hoạt động xúc tác phản ứng (độ pH, nhiệt độ, nồng độ cơ chất, nồng độ enzyme) thiếu những cầu vận chuyển dưỡng chất từ lòng ruột vào trong tế bào niêm mạc
Rối loạn nhu động ruột: Nhu động ruột được hình thành do những co thắt của những tế bào cơ trơn ở thành ruột Trong điều kiện bình thường, nhu động ruộtlan truyền bắt đầu từ đoạn ruột tiếp nối với hạ vị giảm dần xung quanh ruột già Sự nhu động của ruột giúp cho thức ăn di chuyển theo dọc đường ống tiêu hóa, tạo điều kiện cho dưỡng chất tiếp xúc với enzyme tiêu hóa và giúp cho phần tử được hấp thu dần dần vào máu Vì vậy, khi nhu động ruột tăng hoặc giảm sẽ có ảnh hưởng đến tiến trình hấp thu và thành phần dưỡng chất tồn lưu sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật có hại phát triển gây ra tiêu chảy
Theo Võ Văn Ninh (2001), biện pháp phòng ngừa hiệu quả nhất là ổn định môi trường nuôi dưỡng, chăm sóc đàn heo, hạn chế tối đa sự biến đổi không thuận lợi cho
18 sinh lý cơ thể heo Vệ sinh tiêu độc chuồng trại, máng ăn, máng uống thường xuyên sẽ có tác dụng hạ đến mức thấp một số vi khuẩn gây bệnh đường ruột
Bệnh hô hấp do nhiều nguyên nhân gây ra, có thể xếp vào 2 nhóm chính như sau: do vi sinh vật và do môi trường và chăm sóc quản lý
Do vi sinh vật:-Virus : Do virus gây bệnh giả dại, virus gây bệnh Tai xanh, virus gây bệnh cúm, circovirus…Do vi trùng: Actinobacillus pleuropneumoniae (APP), Bordetella bronchiceptica, Haemophilus parasuis, Pasteurella multocida,
Streptococcus suis, Salmonella cholera suis, Mycoplasma…Do ký sinh trùng : Do giun phổi, do sự di hành của ấu trùng giun tròn
Do môi trường và chăm sóc quản lý : Bệnh hô hấp có liên quan rất mật thiết với tiểu khí hậu chuồng nuôi Nếu các nguyên nhân sau đây tồn tại trong chuồng thì dễ gây bệnh hô hấp cho heo : Chuồng trại luôn ẩm ướt, ẩm độ cao, vệ sinh kém, nuôi nhốt heo chật chội, không thông thoáng, tồn đọng nhiều khí độc trong chuồng như NH3, H2S,
Tổng quan tình hình trong nước và trên thế giới
1.4.1 Tổng quan tình hình trong nước Ở nước ta các nhà khoa học đã nghiên cứu về bệnh viêm đường sinh dục trên heo và qua kiểm tra sản dịch của 143 heo nái sinh sản sau khi sinh, phát hiện 106 heo tiết dịch nghi viêm đường sinh dục, chiếm tỷ lệ 74,13% Trong đó có 100 mẫu có sự hiện diện của vi khuẩn E.coli, Streptococcus, Staphylococcus, Pseudomonas chiếm tỷ lệ lần lượt là 75,47%, 45,28%, 47,17% và 18,87% Để chọn kháng sinh ứng viên cho bố trí thí nghiệm điều trị, phương pháp khuếch tán trên thạch đĩa của Kirby Bauer
(1966) đã được sử dụng và thu được kết quả như sau: hai kháng sinh có độ kháng khuẩn rộng nhất là doxycycline và florfenicol Trong khuôn khổ Hội nghị khoa học Chăn Nuôi Thý Y toàn quốc 2019 – do Khoa Chăn Nuôi Thú Y Trường Đại Học Nông
Lâm đăng cai tổ chức, đã diễn ra Lễ ký kết hợp tác sản xuất vaccin giữa Khoa Chăn Nuôi Thú Y (Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh) – HOa Kỳ và Hàn Quốc Hợp tác sẽ mở ra những hướng đi mới cho ngành Chăn nuôi Việt Nam trong những năm về sau
Theo nghiên cứu của Đỗ Cường Thịnh (2005), khảo sát các bệnh trên heo nái trong giai đoạn mang thai và một số chỉ tiêu trên heo con sơ sinh với 72 nái tác giả kết luận bệnh xảy ra trong giai đoạn mang thai là sẩy thai, viêm khớp, viêm đường sinh dục Tỷ lệ ca bệnh là 23,61 % trên tổng số nái khảo sát, bệnh thường xảy ra nhất là bỏ ăn – sốt chiếm 23,53 %, viêm khớp 17,65 %, sẩy thai, viêm đường sinh dục và tiêu chảy là 11,76 % Tỷ lệ bệnh cao nhất ở lứa 4 trở lên
Theo nghiên cứu của Mai Ngọc Hiếu (2005), khảo sát bệnh trên nái trong thời gian mang thai và sự liên quan đến một số chỉ tiêu trên heo con sơ sinh của xí nghiệp chăn nuôi heo huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang cho biết tỷ lệ nái mắc bệnh trên 261 nái khảo sát là 18 %, sẩy thai, viêm khớp 11,5 %, viêm đường sinh dục 1,92 % Nái bỏ ăn lứa 2 là cao nhất 85,71 %, tỷ lệ tiêu chảy heo con cao nhất là ở lứa 1 với 33,33 % và viêm đường sinh dục cao nhất lứa 4 trở lên với 16, 13 %
1.4.2 Các nước trên thế giới
Tại Nhật Bản, đàn heo được dự báo sẽ tăng vào đầu năm 2021 lên gần 9,2 triệu con, tăng khoảng 1% so với năm 2020 nhờ các nhà sản xuất phục hồi nhanh chóng từ dịch tả heo cổ điển (CSF), bùng phát vào năm Dịch CSF bùng phát khiến khoảng con heo bị tiêu huỷ trong năm 2019, tương đương 1,6% tổng đàn heo của Nhật Bản Đầu tháng 11/2019, chính phủ Nhật Bản đã cho phép tiêm vắc xin cho những con heo khoẻ mạnh tại 24/47 tỉnh của quốc gia châu Á Trong đó, 19 tỉnh đã hoàn thành chương trình tiêm vắc xin vào tháng 5/2020, nhờ vậy giúp ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh Với dịch bệnh được kiểm soát, FAS Tokyo dự báo đàn heo trong năm 2021 sẽ phục hồi ở mức đã đạt được vào đầu năm Đàn heo nái trong năm sau cũng, theo đó, được dự báo tăng 1% lên con
Các nước trên thế giới đều nghien cứu về bệnh xảy thai trên heo, hầu hết những nơi có heo nhiễm bệnh trên thế giới đều chủ yếu do chủng số 1 và 3 gây ra, ở châu Âu chủng gây bệnh thường là chủng số 2 Chủng 2 chủ yếu gây bệnh trên động vật hoang dã, mà đặc biệt là thỏ rừng và thường được tìm thấy ở phía bắc và trung tâm châu Âu Trong trường hợp đó, thỏ rừng chính là nguồn lây bệnh trên heo Chủng số 4 gây bệnh trên động vật hoang dã Thường được tìm thấy trên cơ thể của tuần lộc ở các vùng như Siberia, Alaska và Canada Chủng này thường không gây bệnh trên heo Các trường hợp người nhiễm vi khuẩn Brucella chủng số 4 đều không phải lây nhiễm từ heo Ở Đông Âu và Madagascar nhưng cuối cùng được báo cáo ở Tây Âu – từ nước Áo năm 1980 Tại các nước khác, một số ca bệnh nhẹ lẻ tẻ được báo cáo hoặc nhiều ca bệnh không được công nhận Cho đến năm 1999, virus gây bệnh bại liệt trên heo này được phân loại thuộc chi Enterovirus (họ Picornaviridae) Tuy nhiên sau đó, kết quả phân tích bộ gen hoàn chỉnh cho thấy chúng rất khác với các virus thuộc chi
Enterovirus và chúng được phân loại lại trong một chi mới, Teschovirus Tên gọi phổ biến nhất của virus này cho đến nay là teschovirus trên heo (PTV)
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT
Thời gian và địa điểm khảo sát
Thời gian: Đề tài được tiến hành từ ngày 22//2021 đến30 /4/2012 Địa điểm khảo sát tại trại chăn nuôi Duy Ngọc Tân Phú của Công ty TNHH Dinh dưỡng Á Châu (ANT), ở thôn 4, xã Madaguoi, thị trấn Madaguoi, huyện Đa Hoai, tỉnh Lâm Đồng.
Đối tượng khảo sát
Khảo sát 540 heo nái từ khi phối giống đến đẻ.
Nội dung khảo sát
Khảo sát một số bệnh trên nái mang thai theo lứa đẻ
Khảo sát một số bệnh trên nái mang thai theo giai đoạn mang thai.
Các chỉ tiêu và phương pháp khảo sát
2.4.1 Khảo sát một số bệnh trên nái mang thai và nái đẻ
Theo dõi đàn heo khảo sát ngày 2 lần vào lúc 7 giờ sáng và 14 giờ chiều để kiểm tra và xác định heo bệnh:
Kiểm tra tổng quát: tình trạng bỏ ăn, nằm liệt, sốt (đo thân nhiệt), lông da, niêm mạc
Kiểm tra các cơ quan: vận động (chân móng), tiêu hóa (ói mửa, tiêu chảy), sinh dục, tiết niệu, hô hấp, tuần hoàn
Kết luận tình trạng heo bệnh: bệnh gì, mức độ bệnh
Theo dõi kết quả điều trị: thuốc sử dụng, liệu trình điều trị, kết quả điều trị
2.4.2 Chỉ tiêu theo dõi và công thức tính:
Tỷ lệ từng loại bệnh trên nái khảo sát (%) = (Số heo nái bị bệnh/Tổng số heo nái khảo sát) x 100
Tỷ lệ bệnh trên nái theo lứa (%) = (Số nái bệnh theo lứa/Tổng số nái khảo sát) x100
Tỷ lệ bệnh trên nái theo tháng mang thai (%) = (Số nái bệnh theo tháng mang thai/Tổng số nái khảo sát) x100
Tỷ lệ nái bị sốt (%) = (Số heo bị sốt/tổng số nái khảo sát)x100
Tỷ lệ nái bỏ ăn không rõ nguyên nhân (%) = (Số heo bỏ ăn không rõ nguyên nhân/tổng số nái khảo sát)x100
Tỷ lệ nái bị hô hấp (%) = (Số heo bị hô hấp/tổng số nái khảo sát)x100
Tỷ lệ nái sảy thai (%) = (Số heo bị sảy thai/tổng số nái khảo sát)x100
Tỷ lệ nái bị tiêu chảy (%) = (Số heo bị tiêu chảy/tổng số nái khảo sát)x100
Tỷ lệ nái bị viêm khớp, đau chân (%) = (Số heo bị viêm khớp, đau chân/tổng số nái khảo sát)x100
Kết quả điều trị bệnh:
+ Tỷ lệ nái khỏi bệnh (%) = (Số heo nái khỏi bệnh/tổng số heo nái mắc bệnh)x100 + Tỷ lệ nái loại thải (%) = (Số heo nái loại thải/tổng số heo nái mắc bệnh)x100
Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu được theo dõi tính toán bằng phần mềm Excel, Minitab 16