1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

giáo án toán 8 cả năm soạn theo công văn 5512

16 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 212,5 KB
File đính kèm GIÁO ÁN DẠI SỐ 8 5 HOẠT ĐỘNG.rar (761 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo án toán 8 cả năm soạn theo công văn 5512 Phần Đại số: Gômf 4 chương: Chương I. Nhân đa thức Chương II. Phân thức Đại số Chương III. Phương trình bậc nhất một ẩn Chương IV. Bất phương trình bậc nhất một ẩn Phần Hình học gồm 4 chương: Chương I. Tứ giác Chương II. Diện tích đa giác Chương III. Tam giác đồng dạng Chương IV. Hình học không gian

Trang 1

PHẦN 1: LÝ LUẬN CHUNG

I Lí do chọn chuyên đề:

Hiện nay giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học;

từ chỗ chỉ quan tâm học sinh tiếp thu được kiến thức gì, rèn được kỹ năng nào đến việc quan tâm học sinh vận dụng được các kiến thức và kỹ năng nào để giải quyết các vấn đề thực tiễn Để thực hiện được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” nặng về truyền thụ kiến thức sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất người học; đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra ghi nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề nảy sinh trong đời sống hàng ngày, coi trọng kiểm tra đánh giá quá trình để có tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động dạy học

Vì những lí do trên, tôi chọn chuyên đề: “Dạy học theo định hướng phát

triển năng lực học sinh ở trường THCS” với hy vọng cùng các đồng chí, đồng

nghiệp trao đổi, đóng góp ý kiến và thống nhất đưa ra những giải pháp, nội dung cần thiết cho hoạt động dạy học phát huy năng lực của HS, chuẩn bị tốt cho việc tiếp cận với chương trình giáo dục phổ thông 2018 trong năm học tới

II Mục đích của chuyên đề:

Nghiên cứu cơ sở lí luận về phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh; Đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm thực hiện tốt công tác dạy học phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong trường THCS

III Cơ sở lí luận

1 Khái niệm năng lực

Khái niệm năng lực được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau:

- Năng lực là sự thành thạo, là khả năng thực hiện một công việc

- Năng lực gắn liền với khả năng hành động cho nên phát triển năng lực chính là phát triển năng lực hành động

- Năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của các yếu tố tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và tinh thần trách nhiệm

Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, khái niệm năng lực được sử dụng như sau: Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao động, kiến thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó

Năng lực của người học là khả năng làm chủ hệ thống tri thức, kĩ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho họ trong cuộc sống

Trang 2

2 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học là gì?

Dạy học định hướng phát triển năng lực, hay còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỉ XX và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế

Dạy học định hướng phát triển năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống

và nghề nghiệp Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là “sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học Việc quản lý chất lượng dạy học chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là kết quả học tập của người học

Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phần và cấu trúc của chúng Có nhiều loại năng lực khác nhau Việc mô tả cấu trúc và các thành phần năng lực cũng khác nhau Cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể

Cấu trúc khái niệm năng lực cho thấy giáo dục định hướng phát triển năng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm tri thức,

kĩ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực xã hội

và năng lực cá thể Những năng lực này không thể tách rời nhau mà có mối quan

hệ chặt chẽ Năng lực hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực này

3 Nội dung và phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực:

Nội dung dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ giới hạn trong tri thức và kĩ năng chuyên môn mà gồm những nhóm nội dung nhằm phát triển các lĩnh vực năng lực

Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hóa học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vần đề gắn với tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kĩ năng riêng lẻ của các môn học, cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp

Theo quan điểm phát triển năng lực, việc đánh giá kết quả học tập không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá Đánh giá kết quả học tập cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau

Tư tưởng cốt lõi của chương trình mới là hướng đến quá trình giáo dục hình thành năng lực chung, năng lực chuyên biệt để con người phát triển, thích nghi với môi trường sống, học tập, làm việc luôn biến đổi trong cả cuộc đời

Trang 3

Trong dự thảo chương trình giáo dục phổ thông 2018, định hướng các năng lực chung gồm: Năng lực tự chủ; Năng lực hợp tác; Năng lực sáng tạo Các năng lực đặc thù: Năng lực ngôn ngữ; Năng lực tính toán; Năng lực Tin học; Năng lực thẩm mỹ; Năng lực thể chất; Năng lực công nghệ; Năng lực tìm hiểu

tự nhiên và xã hội

4 Vai trò của người giáo viên, nhà quản lí trong hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực.

Trong hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực, giáo viên là yếu tố quyết định hàng đầu Sự nhận thức đúng đắn, tinh thần trách nhiệm và sự quyết tâm cao, kĩ năng sử dụng thiết bị dạy học và tổ chức hướng dẫn học sinh học tập tốt là những phẩm chất cần thiết của người giáo viên trong nhà trường

Tri thức của giáo viên là điểm quan trọng trong công tác giáo dục Giáo viên ở bất cứ lớp học nào đều phải hội đủ các điều kiện về kiến thức, khả năng giảng dạy, lòng nhiệt thành và thân thiện Bên cạnh đó, giáo viên phải có kĩ năng tổ chức, hướng dẫn học sinh trong lớp học, có kĩ năng sử dụng đồ dùng dạy học, có năng lực tự thu thập thông tin để phục vụ yêu cầu dạy học

Giáo viên phải nắm vững yêu cầu nội dung giáo dục, nắm vững kiến thức

và kĩ năng cần truyền đạt đến học sinh để thiết kế dẫn dắt học sinh đi từ dễ đến khó, từ ít đến nhiều Tài nghệ của giáo viên trong công tác giảng dạy cũng cần thiết không kém bất cứ một lĩnh vực nào khác, thậm chí công tác này có thể trở thành một hình thức sáng tạo nhất Nếu người giáo viên khéo léo phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh thì học sinh – đối tượng đang chịu tác động của giáo dục sẽ trở thành chủ thể của giáo dục Khi đó, quá trình tự học của học sinh

sẽ tạo thành thói quen, các em sẽ xây dựng được cho mình khả năng phân tích vấn đề, khả năng tiếp thu, diễn đạt, tổ chức xử lí thông tinh Thực tế kiến thức rất đa dạng và thay đổi theo thời gian, vì vậy giảng dạy là khai thác và tận dụng nội lực của học sinh để các em có năng lực tự học suốt đời

Giáo viên hiện nay không còn là người truyền thụ kiến thức mà là người hướng dẫn hỗ trợ học sinh tìm chọn và xử lí thông tin Giúp người học sẵn sàng tiếp thu khái niệm mới, tích cực thể hiện tương tác trải nghiệm, tăng cường hứng thú, tự tin, kích thích tư duy sáng tạo của người học Điều này đòi hỏi mỗi giáo viên phải có hiểu biết cơ bản về nội dung chương trình của lớp học, cấp học, mạnh dạn đổi mới cách thiết kế và tổ chức lớp học trong đó các hoạt động thực hành cần được thực hiện thường xuyên, chuyển quá trình thuyết giảng một cách hình thức, áp đặt của người dạy thành quá trình tự học, tự tìm tòi, khám phá của người học

5 Đánh giá năng lực người học trong quá trình dạy học.

a) Các tiêu chí đánh giá năng lực người học:

- Người học phải có kiến thức, hiểu biết một cách có hệ thống hoặc chuyên sâu

về lĩnh vực hoạt động nào đó

- Có khả năng tiến hành hoạt động đó hiệu quả và đạt kết quả phù hợp với mục đích

- Hành động có kết quả, ứng phó linh hoạt, hiệu quả trong những điều kiện mới, không quen thuộc

Trang 4

b) Đặc điểm của đánh giá năng lực người học: Đánh giá năng lực người học có

xu hướng tập trung vào các nhiệm vụ phức tạp hoặc gắn với bối cảnh cụ thể Nó cho phép người học chứng minh năng lực của họ trong một bối cảnh giả lập

"đích thực"

c) Các hình thức đánh giá năng lực người học bao gồm: Sản phẩm, dự án học tập, trình diễn, thực hiện

d) Các bước xây dựng kiểm tra đánh giá năng lực:

Bước 1: Xác định chuẩn – điều học sinh cần và có thể thực hiện

Bước 2: Xác định nhiệm vụ

Bước 3: Xác định các tiêu chí đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ

Bước 4: Xây dựng thang điểm

IV Một số phương pháp dạy học phát huy năng lực học sinh :

1 Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề

Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là PPDH trong đó giáo viên tạo ra những tình huống có vấn đề, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề, thông qua đó chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kỹ năng và đạt được những mục đích học tập khác Đặc trưng

cơ bản của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là "tình huống gợi vấn đề" vì

"tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề" (Rubinstein)

Phương pháp này góp phần tích cực vào việc rèn luyện tư duy phê phán,

tư duy sáng tạo cho HS Thông qua việc giải quyết vấn đề, HS được lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức Như vậy, dạy học giải quyết vấn đề không chỉ thuộc phạm trù phương pháp mà đã trở thành một mục đích dạy học, được cụ thể hóa thành một mục tiêu là phát triển năng lực giải quyết vấn đề, một năng lực có vị trí hàng đầu để con người thích ứng được với sự phát triển của xã hội

2 Học tập trải nghiệm

Là một cách học thông qua việc đã làm Với quan niệm việc học là quá trình tạo ra tri thức mới trên cơ sở trải nghiệm thực tế, dựa trên những đánh giá, phân tích trên những kinh nghiệm, kiến thức sẵn có Kinh nghiệm đóng vai trò trung tâm trong quá trình học tập Sự kết hợp đầy đủ các yếu tố trải nghiệm, tiếp thu, nhận thức và hành vi Trải qua từ thế giới biểu tượng cụ thể đến kiến tạo trừu tượng tương tác giữa cá nhân và môi trường Học tập được tiếp nhận tốt nhất trong quá trình, không phải ở kết quả Học tập là quá trình liên tục khởi nguồn từ kinh nghiệm

3 Phương pháp học tập kiến tạo

Con người chủ động tự xây dựng kiến thức cho bản thân Người học kết nối thông tin mới với thông tin hiện tại để kiến thức mới có ý nghĩa với cá nhân người đó Con người xây dựng kiến thức của riêng mình và thể hiện kiến thức từ trải nghiệm của mình Mỗi người học tự xây dựng hiểu biết hợp lý mang tính cá nhân của riêng mình Kiến thức được hình thành thông qua tương tác xã hội Học tập không phải bị động thu nhận mà do người học chủ động kiến tạo thông qua trải nghiệm và suy ngẫm

Trang 5

Phương pháp giảng dạy thuyết kiến tạo: Học tập tích cực, học bằng việc làm, lấy học sinh làm trung tâm, học tập qua vấn đề, học tập qua dự án, học tập qua trải nghiệm, học tập qua khám phá, học tập gợi mở, học tập theo nhóm

4 Dạy học phân hóa

Dạy học phân hóa là một tiến trình dạy học vận dụng đa dạng các phương tiện, thiết bị giảng dạy và học tập cho phép học sinh có lứa tuổi khác nhau, nguồn gốc khác nhau, năng lực, kĩ năng khác nhau nhưng cùng tiến bộ và thành công trong học tập

Tiến trình dạy học gồm đa dạng các phương tiện, thiết bị và phương pháp giảng dạy, học tập nhằm cho phép học sinh có các năng lực, kĩ năng, kiến thức, lứa tuổi, hành vi, thái độ khác nhau đều đạt đến mục tiêu chung của học tập, giáo dục nhưng bằng các con đường khác nhau

Sự huy động đa dạng và phong phú các phương pháp, hình thức dạy học sao cho sự học của học sinh được kích thích, được đa dạng để học sinh có thể làm việc, hoạt động, học tập theo lộ trình và phương pháp riêng đặc trưng cho bản thân nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu kiến thức, kĩ năng yêu cầu

Dạy học phân hóa phá vỡ hình thức dạy học trực diện, giáo dục với giáo viên là chủ đạo, cả lớp chỉ học một cách, cùng một bài học cho tất cả học sinh

Trong phương pháp dạy học phân hóa cần tổ chức học tập, hoạt động, làm việc sao cho mỗi học sinh đều có tình huống học tập tối ưu

5 Phương pháp bàn tay nặn bột

Là phương pháp dạy học khoa học dựa trên tìm tòi nghiên cứu Những nguyên tắc cơ bản của dạy học dựa trên cơ sở tìm tòi - nghiên cứu: Học sinh cần phải hiểu rõ câu hỏi đặt ra hay vấn đề trọng tâm của bài học; Tự làm thí nghiệm

là cốt lõi của việc tiếp thu kiến thức khoa học; Tìm tòi nghiên cứu khoa học đòi hỏi học sinh nhiều kĩ năng Một trong các kĩ năng cơ bản đó là thực hiện một quan sát có chủ đích; Học khoa học không chỉ là hành động với các đồ vật, dụng

cụ thí nghiệm mà học sinh còn cần phải biết lập luận, trao đổi với các học sinh khác, biết viết cho mình và cho người khác hiểu; Dùng tài liệu khoa học để kết thúc quá trình tìm tòi - nghiên cứu; Khoa học là một công việc cần sự hợp tác

6 Dạy học tích hợp:

Là phương pháp tập trung trên việc học của học sinh; Quan tâm đến sự khác biệt của các học sinh; Tích hợp kiểm tra, đánh giá việc dạy và học; Điều chỉnh nội dung, quá trình và sản phẩm học tập theo định hướng tăng hiệu quả học tập cho học sinh và phát huy được ưu điểm và phong cách học tập của từng

cá nhân; Xây dựng không khí học tập mà ở đó học sinh làm việc cởi mở và tôn trọng mọi người Hợp tác với học sinh để tối đa hóa hiệu suất học tập Hướng đến tối ưu hóa sự tiến bộ và thành công của cá nhân học sinh trong học tập; Luôn mềm dẻo, động viên tích cực với học sinh

7 Dạy học tích hợp theo chủ đề liên môn.

Dạy học tích hợp liên môn là dạy học những nội dung kiến thức liên quan đến hai hay nhiều môn học “Tích hợp” là nói đến phương pháp và mục tiêu của hoạt động dạy học còn “liên môn” là đề cập tới nội dung dạy học Đã dạy học

“tích hợp” thì chắc chắn phải dạy kiến thức “liên môn” và ngược lại, để đảm bảo

Trang 6

hiệu quả của dạy học liên môn thì phải bằng cách tích hợp và hướng tới mục tiêu tích hợp Dạy học tích hợp thể hiện ở hai mức độ thấp và mức độ cao Chủ đề tích hợp liên môn là chủ đề có nội dung kiến thức liên quan đến hai hay nhiều môn học, thể hiện sự ứng dụng của chúng trong cùng một hiện tượng, quá trình trong tự nhiên hay xã hội Ví dụ kiến thức vật lí và công nghệ, vật lí và hóa học, vật lí và toán học, toán học và sinh học

Trên cơ sở đó tôi nhận thấy: Mục tiêu đổi mới phương pháp là dạy cho

HS cùng tham gia học tập, phát huy tính tích cực sáng tạo của HS, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại vừa giữ được những tinh hoa văn hoá dân tộc vừa tiếp thu tốt những giá trị văn hoá tiên tiến trên thế giới

Việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực bắt buộc cả GV và HS phải có sự chuẩn bị hết sức chu đáo, HS phải chủ động và tích cực hợp tác trong mọi hoạt động Yêu cầu GV phải có sự thay đổi về quan điểm, về cách tiếp cận trong việc lựa chọn PPDH, hình thức tổ chức lớp học cũng như thay đổi cách đánh giá HS – dạy học gắn với phát triển năng lực Muốn làm được điều đó trước hết người GV phải có sự thay đổi trong cách tiếp cận, phải giúp cho HS làm chủ quá trình học tập Kết hợp tốt các PPDH truyền thống với các PPDH tích cực Xác định các PPDH theo đặc thù bộ môn bên cạnh những PPDH truyền thống cần chú ý các PPDH tích cực như: phương pháp trực quan, phương pháp làm việc theo nhóm, phương pháp giải quyết vấn đề,

Tuy nhiên trong thực tế giảng dạy của bản thân và việc dự giờ đồng nghiệp, tôi thấy việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực để phát huy năng lực học sinh còn gặp phải nhiều khó khăn:

- Việc vận dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực còn chưa mang lại hiệu quả cao Phương pháp thảo luận nhóm được tổ chức nhưng chủ yếu vẫn dựa vào một vài cá nhân học sinh tích cực tham gia, các thành viên còn lại còn dựa dẫm, ỉ lại chưa thực sự chủ động Mục đích của thảo luận nhóm chưa đạt được tính dân chủ, mọi cá nhân được tự do bày tỏ quan điểm, thói quen bình đẳng, biết đón nhận quan điểm bất đồng để hình thành quan điểm cá nhân.Việc đổi mới phương pháp dạy học cũng không được thực hiện một cách triệt để, vẫn còn nặng về phương pháp truyền thống truyền thụ một chiều Để thực hiện phương pháp dạy học này người giáo viên cần mất nhiều thời gian hơn để chuẩn

bị cho một tiết học nên việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh cũng gặp khó khăn

- Một số học sinh chưa có phương pháp học tập phù hợp, chưa tích cực trong việc tìm tòi nghiên cứu bài học Về giao tiếp các em còn e dè, chưa tự tin, sợ sai nên khi thảo luận nhóm các em còn chưa mạnh dạn… Một số học sinh chưa chăm học, thời gian dành cho việc học còn ít

- Một số phụ huynh cũng chưa thực sự quan tâm đến việc học của con cái Họ còn có suy nghĩ phó mặc cho nhà trường, “tất cả nhờ thầy”

- Nhiều học sinh chưa có máy tính kết nối mạng Internet hoặc điện thoại thông minh nên việc khai thác nguồn thông tin trên mạng để phục vụ cho bài học còn hạn chế Bên cạnh đó có các học sinh có máy tính kết nối mạng Internet và điện thoại thông minh nhưng không sử dụng với mục đích học tập

Trang 7

IV Một số kĩ thuật dạy học phát huy năng lực học sinh :

Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của của giáo viên và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học Các kĩ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học

1 Kĩ thuật "Các mảnh ghép"

a) Thế nào là kĩ thuật "Các mảnh ghép"?

Là hình thức học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm:

- Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp (có nhiều chủ đề)

- Kích thích sự tham gia tích cực của HS:

- Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác

b) Cách tiến hành kĩ thuật "Các mảnh ghép"

VÒNG 1: Nhóm chuyên gia

- Hoạt động theo nhóm 3 đến 8 người; Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ; Mỗi

cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, suy nghĩ về câu hỏi, chủ đề và ghi lại những ý kiến của mình

- Khi thảo luận nhóm phải đảm bảo mỗi thành viên trong từng nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao và trở thành “chuyên gia” của lĩnh vực đã tìm hiểu và có khả năng trình bày lại câu trả lời của nhóm ở vòng 2 VÒNG 2: Nhóm các mảnh ghép

- Hình thành nhóm 3 đến 6 người mới (1 – 2 người từ nhóm 1, 1 – 2 người từ nhóm 2, 1 – 2 người từ nhóm 3…)

- Các câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên trong nhóm mới chia sẻ đầy đủ với nhau

- Khi mọi thành viên trong nhóm mới đều hiểu được tất cả nội dung ở vòng 1 thì nhiệm vụ mới sẽ được giao cho các nhóm để giải quyết

- Các nhóm mới thực hiện nhiệm vụ, trình bày và chia sẻ kết quả

c) Một vài ý kiến cá nhân với kĩ thuật "Các mảnh ghép"

- Kĩ thuật này áp dụng cho hoạt động nhóm với nhiều chủ đề nhỏ trong tiết học, học sinh được chia nhóm ở vòng 1 (chuyên gia) cùng nghiên cứu một chủ đề

Trang 8

- Phiếu học tập mỗi chủ đề nên sử dụng trên giấy cùng màu có đánh số 1,2,…,n (nếu không có giấy màu có thể đánh thêm kí tự A, B, C, Ví dụ A1, A2,

An, B1, B2, , Bn, C1, C2, , Cn)

- Sau khi các nhóm ở vòng 1 hoàn tất công việc giáo viên hình thành nhóm mới (mảnh ghép) theo số đã đánh, có thể có nhiều số trong 1 nhóm mới Bước này phải tiến hành một cách cẩn thận tránh làm cho học sinh ghép nhầm nhóm

- Trong điều kiện phòng học hiện nay việc ghép nhóm vòng 2 sẽ gây mất trật tự

2 Kĩ thuật "Khăn trải bàn"

a) Kĩ thuật "Khăn trải bàn" là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm:

- Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực

- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS

- Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS

b) Cách tiến hành kĩ thuật "Khăn trải bàn"

- Hoạt động theo nhóm (4 người / nhóm) (có thể nhiều người hơn)

- Mỗi người ngồi vào vị trí (xung quanh bàn)

- Tập trung vào câu hỏi (hoặc chủ đề, )

- Viết vào ô mang số của bạn câu trả lời hoặc ý kiến của bạn (về chủ đề ) Mỗi

cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút

- Kết thúc thời gian làm việc cá nhân, các thành viên chia sẻ, thảo luận và thống nhất các câu trả lời

- Viết những ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn (giấy A0) c) Một vài ý kiến cá nhân với kĩ thuật "Khăn trải bàn"

- Kĩ thuật này giúp cho hoạt động nhóm có hiệu quả hơn, mỗi học sinh đều phải đưa ra ý kiến của mình về chủ đề đang thảo luận, không ỷ lại vào các bạn học khá, giỏi

- Kĩ thuật này áp dụng cho hoạt động nhóm với một chủ đề nhỏ trong tiết học, toàn thể học sinh cùng nghiên cứu một chủ đề

- Sau khi các nhóm hoàn tất công việc giáo viên có thể gắn các mẫu giấy "khăn trải bàn" lên bảng để cả lớp cùng nhận xét Có thể dùng giấy nhỏ hơn, dùng máy chiếu phóng lớn

Trang 9

- Có thể thay số bằng tên của học sinh để sau đó giáo viên có thể đánh giá được khả năng nhận thức của từng học sinh về chủ đề được nêu

3 Kĩ thuật "Động não"

a) Động não (công não) là một kỹ thuật nhằm huy động những tư tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề của các thành viên trong thảo luận Các thành viên được

cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng (nhằm tạo ra "cơn lốc” các ý tưởng) Kỹ thuật động não do Alex Osborn (Mỹ) phát triển, dựa trên một kỹ thuật truyền thống từ Ấn độ

b) Quy tắc của động não

- Không đánh giá và phê phán trong quá trình thu thập ý tưởng của các thành viên;

- Liên hệ với những ý tưởng đã được trình bày;

- Khuyến khích số lượng các ý tưởng;

- Cho phép sự tưởng tượng và liên tưởng

c) Các bước tiến hành

B1: Người điều phối dẫn nhập vào chủ đề và xác định rõ một vấn đề;

B2: Các thành viên đưa ra những ý kiến của mình: trong khi thu thập ý kiến, không đánh giá, nhận xét Mục đích là huy động nhiều ý kiến tiếp nối nhau; B3: Kết thúc việc đưa ra ý kiến;

B4: Đánh giá: Lựa chọn sơ bộ các suy nghĩ, chẳng hạn theo khả năng ứng dụng

- Có thể ứng dụng trực tiếp;

- Có thể ứng dụng nhưng cần nghiên cứu thêm;

- Không có khả năng ứng dụng

- Rút ra kết luận hành động

* Ưu điểm

- Dễ thực hiện;

- Không tốn kém;

- Sử dụng được hiệu ứng cộng hưởng, huy động tối đa trí tuệ của tập thể;

- Tạo cơ hội cho tất cả thành viên tham gia

Trang 10

* Nhược điểm

- Có thể đi lạc đề, tản mạn;

- Có thể mất thời gian nhiều trong việc chọn các ý kiến thích hợp;

- Có thể có một số HS "quá tích cực", số khác thụ động

4 Kĩ thuật "Lược đồ tư duy"

a) Lược đồ tư duy (còn được gọi là bản đồ khái niệm) là một sơ đồ nhằm trình bày một cách rõ ràng những ý tưởng mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc của cá nhân hay nhóm về một chủ đề Lược đồ tư duy có thể được viết trên giấy, trên bản trong, trên bảng hay thực hiện trên máy tính

b) Cách làm

- Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ đề

- Từ chủ đề trung tâm, vẽ các nhánh chính Trên mỗi nhánh chính viết một khái niệm, phản ánh một nội dung lớn của chủ đề, viết bằng CHỮ IN HOA Nhánh

và chữ viết trên đó được vẽ và viết cùng một màu Nhánh chính đó được nối với chủ đề trung tâm Chỉ sử dụng các thuật ngữ quan trọng để viết trên các nhánh

- Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung thuộc nhánh chính đó Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng chữ in thường

- Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo

c) Ứng dụng

Lược đồ tư duy có thể ứng dụng trong nhiều tình huống khác nhau như:

- Tóm tắt nội dung, ôn tập một chủ đề;

- Trình bày tổng quan một chủ đề;

- Chuẩn bị ý tưởng cho một báo cáo hay buổi nói chuyện, bài giảng;

- Thu thập, sắp xếp các ý tưởng;

- Ghi chép khi nghe bài giảng

* Ưu điểm

- Các hướng tư duy được để mở ngay từ đầu;

- Các mối quan hệ của các nội dung trong chủ đề trở nên rõ ràng;

- Nội dung luôn có thể bổ sung, phát triển, sắp xếp lại;

Ngày đăng: 01/10/2021, 21:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w