1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn THẠC sĩ vận dụng ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH trong dạy học môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự

126 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá kết quả học tập của học viên trong quá trình dạy học là một trong những khâu không thể tách rời của quá trình dạy học. Mục đích của đánh giá là nhằm xác định đúng thực chất phẩm chất và năng lực của học viên, thu thập những thông tin phản hồi để giảng viên và nhà trường kịp thời điều chỉnh và hoàn thiện quá trình dạy học. Trong quá trình đào tạo ở các trường đại học quân sự ĐGKQHT của học viên là một hoạt động thường xuyên, có tác động trực tiếp đến thái độ học tập của học viên, đến quá trình dạy của giảng viên, đến toàn bộ công tác quản lý điều hành quá trình đào tạo. Nếu đánh giá đúng sẽ bồi dưỡng động cơ, kích thích tính tích cực, củng cố niềm tin học tập cho học viên. Ngược lại, đánh giá thiếu chính xác, không công bằng sẽ làm giảm hoặc triệt tiêu động lực học tập của người học.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VẬN DỤNG ĐÁNH

1.2 Nguyên tắc và tiêu chuẩn đánh giá 24 1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến đánh giá quá trình 29

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ VẬN DỤNG

ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC HỌC QUÂN SỰ CHO HỌC VIÊN SƯ

2.1 Đặc điểm mục tiêu, chương trình, nội dung dạy học môn

giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học

2.2 Thực trạng đánh giá kết quả học tập trong dạy học môn

giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học

Chương 3 YÊU CẦU VẬN DỤNG VÀ QUI TRÌNH TỔ CHỨC

ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC HỌC QUÂN SỰ CHO HỌC VIÊN SƯ

3.1 Yêu cầu vận dụng đánh giá quá trình trong dạy học môn

giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học

3.2 Qui trình tổ chức đánh giá quá trình trong dạy học môn giáo

dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự 60

Trang 2

MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tài

Đánh giá kết quả học tập của học viên trong quá trình dạy học là một trong những khâu không thể tách rời của quá trình dạy học Mục đích của đánh giá là nhằm xác định đúng thực chất phẩm chất và năng lực của học viên, thu thập những thông tin phản hồi để giảng viên và nhà trường kịp thời điều chỉnh và hoàn thiện quá trình dạy học Trong quá trình đào tạo ở các trường đại học quân sự ĐGKQHT của học viên là một hoạt động thường xuyên, có tác động trực tiếp đến thái độ học tập của học viên, đến quá trình dạy của giảng viên, đến toàn bộ công tác quản lý điều hành quá trình đào tạo Nếu đánh giá đúng sẽ bồi dưỡng động cơ, kích thích tính tích cực, củng

cố niềm tin học tập cho học viên Ngược lại, đánh giá thiếu chính xác, không công bằng sẽ làm giảm hoặc triệt tiêu động lực học tập của người học.

Thực tiễn ĐGKQHT trong dạy học môn GDHQS cho học viên sư phạm ở đại học quân sự còn có lúc, có nơi, chưa mang tính hệ thống, chưa thực sự đánh giá đúng năng lực của học viên Trước thực tế đó trong thời gian vừa qua các trường đại học quân sự đã có nhiều có gắng trong việc đổi mới ĐGKQHT của học viên như xây dựng hệ thống ngân hàng đề thi theo hướng mở, nội dung phủ kín các vấn

đề học tập, đi kèm với nó là một hệ thống đáp án và thang đánh giá rất chi tiết, việc coi thi và chấm thi được kiểm soát một cách chặt chẽ Nhưng theo nhận định của các cấp quản lý và của chính các lực lượng sư phạm trực tiếp tham gia đánh giá thì KQHT của học viên vẫn được đánh giá cao hơn so với khả năng của người học Việc đánh giá hiện nay mặc dù đã có nhiều đổi mới nhưng vẫn quá nặng về đánh giá kiến thức, vấn đề đánh giá kỹ năng, đánh giá khả năng tư duy, thái độ của học viên chưa được quan tâm đúng mức Các phương pháp và hình thức kiểm tra chưa

đa dạng, phong phú, dẫn đến thông tin thu thập được về phẩm chất, năng lực của học viên rất nghèo nàn, thiếu tính toàn diện, đánh giá chủ yếu vẫn tập trung vào KQHT cuối cùng của học viên, việc ĐGQT học tập của người học không được chú

ý đúng mức Mặt khác, kết quả KTĐG lại rất rời rạc, không được liên kết thành hệ thống mang tính quá trình Vì vậy thông tin phản hồi từ KTĐG là rất ít và hầu như không có tác dụng điều chỉnh hoạt động dạy và học.

Nghị quyết số 29 - NQ/TW, hội nghị Ban chấp hành trung ương 8 khóa XI xác định: “ Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá

Trang 3

kết quả giáo dục, đào tạo, đảm bảo trung thực, khách quan Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được

xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy và tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và của xã hội”

Đánh giá quá trình là dạng đánh giá xem xét một cách toàn diện cả quá trình học tập của người học chứ không chỉ là kết quả cuối cùng, nó là dạng đánh giá diễn ra trong suốt quá trình dạy học ĐGQT không chỉ quan tâm đến kiến thức mà cả kỹ năng, tư duy và thái độ Thông tin phản hồi từ ĐGQT được cập nhật thường xuyên, liên tục và có tác dụng rất tích cực trong phát triển năng lực của người học ĐGQT không chỉ coi trọng đánh giá của người dạy mà còn coi trọng cả tự đánh giá, người học tự đánh giá lẫn nhau vì vậy nó hỗ trợ một cách đắc lực cho việc thúc đẩy vai trò tự định hướng của người học, làm cho người học học tập một cách chủ động và có tư duy.

Đánh giá KQHT của học viên luôn là vấn đề thu hút được sự quan tâm, đầu

tư nghiên cứu của các nhà khoa học, của các lực lượng sư phạm Ở các trường đại học quân sự cũng đã có một số bài viết, công trình nghiên cứu ở những mức độ khác nhau Các công trình này đã đề xuất nhiều giải pháp nhằm đổi mới, cải tiến KTĐG kết quả học tập của học viên và đã thu được những kết quả nhất định Tuy nhiên những công trình nghiên cứu đó mới chỉ bàn sâu về thi, KTĐG kết quả học tập của học viên

theo hình thức đánh giá tổng kết chưa bàn nhiều đến ĐGQT trong đánh giá KQHT của học viên, và chưa cập nhật với sự diễn biến mới của thực tiễn đánh giá

hiện nay Vì vậy tác giả chọn vấn đề: “ Vận dụng ĐGQT trong dạy học môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự ” làm đề tài nghiên cứu.

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

* Tình hình nghiên cứu vận dụng ĐGQT trong dạy học trên thế giới.

Đánh giá kết quả học tập của người học là một vấn đề luôn thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học Xét cả trên phương diện lý luận và thực tiễn đây là vấn đề đã được nhiều công trình đề cập tới Tuy nhiên ĐGQT trong quá trình dạy học là một vấn đề mới được quan tâm trong một vài thập kỷ gần đây Một trong những tác giả đầu tiên đề cập đến vấn đề này là Black và Wiliam, vào

Trang 4

năm 1998 các ông đã thực hiện nghiên cứu một loạt 250 bài báo và chương sách được sàng lọc trong một phạm vi rộng lớn để xem liệu ĐGQT có làm tăng các tiêu chuẩn học thuật trong lớp học hay không Họ đã kết luận rằng các nỗ lực tăng cường ĐGQT tạo ra những thành tích học tập có ý nghĩa Kết luận này rút

ra từ việc so sánh những tiến bộ trung bình trong điểm kiểm tra của những học viên tham gia vào các thử nghiệm với các thang điểm của các nhóm điển hình trên cùng những bài kiểm tra giống nhau Nghiên cứu cũng cho thấy ĐGQT rõ ràng đã giúp nhiều cho những học viên có kết quả thấp, bao gồm các học viên có khiếm khuyết trong học tập, thậm chí ĐGQT còn giúp cho những học viên này nhiều hơn các học viên khác.

Các phản hồi được xem như một phần của ĐGQT giúp cho người học nhận thức được các lỗ hổng về kiến thức, hiểu biết hay kỹ năng mà họ đang có so với mục tiêu được mong đợi của họ và ĐGQT hướng dẫn họ thực hiện các hoạt động cần thiết để đạt được mục tiêu Loại phản hồi có ích nhất là các nhận xét, sửa lỗi trên các bài kiểm tra và bài tập về nhà của học viên và động viên học viên tập trung cẩn thận vào bài tập hơn là đơn giản chỉ cố gắng trả lời đúng câu hỏi Loại phản hồi này mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt đối với những học viên có thành tích học tập thấp bởi vì nó nhấn mạnh đến việc học viên có thể tiến bộ nhờ vào nỗ lực học tập hơn là phải nhận kết quả thấp chỉ vì thiếu một số khả năng bẩm sinh đã được dự đoán ĐGQT hỗ trợ cho mong muốn tất cả học viên đều có thể học đến trình độ cao và phản đối quan niệm cho rằng học viên có thành tích học tập kém vì khả năng hạn chế và vì vậy mà nhụt chí và không có mong muốn đầu tư cho việc học tập thêm nữa.

Giselle O Martin – Kniep, tám đổi mới để trở thành người giảng viên giỏi,

cuốn sách này giới thiệu những đổi mới hay, đáng được đưa vào đời sống nhà trường Ở đây tác giả trình bày ý tưởng của mình về việc sử dụng hồ sơ học tập như một công cụ để ĐGQT học tập của người học, ông cho rằng hồ sơ học tập là của sổ để quan sát tư duy và quá trình học tập của người học

Hồ sơ học tập là bằng chứng về cách cách tư duy của người học về những

ưu, nhược điểm trong bài làm của họ cũng như toàn bộ qui trình họ thực hiện để hoàn thành bài tập Cách tư duy đó giúp giảng viên phát hiện ra những chỗ người học hiểu chưa đúng, xác định được những chỗ hổng về kiến thức và biết được phương pháp làm bài của người học Đánh giá người học qua hồ sơ học tập là

Trang 5

một hình thức đánh giá đa tầng Nó thể hiện các quá trình học tập của người học cùng với những biểu hiện khác nhau của quá trình học tập đó Ví dụ, một hồ sơ học tập bao gồm các bài viết của người học cho các độc giả khác nhau và với những mục đích khác nhau được tuyển chọn cận thận trong vòng một năm cho chúng ta biết được nhiều thông tin hơn chứ không đơn thuần chỉ là tổng của tất cả các bài viết của người học trong một năm Ít nhất có hai lý do để nói như vậy Thứ nhất, không phải tất cả các bài viết của người học đều có giá trị như nhau trong việc phản ánh năng lực của họ Thứ hai khi người học chuẩn bị hồ sơ học tập thì

họ phải dành thời gian để cân nhắc trước khi đi đến quyết định nên nộp cái gì có thể nói lên được việc họ đã đạt được những KQHT mong muốn Quá trình đi đến quyết định đó nói lên nhiều điều về mức độ hiểu biết và thái độ của họ đối với những thuộc tính chất lượng trong bài làm của họ.[13, tr101]

James H McMilian (2001), Đánh giá lớp học những nguyên tắc và thực tiễn để giảng dạy hiệu quả, đây là một công trình công phu đưa ra những chỉ

dẫn rất hữu ích để vận dụng ĐGQT vào đánh giá lớp học ở bậc học phổ thông Bao gồm những công việc mà giảng viên cần làm để đánh giá học sinh trước khi giảng dạy, tóm lược các hoạt động đánh giá diễn ra trong giảng dạy và việc sử dụng thông tin đánh giá của giảng viên đối với hình thức xếp loại và báo cáo kết quả.

Ngoài ra còn có các công trình của : Airasian.P.W (1997), Đánh giá lớp học, Anderson L.W (1981), Đánh giá những đặc điểm cảm xúc trong trường học, Arter J.A & Spandel V (1992), Sử dụng hồ sơ học tập học sinh trong giảng dạy và đánh giá, Carey.L.M (1994), Xác định và đánh giá học tập của trường học, Glatthorn A.A (1998), Đánh giá kết quả thực hiện và chương trình trên cơ sở tiêu chuẩn, Marsh H.W (1997), sổ tay đánh giá lớp học: Học tập, hiệu chỉnh và kết quả Những công trình trên đã đưa ra được những hướng dẫn

sử dụng ĐGQT, hoặc những kỹ thuật đánh giá lớp học trong việc đánh giá và theo dõi sự tiến bộ của người học trong quá trình học tập Tuy nhiên những công trình ấy chưa khái quát về mặt lý luận về ĐGQT gắn với đặc điểm đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn.

* Tình hình nghiên cứu vận dụng ĐGQT trong dạy học ở Việt nam

Ở Việt Nam đánh giá trong giáo dục nói chung và kiểm tra, đánh giá KQHTcủa người học nói riêng là một vấn đề luôn thu hút được sự quan tâm của

Trang 6

nhiều nhà khoa học, đặc biệt là của các lực lượng sư phạm trong nhà trường Tuy nhiên các công trình nhiên cứu về ĐGQT còn rất ít, các công trình nghiên cứu tổng thể, khái quát về ĐGQT chưa thực sự được quan tâm, tuy nhiên dưới góc độ nghiên cứu về các phương pháp, hình thức, kỹ thuật đánh giá có thể vận dụng trong đánh giá quá trình thì có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới.

Tác giả Trần Thị Tuyết Oanh với tài liệu, Đánh giá kết quả học tập (2014), Đánh giá và đo lường kết quả học tập (2007), đã khái quát những ưu, nhược

điểm của các phương pháp, kỹ thuật đánh giá như kiểm tra viết dạng tự luận, vấn đáp, trắc nghiệm khách quan, đánh giá trên cơ sở thực hiện Đồng thời tác giả cũng trình bày ý tưởng của mình về đánh giá kết quả học tập trong quá trình dạy học với các phương pháp như: quan sát học sinh học tập, đặt câu hỏi để đánh giá học sinh trong học tập, làm bài kiểm tra ngắn, tự đánh giá và đánh giá theo nhóm, hồ sơ học tập…

Nguyễn Thị Lan Phương (chủ biên) ( 2011), Đánh giá kết quả học tập của học sinh phổ thông Một số vấn đề lý luận và thực tiễn Đây là một công trình

nghiên cứu tương đối công phu về ĐGKQHT của học sinh, đặc biệt ở đây tác giả

đã trình bày về khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, kỹ thuật đánh giá lớp học, những vấn đề nghiên cứu này rất tiệm cận với ĐGQT.

Vũ Ngọc Anh (chủ nhiệm đề tài) (2011), Thực trạng đánh giá kết quả học tập của học sinh ở nhà trường phổ thông hiện nay và một số kiến nghị Trên cơ

sở phân tích lý thuyết về KTĐG, phương thức ĐGKQHT ở một số nước phương tây, thực trạng ĐGKQHT của học sinh ở nước ta nhóm tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ĐGKQHT của học sinh ở nươc ta hiện nay.

Nguyễn Đức Chính, Đánh giá thực kết quả học tập trong giáo dục đại học

và đào tạo nguồn nhân lực Đánh giá thực là một hình thức đánh giá trong đó

người học được yêu cầu thực hiện những nhiệm vụ thực sự diễn ra trong cuộc sống, đòi hỏi phải vận dụng một cách có ý nghĩa những kiến thức, kỹ năng thiết yếu Thông thường một bài đánh giá thực bao gồm những nhiệm vụ mà sinh viên phải hoàn thành và một bản mô tả những tiêu chí đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ đó Ở đây trên cơ sở phân tích những đặc điểm của đánh giá thực, so sánh với đánh giá truyền thống tác giả đã đề xuất qui trình xây dựng một bài đánh giá thực.

Trang 7

Lê Thị Thanh Huệ, Phương pháp giảng dạy và đánh giá môn học tại trường đại học Queensland, Australia : một vài quan sát và nhận định Tác giả

trình bày một số cách thức tổ chức dạy học và đánh giá môn như công khai mọi thông tin về đánh giá môn học, xây dựng nội dung và thời gian biểu cho các hình thức đánh giá ngay từ đầu học kỳ, kết hợp các hình thức đánh giá khác nhau cho một học phần nhằm nâng cao tính chính xác trong việc đánh giá sinh viên, công khai việc chấm điểm và tạo điều kiện cho sinh viên có thể xem lại bài thi Đây là những cách thức tổ chức đánh giá cần nghiên cứu vận dụng ở nước ta.

Lê Việt Phương, Biện pháp tổ chức, kiểm tra và ĐGQT tự học của học viên,

ở đây tác giả đề cập ĐGQT tự nghiên cứu của học viên được chia làm hai đợt, đợt một được tiến hành vào giữa khóa học, giảng viên yêu cầu tất cả học viên mang theo vở tự nghiên cứu để kiểm tra Giảng viên sẽ đóng dấu vào vở để ghi nhận kết quả đã làm của từng học viên mà chưa cho điểm chính thức Việc làm này nhằm tuyên dương, động viên những học viên tích cực, đồng thời cảnh báo những học viên chưa cố gắng Đợt hai được tiến hành vào những tuần cuối cùng của khóa học, giảng viên thu toàn bộ vở tự nghiên cứu của học viên tập trung về

bộ môn để chấm điểm, nhận xét và phản hồi cho sinh biết về những ưu, khuyết điểm của mình Như vậy ở đây ý tưởng của tác giả là việc đánh giá học viên không chỉ căn cứ vào điểm kiểm tra kết thúc môn, điểm kiểm tra điều kiện mà cần phải tính cả điểm tự nghiên cứu của họ Việc chấm điểm tự nghiên cứu không chỉ căn cứ vào sản phẩm cuối cùng mà có tính đến cả quá trình tự học, tự nghiên cứu của học viên.

Trần Thị Bích liễu (2007), Đánh giá chất lượng giáo dục nội dụng – phương pháp – kỹ thuật Trong cuốn tài liệu này tác giả trình bày rất cụ thể về

các phương pháp đánh giá truyền thống đang được áp dụng rộng rãi hiện nay, ngoài ra tác giả còn trình bày về việc áp dụng công nghệ thông tin trong việc vận dụng hồ sơ học tập, và vận dụng dự án học tập để đánh giá toàn diện phẩm chất

và năng lực của người học.

Cao Thị Hồng Cẩm, Nghiên cứu ảnh hưởng của hình thức đánh giá hồ sơ học tập đến khả năng viết luận của sinh viên chuyên ngành tiếng Anh, đề tài

nghiên cứu đã chỉ ra những ưu, nhược điểm của hồ sơ học tập và khả năng áp dụng nó trong việc ĐGKQHT của sinh viên, đồng thời đề xuất qui trình đánh giá

hồ sơ học tập của sinh viên.

Trang 8

Bùi Thị Kim Dung (đồng tác giả) (2003), Kiểm tra và thi cử trong nhà trường phổ thông lý luận và thực tiễn; Lê Văn Hảo (2006), Sổ tay phương pháp giảng dạy và đánh giá; Vũ Lan Hương (2013), Đánh giá trong giáo dục đại học; Đặng Bá Lãm (2003), Kiểm tra – đánh giá trong dạy học đại học; Nguyễn Thị Thanh Trà (2014), Đánh giá kết quả học tập của học sinh theo tiếp cận năng lực – xu hướng mới trong đánh giá hiện nay; Huỳnh Mộng Tuyền (2014),Đánh giá kết quả học tập theo hướng tiếp cận năng lực thực tiễn là khâu đột phá trong nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo… các tác giả đã nhấn mạnh việc đổi mới

kiểm tra, đánh giá hiện nay phải coi trọng cả quá trình học tập của người học chứ không chỉ là kết quả cuối cùng, đánh giá cần căn cứ vào nhiều nguồn thông tin, đánh giá không chỉ là hoạt động của giảng viên mà cần phải coi trọng cả tự đánh giá của người học.

Tóm lại kiểm tra, đánh giá KQHT của học viên là một vấn đề luôn nhận được sự quan tâm của các nhà khoa học, tuy nhiên ĐGKQHT của học viên tiếp cận theo hướng ĐGQT ở các trường đại học chưa được bàn nhiều, chưa có các công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này ĐGQT chỉ được đề cập tới một cách rất khái lược trong các tài liệu viết về KTĐG nói chung, những vấn đề về đặc điểm, bản chất, các phương pháp, kỹ thuật… áp dụng trong ĐGQT chưa được làm rõ.

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

* Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng ĐGQT trên cơ sở đó đề xuất các chuẩn, yêu cầu trong đánh giá, và xây dựng qui trình vận dụng ĐGQT trong dạy học môn GDHQS cho học viên sư phạm ở đại học quân sự hiện nay.

* Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ cơ sở lý luận về ĐGQT trong dạy học môn GDHQS cho học viên sư phạm ở đại học quân sự hiện nay.

Xây dựng các tiêu chuẩn trong đánh giá KQHT môn GDHQS của học viên

sư phạm ở đại học quân sự.

Phân tích làm rõ thực trạng KTĐG kết quả học tập, thực trạng vận dụng ĐGQT trong dạy học môn GDHQS của học viên sư phạm ở đại học quân sự hiện nay.

Trang 9

Đề xuất các yêu cầu và xây dựng qui trình vận dụng ĐGQT trong dạy học môn GDHQS ở đại học quân sự.

4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

* Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học môn GDHQS cho học viên sư phạm ở đại học quân sự

* Đối tượng nghiên cứu

Vận dụng đánh quá trình trong dạy học môn GDHQS cho học viên sư phạm ở đại học quân sự

* Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu làm rõ các các khái niệm trung tâm,

đề xuất các chuẩn đánh giá, các yêu cầu, và qui trình vận dụng ĐGQT trong ĐGKQHT môn GDHQS cho học viên sư phạm (đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn) ở đại học quân sự Các số liệu phục vụ cho nghiên cứu đề tài được lấy từ năm 2010 đến nay.

5 Giả thuyết khoa học

Việc nâng cao chất lượng dạy học môn GDHQS cho học viên sư phạm ở đại học quân sự phụ thuộc vào nhiều yếu tố và phải tuân theo những qui luật khách quan Nếu quá trình dạy học chú trọng vận dụng ĐGQT cả trước và trong quá trình dạy học bằng nhiều phương pháp, kỹ thuật như quan sát, đánh giá hồ sơ, đánh giá trên cơ sở thực hiện, tăng cường tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng, KQHT không chỉ tính bằng thi kết thúc học phần mà bằng cả xêmina, bài tập, thu hoạch, làm việc nhóm… thông qua đó điều chỉnh cách dạy, cách học cho phù hợp thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng học tập môn GDHQS cho học viên sư phạm.

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp luận nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác-Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh Quán triệt các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam

về giáo dục, đặc biệt là các quan điểm về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo hiện nay nhằm định hướng cho việc tiếp cận đối tượng nghiên cứu, luận giải các nhiệm vụ của đề tài

* Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu lý thuyết bao gồm:

Trang 10

- Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Phân tích tổng hợp, khái quát hóa các tài liệu lý luận về ĐGQT của các công trình trong nước và trên thế giới, các nghị quyết về đổi mới giáo dục và đào tạo của Đảng và quân đội trên cơ sở đó xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.

- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

+ Phương pháp tổng kết thực tiễn: tổng hợp, phân tích kết quả KTĐG ở đại

học quân sự để rút ra những vấn đề có liên quan đến đề tài.

+ Phương pháp quan sát: quan sát một số buổi dạy học, các hoạt động

KTĐG ở Học viện chính trị và Sĩ quan Chính trị nhằm thu thập những thông tin cần thiết hỗ trợ cho việc xử lý, đánh giá các kết quả điều tra; đảm bảo cho việc đánh giá được khách quan, chính xác Trong đó, tập trung quan sát các giờ lên lớp, các buổi coi, chấm thi

+ Phương pháp tọa đàm, trao đổi: trao đổi với giảng viên, CBQL và học

viên để tìm hiểu thực trạng về KTĐG, về vận dụng ĐGQT trong dạy học môn

GDHQS cho học viên sư phạm ở Học viện chính trị và Sĩ quan chính trị.

+ Phương pháp điều tra: điều tra bằng phiếu hỏi đối với 97 giảng viên,

CBQL và 145 học viên.

- Phương pháp khác :

+ Phương pháp xin ý kiến chuyên gia: xin ý kiến các chuyên gia, các nhà

khoa học về một số vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài.

+ Sử dụng phương pháp toán học thống kê để tổng hợp, xử lý số liệu trong

quá trình nghiên cứu đề tài.

7 Ý nghĩa của đề tài

Cung cấp cơ sở lý luận, thực tiễn cho hoạt động ĐGQT trong dạy học môn GDHQS cho học viên sư phạm ở đại học quân sự.

Đề xuất các chuẩn đánh giá, các yêu cầu và xây dựng qui trình vận dụng ĐGQT trong dạy học môn GDHQS cho học viên sư phạm ở đại học quân sự Làm cơ sở cho các giảng viên vận dụng và đổi mới KTĐG kết quả học tập của học viên

8 Kết cấu của đề tài

Phần mở đầu; phần nội dung gồm 3 chương 8 tiết; phần kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục kèm theo.

Trang 11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VẬN DỤNG ĐÁNH GIÁ

QUÁ TRÌNH TRONG DẠY HỌC 1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Đánh giá trong giáo dục

Bất cứ một quá trình nào, một lĩnh vực nào mà con người tham gia vào đều nhằm tạo ra những biến đổi nhất định Muốn biết biến đổi đó diễn ra ở mức độ nào thì cần phải đánh giá Trong thực tiễn đánh giá được thực hiện ở các lĩnh vực khác nhau và diễn ra trong những tình huống rất đa dạng Đánh giá là hoạt động của con người để phán xét về một hay nhiều đặc điểm của sự vật, hiện tượng, con người theo những quan niệm và chuẩn mực nhất định mà người đánh giá cần tuân theo.

Trong lĩnh vực giáo dục đánh giá là một bộ phận hợp thành rất quan trọng, một khâu không thể tách dời của quá trình giáo dục Nếu coi quá trình giáo dục

là một hệ thống thì đánh giá đóng vai trò phản hồi của hệ thống, đánh giá có vai trò tích cực trong việc điều chỉnh hệ thống, là cơ sở cho việc đổi mới giáo dục và đào tạo Chính vì thế đánh giá là một trong những vấn đề luôn được quan tâm.

Có rất nhiều định nghĩa về đánh giá trong lĩnh vực giáo dục, tuy nhiên tùy thuộc vào mục đích đánh giá, cấp độ đánh giá và đối tượng đánh giá mà mỗi định nghĩa nhấn mạnh hơn vào khía cạnh nào đó của lĩnh vực cần đánh giá.

Có những định nghĩa phản ánh việc đánh giá ở cấp độ chung nhất và nhấn mạnh vào khía cạnh giá trị, coi đánh giá là việc thu thập và lý giải một cách có

hệ thống những bằng chứng dẫn tới sự phán xét về mặt giá trị, như định nghĩa của C.E.Beeby (1997): “ Đánh giá là sự thu thập và lý giải một cách có hệ thống những bằng chứng dẫn tới sự phán xét về giá trị theo quan điểm hành động” hay theo P.E.Giffin (1996): “ Đánh giá là đưa ra phán quyết về giá trị của một sự kiện, nó bao hàm việc thu thập thông tin sử dụng trong việc đánh giá một chương trình, một sản phẩm, một tiến trình, mục tiêu hay tiềm năng ứng dụng của một cách thức đưa ra nhằm mục đích nhất định”.

Một số định nghĩa lại nhấn mạnh đến khía cạnh cần phải đi đến quyết định nào đó, có thể quyết định về người học, về người dạy, về chương trình… Như

Trang 12

định nghĩa của Marger: “ Đánh giá là việc miêu tả tình hình của học sinh và giảng viên để quyết định công việc cần phải tiếp tục và giúp học sinh tiến bộ” Nhiều định nghĩa về đánh giá nhấn mạnh đến sự phù hợp giữa mục tiêu và

sự thực hiện, đây là định nghĩa được quan tâm nhiều nhất Theo R.Tiler: “Quá trình đánh giá chủ yếu là quá trình xác định mức độ thực hiện các mục tiêu của chương trình giáo dục”[33,tr9] Nhìn chung, các quan niệm về đánh giá đều được xem xét phù hợp với mục đích, đối tượng cụ thể cần đánh giá.

Trong giáo dục, một quá trình đánh giá được thực thi chủ yếu là nhằm đo xem những mục tiêu giáo dục đã đạt được đến đâu, là quá trình thu thập và lý giải kịp thời có hệ thống những thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu qủa giáo dục căn cứ vào mục tiêu giáo dục làm cơ

sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo Đánh giá thể hiện ở sự xem xét mức độ thích đáng giữa toàn bộ các thông tin với toàn bộ các tiêu chuẩn tương ứng với các mục tiêu xác định, nhằm đưa ra một quyết định Từ các quan niệm trên có thể đưa ra quan niệm chung về đánh giá trong

giáo dục là: quá trình tiến hành có hệ thống để xác định mức độ mà đối tượng đạt được các mục tiêu giáo dục nhất định Trong luận văn của mình tác giả lấy

quan niệm trên làm cơ sở lý luận gốc để xây dựng các khái niệm trung tâm.

Đánh giá bao gồm sự mô tả định tính hay định lượng những kết quả đạt được và so sánh với mục tiêu giáo dục đã xác định Sự đánh giá cho phép xác định mục tiêu đặt ra có phù hợp hay không, nó xác định mức độ đạt được mục tiêu giáo dục cũng như tiến trình thực hiện mục tiêu giáo dục như thế nào Đánh giá trong giáo dục theo nghĩa rộng không phải chỉ là ĐGKQHT của người học

mà coi tất cả các khía cạnh của giáo dục là đối tượng của đánh giá như ĐGKQHT của người học, đánh giá chương trình, đánh giá giảng viên, đánh giá nhà trường và các cơ sở giáo dục, đào tạo Nhưng trong phạm vi đề tài này tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu ĐGKQHT của người học.

1.1.2 Đánh giá quá trình

Thuật ngữ ĐGQT trong tiếng Anh là Formative assesmen Hiện nay có rất nhiều cách gọi khác nhau về ĐGQT như đánh giá thực chất, đánh giá hình thành,

Trang 13

đánh giá thống nhất, đánh giá toàn cảnh, đáng giá phục vụ học tập, đánh giá vì quá trình học tập.

Black và wiliam nhấn mạnh đến sự phản hồi thông tin trong đánh giá nên

quan niệm rằng: ĐGQT là một dạng đánh giá chuẩn đoán nhằm cung cấp phản hồi cho giảng viên và học viên trong suốt quá trình giảng dạy.

Theo định nghĩa này, đánh giá được hiểu bao gồm tất cả các hoạt động mà giảng viên và học viên đã thực hiện để thu thập thông tin Những thông tin này có thể được sử dụng theo nghĩa chẩn đoán để điều chỉnh quá trình giảng dạy và học tập Theo định nghĩa này, đánh giá bao gồm các quan sát của giảng viên, thảo luận trong lớp học, phân tích các việc làm của học viên, chẳng hạn như bài tập về nhà và các bài kiểm tra Việc đánh giá trở thành quá trình khi thông tin được sử dụng để điều chỉnh việc giảng dạy và học tập sao cho đáp ứng được các nhu cầu của học viên Khi giảng viên biết được học viên đang tiến triển trong học tập như thế nào và họ đang gặp khó khăn ở chỗ nào, giảng viên có thể sử dụng những thông tin này để điều chỉnh việc giảng dạy, chẳng hạn như dạy lại hay thử các phương pháp khác, hay cho học viên thêm nhiều cơ hội hơn nữa để thực hành Những hoạt động này có thể giúp cho việc học tập của học viên thành công và hoàn thiện hơn.

Nguyên Lăng Bình thì cho rằng: ĐGQT là theo dõi và duy trì sự tiến bộ của học sinh qua sự phản hồi thường xuyên của các hoạt động học tập, đồng thời giảng viên có căn cứ để điều chỉnh cách dạy, cách học và kế hoạch, chương trình giáo dục.[2, tr168] Trần Thị Bích Liễu quan niệm: ĐGQT thực hiện trong suốt khóa học hay trong suốt thời gian học sinh/sinh viên thực hiện một dự án học tập nhằm hỗ trợ quá trình học Những người tham gia đánh giá có thể là giảng viên, học sinh/sinh viên, các bạn học cung cấp các thông tin về việc học tập của học sinh/sinh viên.[28,tr8]

Như vậy từ những quan niệm trên chúng ta có thể hiểu: ĐGQT là một quá trình thu thập, xử lý thông tin có hệ thống về KQHT của người học được diễn ra trong suốt thời gian học tập nhằm cung cấp phản hồi thường xuyên cho người dạy và người học.

ĐGQT bao gồm nhiều hoạt động khác nhau như thu thập thông tin, phân tích thông tin, đánh giá người học trước khi giảng dạy bằng các phương pháp

Trang 14

như phỏng vấn, quan sát, trắc nhiệm, tìm hiểu thông tin về người học qua đồng nghiệp, qua hồ sơ học tập Đánh giá liên tục trong quá trình giảng dạy như đánh giá kiến thức và hiểu đơn giản; đánh giá khả năng áp dụng và kỹ năng thực hành; đánh giá hiểu sâu và lập luận; đánh giá khả năng làm việc nhóm; đánh giá mức

độ thực hiện các nhiệm vụ học tập như thảo luận, xêmina, bài tập, thu hoạch; đánh giá thái độ Khi tiến hành đánh giá cần liên tục phản hồi thông tin cho người học và tạo điều kiện cho người học tham gia vào các hoạt động đánh giá.

Mục đích của ĐGQT là thu thập thông tin một cách chi tiết và có hệ thống về người học và sử dụng những thông tin đó làm cơ sở cho việc ra các quyết định phù hợp để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu dạy học đã xác định Đánh giá quá trình nhấn mạnh tới việc thu thập và cung cấp thông tin phản hồi trong toàn bộ quá trình dạy học Các phản hồi được xem như một phần của ĐGQT giúp cho người học nhận thức được các lỗ hổng về kiến thức, hay kỹ năng mà họ đang có so với mục tiêu được mong đợi và ĐGQT hướng dẫn họ thực hiện các hoạt động cần thiết để đạt được mục tiêu Loại phản hồi có ích nhất là các nhận xét, sửa lỗi trên các bài kiểm tra, bài tập, thu hoạch, tiểu luận của người học và động viên người học tập trung cẩn thận vào bài làm hơn là đơn giản chỉ cố gắng trả lời đúng câu hỏi ĐGQT hỗ trợ cho mong muốn tất cả các học viên đều có thể học đến trình độ cao và phản đối quan niệm cho rằng học viên có thành tích học tập kém vì khả năng hạn chế và vì vậy mà nhụt chí không

có mong muốn đầu tư cho việc học tập thêm nữa.

Chủ thể đánh giá trong ĐGQT là giảng viên và học viên Đây là điểm khác biệt rõ nhất của ĐGQT so với đánh giá tổng kết Trong ĐGQT học viên không chỉ là đối tượng đánh giá mà còn là chủ thể đánh giá một cách tích cực thông qua hoạt động đánh giá bản thân và đánh giá những học viên khác.

Tự đánh giá là một phần quan trọng trong ĐGQT, đó là hoạt động học viên

tự đánh giá, bình phẩm, phán quyết về công việc học tập của mình Các quyết định đánh giá do học viên đưa ra dựa trên các báo cáo, các bài luận, bài kiểm tra, bài tập, thu hoạch, khóa luận hay luận văn… của chính họ Tự đánh giá có vai trò cực kỳ quan trọng giúp học viên tự phê phán các công việc của họ, giúp họ nhận ra các điểm mạnh, điểm yếu của chính mình và đặc biệt là giúp thúc đẩy

Trang 15

năng lực tự định hướng của học viên Để có thể tự đánh giá tốt trước hết giảng viên cần giúp học viên nắm được các mục tiêu học tập và các tiêu chuẩn đánh giá Một số nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng những học viên hiểu được các mục tiêu học tập, các tiêu chuẩn đánh giá và có cơ hội để nhìn nhận lại việc làm của mình, thể hiện sự tiến bộ nhiều hơn những học viên không hiểu được các mục tiêu học tập và các tiêu chuẩn đánh giá

Đối tượng của đánh giá là quá trình học tập của học viên, trong ĐGQT kết quả học tập cuối cùng của học viên không phải là cái duy nhất mà hoạt động đánh giá hướng tới mà quan trọng hơn là chất lượng, hiệu quả của cả quá trình học tập của họ, những hoạt động đánh giá được tiến hành thường xuyên, liên tục cung cấp những thông tin phản hồi một cách hữu ích nhất cho cả người dạy và người học.

ĐGQT đề cập đến một loạt các phương pháp mà giảng viên sử dụng trong quá trình đánh giá HV để hiểu nhu cầu học tập và quá trình học tập trong một bài học hoặc một khóa học Nó giúp giảng viên xác định được những khó khăn mà học viên đang gặp phải khi hiểu một khái niệm, làm chủ một kỹ năng hoặc các tiêu chuẩn học tập chưa đạt được để từ đó điều chỉnh phương pháp giảng dạy hoặc hỗ trợ học tập

Đánh giá quá trình giúp giảng viên tìm hiểu về những gì người học đang học và làm thế nào để họ học tập tốt hơn Cách tiếp cận này có một số đặc điểm như sau:

Một là, hướng vào người học, ĐGQT tập trung vào việc quan sát và cải

thiện việc học tập hơn là quan sát và cải thiện việc giảng dạy Để cải thiện việc học nó chú trọng giúp người học thay đổi phương pháp, thói quen học tập, phát triển những kỹ năng siêu nhân thức của họ (kỹ năng suy nghĩ về khả năng học tập và suy nghĩ của chính mình) Để đạt được điều này cả giảng viên và người học đều phải tiến hành những điều chỉnh nhất định Những thông tin thu được từ ĐGQT sẽ hướng dẫn họ thực hiện những hiệu chỉnh đó một cách có hiệu quả ĐGQT giúp giảng viên và học viên đánh giá được sự tiến bộ và duy trì sự tiến bộ của chính bản thân mình, nó là một công cụ rất hữu hiệu trong việc phát triển năng lực của học viên.

Trang 16

Hai là, giảng viên là người điều khiển Không ai là người có thể yêu cầu giảng

viên là họ phải làm gì từ thời điểm này đến thời điểm khác trong lớp học ĐGQT luôn tôn trọng quyền tự chủ, tự do học thuật và phán đoán chuyên nghiệp của giảng viên Trong cách tiếp cận này giảng viên là người hoàn toàn tự do trong việc quyết định đánh giá cái gì? Đánh giá bằng phương pháp nào, tại thời điểm nào cho phù hợp Chính vì vậy các phương pháp đánh giá được sử dụng trong ĐGQT rất linh hoạt và đa dạng.

Ba là, tập trung nhiều hơn vào quá trình học tập ĐGQT khác với đánh giá

tổng kết vì mục đích của nó là hỗ trợ và nâng cao chất lượng học tập của người học hơn là cung cấp bằng chứng cho xếp loại người học Vì vậy cái quan trọng trong ĐGQT là phải xác định được người học đã làm gì, làm như thế nào, họ gặp khó khăn

gì trong quá trình học tập, học có điểm mạnh và điểm hạn chế gì? Cần làm gì để người học học tập tốt hơn Để thực hiện được mục tiêu ĐGQT cần được thực hiện trước, trong và sau khi giảng dạy với nhiều phương pháp và kỹ thuật đánh giá khác nhau.

Bốn là, thực hiện trong bối cảnh cụ thể Để có ích nhất ĐGQT phải đáp ứng các

nhu cầu và đặc điểm của người học trong các lớp học cụ thể với các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể khác nhau Vì vậy ĐGQT không thực hiện giống nhau ở các lớp học khác nhau, những đánh giá tốt ở lớp học này không có nghĩa là sẽ tốt ở lớp học kia.

Năm là, các hoạt động đánh giá diễn ra một cách thường xuyên, liên tục.

Khác với hình thức đánh giá tổng kết các hoạt động đánh giá chỉ diễn ra vào cuối học phần, lớp học, khóa học; trong ĐGQT các hoạt động đánh giá được diễn ra liên tục, thường xuyên Điều này đòi hỏi giảng viên và học viên phải giành nhiều thời gian và công sức cho các hoạt động đánh giá, đồng thời nó cũng đòi hỏi tính trách nhiệm rất cao của cả giảng viên và học viên, cả giảng viên và học viên cần xác định chất lượng và hiệu quả thực sự của quá trình dạy học mới là cái đích cuối cùng của các hoạt động đánh giá chứ không phải là “điểm số”, bởi vì điểm

số không phản ánh toàn diện quá trình học tập và nhiều khi mang tính hình thức.

Sáu là, phản hồi thông tin một cách thường xuyên Các hoạt động đánh giá

thường xuyên cần phải cung cấp thông tin kịp thời, hữu ích cho cả giảng viên và học viên Những thông tin phản hồi này sẽ hướng dẫn giảng viên thực hiện có

Trang 17

hiệu quả các hoạt động giảng dạy phù hợp với từng lớp học cụ thể, đồng thời giúp học viên nhận thức được các điểm mạnh, điểm hạn chế cuả bản thân từ đó định hướng hoạt động học tập của mình một cách chính xác Thông tin phản hồi hữu ích nhất cho học viên chính là bản sửa lỗi các bài kiểm tra, bài tập, thu hoạch… trong ĐGQT việc phản hồi thông tin và sử dụng các thông tin phản hồi để điều chỉnh hoạt động dạy và học là một việc làm rất quan trọng, nếu không có hoạt động này ĐGQT sẽ trở nên ít có giá trị.

Như vậy từ những đặc điểm phân tích ở trên chúng ta có thể hiểu bản chất

của ĐGQT là: quá trình đánh giá một cách có hệ thống, liên tục, thường xuyên, tại nhiều thời điểm khác nhau nhằm thúc đẩy và duy trì sự tiến bộ của người học đồng thời giúp kiểm soát liên tục việc thực hiện các mục tiêu dạy học (kiến thức,

kỹ năng, thái độ) đã xác định

- Ưu điểm của ĐGQT

+ Trong đánh giá sử dụng tiếp cận lấy người học làm trung tâm nên có tác dụng thúc đẩy động cơ học tập cho người học.

+ Thúc đẩy người học tham gia tích cực vào bài học

+ Khuyến khích các hoạt động nghiên cứu ngoài thời gian trên lớp học + Có thể đo được chiều sâu kiến thức và trí tuệ của người học ngoài những

gì người học tiếp thu được trên lớp.

+ Khuyến khích người học sáng tạo

+ Đánh giá một cách toàn diện và tỉ mỉ

+ Giúp giảng viên đưa ra những dự đoán khá chính xác về quá trình học tập của người học.

+ Tăng cường mối quan hệ giữa người dạy và người học, nhanh chóng thiết lập các thông tin phản hồi quay vòng giữa người học và người dạy.

+ Giúp giảng viên trở thành người cố vấn nhiều hơn là người đánh giá

+ Tạo hành lang cho người học tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau

+ Rất thích hợp với mục tiêu phát triển năng lực cho người học

- Nhược điểm của ĐGQT

+ Chi phí cao, tốn nhiều thời gian và công sức

+ Việc cho điểm có thể mang tính chủ quan

Trang 18

+ Đòi hỏi phải tập huấn kĩ việc đánh giá và chấm điểm

+ Cần sự phối hợp, hợp tác của rất nhiều lực lượng

1.1.3 Vận dụng đánh giá quá trình trong dạy học môn giáo dục học quân sự

Theo từ điển tiếng Việt vận dụng là: "Đem tri thức lý luận dùng vào thực tiễn" [48,tr466] Như vậy, vận dụng là một khái niệm chỉ quá trình hoạt động của chủ thể nhằm mục đích đem lý luận dùng vào thực tiễn, cải tạo thực tiễn theo hướng mà lý luận đã chỉ ra.

Từ cách tiếp cận trên, có thể hiểu khái niệm vận dụng ĐGQT trong dạy học môn GDHQS như sau:

Vận dụng ĐGQT trong dạy học môn GDHQS là đem lý thuyết ĐGQT áp dụng một cách linh hoạt, sáng tạo vào thực tiễn để đánh giá KQHT của người học nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu ĐGKQHT đã xác định.

Vận dụng ĐGQT vào thực tiễn dạy học môn GDHQS là khái niệm dùng để chỉ quá trình hoạt động, nhằm đem lý thuyết ĐGQT áp dụng vào thực tiễn đánh giá KQHT môn học một cách linh hoạt, sáng tạo, đạt hiệu quả cao Quá trình này bao gồm nhiều hoạt động đan xen, thâm nhập vào nhau, với mục đích cuối cùng là thực hiện mục tiêu dạy học môn GDHQS một cách hiệu quả nhất.

Trước hết, để đem lý thuyết ĐGQT áp dụng một cách có hiệu quả trong đánh giá KQHT môn GDHQS của học viên phải có sự nghiên cứu, khái quát, phát triển lý luận về ĐGQT Điều này là hết sức cần thiết trong quá trình áp dụng

lý thuyết ĐGQT vào thực tiễn đánh giá Bởi vì, hiện nay ở nước ta ĐGQT là một vấn đề lý luận hết sức mới mẻ, chưa được nghiên cứu nhiều và còn nhiều quan niệm khác nhau về ĐGQT Mỗi cách tiếp cận về ĐGQT thường gắn với từng đối tượng đánh giá cụ thể, trong các môi trường, điều kiện dạy học khác nhau, bậc học khác nhau Sẽ không mang lại hiệu quả cao trong đánh giá, nếu đem nguyên

xi các qui trình đánh giá ở nước ngoài áp dụng vào nước ta hoặc đem mô hình đánh giá ở bậc học phổ thông áp dụng vào bậc học cao đẳng, đại học Do vậy, cần thiết phải có sự nghiên cứu, khái quát, phát triển về mặt lý luận, để lựa chọn các lý thuyết và mô hình đánh giá phù hợp Việc nghiên cứu, khái quát về mặt lý

Trang 19

luận cần tập trung thống nhất về mặt khái niệm; làm rõ bản chất, đặc điểm, những thế mạnh, cũng như những hạn chế của ĐGQT; đưa ra các chuẩn, tiêu chí đánh giá phù hợp với mục tiêu dạy học môn GDHQS, xây dựng qui trình đánh giá khoa học có khả năng áp dụng một cách hiệu quả trong thực tiễn đánh giá Cùng với sự khái quát, phát triển về mặt lý luận, cần phải có sự phân tích đặc điểm và thực trạng đánh giá KQHT của học viên hiện nay Việc phân tích đặc điểm, thực trạng đánh giá KQHT của học viên cho phép chủ thể nhận thức được điểm mạnh, điểm hạn chế của hoạt động đánh giá hiện nay; những thuận lợi, khó khăn

và khả năng vận dụng ĐGQT; từ đó đề xuất các yêu cầu, điều kiện thích hợp đảm bảo cho việc vận dụng ĐGQT vào thực tiễn đánh giá học viên một cách có hiệu quả Cụ thể, cần phải phân tích làm rõ đặc điểm về mục tiêu, nội dung, cách tổ chức dạy học môn GDHQS cho học viên sư phạm ở đại học quân sự và đặc điểm về người dạy và người học; phân tích thực trạng của quá trình đánh giá hiện nay; xem xét các khả năng, những thuận lợi, khó khăn trong việc vận dụng ĐGQT vào thực tiễn đánh giá KQHT môn GDHQS ở đại học quân sự hiện nay.

Khi vận dụng ĐGQT cần phải thay đổi nhận thức về chủ thể tiến hành các hoạt động đánh giá Chủ thể tiến hành các hoạt động đánh giá là giảng viên và học viên Giảng viên là người thiết kế mục tiêu, lựa chọn phương pháp, công cụ đánh giá học viên là người tham gia vào quá trình đánh giá một cách chủ động thông qua các hoạt động như tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng, xây dựng các tiêu chí đánh giá, thiết kế hồ

sơ học tập…

Vận dụng ĐGQT trong đánh giá KQHT của học viên đòi hỏi giảng viên phải

sử dụng nhiều phương pháp, kỹ thuật đánh giá khác nhau; phải tiến hành các hoạt động đánh giá tại nhiều thời điểm khác nhau trong suốt quá trình học tập môn học KQHT của học viên không chỉ được đánh giá bằng kết quả thi hết môn mà còn bằng kết quả làm bài tập, thu hoạch, tiểu luận, xêmina, thảo luận, kiểm tra giữa học phần,

hồ sơ học tập, kết quả quan sát… để thu thập thông tin về người học giảng viên có thể sử dụng các phương pháp chủ yếu là, nghiên cứu sản phẩm học tập của học viên, quan sát trên lớp, hỏi vấn đáp, đánh giá trên cơ sở thực hiện nhiệm vụ, tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng.

Trang 20

Nghiên cứu sản phẩm học tập của học viên: học viên thể hiện những ý

tưởng khoa học, kết quả học tập và rèn luyện của mình thông qua các sản phẩm học tập như bài tập, thu hoạch ở nhà, bài tập trên lớp; bản kế hoạch làm việc; báo cáo kết quả làm việc nhóm, báo cáo kết quả thực hành; hồ sơ học tập; bài kiểm tra trên giấy…Các sản phẩm sẽ bao gồm tất cả những gì học viên có thể đáp ứng yêu cầu của giảng viên và thường có một trong ba dạng thức là, lựa chọn câu trả lời đã cho sẵn, tự tìm tòi rồi trình bày câu trả lời, và trình diễn kết quả:

- Câu hỏi/bài tập lựa chọn là câu hỏi dạng nhiều lựa chọn, đúng/sai, ghép đôi, yêu cầu học viên lựa chọn câu trả lời trong những phương án được nêu sẵn.

- Câu hỏi/bài tập trình bày câu trả lời yêu cầu học viên phải kiến tạo ra cấu trúc và trình bày ý tưởng Độ dài của câu trả lời rất đa dạng, bài luận đòi hỏi phải dài, có cấu trúc logic, chặt chẽ, trong khi câu hỏi “trả lời ngắn” hoặc “ điền vào chỗ trống” lại yêu cầu chỉ một từ hoặc một đoạn văn.

- Trình diễn là mở rộng của hình thức trình bày câu trả lời – đòi hỏi phải trình bày quá trình thực hiện sản phẩm, ví dụ như báo cáo tiến trình thực hiện, báo cáo kết quả hoạt động nhóm, các hồ sơ học tập, các dự án học tập…

Quan sát trên lớp: Quan sát là phương pháp thu thập thông tin về học viên

qua tri giác trực tiếp và ghi chép trung thực những hoạt động, hành vi, phản ứng, thái độ, sắc thái tình cảm… trong các tình huống cụ thể Bằng quan sát, giảng viên đánh giá được các thao tác, hành vi, các phản ứng, các kỹ năng thực hành,

kỹ năng giải quyết vấn đề… Từ đó, nhận xét kết quả học tập và rèn luyện của học viên chẳng hạn như kỹ năng nắm bắt nội dung và giúp nhau hiểu, kỹ năng lãnh đạo giúp nhóm thảo luận nhằm đạt được mục đích đề ra, kỹ năng thương lượng khi người học trình bày các ý tưởng khác nhau để nhóm xem xét thống nhất các ý kiến mà vẫn tôn trọng các ý kiến khác, kỹ năng giải quyết vấn đề khi người học giải quyết khó khăn hoặc tìm giải pháp thay thế… Quan sát là một phương pháp có ưu thế đặc biệt trong đánh giá thái độ, tính tích cực học tập và khả năng làm việc nhóm nhưng để có được thông tin chính xác cần phải được tiến hành thường xuyên, liên tục và phải ghi chép cụ thể, tỉ mỉ các thông tin trong nhật ký giảng dạy.

Trang 21

Hỏi vấn đáp: là phương pháp giảng viên sử dụng thường xuyên và phổ biến

nhất trong quá trình học tập trên lớp nhằm thu thập thông tin về việc học tập từ đầu cho đến cuối giờ học Ở đó mỗi câu hỏi có một chức năng nhất định như kiểm tra lại kiến thức đã học, phát hiện ra vấn đề mới, những kết luận rút ra từ bài học này, thu hút học viên vào bài học… bên cạnh đó trả lời vấn đáp là một hình thức quan trọng để rèn luyện, phát triển kỹ năng nói, trình bày ý tưởng, và đánh giá khả năng hiểu vấn đề thực sự của học viên.

Đánh giá trên cơ sở thực hiện nhiệm vụ là kiểu đánh giá tập trung vào đánh

giá những gì người học có thể làm được hoặc tạo ra chứ không chỉ là những gì người học biết Kiểu đánh giá này cung cấp thông tin về mức độ hiểu và khả năng áp dụng kiến thức, kỹ năng, khả năng tư duy vào để giải quyết các nhiệm

vụ học tập Để tiến hành có hiệu quả phương pháp, yêu cầu các nhiệm vụ, bài tập phải phản ánh được những vấn đề trọng tâm của chương trình học cùng với những kỹ năng tương ứng cần thiết Khi chuẩn bị bài tập để đánh giá giảng viên phải hình dung trước những gì cần làm, những thông tin cần đọc, thời gian, các bước tiến hành và khả năng làm bài của người học Các bài tập cần được thiết kế phù hợp với mục tiêu đã xác định.

Tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng: (i) Tự đánh giá, giảng viên sử dụng

phương pháp tự đánh giá khi cho phép học viên tự liên hệ kết quả nhiệm vụ mà mình đã thực hiện với các mục tiêu đặt ra từ đầu, qua đó học viên sẽ học cách đánh giá các nỗ lực và tiến bộ cá nhân, biết nhìn lại quá trình học tập và tự phát hiện những điểm cần thay đổi để hoàn thiện bản thân Những thay đổi này có thể

là một cách nhìn tổng quan mới về nội dung, một sự giải thích mới, thực hành cách mới để đạt đến mức độ thuần thục Khi học viên tự đánh giá, không chỉ đơn thuần là tự mình cho điểm mà là đánh giá những nỗ lực, quá trình và kết quả đạt được, vì vậy giảng viên cần tạo cơ hội để học viên tham gia vào quá trình thiết lập những tiêu chí học tập của bản thân, qua đó có thể đạt được mức độ cao hơn

và có thể phản hồi lại quá trình học của mình (ii) Đánh giá đồng đẳng, là quá

trình các nhóm học viên tự đánh giá lẫn nhau Một học viên sẽ theo dõi đồng chí của mình trong suốt quá trình học tập do đó có thể am hiểu thêm về kiến thức, kỹ năng khi đối chiếu kết quả đánh giá với giảng viên Phương pháp đánh giá này

Trang 22

được dùng như một biện pháp hỗ trợ học viên trong quá trình học tập hơn là để lấy kết quả đánh giá Học viên sẽ đánh giá nhau dựa trên những tiêu chí được định sẵn, các tiêu chí này cần được diễn giải bằng những thuật ngữ cụ thể và quen thuộc Giảng viên có vai trò định hướng, hướng dẫn việc đánh giá đồng đẳng và coi đó như một phần của hoạt động học Đánh giá đồng đẳng không chỉ cung cấp thông tin về KQHT, mà còn phản ánh được sự trung thực, linh hoạt, trí tưởng tượng, sự đồng cảm… của người đánh giá Từ đó tạo thêm động lực để học viên học cách học chứ không chỉ tập trung vào điểm số Đánh giá đồng đẳng giúp người đánh giá và người được đánh giá đều phát triển các kỹ năng hợp tác, giao tiếp, trách nhiệm, tính tự chủ và khả năng giải quyết vấn đề… bởi thông qua hình thức làm việc nhóm, học viên sẽ học được cách đóng góp có hiệu quả cho thành công của nhóm, lợi ích của nhóm sẽ được ưu tiên ở mức tối đa.

Như vậy khi vận dụng ĐGQT giảng viên có nhiệm vụ thiết kế mục tiêu, lựa

chọn phương pháp, công cụ, quyết định thời điểm đánh giá, nhận xét và phản hồi thông tin đánh giá cho người học kịp thời; học viên phải tiến hành tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng, tham gia vào việc thiết kế các tiêu chuẩn đánh giá trong lớp học, chủ động đề xuất các phương pháp, hình thức đánh giá với giảng viên.

Để vận dụng có hiệu quả ĐGQT trong dạy học môn giáo dục học quân sự cần phải có những điều kiện từ phía thực tiễn quá trình dạy học, thực tiễn tổ chức đánh giá KQHT của học viên Điều này có nghĩa, vận dụng ĐGQT bao gồm việc làm rõ các nhân tố tác động, trong đó quan trọng nhất là nhân tố người dạy và người học, điều kiện về chương trình và môi trường quản lý đào tạo Cụ thể, phải nâng cao nhận thức, bồi dưỡng kỹ năng xác định mục tiêu, phương pháp đánh giá theo loại hình ĐGQT cho giảng viên, học viên và CBQL; đổi mới mục tiêu, chương trình, môi trường dạy học và qui chế KTĐG đảm bảo cho việc tổ chức ĐGQT đạt hiệu quả cao.

Để vận dụng ĐGQT vào thực tiễn dạy học môn GDHQS một cách hiệu quả nhất định phải xây dựng được qui trình đánh giá Đây có thể được xem như là cái đích cuối cùng và là tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả của việc vận dụng ĐGQT vào thực tiễn quá trình dạy học môn GDHQS Qui trình đánh giá này bao gồm ba giai đoạn là đánh giá trước khi giảng dạy, trong quá trình giảng dạy và sau khi giảng

Trang 23

dạy, trong mỗi giai đoạn lại gồm nhiều bước khác nhau được sắp xếp theo một trình

tự logic khoa học.

Như vậy, vận dụng ĐGQT trong dạy học môn GDHQS là một khái niệm chỉ quá trình hoạt động của chủ thể, với mục đích đem lý thuyết ĐGQT áp dụng vào thực tiễn đánh giá KQHT của học viên một cách linh hoạt, sáng tạo Quá trình này bao gồm nhiều hoạt động, với sự tham gia phối hợp của nhiều lực lượng khác nhau nhằm hướng tới mục đích cuối cùng là phát triển năng lực của học viên theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo đã đặt ra.

1.2 Nguyên tắc và tiêu chuẩn đánh giá

1.2.1 Nguyên tắc đánh giá

Nguyên tắc đánh giá là luận điểm sư phạm cơ bản chỉ đạo toàn bộ hoạt động của chủ thể đánh giá nhằm thu thập thông tin đầy đủ, chính xác về đối tượng đánh giá theo mục tiêu đánh giá đã xác định Đánh giá cần phải tuân theo các nguyên tắc: đảm bảo tính khách quan, công bằng, toàn diện, thường xuyên có hệ thống Trong ĐGQT ngoài các nguyên tắc trên còn phải đặc biệt chú ý tới các nguyên tắc sau:

1.2.1.1 Đánh giá cần dựa vào thông tin tin cậy từ nhiều chủ thể khác nhau

Để đảm bảo ĐGQT được chính xác, khách quan cần đảm bảo thu thập thông tin đa chiều từ nhiều chủ thể khác nhau như thông tin của các giảng viên tham gia giảng dạy, cán bộ quản lý, tự đánh giá của học viên và đánh giá đồng đẳng của các học viên cùng lớp Việc thu thập thông tin đánh giá từ nhiều đối tượng cần đảm bảo độ tin cậy, đặc biệt là độ tin cậy của các bài KTĐG.

Độ tin cậy là đại lượng biểu thị tính chính xác, nhất quán về KQHT qua các quá trình lặp lại của một qui trình đánh giá Độ tin cậy của bài kiểm tra là đại lượng biểu thị tính chính xác của kết quả thu được từ bài kiểm tra này Trong giáo dục, năng lực học tập của một học viên tại một thời điểm là một đại lượng không đổi, kết quả đo lường sẽ chính xác, tức là đáng tin cậy, nếu dùng một công cụ đo chuẩn Để xem liệu một kết quả ĐGKQHT có chính xác hay không phải xem liệu kết quả đó

có nhất quán với những kết quả đo khác hay không.

Độ tin cậy phụ thuộc vào sai số đo đạc, càng hạn chế được sai số thì càng tăng

độ tin cậy Các sai số có thể bắt nguồn từ: (i) Bản thân học viên: thiếu động lực học tập nên thiếu nghiêm túc khi tham gia đánh giá; thiếu những kinh nghiệm học tập

Trang 24

cần thiết; tình trạng tâm sinh lý không ổn định, bất thường; bị ốm đau; không chuẩn

bị tốt cho việc đánh giá…(ii) Công cụ đo lường: câu hỏi, bài tập chứa đựng các từ

mơ hồ, không rõ ràng, không sáng sủa, có thể hiểu theo nhiều cách; thang phân loại không rõ ràng; câu hỏi, bài tập không đo đúng mục tiêu…[36,tr 71].

Để xác định độ tin cậy của của bài kiểm tra có thể dùng các phương pháp: Phương pháp kiểm tra lại: tiến hành hai lần kiểm tra cùng một bài kiểm tra cho cùng một nhóm học viên và tính toán độ tương quan giữa hai bộ điểm số thu được Tùy thuộc vào khoảng thời gian giữa hai lần kiểm tra mà độ tin cậy có thể

bị ảnh hưởng ở một mức độ nào đó bởi các nhân tố thuộc về người học ( thay đổi

về động cơ, tích lũy thêm hay quên bớt một số thông tin); Phương pháp dùng bài kiểm tra tương đương: tiến hành hai bài kiểm tra có độ khó tương đương trên cùng một nhóm học viên và tính toán hệ số tương quan giữa hai bộ điểm số thu được; Phương pháp phân nhỏ: phân chia bài kiểm tra thành hai phần tương đương nhau về nội dung, độ khó của câu hỏi, tính hệ số tương quan giữa hai bộ điểm số của hai nửa bài kiểm tra.

Khi thu thập thông tin từ học viên và cán bộ quản lý cần đảm bảo các thông tin thu được có độ tin cậy cao, tránh sử dụng các thông tin mang tính cảm tính, chủ quan hoặc định kiến cá nhân.

1.2.1.2 Sử dụng nhiều phương pháp, kỹ thuật khác nhau để có thể đánh giá được nhiều mục tiêu đặt ra

Có rất nhiều phương pháp, kỹ thuật có thể dùng trong đánh giá như quan sát, phỏng vấn, dùng phiếu hỏi, test, nghiên cứu hồ sơ học tập… Tùy thuộc vào mục tiêu, nôi dung và đối tượng được đánh giá và các yếu tố khác như tầm quan trọng, thời gian, thời điểm, sự phối hợp của các cá nhân, tổ chức liên quan… để lựa chọn các phương pháp phù hợp, đem lại hiệu quả cao cho đánh giá Mỗi phương pháp đánh giá có ưu điểm, nhược điểm riêng, lựa chọn phương pháp đánh giá phù hợp sẽ giúp cho việc thu thập thông tin một cách nhanh chóng, dễ dàng, đầy đủ và tập trung vào mục tiêu nhất Chọn phương pháp, kỹ thuật, và bộ công cụ đúng là điều rất quan trọng đảm bảo cho thành công của ĐGQT.

Trang 25

Trong ĐGQT các hoạt động đánh giá được nhiều chủ thể tiến hành, tại nhiều thời điểm khác nhau trong quá trình dạy học vì vậy việc vận dụng nhiều phương pháp, kỹ thuật đánh giá khác nhau là một yêu cầu bắt buộc Mỗi chủ thể với khả năng, mục đích đánh giá tại mỗi thời điểm cụ thể sẽ quyết định việc lựa chọn phương pháp đánh giá phù hợp.

ĐGQT được tiến hành nhằm mục đích đánh giá tính sẵn sàng học tập; đánh giá kiến thức và hiểu đơn giản; đánh giá hiểu sâu và lập luận; đánh giá kỹ năng; đánh giá sự tiến bộ của học viên trong quá trình học tập… Việc đánh giá các mục tiêu như trên được tiến hành vào các thời điểm khác nhau cần phải sử dụng nhiều phương pháp, kỹ thuật đánh giá đa dạng, không có phương pháp nào là toàn năng phù hợp để đánh giá tất cả các mục tiêu.

1.2.1.3 Phải tạo ra sự thống nhất, liên tục trong đánh giá, thông tin đánh giá phải là phương tiện để cải tiến và nâng cao chất lượng dạy và học.

Thống nhất về nhận thức của các chủ thể tham gia đánh giá về mục đích, tiêu chí đánh giá là yếu tố rất quan trọng đầu tiên đảm bảo cho quá trình đánh giá được khách quan, công bằng, chính xác Mục đích của ĐGQT không nhằm phân loại, xếp hạng học viên mà chỉ thu thông tin liên tục về thực trạng tiến hành các hoạt động học tập của họ để từ đó có những phản hồi thích hợp giúp họ điều chỉnh động cơ, thái độ, phương pháp học tập nhằm đạt được mục tiêu đào tạo một cách hiệu quả nhất Trong ĐGQT các chủ thể đánh giá cần đánh giá cả kiến thức, kỹ năng và thái độ của người học vì vậy khi thiết kế các đề thi kiểm tra, các nhiệm vụ học tập cho học viên cần chú

ý tới điều này để đảm bảo tính toàn diện Tuy nhiên trong thực tế việc thiết kế đề thi đảm bảo cả ba mục tiêu kiến thức, kỹ năng, thái độ không phải lúc nào cũng thực hiện được vì vậy cần đảm bảo tính liên tục của các hoạt động đánh giá tại các thời điểm khác nhau, bối cảnh khác nhau để có thể có đủ thông tin đánh giá được cả ba mục tiêu như trên.

Mục tiêu đánh giá được cụ thể hóa thành các tiêu chuẩn, tiêu chí vì vậy khi tham gia kiểm tra đánh giá học viên đội ngũ giảng viên cần phải sử dụng bộ tiêu chí như nhau để đánh giá có như vậy mới đảm bảo được tính thống nhất và có được kết quả chính xác về phẩm chất và năng lực của người học.

Trang 26

Để ĐGQT phát huy đầy đủ ưu thế của mình đòi hỏi phải đặc biệt quan tâm đến các thông tin phản hồi từ các kết quả đánh giá, các thông tin này cần được lưu trữ một cách khoa học, hệ thống đảm bảo sự thuận tiện cho cả giảng viên và học viên có thể rễ ràng truy cập khi cần thiết Các thông tin này cần được sử dụng như những công cụ để kiểm soát việc thực hiện mục tiêu dạy học và liên tục cải tiến hoạt động dạy và học của giảng viên và học viên.

1.2.2 Các chuẩn đánh giá

Chuẩn đánh giá là những chỉ dẫn, các nguyên tắc, các tính chất, dấu hiệu để đánh giá chất lượng thực hiện của học viên Các chuẩn là cái mà chủ thể đánh giá dùng để đo giá trị của các câu trả lời, các sản phẩm hay hoạt động của học viên Trong đánh giá KQHT môn GDHQS cho học viên sư phạm các chuẩn phải bao gồm kiến thức, kỹ năng và thái độ.

- Trình bày, phân tích được những đơn vị kiến thức cơ bản

- Thể hiện được các kỹ năng: phân tích, khái quát, tổng hợp, đánh giá…

- Thể hiện được kiến thức tổng hợp

- Rút ra ý nghĩa, biện pháp, kinh nghiệm… phù hợp

- Nắm chắc đối tượng người học

- Nắm được cấu trúc nội dung giáo trình và các tài liệu có liên quan đến bài giảng

- Sắp xếp cấu trúc nội dung bài giảng phù hợp với mục

2

Trang 27

sư phạm tiêu, đối tượng, thời gian

- Xác định đúng trọng tâm, trọng điểm, dự kiến phương pháp, phương tiện sẽ sử dụng cho từng nội dung phù hợp

- Bài giảng rõ ràng, hình thức bài giảng đúng qui cách

* Thực hành bài giảng

- Đặt vấn đề tự nhiên, kích thích tính tích cực của học viên

- Trình bày bài giảng một cách logic, nhanh chóng điều chỉnh nội dung, phương pháp cho phù hợp với lớp học

- Sử dụng nhiều phương pháp dạy học một cách khéo léo, đặc biệt là các phương pháp dạy học hiện đại

- Ngôn ngữ đảm bảo tính khoa học, tường minh, lưu loát, giản dị; luôn duy trì được sự chú ý của học viên

- Phong cách tự nhiên, bình tĩnh, tự tin, thể hiện sự nhiết huyết với bài giảng

- Hoàn thành tốt các mục tiêu bài giảng

Hồ sơ

học tập

- Hình thức trình bày hợp lý, có bảng mục lục để tiện tìm hiểu, đánh giá

- Bài giới thiệu tổng quát về hồ sơ học tập đầy đủ, tường minh cho người đọc biết những điểm nổi bật của hồ sơ

- Các bản nhận xét về các mục tiêu học tập trong từng thời

- Có khả năng lãnh đạo nhóm làm việc có hiệu quả khi được yêu cầu làm trưởng nhóm

1

Quan sát các

hoạt động

- Luôn chuẩn bị chu đáo trước khi học tập

- Ham học, có niềm vui trong học tập, dành nhiều thời gian cho nhiệm vụ học tập

- Thể hiện được sự hứng thú với bài giảng; luôn tập trung trong các giờ học; tích cực tương tác với bạn học, giảng viên; hay đặt câu hỏi

- Luôn duy trì chất lượng học tập tốt, hoàn thành các

1

Trang 28

học tập nhiệm vụ học tập đúng thời gian qui định

- Tôn trọng, đồng cảm, chia sẻ với người khác, thân thiện, cởi mở trong giao tiếp

- Có ý chí quyết tâm vươn lên trong học tập, kiên trì khắc phục khó khăn

- Nhớ được kiến thức đã học trong thời gian tương đối lâu

- Thể hiện được kiến thức đã biết trong tình huống cụ thể

- Chuyển đổi được kiến thức sang một hình thức khác

- Cho thấy kiến thức, kỹ năng có được từ các tài liệu khác nhau.

- Thể hiện được các kỹ năng : giải thích, phân tích, so sánh, tóm tắt, khái quát, suy luận rút ra vấn đề chính…

- Đánh giá, bình luận đưa ra quan điểm đúng đắn

- Sử dụng kiến thức đã học để đánh giá thực trạng

- Ứng dụng kiến thức để giải quyết các nhiệm vụ

- Đề xuất được các biện pháp, qui trình, phương pháp, rút

ra ý nghĩa… phù hợp

2

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến đánh giá quá trình

1.3.1 Các nhân tố khách quan

* Yêu cầu đổi mới giáo dục, đào tạo

Hiện nay trước sự phát triển như vũ bão của khoa học, đặc biệt là công nghệ thông tin nền giáo dục của các nước trên thế giới đã có sự thay đổi mạnh mẽ, trong đó có giáo dục nước ta, chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo đòi hỏi phải chuyển từ mục tiêu trang bị tri thức là chủ yếu sang phát triển năng lực cho người học Bước chuyển biến căn bản này đang tác động to lớn tới quá trình dạy học trong các nhà trường, dạy học theo hướng phát triển năng lực cho người học đòi hỏi phải thay đổi cơ bản trên nhiều phương diện trong đó có đánh giá KQHT của người học, đổi mới KTĐG vừa xuất phát từ yêu cầu của đổi mới giáo dục, đào tạo vừa là động lực thúc đẩy quá trình đổi mới ấy diễn ra nhanh, mạnh, hiệu quả hơn.

* Mục tiêu, nội dung dạy học

- Mục tiêu dạy học

Hiểu một cách ngắn gọn mục tiêu dạy học chính là các kết quả học tập cần đạt sau một quá trình dạy học Mục tiêu dạy học ở các trường đại học nói chung

Trang 29

và đại học quân sự nói riêng hiện nay cần cơ bản phản ánh được bốn cột trụ trong báo cáo trình UNESCO của Uỷ ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI đề cập đến

đó là: học để biết và sáng tạo, học để làm và phát triển, học để cùng chung sống với nhau và học để làm người.

Mục tiêu dạy học là nhân tố quan trọng nhất trong quá trình dạy học, nó chi phối tới tất cả các nhân tố trong quá trình dạy học trong đó có phương thức KTĐG Vấn đề xác định mục đích KTĐG có quan hệ rất chặt chẽ với mục tiêu dạy học vì người ta chỉ đánh giá những gì được xác định trong mục tiêu dạy học, mục tiêu dạy học là kim chỉ nam định hướng mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức KTĐG, đồng thời cũng là căn cứ để xác định các tiêu chí ĐGKQHT của học viên Mục tiêu dạy học càng rõ ràng tường minh bao nhiêu thì càng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động KTĐG; ngược lại mục tiêu dạy học không rõ ràng thì hoạt động KTĐG sẽ không có phương hướng chính xác Mục tiêu dạy học là nhân tố khách quan chi phối hoạt động KTĐG nhưng kiểm tra đánh giá là công cụ để kiểm soát việc thực hiện mục tiêu dạy học, thông qua KTĐG người ta phát hiện thực trạng, đề xuất các giải pháp để thực hiện mục tiêu dạy học tốt hơn.

Để mục tiêu dạy học có thể đánh giá được đòi hỏi: Mục tiêu dạy học phải hướng vào người học: Thật sự họ có thể làm được sau khi học (thường gọi là mục tiêu học tập); mục tiêu đó có thể mô tả tường minh và có thể quan sát được; mục tiêu đó có thể thể lấy làm bằng chứng cho kết quả học tập và đo lường được theo các cấp độ nhận thức, thái độ và kỹ năng hành động; mục tiêu đó gắn với phương pháp dạy học và điều kiện để đạt được nó; nên diễn đạt mục tiêu dạy học bắt đầu bằng các động từ như: thực hiện, chứng minh, so sánh, áp dụng

Mục tiêu dạy học qui định việc xác định nội dung KTĐG Với mục tiêu học

để biết thì nội dung KTĐG sẽ chủ yếu mang tính chất ghi nhớ, tái hiện Nhưng trong xã hội hiện đại ngày nay với yêu cầu học suốt đời thì tái hiện là chưa đủ nên nội dung kiểm tra đánh giá phải kết hợp hài hòa giữa tái hiện và sáng tạo Việc đánh giá chất lượng học tập của học viên không chỉ căn cứ vào số lượng, chất lượng thông tin mà còn phải căn cứ vào quá trình học viên thu nhận, sàng lọc, xử lý thông tin, cách thức họ sử dụng các thông tin ấy phục vụ cho việc giải

Trang 30

quyết các tính huống trong thực tế cuộc sống, trong thực hiện chức trách nhiệm

vụ của mình sau khi ra trường Mục tiêu dạy học hiện đại đòi hỏi học viên sư phạm cần có khả năng hợp tác với nhau trong cuộc sống và trong giải quyết các nhiệm vụ vì vậy nội dung KTĐG cần thiết kế các nhiệm vụ dạy học đòi hỏi học viên phải chia sẻ, hợp tác với nhau,việc hợp tác là yêu cầu bắt buộc, là tiêu chí để ĐGKQHT

Mục tiêu dạy học qui định việc lựa chọn phương pháp, hình thức KTĐG Mục tiêu dạy học truyền thống theo định hướng tiếp cận nội dung thường nhấn mạnh hình thức đánh giá tổng kết, được tiến hành vào thời điểm cuối các môn học, học phần, học kỳ, năm học với các phương pháp chủ yếu là thi viết, vấn đáp, trắc nhiệm khách quan Hoạt động đánh giá là việc của giảng viên, học viên không hoặc ít tham gia vào quá trình đánh giá Mục tiêu dạy học hiện đại đòi hỏi phải sử dụng nhiều phương pháp, hình thức đánh giá khác nhau Ngoài các phương pháp, hình thức đánh giá truyền thống còn vận dụng nhiều phương pháp

và hình thức khác như đánh giá thông qua quan sát, thực hiện nhiệm vụ học tập (cá nhân hoặc hợp tác nhóm), hồ sơ học tập, tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng

- Nội dung dạy học

Nội dung dạy học quy định hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái

độ mà người học cần nắm vững, đảm bảo hình thành được ở họ những cơ sở của thế giới quan khoa học và những phẩm chất đạo đức cách mạng của con người mới, chuẩn bị cho họ bước vào cuộc sống, vào lao động

Cấu trúc của nội dung dạy học gồm 4 thành phần cơ bản: Hệ thống những tri thức về tự nhiên, về xã hội, về tư duy, về kỹ thuật và về cách thức hoạt động; Hệ thống những kỹ năng, kỹ xảo hoạt động trí óc và lao động chân tay; Hệ thống những kinh nghiệm hoạt động sáng tạo; Kinh nghiệm về thái độ đối với thế giới, đối với con người Nội dung dạy học qui định phương thức KTĐG Nội dung KTĐG không bao giờ được phép vượt quá yêu cầu của nội dung, chương trình dạy học Trong ĐGQT nội dung dạy học sẽ là cơ sở để giảng viên, học viên xây dựng các chuẩn

và tiêu chí đánh giá, các tiêu chí phải phản ánh đầy đủ những yêu cầu của nội dung dạy học cả về kiến thức, kỹ năng và thái độ ĐGQT vận dụng nhiều

Trang 31

phương pháp, hình thức đánh giá khác nhau nhưng việc lựa chọn chúng như thế nào phụ thuộc một cách chặt chẽ vào nội dụng dạy học.

* Phương pháp và hình thức dạy học

Phương pháp và hình thức dạy học là những yếu tố rất quan trọng có ảnh hưởng lớn tới việc tổ chức kiểm tra đánh giá theo dạng thức ĐGQT Nếu trong quá trình dạy học vận dụng nhiều phương pháp, hình thức dạy học khác nhau, tăng cường sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại như nêu vấn đề, đóng vai nhận thức, dạy học tình huống, dạy học hợp tác… thì sẽ có nhiều cơ hội, điều kiện, tình huống để có thể tiến hành đánh giá người học một cách khách quan, toàn diện Mặt khác việc sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại theo quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm còn tạo ra các điều kiện thuận lợi để học viên tự đánh giá bản thân mình và tham giá tích cực vào hoạt động đánh giá đồng đẳng một cách có hiệu quả nhất.

1.3.2 Các nhân tố chủ quan

* Các nhân tố thuộc về học viên: học viên là một chủ thể tham gia vào

đánh giá, chính vì vậy những thuộc tính như : động cơ, thái độ học tập; trình độ

am hiểu mục tiêu dạy học; trình độ kỹ năng tự đánh giá và đánh giá học viên khác là những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đánh giá.

Động cơ, thái độ học tập là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả KTĐG của học viên Nếu học viên có động cơ học tập tích cực họ sẽ cố gắng thực hiện có hiệu quả các yêu cầu trong KTĐG, đồng thời tham gia một cách tự giác, tích cực vào các hoạt động tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng.

Trình độ am hiểu mục tiêu, yêu cầu đào tạo và mục tiêu dạy học môn học có ảnh hưởng rất lớn tới thái độ của học viên khi tham gia vào các hoạt động ĐGQT Nếu nhận thức không đầy đủ chính xác về mục tiêu, yêu cầu đào tạo; yêu cầu đòi hỏi của xã hội, quân đội đối với hoạt động nghề nghiệp trong tương lai, học viên sẽ cho rằng các hoạt động trong ĐGQT là không cần thiết, hao tổn quá nhiều thời gian

và công sức của giảng viên và học viên Đồng thời việc này cũng dẫn tới họ tham gia không tích cực vào các hoạt động tự đánh giá Kết quả tự đánh giá sẽ thiếu khách quan, trung thực; các hoạt động đánh giá đồng đẳng sẽ mang tính chất đối phó, chiếu lệ, hình thức.

Trang 32

Kỹ năng phân tích, đánh giá về các yêu cầu của đề thi, KTĐG và kỹ năng trình bày, diễn đạt, thể hiện khả năng của bản thân cũng là những yếu tố ảnh hưởng tới kết quả KTĐG Trong thực tế có những trường hợp học viên có kiến thức, kỹ năng tốt nhưng do chưa hiểu đúng yêu cầu của đề thi, kiểm tra hoặc do cách trình bày, diễn đạt không tốt, phân bố thời gian làm bài không hợp lý dẫn tới kết quả KTĐG thấp Ngoài ra trạng thái tâm lý, sức khỏe của học viên trước khi tiến hành KTĐG cũng ảnh hưởng nhất định khả năng đáp ứng các yêu cầu, đòi hỏi của hoạt động đánh giá Trong ĐGQT tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng là hoạt động thường xuyên và có ý nghĩa quan trọng Để hoạt động này đạt được hiệu quả đòi hỏi học viên viên phải nắm được các nguyên tắc đánh giá, sử dụng các phương pháp, kỹ thuật đánh giá và tự đánh giá một cách hợp lý Nếu học viên không có kiến thức

và kỹ năng đánh giá đúng thì sẽ không có khả năng thu thập đủ thông tin, hoặc thu thập thông tin không chính xác Từ đó dẫn tới đưa ra những kết luận thiếu chính xác, không khách quan khoa học hoặc những kết luận không có giá trị đánh giá kết quả học tập môn học.

* Các nhân tố thuộc về giảng viên: giảng viên là người đóng vai trò chủ yếu

trong các hoạt động đánh giá Vì vậy để hoạt động này đem lại hiệu quả cao yêu cầu giảng viên phải có ý thức trách nhiệm cao; nắm vững bản chất, nguyên tắc đánh giá; có trình độ am hiểu, vận dụng linh hoạt các phương pháp KTĐG.

ĐGQT đòi hỏi GV phải đầu tư rất nhiều thời gian và công sức cho các hoạt động đánh giá Theo James H McMillian thời gian giành cho các hoạt động đánh chiếm khoảng 30% thời gian làm việc của một giảng viên Vì vậy nó đòi hỏi giảng viên trước hết phải là người có ý thức trách nhiệm cao, thật sự mong muốn cải tiến, đổi mới hoạt động KTĐG nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của nhà trường ĐGQT nếu không được tiến hành một cách bài bản, cẩn thận, chu đáo sẽ trở nên vô nghĩa mà lại lãng phí thời gian công sức, thậm chí gây tác dụng phản cảm đối với cả giảng viên và học viên.

Ngoài ra giảng viên cần có kỹ năng thiết kế mục tiêu, nội dung, lựa chọn phương pháp đánh giá phù hợp với yêu cầu đào tạo, điều kiện thực tế, trình độ, khả năng của từng đối tượng cụ thể.

Trang 33

* Các nhân tố thuộc về cán bộ quản lý và cơ quan quản lý giáo dục nhà trường: người cán bộ quản lý đặc biệt là cán bộ quản lý đứng đầu nhà trường là

một nhân tố đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự thành công của việc vận dụng ĐGQT trong ĐGKQHT của học viên ĐGQT đòi hỏi nhiều thời gian, công sức, vật chất, cơ chế đảm bảo nên nó rất cần sự ủng hộ, quan tâm tạo điều kiện thuận lợi của đội ngũ cán bộ quản lý của nhà trường

Trước hết cần tạo lập một cơ chế quản lý phù hợp, trao quản tự chủ nhiều hơn cho giảng viên trong việc tổ chức quá trình dạy học nói chung và thực hiện ĐGKQHT của học viên nói riêng Cơ chế quản lý giáo dục đào tạo của nhà trường phải thực sự khoa học, dân chủ, cởi mở để giảng viên có thể chủ động lập

kế hoạch dạy học và đánh giá ĐGQT cần sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau vì vậy việc lưu trữ những thông tin giúp cho việc đánh giá cần hết sức khoa học, tạo điều kiện thuận lợi cho giảng viên và các đối tượng khác có thể tiếp cận

dễ dàng khi cần thiết Nếu không có cách thức quản lý thông tin đánh giá phù hợp sẽ gây cản trở tới hoạt động ĐGQT, khiến sự liên tục và thống nhất trong hoạt động đánh giá không được đảm bảo.

Qui chế giáo dục và đào tạo của nhà trường cần dành thời lượng nhất định cho đội ngũ giảng viên thực hiện các hoạt động đánh giá đa dạng và liên tục của mình Thời gian làm công tác chuẩn bị và tiến hành đánh giá cần được tình vào định mức lao động sư phạm của giảng viên Như đã khẳng định ở trên ĐGQT sẽ không đạt được hiệu quả như mong muốn nếu không có sự tham gia tích cực, tự giác của học viên Vì vậy cần khuyến khích học viên thường xuyên tiến hành tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng Cần coi kết quả tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng là một kênh thông tin để giảng viên đưa ra các kết luận đánh giá học viên.

*

* *

Đánh giá quá trình là một hình thức đánh giá có rất nhiều ưu điểm trong việc phát triển năng lực cho người học, trong quá trình đánh giá kết quả học tập của người học nó sử dụng nhiều phương pháp, kỹ thuật đánh giá khác nhau nên

có thể đánh giá được nhiều mục tiêu học tập một cách chính xác, các hoạt động đánh giá được triển khai ở nhiều thời điểm khác nhau trong quá trình học tập nên

Trang 34

nó có tác dụng định hướng hoạt động dạy và học rất hiệu quả Tuy nhiên cũng có thể thấy ĐGQT là một hoạt động rất phức tạp vì vậy để có thể vận dụng nó một cách có hiệu quả cần phải có sự đầu tư nghiên cứu kỹ lưỡng về mặt lý thuyết và chuẩn bị các điều kiện thực tế đầy đủ Để vận dụng ĐGQT hiệu quả cũng cần có thời gian và sự kiên trì, nhẫn nại, đồng lòng của cả đội ngũ giảng viên, CBQL

và học viên.

Chương 2NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ VẬN DỤNG ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH

TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC HỌC QUÂN SỰ CHO

HỌC VIÊN SƯ PHẠM Ở ĐẠI HỌC QUÂN SỰ2.1 Đặc điểm mục tiêu, chương trình, nội dung dạy học môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự

2.1.1 Mục tiêu dạy học môn giáo dục học quân sự cho đối tượng học viên sư phạm ở đại học quân sự

Mục tiêu dạy học môn GDHQS cho học viên sư phạm ở đại học quân

sự là giúp cho người học nắm được những kiến thức, kỹ năng cơ bản, chuyên sâu của GDHQS; quán triệt các quan điểm, tư tưởng giáo dục của Đảng; hình thành phát triển tư duy, văn hoá sư phạm của người giảng viên theo mục tiêu đào tạo Cụ thể:

+ Về kiến thức: Trang bị những kiến thức về lịch sử giáo dục thế giới và Việt Nam, quan điểm, đường lối giáo dục của Đảng, Nhà nước, quân đội cho học viên.; nắm vững và hiểu đúng bản chất của giáo dục và khoa học giáo dục, vai trò của giáo dục đối với sự phát triển xã hội và con người Mục tiêu giáo dục hiện nay của các ngành học, bậc học, cấp học và quân đội; hiểu được những vấn đề cơ bản của QTDH và QTGD, những vấn đề cơ bản về nhà trường, đơn vị, cũng như việc dạy học, giáo dục ở các nhà trường, đơn vị trong quân đội.

+ Về kỹ năng: Hình thành, phát triển những kỹ năng cơ bản của một người giảng viên trong tương lai như: kỹ năng xác định mục tiêu, lựa chọn nội dung dạy học, giáo dục; kỹ năng chuẩn bị và tiến hành một bài giảng; kỹ năng sử dụng các phương pháp, hình thức dạy học; Hình thành và phát triển kỹ năng, phương

Trang 35

pháp học tập và nghiên cứu khoa học giáo dục, kỹ năng định hướng, tổ chức công tác giáo dục và đánh giá giáo dục.

+ Về thái độ: Hình thành được tình cảm tích cực với nghề nghiệp sư phạm, tinh thần trách nhiệm, hợp tác trong quá trình học tập và rèn luyện; trung thực, thẳng thắn, nghiêm khắc với chính bản thân; yêu thương, tôn trọng nhân cách.Tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong vận dụng tri thức, kỹ năng đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn trong quá trình học tập cũng như trên cương

vị công tác sau này

2.1.2 Cấu trúc chương trình môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự

Hiện nay học viên sư phạm ngành KHXH&NV ở đại học quân sự bao gồm hai đối tượng là học viên sư phạm chuyên ngành giáo dục học và học viên.

sư phạm các chuyên ngành khác nên có hai chương trình môn học khác Song,

có thể khái quát cấu trúc chung nhất của các chương trình đó bao gồm:

- Lịch sử giáo dục và những vấn đề chung của GDH và GDHQS: Phần này

cung cấp cho người học những tri thức về lịch sử giáo dục thế giới, Việt Nam, lịch sử giáo dục quân sự; tư tưởng của một số nhà giáo dục tiêu biểu; giới thiệu cho người học bức tranh tổng quát về sự phát triển của giáo dục, GDH và GDHQS những đặc trưng của quá trình sư phạm quân sự… Những nội dung trên mang tính tổng luận, là những quan điểm cơ bản định hướng cho việc nghiên cứu và chỉ đạo thực tiễn hoạt động giáo dục có hiệu quả

- Lý luận dạy học: Phần này giới thiệu lý luận dạy học với tư cách là một bộ

phận hợp thành quan trọng của GDHQS Nội dung cơ bản của phần này là: Bản chất, đặc điểm, quy luật, lôgic của QTDH; Những phạm trù lý luận về nội dung, nguyên tắc, phương pháp, hình thức và phương tiện kỹ thuật dạy học Những nội dung trên mang tính chất là hệ thống các luận điểm, các tư tưởng sư phạm cơ bản định hướng cho việc vận dụng vào thực tiễn nghề sư phạm sau này.

- Lý luận giáo dục: Phần này lý luận về QTGD với tư cách là một bộ phận

của quá trình sư phạm tổng thể nhằm hình thành cho đối tượng giáo dục những

Trang 36

chuẩn mực văn hoá, đạo đức, những nét tính cách và những phẩm chất cần thiết của người quân nhân cách mạng, người giảng viên Nội dung cơ bản của phần này là: Bản chất, đặc trưng của quá trình giáo dục; nhiệm vụ, nội dung giáo dục; Nguyên tắc, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục… Những nội dung này là

hệ thống những luận điểm sư phạm chỉ đạo việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục lao động quân sự, giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật, giáo dục thẩm mỹ, thể chất, giáo dục giá trị sống… cho người học nhằm hình thành ở họ nhân cách toàn diện.

- Tổ chức, quản lý quá trình dạy học – giáo dục: Phần này thường đề cập đến

các vấn đề: Quan niệm chung về tổ chức, quản lý, nguyên tắc, nội dung, phương pháp quản lý giáo dục; xây dựng môi trường giáo dục và tối ưu hoá quá trình dạy học – giáo dục… nhằm giới thiệu cho các học viên những kiến thức, kỹ năng cơ bản về lãnh đạo, quản lý quá trình sư phạm quân sự.

- Sư phạm thực hành: phần này trang bị cho học viên kiến thức chung nhất

về thực hành sư phạm, đồng thời hướng dẫn cho người học những kỹ năng cơ bản nhất của người giảng viên như kỹ năng chuẩn bị và tiến hành bài giảng; kỹ năng tự học và tổ chức tự học; kỹ năng tổ chức, tiến hành xêmina … Đặc biệt trong học phần này học viên sẽ được thực hành chuẩn bị và tiến hành một số bài giảng qua đó nhằm hình thành, hoàn thiện năng lực sư phạm của người giảng viên trong tương lai

2.1.3 Đặc điểm nội dung môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự

- Tính phức tạp, trừu tượng: Nội dung dạy học môn môn GDHQS luôn

mang tính lý luận, trừu tượng và tính khái quát cao Các nội dung thường được thể hiện ở các dạng lý thuyết, quan điểm, phạm trù, khái niệm, nguyên

lý, nguyên tắc, quy luật, v.v… Với đặc điểm này của nội dung dạy học, dẫn đến việc giảng dạy rất dễ rơi vào “giáo điều, kinh viện”, xa rời thực tiễn nếu KTĐG chỉ coi trọng khối lượng kiến thức đã trang bị cho người học Mặt

khác, đặc điểm này, đòi hỏi việc học tập của học viên phải vượt qua những

giới hạn của nhận thức cảm tính, phải sử dụng các thao tác tư duy phức tạp, đi

Trang 37

sâu khám phá các thuộc tính, những mối liên hệ bên trong của sự vật hiện tượng mà bằng nhận thức cảm tính không phản ánh được Điều này cũng đòi hỏi trong quá trình thiết kế mục tiêu, nội dung KTĐG phải yêu cầu học viên thể hiện được các kỹ năng tư duy, qua đó giúp cho học viên có ý thức rèn luyện, củng cố các thao tác tư duy trong quá trình học tập.

Tính phức tạp, trừu tượng của nội dung dạy học môn GDHQS đòi hỏi việc KTĐG phải được tiến hành thường xuyên liên tục, bằng nhiều hình thức, phương pháp khác nhau, trong đó cần chú trọng các hình thức đánh giá tích hợp, đánh giá thực mới có thể đánh giá chính xác phẩm chất, năng lực của học viên.

- Tính khái quát - cụ thể: nội dung dạy học môn GDHQS được thể hiện ở

những vấn đề mang tính chất khái quát chung như bản chất, qui luật, nguyên tắc, mục đích, nguyên lý giáo dục… đồng thời lại được thể hiện ở những nội dung hết sức cụ thể như các qui trình, phương pháp, hình thức dạy học – giáo dục, những sự kiện, hiện tượng giáo dục trong thực tế…đặc điểm này dẫn tới trong KTĐG vừa phải quan tâm tới việc đánh giá kiến thức hồi nhớ sự kiện, qui trình vừa phải lưu ý đánh giá các kỹ năng tư duy bậc cao phức tạp

- Tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn: Nội dung dạy học môn

GDHQS ở đại học quân sự luôn có mối quan hệ hữu cơ với các vấn đề kinh tế, chính trị- xã hội; luôn gắn chặt với hoạt động sư phạm, thực tiễn hoạt động quân

sự Việc gắn chặt với các vấn đề xã hội và giáo dục với thực tiễn hoạt động quân

sự, dẫn đến nội dung môn học luôn chịu sự chi phối của các vấn đề xã hội, các tư tưởng của hệ thống chính trị, các quan điểm, đường lối về công tác giáo dục của Đảng và nhiệm vụ của Quân đội

2.2 Thực trạng đánh giá kết quả học tập trong dạy học môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự

2.2.1 Phân tích, nhận định về thực trạng đánh giá kết quả học tập trong dạy học môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự

Trang 38

2.2.1.1 Nhận thức của giảng viên về đánh giá kết quả học tập trong dạy học môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự

Hầu hết giảng viên đang trực tiếp giảng dạy môn GDHQS ở HVCT và trường SQCT đều có nhận thức tương đối đầy đủ về ĐGKQHT của học viên Điều đó được thể hiện cụ thể ở kết quả điều tra:

Bảng 2.1: Nhận thức của giảng viên về vai trò của ĐGKQHT đối với quá trình

dạy học.

Vai trò của KTĐG kết quả học tập Ý kiến (%)

Cở sở thực tế để giảng viên điều chỉnh hoạt động học tập của học

nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học

78,35

Cơ sở thực tế để giảng viên lập kế hoạch giảng dạy 82,47

Cơ sở để giảng viên điều chỉnh cách dạy 100

KTĐG là một khâu quan trọng của quá trình dạy học, thông qua KTĐG kết quả học tập của học viên giúp giảng viên thu được tín hiệu ngược từ học viên: biết được điểm mạnh điểm yếu của học viên trong việc lĩnh hội tri thức, mức độ thành thạo về KX, KN, khả năng tư duy và tìm hiểu nguyên nhân dẫn tới thực trạng đó Cho nên KTĐG là cơ sở để giảng viên điều chỉnh, hoàn thiện hoạt động học tập của học viên Nội dung này nhận được

sự nhất trí rất cao của giảng viên với 91,18% ý kiến đồng ý Đối với nội dung KTĐG là cơ sở để hướng dẫn học viên tự điều chỉnh, hoàn thiện hoạt động học của mình thì tỷ lệ nhất trí thấp hơn với 80,41% ý kiến nhất trí Điều này phản ánh một thực tế chung hiện nay, việc KTĐG kết quả học tập

Trang 39

của học viên mới làm tốt chức năng xác nhận những giá trị học viên đạt được trong quá trình học tập, còn chức năng định hướng, chuẩn đoán, dự báo khả năng của học viên qua đó có biện pháp hỗ trợ họ học tập tốt hơn chưa được quan tâm đúng mức.

Cũng theo kết quả điều tra có 98,97% ý kiến giảng viên đồng ý KTĐG là cơ hội giúp học viên ôn tập củng cố tri thức, phát triển trí tuệ và 82,47% ý kiến đồng ý KTĐG là điều kiện để học viên tự kiểm tra về mức độ lĩnh hội tri thức, KX, KN Chúng ta thấy có sự trùng hợp ở đây: việc KTĐG kết quả học tập của học viên hình như có sự tác động theo chiều từ phía giảng viên đến học viên mạnh hơn sự tác động theo chiều ngược lại từ phía học viên đến giảng viên Tức là học viên là đối tượng chịu sự tác động của giảng viên: như KTĐG là cơ sở thực tế để giảng viên điều chỉnh hoạt động học tập của học viên, là cơ hội giúp học viên ôn tập, củng cố tri thức, phát triển trí tuệ Như vậy trong KTĐG vai trò chủ đạo của giảng viên đã được thể hiện rõ nhưng còn vai trò chủ động, tích cực của học viên còn mờ nhạt Điều này được thể hiện rõ khi tỷ lệ ý kiến đồng ý của giảng viên với hai nội dung : KTĐG là

cơ sở để giảng viên hướng dẫn học viên tự điều chỉnh hoạt động học và là điều kiện

để học viên tự kiểm tra về mức độ lĩnh hội tri thức, KX, KN luôn thấp hơn mà đáng

lẽ ra nó phải tương đồng vì KTĐG là cơ sở để giảng viên điều chỉnh hoạt động học tập của học viên đồng thời là cơ sở để học viên tự điều chỉnh hoạt động của mình KTĐG là cơ hội giúp học viên ôn tập, củng cố tri thức, phát triển trí tuệ đồng thời là điều kiện để HV tự kiểm tra về mức độ lĩnh hội tri thức, KX, KN của bản thân Mối quan hệ tác động qua lại giữa vai trò chủ đạo của giảng viên và chủ động, tích cực của học viên cần phải được thể hiện rõ thì KTĐG mới thể hiện hết vai trò của nó Để thực hiện điều này trong quá trình KTĐG cần công khai hóa các tiêu chí đánh giá, nếu có điều kiện thì nên khuyến khích học viên tham gia tích cực vào việc xây dựng các tiêu chí đánh giá, đồng thời phát huy vai trò tự đánh giá của học viên và tập thể học viên Hoạt động này có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc định hướng hoạt động học tập của học viên, giúp biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo.

Trang 40

Quan niệm về đánh giá kết quả học tập: Tìm hiểu quan ĐGKQHT là gì?

Của đối tượng khảo sát thì thấy 69,07% người cho đó là việc xác nhận thành tích học tập theo chuẩn kiến thức, kỹ năng môn học; hơn 1/3 số người cho đó là việc xác nhận thành tích học tập học viên đạt được trong từng bài học, là so sánh thành tích học tập của bản thân so với giai đoạn trước; gần 40% cho là việc xác nhận thành tích học tập theo điểm số

Bảng 2.2: Quan niệm của GV về ĐGKQHT của học viên

Quan niệm về ĐGKQHT của học viên Tỷ lệ (%) Xác nhận thành tích học tập của học viên đạt được trong từng bài học

Xác nhận thành tích đạt được của học viên đạt được theo nhận xét của

giảng viên

Xác nhận thành tích đạt được của học viên đạt được theo chuẩn

KT – KN môn học

Xác nhận thành tích đạt được của học viên đạt được theo điểm số

So sánh thành tích học tập giữa học viên này với học viên khác

So sánh thành tích học tập của bản thân học viên với những giai

đoạn trước

31,96 27,84

69,07 41,24 36,08 34,02

Qua đó có thể thấy giảng viên đã nhận thức được ĐGKQHT được thể hiện qua hai hình thức chủ yếu là đánh giá dựa theo tiêu chí ( so sánh thành tích với chuẩn KT-KN môn học) và đánh giá chuẩn mực ( so sánh thành tích cá nhân với giai đoạn trước ) Song áp lực về điểm số vẫn tương đối nặng nề khi gần một nửa người coi ĐGKQHT là so sánh thành tích học tập với điểm số.

KTĐG muốn chính xác, phản ánh đúng năng lực của người học đòi hỏi phải bao quát toàn diện cả kiến thức, kỹ năng và thái độ Hiện nay trong nhận thức của đội ngũ giảng viên chưa có sự nhất trí cao Khi được hỏi việc KTĐG kết quả học tập của học viên sư phạm chú trọng mục tiêu nào? Thì chỉ có 56,7% giảng viên đồng ý cho rằng KTĐG cần chú trọng cả ba mục tiêu kiến thức, kỹ năng và thái độ Chính vì vậy trong thực tế dạy học rất ít giảng viên chú ý tới

Ngày đăng: 02/10/2021, 08:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Hình thức trình bày đúng qui cách - LUẬN văn THẠC sĩ   vận dụng ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH trong dạy học môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự
Hình th ức trình bày đúng qui cách (Trang 26)
- Hình thức trình bày hợp lý, có bảng mục lục để tiện tìm hiểu, đánh giá - LUẬN văn THẠC sĩ   vận dụng ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH trong dạy học môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự
Hình th ức trình bày hợp lý, có bảng mục lục để tiện tìm hiểu, đánh giá (Trang 27)
Bảng 2.1: Nhận thức của giảng viên về vai trò của ĐGKQHT đối với quá trình - LUẬN văn THẠC sĩ   vận dụng ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH trong dạy học môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự
Bảng 2.1 Nhận thức của giảng viên về vai trò của ĐGKQHT đối với quá trình (Trang 38)
Bảng 2.3: Nhận thức của đối tượng điều tra về mục tiêu KTĐG - LUẬN văn THẠC sĩ   vận dụng ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH trong dạy học môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự
Bảng 2.3 Nhận thức của đối tượng điều tra về mục tiêu KTĐG (Trang 40)
Bảng 2.4: Nhận thức của đối tượng điều tra về nội dung KTĐG - LUẬN văn THẠC sĩ   vận dụng ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH trong dạy học môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự
Bảng 2.4 Nhận thức của đối tượng điều tra về nội dung KTĐG (Trang 41)
Bảng 2.5: Quan niệm về qui trình ĐGKQHT của giảng viên - LUẬN văn THẠC sĩ   vận dụng ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH trong dạy học môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự
Bảng 2.5 Quan niệm về qui trình ĐGKQHT của giảng viên (Trang 42)
Từ kết quả được thể hiện ở các bảng 3.3; 3.4; 3.5; ta có đồ thị biểu diễn tần suất tích luỹ về sự tiến bộ ở nhóm thử nghiệm và đối chứng qua thử nghiệm như sau: - LUẬN văn THẠC sĩ   vận dụng ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH trong dạy học môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự
k ết quả được thể hiện ở các bảng 3.3; 3.4; 3.5; ta có đồ thị biểu diễn tần suất tích luỹ về sự tiến bộ ở nhóm thử nghiệm và đối chứng qua thử nghiệm như sau: (Trang 78)
Nhận xét: Qua các tham số đặc trưng ở bảng 3.7 cho thấy: - LUẬN văn THẠC sĩ   vận dụng ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH trong dạy học môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự
h ận xét: Qua các tham số đặc trưng ở bảng 3.7 cho thấy: (Trang 79)
5. Đồng chí cho biết các phương pháp, hình thức kiểm tra đánh giá được sử dụng để đánh giá kết quả học tập của học viên sư phạm hiện nay? - LUẬN văn THẠC sĩ   vận dụng ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH trong dạy học môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự
5. Đồng chí cho biết các phương pháp, hình thức kiểm tra đánh giá được sử dụng để đánh giá kết quả học tập của học viên sư phạm hiện nay? (Trang 101)
6. Đồng chí cho biết các phương pháp, hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học viên sư phạm có đánh giá chính xác năng lực của người học không?  - LUẬN văn THẠC sĩ   vận dụng ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH trong dạy học môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự
6. Đồng chí cho biết các phương pháp, hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học viên sư phạm có đánh giá chính xác năng lực của người học không? (Trang 102)
Sử dụng nhiều phương pháp, hình thức kiểm tra đánh giá Sử dụng kết hợp nhiều thông tin từ các chủ thể đánh giá Kết hợp đánh giá trước và trong quá trình giảng dạy - LUẬN văn THẠC sĩ   vận dụng ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH trong dạy học môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự
d ụng nhiều phương pháp, hình thức kiểm tra đánh giá Sử dụng kết hợp nhiều thông tin từ các chủ thể đánh giá Kết hợp đánh giá trước và trong quá trình giảng dạy (Trang 103)
20. Theo đồng chí để vận dụng ĐGQT cần những điều kiện gì? - LUẬN văn THẠC sĩ   vận dụng ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH trong dạy học môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự
20. Theo đồng chí để vận dụng ĐGQT cần những điều kiện gì? (Trang 105)
Giảng viên vận dụng linh hoạt các PP, hình thức đánh giá Tăng quyền tự chủ cho giảng viênTăng quyền tự chủ cho giảng viên - LUẬN văn THẠC sĩ   vận dụng ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH trong dạy học môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự
i ảng viên vận dụng linh hoạt các PP, hình thức đánh giá Tăng quyền tự chủ cho giảng viênTăng quyền tự chủ cho giảng viên (Trang 105)
5. Đồng chí cho biết các phương pháp, hình thức kiểm tra đánh giá được sử dụng để đánh giá kết quả học tập của học viên sư phạm hiện nay? - LUẬN văn THẠC sĩ   vận dụng ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH trong dạy học môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự
5. Đồng chí cho biết các phương pháp, hình thức kiểm tra đánh giá được sử dụng để đánh giá kết quả học tập của học viên sư phạm hiện nay? (Trang 106)
Sử dụng nhiều phương pháp, hình thức kiểm tra đánh giá Sử dụng kết hợp nhiều thông tin từ các chủ thể đánh giá Kết hợp đánh giá trước và trong quá trình giảng dạySử dụng kết hợp nhiều thông tin từ các chủ thể đánh giá - LUẬN văn THẠC sĩ   vận dụng ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH trong dạy học môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự
d ụng nhiều phương pháp, hình thức kiểm tra đánh giá Sử dụng kết hợp nhiều thông tin từ các chủ thể đánh giá Kết hợp đánh giá trước và trong quá trình giảng dạySử dụng kết hợp nhiều thông tin từ các chủ thể đánh giá (Trang 107)
Phương pháp, hình thức KTĐG Tỷ lệ(%) - LUẬN văn THẠC sĩ   vận dụng ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH trong dạy học môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự
h ương pháp, hình thức KTĐG Tỷ lệ(%) (Trang 109)
5. Các phương pháp, hình thức kiểm tra đánh giá được sử dụng để đánh giá kết quả học tập của học viên sư phạm hiện nay? - LUẬN văn THẠC sĩ   vận dụng ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH trong dạy học môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự
5. Các phương pháp, hình thức kiểm tra đánh giá được sử dụng để đánh giá kết quả học tập của học viên sư phạm hiện nay? (Trang 109)
Sử dụng nhiều phương pháp, hình thức kiểm tra đánh giá Sử dụng kết hợp nhiều thông tin từ các chủ thể đánh giá Kết hợp đánh giá trước và trong quá trình giảng dạySử dụng kết hợp nhiều thông tin từ các chủ thể đánh giá - LUẬN văn THẠC sĩ   vận dụng ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH trong dạy học môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự
d ụng nhiều phương pháp, hình thức kiểm tra đánh giá Sử dụng kết hợp nhiều thông tin từ các chủ thể đánh giá Kết hợp đánh giá trước và trong quá trình giảng dạySử dụng kết hợp nhiều thông tin từ các chủ thể đánh giá (Trang 110)
Mức độ chính xác Tỷ lệ(%) Rất chính xác - LUẬN văn THẠC sĩ   vận dụng ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH trong dạy học môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự
c độ chính xác Tỷ lệ(%) Rất chính xác (Trang 110)
Hình thức học tập: - LUẬN văn THẠC sĩ   vận dụng ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH trong dạy học môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự
Hình th ức học tập: (Trang 122)
Bảng 3.1. Phân phối tần số điểm đánh giá trình độ đầu vào của các nhó mở cơ sở thử nghiệm - LUẬN văn THẠC sĩ   vận dụng ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH trong dạy học môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự
Bảng 3.1. Phân phối tần số điểm đánh giá trình độ đầu vào của các nhó mở cơ sở thử nghiệm (Trang 123)
Bảng 3.4. Phân phối tần suất về sự tiến bộ của ở nhóm TN và ĐC - LUẬN văn THẠC sĩ   vận dụng ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH trong dạy học môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự
Bảng 3.4. Phân phối tần suất về sự tiến bộ của ở nhóm TN và ĐC (Trang 124)
Bảng 3.3. Thống kê kết quả sau thử nghiệm về sự tiến bộ của HV - LUẬN văn THẠC sĩ   vận dụng ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH trong dạy học môn giáo dục học quân sự cho học viên sư phạm ở đại học quân sự
Bảng 3.3. Thống kê kết quả sau thử nghiệm về sự tiến bộ của HV (Trang 124)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w