Vị trí chiến lược của biển - nhân tố địa lợi đặc biệt của sự phát triển Việt Nam nằm ở rìa Biển Đông, vùng biển có vị trí địa kinh tế, chính trị đặc biệtquan trọng và từ lâu đã là nhân t
Trang 1PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN VIỆT NAM
MỤC LỤC
A TẦM QUAN TRỌNG CỦA KINH TẾ BIỂN ĐỐI VỚI NƯỚC TA
1 Tiềm năng phát triển kinh tế biển Việt Nam
2 Chủ trương phát triển kinh tế biển Việt Nam
B PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN: CHỦ TRƯƠNG VÀ BIỆN PHÁP
1 Kinh tế hàng hải
2 Đánh bắt, nuôi trồng và chế biến hải sản
3 Khai thác và chế biến dầu khí
4 Du lịch biển
5 Nghề làm muối
6 Kinh tế đảo
7 Các lĩnh vực kinh tế biển khác
C CHỦ TRƯƠNG, BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÙNG VEN BIỂN VÀ QUẢN
LÝ, KHAI THÁC VÙNG BIỂN QUỐC GIA
1 Phát triển kinh tế vùng ven biển
2 Quản lý và khai thác vùng biển quốc gia
D KẾT LUẬN
Trang 2A TẦM QUAN TRỌNG CỦA KINH TẾ BIỂN ĐỐI VỚI NƯỚC TA
Bước sang thế kỷ 21,“Thế kỷ của biển và đại dương”, khai thác biển đã trở thànhvấn đề quan trọng mang tính chiến lược của hầu hết các quốc gia trên thế giới, kể cả cácquốc gia có biển và các quốc gia không có biển Trong điều kiện các nguồn tài nguyên trênđất liền đang ngày càng cạn kiệt, các nước ngày càng quan tâm tới biển Mặt khác, sự bùng
nổ dân số ngày càng gia tăng, theo thống kê đầu năm 2006 toàn thế giới có 6,5 tỷ người,
dự báo đến 2015 dân số thế giới khoảng 7,5 tỷ người Sự phát triển của dân số thế giới làmcho không gian kinh tế truyền thống đã trở nên chật chội, nhiều nước bắt đầu quay mặt rabiển và nghĩ đến các phương án biến biển và hải đảo thành lãnh địa, thành không gian kinh
tế mới Một xu hướng mới nữa là hiện nay, trong điều kiện phát triển khoa học công nghệnhanh chóng, việc đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ về biển đang là một xu thếtất yếu của các quốc gia có biển để tìm kiếm và bảo đảm các nhu cầu về nguyên, nhiênliệu, năng lượng, thực phẩm và không gian sinh tồn trong tương lai
Nước Việt Nam ta nằm bên bờ Tây của Biển Đông, một biển lớn, quan trọng củakhu vực và thế giới Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 thì nước tangày nay không chỉ có phần lục địa tương đối nhỏ hẹp “hình chữ S” mà còn có cả vùngbiển rộng lớn hơn 1 triệu km2, gấp hơn ba lần diện tích đất liền Dọc bờ biển có hơn 100cảng biển, 48 vụng, vịnh và trên 112 cửa sông, cửa lạch đổ ra biển Vùng biển Việt Nam
có hơn 3.000 đảo lớn, nhỏ với diện tích phần đất nổi khoảng 1.636 km2, được phân bố chủyếu ở vùng biển Đông Bắc và Tây Nam với những đảo nổi tiếng giàu, đẹp và vị trí chiếnlược như Bạch Long Vĩ, Phú quốc, Thổ Chu, Côn Sơn, Cồn Cỏ, Phú Quý, Cát Bà, Hoàng
Sa, Trường Sa Tuyến biển có 29 tỉnh, thành phố gồm: 124 huyện, thị xã với 612 xã,phường (trong đó có 12 huyện đảo, 53 xã đảo) với khoảng 20 triệu người sống ở ven bờ và
17 vạn người sống ở các đảo Khai thác biển cho phát triển kinh tế là một cách làm đầyhứa hẹn, mang tính chiến lược và được đánh giá là đóng vai trò ngày càng quan trọngtrong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của nước ta
1 Tiềm năng phát triển kinh tế biển Việt Nam
Trang 3Từ bao đời nay, biển luôn gắn bó chặt chẽ với mọi hoạt động sản xuất, đời sống củadân tộc Việt Nam Bước vào thế kỷ 21, giống như nhiều quốc gia khác, Việt Nam đanghướng mạnh về biển để tăng cường tiềm lực kinh tế của mình Đây là hướng đi đúng đắn,bởi lẽ biển Việt Nam chứa đựng nhiều tiềm năng phát triển kinh tế to lớn, trong đó nổi bậtlên các lợi thế là:
1.1 Vị trí chiến lược của biển - nhân tố địa lợi đặc biệt của sự phát triển
Việt Nam nằm ở rìa Biển Đông, vùng biển có vị trí địa kinh tế, chính trị đặc biệtquan trọng và từ lâu đã là nhân tố không thể thiếu trong Chiến lược phát triển không chỉcủa các nước xung quanh Biển Đông mà còn của một số cường quốc hàng hải khác trênthế giới
Hiện nay, nhiều nước và vùng lãnh thổ trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc,Trung Quốc, Đài Loan, Singapore có nền kinh tế hầu như phụ thuộc sống còn vào conđường Biển Đông Hàng năm, có khoảng 70% khối lượng dầu mỏ nhập khẩu và 45% hànghóa xuất khẩu của Nhật Bản, khoảng 60% khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của TrungQuốc được vận chuyển bằng con đường này Đặc biệt, nền kinh tế Singapore hầu nhưphụ thuộc hoàn toàn vào Biển Đông
Việt Nam có lợi thế là vùng biển nằm ngay trên một số tuyến hàng hải chính củaquốc tế qua Biển Đông, trong đó có tuyến đi qua eo biển Malacca, là một trong nhữngtuyến có lượng tàu bè qua lại nhiều nhất thế giới Bờ biển Việt Nam lại rất gần các tuyếnhàng hải đó nên rất thuận lợi trong việc phát triển giao thương quốc tế Hiện nay, hầu hếtkhối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu và một phần giao lưu nội địa của nước ta được vậnchuyển bằng đường biển trên Biển Đông Trong một vài thập kỷ tới, với tốc độ tăng trưởngkinh tế cao của các nước trong khu vực, khối lượng hàng hóa vận chuyển qua Biển Đông
sẽ tăng gấp hai, ba lần hiện nay, khi đó Biển Đông nói chung và vùng biển Việt Nam nóiriêng càng có vai trò to lớn trong thương mại thế giới; vùng biển Việt Nam sẽ trở thànhchiếc cầu nối quan trọng để phát triển thương mại quốc tế và mở rộng giao lưu với cácnước trong khu vực và trên thế giới
1.2 Các nguồn tài nguyên biển có khả năng khai thác lớn, đóng góp quan trọng cho tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 4Trong số các nguồn tài nguyên biển, trước tiên phải kể đến dầu khí, một nguồn tàinguyên mũi nhọn, có ưu thế nổi trội của vùng biển Việt Nam Trên vùng biển rộng hơn ltriệu km2 của Việt Nam, có tới 500.000 km2 nằm trong vùng triển vọng có dầu khí Trữlượng dầu khí ngoài khơi miền Nam Việt Nam có thể chiếm 25% trữ lượng dầu dưới đáyBiển Đông Có thể khai thác từ 30-40 nghìn thùng/ngày (mỗi thùng 159 lít), khoảng 20triệu tấn/năm Trữ lượng dầu khí dự báo của toàn thềm lục địa Việt Nam khoảng 10 tỷ tấnquy dầu Mặc dù so với nhiều nước, nguồn tài nguyên dầu khí chưa phải là thật lớn, songđối với nước ta nó có vị trí rất quan trọng, đặc biệt là trong giai đoạn nền kinh tế đi vàocông nghiệp hoá, hiện đại hoá Bên cạnh dầu, Việt Nam còn có khí đốt với trữ lượngkhoảng 3 nghìn tỷ m3/năm Ngoài dầu và khí, dưới đáy biển nước ta còn có nhiều khoángsản quý như: thiếc, ti-tan, đi-ri-con, thạch anh, nhôm, sắt, măng-gan, đồng, kền và các loạiđất hiếm Muối ăn chứa trong nước biển bình quân 3.500gr/m2 Vùng ven biển nước tacũng có nhiều loại khoáng sản có giá trị và tiềm năng phát triển kinh tế như: than, sắt, ti-tan, cát thuỷ tinh và các loại vật liệu xây dựng khác.
Nguồn lợi hải sản nước ta được đánh giá vào loại phong phú trong khu vực Ngoài
cá biển là nguồn lợi chính còn nhiều loại đặc sản khác có giá trị kinh tế cao như tôm, cua,mực, hải sâm, rong biển… Riêng cá biển đã phát hiện hơn 2.000 loài khác nhau, trong đótrên 100 loài có giá trị kinh tế cao với tổng trữ lượng hải sản khoảng 3- 4 triệu tấn, khảnăng cho phép khai thác 1,5- 1,8 triệu tấn/năm Đến nay đã xác định 15 bãi cá lớn quantrọng, trong đó 12 bãi cá phân bố ở vùng ven bờ và 3 bãi cá ở các gò nổi ngoài khơi Dọcven biển có trên 37 vạn héc ta mặt nước các loại có khả năng nuôi trồng thuỷ sản nướcmặn - lợ, nhất là nuôi các loại đặc sản xuất khẩu như tôm, cua, rong câu… Riêng diện tíchnuôi tôm nước lợ có tới 30 vạn ha Ngoài ra còn hơn 50 vạn ha các eo vịnh nông và đầmphá ven bờ như Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, Phá Tam Giang, Vịnh Văn Phong… là môitrường rất thuận lợi để phát triển nuôi cá và đặc sản biển Với tiềm năng trên, trong tươnglai có thể phát triển mạnh ngành nuôi, trồng hải sản ở biển và ven biển một cách toàn diện
và hiện đại với sản lượng hàng chục vạn tấn/ năm
Việt Nam với bờ biển dài hơn 3.260 km, nằm trong số 10 nước trên thế giới có chỉ
số cao nhất về chiều dài bờ biển so với diện tích lãnh thổ (không kể một số đảo) Tính bìnhquân cứ 100 km2 đất liền nước ta có 1 km bờ biển, cao gấp sáu lần chỉ số trung bình của
Trang 5thế giới, đồng thời bờ biển lại mở ra cả ba hướng đông, nam và tây nam, rất thuận lợi choviệc đi ra mọi nẻo đường đại dương Dọc theo bờ biển nước ta có hơn 100 địa điểm có thểxây dựng hải cảng, trong đó một số nơi có thể xây dựng cảng nước sâu, quy mô tương đốilớn (kể cả cảng trung chuyển quốc tế) như: Cái Lân và một số điểm ở khu vực Vịnh HạLong và Bái Tử Long, Nghi Sơn, Hòn La - Vũng Áng, Chân Mây, Đà Nẵng, Dung Quất,Văn Phong, Cam Ranh, Vũng Tàu, Thị Vải Riêng khu vực từ Vũng Tàu đến Hà Tiên dobiển nông, nhiều sình lầy nên ít có khả năng xây dựng cảng biển lớn, nhưng vẫn có thể xâydựng cảng quy mô vừa ở Hòn Chông, Phú Quốc hoặc cảng sông Cần Thơ Khả năng pháttriển cảng và vận tải biển là yếu tố trội cơ bản, là nguồn lực rất quan trọng để phát triểnkinh tế biển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tài nguyên du lịch biển cũng là một ưu thế đặc biệt, mở ra triển vọng khai tháctổng hợp để phát triển mạnh Dọc bờ biển Việt Nam có hàng trăm bãi tắm, trong đó cónhững bãi tắm có chiều dài lên đến 15- 18km và nhiều bãi tắm có chiều dài 1-2km đủ điềukiện thuận lợi khai thác phát triển du lịch biển Các bãi biển của nước ta phân bố trải đều
từ Bắc vào Nam Từ Móng Cái đến Hà Tiên có hàng loạt các bãi tắm đẹp như Trà Cổ, SầmSơn, Cửa Lò, Cửa Tùng, Lăng Cô, Mỹ Khê, Đại Lãnh, Nha Trang, Ninh Chữ, Mũi Né,Vũng Tàu, Hà Tiên… Một số địa danh du lịch biển của Việt Nam đã được biết đến trênphạm vi toàn cầu như Vịnh Hạ Long- hai lần được UNESCO công nhận là di sản thiênnhiên thế giới, đang nằm trong danh sách đề cử kỳ quan thiên nhiên của thế giới, Vịnh NhaTrang được coi là một trong những vịnh đẹp nhất hành tinh, bãi biển Đà Nẵng được tạp chíForbes bầu chọn là một trong 6 bãi tắm quyến rũ nhất hành tinh Tiềm năng du lịch biểncủa nước ta không thua kém bất kỳ một quốc gia nào trong khu vực
Chúng ta không chỉ có bờ biển dài mà còn có hệ thống đảo và quần đảo phongphú, trải dài từ vùng biển Quảng Ninh đến Kiên Giang Theo thống kê, ven bờ nước ta có2.773 đảo lớn, nhỏ các loại với tổng diện tích vào khoảng 1.700 km2 Trong đó có 24 đảo
có diện tích tương đối lớn (trên 10 km2), 82 đảo có diện tích lớn hơn 1 km2 và khoảng1.400 đảo chưa có tên Đặc biệt có ba đảo có diện tích trên 100 km2 là Phú Quốc, Cái Bầu
và Cát Bà Bên cạnh đó, các tỉnh ven biển nước ta còn có nhiều thế mạnh khác trong đấtliền như các di tích, danh lam thắng cảnh, các làng nghề truyền thống, các lễ hội Hiện nayViệt Nam có đến 6/7 di sản thiên nhiên, văn hóa thế giới được UNESCO công nhận đều
Trang 6nằm ở các tỉnh ven biển (Quảng Ninh, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Quảng Bình) nên sẽ
là điều kiện thuận lợi để du lịch biển phát triển mạnh hơn Hệ thống cảng biển của nước tahiện nay đủ tiêu chuẩn để đón các tàu khách quốc tế cỡ lớn
Sự kết hợp hài hoà giữa cảnh quan tự nhiên với cảnh quan văn hoá - xã hội củabiển, vùng ven biển và các hải đảo cùng với điều kiện thuận lợi về vị trí, địa hình của vùngven biển đã tạo cho du lịch biển có lợi thế phát triển hơn hẳn so với nhiều loại hình du lịchkhác trên đất liền
1.3 Nguồn nhân lực dồi dào ven biển là một nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định kết quả khai thác tiềm năng nguồn lợi biển
Với số dân hơn 20 triệu người đang sinh sống, các vùng ven biển và đảo của ViệtNam đang có lực lượng lao động khoảng 12,8 triệu người, chiếm 35,47% lao động cảnước Đây là nguồn nhân lực quan trọng đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước
2 Chủ trương phát triển kinh tế biển Việt Nam
Kinh tế biển hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ratrên biển và các hoạt động kinh tế diễn ra trên đất liền nhưng trực tiếp liên quan đến khaithác biển Cụ thể là:
- Các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển, chủ yếu bao gồm: (1) Kinh tế hàng hải(vận tải biển và dịch vụ cảng biển); (2) Hải sản (đánh bắt và nuôi trồng hải sản); (3) Khaithác dầu khí ngoài khơi; (4) Du lịch biển; (5) Làm muối; (6) Dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ,cứu nạn; và (7) Kinh tế đảo
- Các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển, tuy không phải diễn
ra trên biển nhưng những hoạt động kinh tế này là nhờ vào yếu tố biển hoặc trực tiếp phục
vụ các hoạt động kinh tế biển ở dải đất liền ven biển, bao gồm: (1) Đóng và sửa chữa tàubiển (hoạt động này cũng được xếp chung vào lĩnh vực kinh tế hàng hải); (2) Công nghiệpchế biến dầu, khí; (3) Công nghiệp chế biến thuỷ, hải sản; (4) Cung cấp dịch vụ biển; (5)Thông tin liên lạc biển; (6) Nghiên cứu khoa học - công nghệ biển; (7) Đào tạo nhân lựcphục vụ phát triển kinh tế biển; và (8) Điều tra cơ bản về tài nguyên - môi trường biển
Trang 7Với cơ cấu ngành, nghề đa dạng, trong đó có nhiều ngành, nghề then chốt như khaithác dầu khí, hải sản, hàng hải, kinh tế biến đóng vai trò đặc biệt quan trọng đóng góp chotăng trưởng và phát triển kinh tế của nước ta Trong mấy thập kỷ gần đây, Ðảng và Nhànước ta đã đề ra những chủ trương, chính sách, biện pháp quan trọng nhằm quản lý, bảo
vệ, khai thác biển Có ý nghĩa quan trọng đối với các hoạt động kinh tế biển phải kể đếnNghị quyết 03-NQ/TW ngày 6/5/1993 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ phát triển kinh
tế biển trong những năm trước mắt, trong đó khẳng định rằng, phải đẩy mạnh phát triểnkinh tế biển đi đôi với tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia Songsong với nhiệm vụ đó là bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái biển, phấn đấu trởthành một nước mạnh về biển vào năm 2020 Sau Nghị quyết này, Thủ tướng Chính phủ
đã có các chỉ thị triển khai thực hiện như Chỉ thị 399 ngày 5/8/1993 về một số nhiệm vụphát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt và Chỉ thị 171/TTg năm 1995 triển khaiNghị quyết 03-NQ/TW
Ngày 22/9/1997, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 20-CT/TW về đẩy mạnh pháttriển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa ra một số quan điểmtrong phát triển kinh tế biển Đó là: “Thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá kinh tế biểnhướng mạnh vào xuất khẩu, dựa trên những tiến bộ khoa học, công nghệ làm động lực; vừathúc đẩy nghiên cứu, quản lý, khai thác tiềm năng biển có hiệu quả, vừa tái tạo tài nguyênbiển, bảo vệ môi trường, đào tạo nhân lực” Quan điểm này được cụ thể hoá bằng các giảipháp: “Đầu tư thích đáng cho khoa học- công nghệ; tăng cường năng lực điều tra khảo sát,nghiên cứu khí tượng- thuỷ văn và môi trường, thực trạng tài nguyên và dự báo xu thế biếnđộng trong những thập kỷ tới Từ nay đến năm 2000 cần tăng cường đầu tư cho nghiên cứukhoa học biển, tìm kiếm thăm dò dầu khí, khoáng sản biển, nguồn lợi hải sản và nănglượng biển, nghiên cứu và bảo vệ môi trường biển, tiếp tục hiện đại hoá khí tượng- thuỷvăn” Thi hành Chỉ thị này, một loạt kế hoạch về phát triển kinh tế biển đã được thông quanhư: Chiến lược phát triển thuỷ sản 2010; Chiến lược phát triển du lịch 2010; Chiến lượcphát triển giao thông vận tải 2010…
Bước sang thế kỷ 21, Đại hội Đảng lần thứ IX (2001) khẳng định mục tiêu: “Xâydựng chiến lược phát triển kinh tế biển và hải đảo, phát huy thế mạnh đặc thù của hơn 1triệu km2 thềm lục địa Tăng cường điều tra cơ bản làm cơ sở cho các quy hoạch, kế hoạch
Trang 8phát triển kinh tế biển Đẩy mạnh công tác nuôi trồng, khai thác, chế biến hải sản; thăm dò,khai thác và chế biến dầu khí; phát triển đóng tàu thuyền và vận tải biển; mở mang du lịch;bảo vệ môi trường; tiến mạnh ra biển và làm chủ vùng biển Phát triển tổng hợp kinh tếbiển và ven biển, khai thác lợi thế của các khu vực cửa biển, hải cảng để tạo thành vùngphát triển cao, thúc đẩy các vùng khác Xây dựng căn cứ hậu cần ở một số đảo để tiến rabiển khơi Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo vệ an ninh trên biển” Những nộidung nêu trên tiếp tục được khẳng định tại Đại hội Đảng lần thứ X (2006).
Từ những quan điểm, biện pháp nêu trên, cùng với việc tiếp tục nhấn mạnh chủtrương lớn xây dựng Việt Nam trở thành một nước mạnh về biển, phát triển kinh tế- xã hộivùng biển, hải đảo, ven biển phải gắn kết với yêu cầu bảo vệ đất nước, có thể thấy rõ hơnchủ trương rất quan trọng là: cần đặt kinh tế biển trong tổng thể kinh tế cả nước, trongquan hệ tương tác với các vùng và trong xu thế hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới
Việc thực hiện những chủ trương, chính sách nêu trên đã đạt được một số thành tựuquan trọng Ðến nay, kinh tế biển và vùng ven biển đóng góp gần 50% GDP của cả nước(trong đó riêng kinh tế trên biển chiếm hơn 20% GDP), với quy mô tăng khá nhanh, cơ cấungành nghề chuyển dịch theo hướng phục vụ xuất khẩu đem về một lượng ngoại tệ lớn cho
sự nghiệp công nghiệp hóa, hình thành một số trung tâm phát triển để hướng ra biển Tuynhiên, xét cả về mặt chủ quan và khách quan, thực tế hiện nay cho thấy trong việc khaithác lợi thế từ biển còn không ít hạn chế, khó khăn và yếu kém Quy mô kinh tế biển vàvùng ven biển nước ta vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, giá trị tổng sản phẩm hằng nămcòn nhỏ bé, chỉ bằng 1/20 của Trung Quốc, 1/94 của Nhật Bản, 1/7 của Hàn Quốc và 1/260kinh tế biển của thế giới Những năm qua, do chưa có chiến lược tổng thể, cho nên cácngành, các địa phương thiếu căn cứ để quy hoạch Tính đồng bộ của các chủ trương, chínhsách ở tầm vĩ mô, nhận thức về vai trò, vị trí của biển, sự quan tâm phát triển các lĩnh vựcliên quan đến biển của một số cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, các ngành, cả Trungương và địa phương còn nhiều hạn chế Cho đến trước kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XII,cũng chưa có cơ quan chuyên trách giúp Chính phủ quản lý, điều hành chung, dẫn đếnnhững hoạt động đầu tư manh mún, chưa đồng bộ, hiệu quả thấp, kinh tế biển phát triểnchậm, thiếu bền vững và cơ cấu chưa hợp lý
Trang 9Thực tế trên đặt ra yêu cầu cấp bách là Đảng và Nhà nước ta cần nâng các quanđiểm chỉ đạo nêu trên lên tầm của một văn bản chiến lược Hội nghị lần thứ tư Ban Chấphành Trung ương Đảng Khóa X đã thông qua Nghị quyết về Chiến lược biển Việt Namđến năm 2020 (Nghị quyết 09-NQ/TW ngày 9/2/2007), nhằm đáp ứng yêu cầu nêu trên.Quan điểm chỉ đạo được nêu trong phần định hướng Chiến lược biển Việt Nam đến năm
2020 là "nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển trên cơ sở pháthuy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với cơ cấu phongphú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn".Phấn đấu đến năm 2020, kinh tế biển đóng góp khoảng 53 – 55% GDP, 55 – 60% kimngạch xuất khẩu của cả nước, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kểđời sống của nhân dân vùng biển và ven biển Để đạt được mục tiêu tổng quát nêu trên, cầnthực hiện tốt các nhiệm vụ chiến lược quan trọng Trong đó, nhiệm vụ chiến lược kinh tế
"làm giàu từ biển" được chỉ đạo bởi quan điểm: kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế
-xã hội với bảo đảm quốc phòng - an ninh, hợp tác quốc tế và bảo vệ môi trường Kết hợpchặt chẽ giữa phát triển vùng biển, ven biển, hải đảo với phát triển vùng nội địa theohướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cho một quãng thời gian gần 3 kế hoạch 5 năm(2007-2020), không gian kinh tế biển được mở rộng và nhất thể hóa trên phạm vi vùngbiển, ven biển và hải đảo gắn kết chặt chẽ với các vùng quy hoạch lâu nay trong đất liền
Sự phát triển các ngành kinh tế biển được gắn kết hữu cơ với nhau trên cơ sở phát huy caonhất lợi thế của mỗi ngành
Có thể nói rằng, Nghị quyết về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã kế thừanhững quan điểm về phát triển kinh tế biển và các lĩnh vực khác liên quan đến biển đã banhành trước đó, nhưng phải khẳng định rằng, đây là Nghị quyết của Trung ương toàn diệnđầu tiên về biển, mở ra một chương mới trong tư duy về biển đối với sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc trong những thập kỷ đầu của thế kỷ 21 Trong Chiến lược biển, phần vềchiến lược phát triển kinh tế biển là một trong những nội dung chủ yếu nhất
B PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN: CHỦ TRƯƠNG VÀ BIỆN PHÁP
Nghị quyết Trung ương 4 (khóa X) về Chiến lược biển là bước tiến lớn, đặc sắc vềlĩnh vực này Để thực hiện thắng lợi Chiến lược biển, cần nâng cao nhận thức của toàn
Trang 10Đảng, toàn dân về vị trí, vai trò của biển đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;xây dựng cơ sở luật pháp và lực lượng nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh trênbiển; đẩy mạnh điều tra cơ bản và phát triển khoa học – công nghệ biển; triển khai công tácquy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh các vùng biển
và ven biển; tiếp tục xây dựng đồng bộ khung khổ pháp lý về biển và hệ thống cơ chế,chính sách khuyến khích đầu tư phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển và vùng venbiển; xây dựng cơ quan quản lý nhà nước có hiệu lực, hiệu quả đối với mọi vấn đề liênquan đến biển; tăng cường công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế về biển; phát triển nguồnnhân lực và phát triển một số tập đoàn kinh tế mạnh trong lĩnh vực kinh tế biển
Những chủ trương, biện pháp nêu trên cần được cụ thể hóa trong từng lĩnh vực kinh
tế biển Trong những năm qua, các lĩnh vực kinh tế biển nước ta đã có bước chuyển biếnđáng kể Cơ cấu ngành, nghề đang có sự thay đổi lớn Ngoài các ngành nghề truyền thống, đãxuất hiện nhiều ngành kinh tế biển gắn với công nghệ - kỹ thuật hiện đại Tuy vậy, các lĩnh vựckinh tế biển nhìn chung đang gặp phải không ít vấn đề, và đặc biệt là đang chứa đựng nhiều tiềmnăng phát triển chưa được khai thác Phần này phân tích khái quát thực trạng của một số lĩnhvực kinh tế biển quan trọng, từ đó nêu lên các chủ trương, biện pháp nhằm đẩy mạnh sự pháttriển của các lĩnh vực này trong thời gian tới
đã sử dụng trên 50% năng lực đội tàu của Việt Nam
Tuy nhiên, đội tàu của Việt Nam còn tương đối nhỏ bé, đặc biệt là so với các nướctrong khu vực Thí dụ, Singapore chỉ có khoảng 900 tàu các loại, song tổng trọng tải lên tới36,39 triệu DWT; Inđônêsia có 718 tàu với trọng tải 4,3 triệu DWT; thậm chí trọng tải của
Trang 11đội tàu của Campuchia còn lớn hơn trọng tải đội tàu của nước ta tới gần 1 triệu DWT Vớichiến lược đầu tư không rõ ràng, manh mún, không bền vững, đội tàu Việt Nam cũng kém
đa dạng Trong khi thế giới đang ngày càng chú trọng đến việc phát triển các thế hệ tàubiển có sức chở lớn cũng như các tàu chuyên dụng thì các doanh nghiệp Việt Nam chỉ cóphần lớn các tàu vận tải hàng khô với trọng tải nhỏ, chủ yếu không quá 20.000 tấn Xuhướng vận tải của thế giới hiện nay là hàng container, trong khi đội tàu container của ViệtNam chỉ chiếm khoảng 2% số lượng tàu với 7% số tấn trọng tải Trong tổng số trên 1.000tàu của đội tàu quốc gia chỉ có hơn 300 tàu hoạt động tuyến quốc tế và chủ yếu chỉ làmnhiệm vụ trung chuyển hàng hóa đến các cảng lớn trong khu vực như Singapore, Malaysia,Hồng Kông, Hàn Quốc để đưa lên tàu lớn đi các các châu lục khác Ngay cả nguồn dầu thôxuất khẩu với khối lượng lớn, song đội tàu Việt Nam rất khó tham gia, phần vì không cótàu chuyên dụng, phần do việc đàm phán để giữ nguồn hàng khó khăn do không được sự
hỗ trợ của chính các doanh nghiệp Việt Nam có nguồn hàng Tóm lại, năng lực cạnh tranhcủa đội tàu biển Việt Nam thấp, không đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường khu vực,thậm chí thua ngay trên sân nhà
Có nhiều nguyên nhân được nêu ra giải thích thực trạng nêu trên, trong đó phải kểđến những nguyên nhân chủ yếu sau đây Thứ nhất, các doanh nghiệp thiếu nguồn hàngchuyên chở cho nên rất ít doanh nghiệp dám đầu tư mua hoặc đóng tàu lớn Trong xuấtnhập khẩu, các chủ hàng nội đã quen với tập quán bán FOB tại Việt Nam dẫn tới ngườimua hàng ở nước ngoài được "mua tận gốc" và có quyền chỉ định tầu chuyên chở Mặtkhác, các chủ hàng ngoại lại chỉ thích bán CIF tức là "bán tận ngọn" và giành luôn quyềnlựa chọn tàu chuyên chở Thứ hai, theo nhận định của Hiệp hội chủ tàu Việt Nam, việcNhà nước ta cho phép các công ty liên doanh sản xuất được đầu tư khép kín từ sản xuất,kinh doanh cảng, vận tải biển, đại lý hàng hải đã làm cho cạnh tranh trong dịch vụ vận tảibiển trở nên phức tạp hơn Thứ ba, việc bảo hộ ngành đóng tàu trong nước thông qua việc
áp dụng thuế nhập khẩu, thuế VAT đối với nhập khẩu tàu biển từ nước ngoài cũng làm chocác doanh nghiệp vận tải biển khó khăn hơn trong việc đầu tư tàu, đặc biệt là những tàulớn, có chất lượng tốt, tuổi tàu thấp Thứ tư, ngoài đội tàu thì đội ngũ thuyền viên, quản lýtàu cũng đang là vấn đề làm đau đầu các hãng tàu Hiện Việt Nam đang thiếu trầm trọngđội ngũ thuyền viên, đặc biệt là thuyền trưởng, máy trưởng Để đào tạo được một người
Trang 12sau khi tốt nghiệp Đại học Hàng hải lên thuyền trưởng, máy trưởng mất thêm ít nhất 10năm, tuy mức lương khá cao nhưng do tính chất công việc thường xuyên xa nhà nên khôngnhiều người theo đuổi Chính vì vậy rất nhiều tàu của Việt Nam đang thuê thuyền trưởnghoặc quản lý là người nước ngoài, và không ít nơi còn cho nước ngoài thuê tàu, điều nàycũng khiến vận tải biển Việt Nam còn “đánh vật” ngay trên sân nhà
- Về cảng biển và dịch vụ cảng biển:
Như đã nêu ở trên, với hơn 3.260 km bờ biển, Việt Nam có một tiềm năng về cảngbiển hết sức to lớn Hệ thống cảng biển bao gồm trên 100 cảng biển lớn nhỏ, trong đó cómột số cảng đã và đang được nâng cấp và mở rộng như Hải Phòng, Cái Lân, Đà Nẵng,Quy Nhơn, Nha Trang, Sài Gòn, Cần Thơ Khối lượng hàng hoá thông qua cảng biển ViệtNam tăng nhanh chóng Tốc độ tăng trưởng bình quân là 17%/năm Các cảng lớn như HảiPhòng, Sài Gòn đạt một mức tăng trưởng hành hoá kỷ lục Nhưng, nhìn chung các cảngbiển vẫn đang ở trong tình trạng kém hiệu quả, thiếu sức cạnh tranh bởi các lý do: quy môcảng nhỏ bé, thiết bị xếp dỡ lạc hậu, thiếu cảng nước sâu, cảng tàu container, những cảngtổng hợp quan trọng đều nằm sâu trong đất liền như Hải Phòng (30 km), Sài Gòn (90km)luồng lạch hẹp lại bị sa bồi lớn không cho phép các tàu lớn ra vào cảng, mặt bằng chật hẹp,thiếu hệ thống đường bộ, đường sắt nối vào mạng lưới giao thông quốc gia
Xu thế vận tải hiện nay là sử dụng tàu có trọng tải lớn, áp dụng các công nghệ vậntải tiên tiến, đặc biệt là vận tải đa phương thức Do vậy, việc xây dựng các cảng nước sâuvới trang thiết bị hiện đại, công nghệ quản lý điều hành tiên tiến là yêu cầu bức xúc Nhậnthức rõ vai trò quan trọng của hệ thống cảng biển đối với phát triển kinh tế nên trong 10năm qua Nhà nước đã tập trung vốn đầu tư cho một số cảng trọng điểm như:
- Cảng Hải Phòng hoàn thành giai đoạn I với công suất 6,2 triệu tấn/năm, cho tàu10.000 DWT ra vào và dự kiến sẽ hoàn thành giai đoạn II trong kế hoạch 2000 - 2010 vớicông suất 8 - 8,5 triệu tấn/năm, cho tàu 10.000 tấn ra vào
- Cảng Cái Lân: Công suất 1,8 - 2,8 triệu tấn/năm, cho tàu đến 40.000 tấn ra vàogiai đoạn I (năm 2003) và 16 – 17 triệu tấn/năm cho tàu 50.000 tấn ra vào giai đoạn II (đếnnăm 2010 - 2020)
Trang 13- Cảng Sài Gòn: Công suất 8,5 - 9,5 triệu tấn/năm cho tàu 25.000-35.000 tấn ra vào(giai đoạn II đến năm 2010) và một số cảng khác sẽ được đầu tư cải tạo mở rộng cơ sở vậtchất như cảng Cửa Lò, Quy Nhơn, Nha Trang.
- Một số cảng chuyên dùng như bến thứ nhất của cảng tàu Dung Quất (liên doanhViệt Xô); Cảng Nghi Sơn (xi măng); Cảng Cát Lái (xi măng và container) và một số cảng
ở khu công nghiệp Gò Dầu, Hiệp Phước…
Để đáp ứng nhu cầu vận tải biển ngày một tăng trong bối cảnh hội nhập, Thủ tướngChính phủ đã phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đếnnăm 2010 với 114 cảng (chưa kể các cảng tiềm năng) Tất cả các cảng đều gắn liền với cáctrung tâm kinh tế, là đầu mối giao lưu với thế giới trong xuất, nhập khẩu của đất nước Tuyvậy, trong công tác quy hoạch cảng biển từ lâu đã nổi lên rất nhiều vấn đề Trong thời gianqua, các địa phương cạnh tranh nhau xây cảng nước sâu tầm cỡ khu vực, thậm chí cóngười gọi là xảy ra hiện tượng “cảng sau đè cảng trước” (Hộp 1)
Hộp 1 “Loay hoay” bài toán quy hoạch
Cảng sau “đè” cảng trước
Sự kiện khởi công dự án xây dựng Tổ hợp công nghiệp, dịch vụ, cảng biển Hải Hàtại Quảng Ninh, do 7 tập đoàn kinh tế lớn của Việt Nam cùng góp vốn xây dựng hồi giữatháng 3 đã thể hiện quyết tâm đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam
Ông Phạm Thanh Bình, Chủ tịch Tập đoàn Vinashin nói một cách ví von: “Đây sẽ
là nơi làm ra tất cả những gì phục vụ cho kinh tế biển, vượt xa những gì mà chúng ta đã và đang làm Cụ thể, các dự án công nghiệp cơ bản là nhà máy đóng tàu với khả năng đóng tàu có trọng tải tới 320 ngàn tấn (hiện công nghiệp tàu thủy Việt Nam mới chỉ đóng được
Trang 14tàu dưới 60 ngàn tấn), cảng nước sâu có khả năng phục vụ tàu tới 200 ngàn tấn (cảng của Việt Nam mới đủ sức phục vụ cho tàu dưới 40 ngàn tấn) Tuy nhiên từ đây nhìn lại mới thấy việc quy hoạch hệ thống cảng biển của Việt Nam thật manh mún, nhỏ lẻ và dàn trải, chồng lấn nhau”.
Trở lại với cụm cảng nằm ở khu vực vịnh Bắc Bộ Trừ cảng Hải Phòng đã có lâuđời thì một cảng khác có quy mô lớn hơn kế tục là cảng nước sâu Cái Lân, cảng cửa ngõquan trọng của khu vực phía Bắc, như theo phê duyệt Sau bao năm cảng Cái Lân loayhoay với luồng lạch thì một cảng “đàn anh” chuẩn bị ra đời: Bộ Giao thông Vận tải vừathông qua bản nghiên cứu tiền khả thi và sẽ trình Chính phủ dự án cảng nước sâu LạchHuyện, phía Bắc TP Hải Phòng, vốn đầu tư lên đến 1,6 tỷ USD Cảng này cũng sẽ là cửangõ ra quốc tế, cảng trung chuyển lớn của toàn khu vực phía Bắc
Trong khi cảng nước sâu Lạch Huyện đang làm “giấy khai sinh” thì một cảng nướcsâu “siêu cảng” khác đã khởi công: cảng Hải Hà với quy mô tiếp nhận tàu đến 200 ngàntấn! Như vậy, hai địa phương sát nách nhau là TP Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh lại có tới
ba cảng nước sâu đều thuộc tầm cỡ của khu vực: cảng Lạch Huyện cách cảng Cái Lânkhoảng gần 100km, cảng Cái Lân cách cảng Hải Hà trên 100km - hai cảng này thuộc tỉnhQuảng Ninh! Lúc này, một vấn đề khác đặt ra, có cần thiết tiếp tục đầu tư hàng trăm tỷđồng nạo vét luồng lạch vào cảng Cái Lân?
Điều này sẽ tiếp tục được minh chứng với hàng loạt cảng biển miền Trung Từ chỗchỉ có hai cảng chính là cảng Đà Nẵng và cảng Quy Nhơn vào những năm 90 thế kỷ trước,đến nay về cơ bản tỉnh nào cũng có cảng và đều là cảng nước sâu
Bên cạnh cảng Quy Nhơn là cảng Nhơn Hội nằm trong Khu kinh tế Nhơn Hội, cách
đó gần 200km, tại khu kinh tế Dung Quất cũng đang triển khai xây dựng cảng nước sâu.Tiến ra phía Bắc chưa đầy 40km, cảng nước sâu Kỳ Hà cũng đã hoàn thành bến số 1 nhằmphục vụ cho khu kinh tế mở Chu Lai
Nhích ra độ 30km là Đà Nẵng có cảng Tiên Sa, tiếp tục độ 50km là cảng nước sâuChân Mây, thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế… Tất nhiên, vì mạnh ai nấy làm nên cảng nào chỉphục vụ cho tỉnh đó, nhưng nguồn hàng rất hạn chế nên những cảng mở sau công suất khaithác rất thấp Trớ trêu là, trong chiều dài khoảng 400km bờ biển với mật độ cảng biển dày
Trang 15đặc như vậy, nếu hỏi cảng nào là trung tâm cho khu vực, nguồn hàng tập trung về đầu mối
để xuất nhập khẩu là ở đâu thì sẽ không có câu trả lời!
Rõ ràng, với tài sản cảng biển hiện có chúng ta đang rất lạc hậu so với thế giới,thậm chí so với các nước trong khu vực! Điều này đáng lo ngại trong khi cần xây dựngcảng trước một bước so với bốn ngành kinh tế biển còn lại: dầu khí, hải sản, du lịch biển
và lấn biển!
Ông Hồ Kim Lân, Tổng thư ký Hiệp hội cảng biển Việt Nam nêu ra các nguyênnhân như sau Việc xây dựng cảng lâu nay xuất phát từ đề bài: xây một cảng tốn khoảng 3năm nhưng hiện nay tốc độ phát triển kinh tế của chúng ta rất nhanh, địa phương nào cũngtăng GDP 7% - 8%/năm, chỉ năm năm thì hàng hóa tăng gấp đôi, nên làm chậm sẽ khôngđáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế Tuy nhiên, thực tế lại hoàn toàn khác
Sự phát triển cảng biển là do xuất phát từ… ưu tiên chung chung của nhà nước, quyhoạch nhẹ tay dễ dãi phóng cho dài hạn, nên hệ thống cảng quốc gia, cảng địa phươngmạnh ai nấy làm Nguyên nhân khác là đơn vị tư vấn dự báo không chính xác, hoặc khôngkhách quan Thường đơn vị tư vấn làm theo đề bài của chủ đầu tư đưa ra, nhưng không aikiểm chứng được độ chính xác
Còn cơ quan xét duyệt thì dựa trên nghiên cứu khả thi, nhưng thực tế “10 đề án chỉchính xác vài ba cái” Điều này cũng xảy ra đối với các đơn vị tư vấn nước ngoài, mộtminh chứng: theo nhà tư vấn Nhật Bản, dự báo hàng container qua cảng Sài Gòn năm 2010
là 2 triệu teu, nhưng thật ra đến năm 2007 đã tăng vọt lên 2,5 triệu teu! Vì lẽ đó, cảng củachúng ta chưa phân định cụ thể cảng nào là cảng nước sâu, cảng nào là cảng quốc tế, cảng
Trang 16địa phương, cảng chuyên ngành…
Nguồn: http://vietnamnet.vn, cập nhật ngày 15/5/2007
Bên cạnh cảng biển, các dịch vụ logistics trong vận tải biển Việt Nam (chuỗi dịch
vụ giao nhận kho vận từ làm các thủ tục giấy tờ, tổ chức vận tải, lưu kho bãi…) cũng kémphát triển Theo ước tính, chi phí cho logistics của Việt Nam hàng năm khoảng 8- 12 tỷUSD, ước chiếm khoảng 15% - 20% GDP của Việt Nam năm 2006, trong đó chi phí chongành vận tải khoảng 60%, phần lớn là vận tải biển Tuy nhiên, phần lớn số lợi nhuận trênđang rơi vào tay các công ty, tập đoàn nước ngoài Cả nước hiện có khoảng 600- 800doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực này, nhưng phần đông là nhỏ và rất nhỏ nên hạn chế
về vốn, nguồn nhân lực, công nghệ Hiện các doanh nghiệp Việt Nam không kết nối đượcvới mạng lưới toàn cầu và chỉ dừng lại ở nhà cung cấp dịch vụ vệ tinh cho các đối tác nướcngoài có mạng điều hành toàn cầu, tức là chỉ làm một phần công việc trong chuỗi dịch vụnày như kê khai thủ tục hải quan, thuê kho bãi… Trong nhiều trường hợp, thay vì liên kết,hợp tác thì các doanh nghiệp Việt Nam lại cạnh tranh không lành mạnh, làm ăn chụp giựt,phá giá… trong khi chất lượng chưa cao, tự làm yếu nhau và làm yếu chính mình Do cácdoanh nghiệp vốn ít nên tổ chức doanh nghiệp đơn giản, không chuyên sâu, không có vănphòng đại diện ở các nước khác, không có thông tin, công việc phải giải quyết thông quacác đại lý của các công ty nước ngoài… Những yếu kém nêu trên góp phần kìm hãm nănglực cạnh tranh cũng như sự phát triển của kinh tế hàng hải Việt Nam
- Về công nghiệp đóng tàu:
Với đường bờ biển dài, Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển ngành công nghiệpđóng tàu Trong những năm 90 của thế kỷ trước, ngành công nghiệp đóng tàu gặp rất nhiềukhó khăn và bước vào thời kỳ sàng lọc, củng cố, định hướng chiến lược, sắp xếp lại cácdoanh nghiệp nhà nước Đến nay, sau hơn 10 năm thay đổi, ngành công nghiệp đóng tàuViệt Nam, đi đầu là Tổng Công ty Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam (Vinashin), đã đạtnhững bước phát triển đáng khích lệ, ngày càng được nhiều hãng tàu lớn của nước ngoàitín nhiệm, góp phần đưa Việt Nam trở thành quốc gia được công nhận là có ngành côngnghiệp đóng tàu đứng hàng thứ 11 trên thế giới
Trang 17Hiện nay, Việt Nam có hơn 60 nhà máy sửa chữa và đóng tàu trực thuộc Bộ Quốcphòng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Bộ Giao thông Vận tải, trong đó BộGiao thông Vận tải có số lượng lớn nhất chiếm trên 70% công suất đóng tàu của ngành.Trong những năm gần đây, Chính phủ đã đẩy mạnh đầu tư vào một gói thầu nhằm nângcao hoạt động toàn ngành thông qua Chương trình Phát triển Công nghiệp Tàu thủy 2002 -
2010 Chính phủ đã quyết định đưa đóng tàu trở thành một ngành xuất khẩu mũi nhọn Kếtquả là tính tới năm 2003, ngành đóng tàu đã đạt doanh thu tiêu thụ trong nước là 251 triệuUSD và 71 triệu USD từ xuất khẩu, dự kiến tăng tổng doanh thu lên 5,11 tỷ USD vào năm
2010 Các nhà máy đóng tàu Việt Nam từ chỗ chủ yếu đóng các tàu hàng và tàu đánh bắthải sản xa bờ có trọng tải trên dưới 4.000 tấn, thì đến nay đã có thể đóng các tàu container
có trọng tải 14.000 tấn, tàu chuyên chở 12.500 tấn, tàu chở hàng 6.500 tấn và tàu chở dầu100.000 tấn… theo tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương các nước trong khu vực và quốc tế.Hiện nay, đã có 10 quốc gia trên thế giới đặt hàng tại Vinashin
Vì những bước phát triển nhanh chóng nêu trên, Việt Nam đã quyết định thay đổichiến lược phát triển ngành đóng tàu Từ một kế hoạch 10 năm (2001-2010) tương đốikhiêm tốn với tổng mức đầu tư khoảng 450 triệu đô la Mỹ, Việt Nam chuyển sang kếhoạch 5 năm (2006-2010) đầy tham vọng với tổng mức đầu tư lên đến 3 tỉ đô la Mỹ Một
số mục tiêu chủ yếu của kế hoạch này bao gồm: (1) Việt Nam sẽ trở thành một quốc giađóng tàu mạnh trong khu vực và thế giới, bên cạnh các cường quốc đóng tàu hiện nay là
EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, và Trung Quốc; (2) Nâng tỷ lệ nội địa hóa từ khoảng 15% hiệnnay lên 60%; (3) Nâng mức sản lượng từ 300.000 tấn tàu lên 3 triệu tấn vào năm 2010(chưa kể Liên doanh Hyundai - Vinashin) và chiếm khoảng 6-7% thị phần đóng tàu thếgiới (mục tiêu năm 2015 là 5 triệu tấn, chiếm khoảng 10% thị phần) Khi đó, quy mô củaVinashin bằng ba phần tư quy mô của Hyundai, hãng đóng tàu lớn nhất thế giới hiện nay
Đầu tháng 11-2005, Chính phủ đã chuyển 750 triệu đô la Mỹ từ phát hành trái phiếuquốc tế lần đầu tiên cho Vinashin để doanh nghiệp này triển khai kế hoạch phát triển này.Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, đây là một kế hoạch quá tham vọng,không dễ thực hiện, bởi lẽ xét về các điều kiện hay lợi thế mà Nhật Bản và Hàn Quốc đãtừng có và Trung Quốc đang có để phát triển ngành đóng tàu thì Việt Nam gần như không
có lợi thế nào Điều này thể hiện ở một số khía cạnh sau đây:
Trang 18- Thứ nhất, tuy giá nhân công ở Việt Nam rẻ, nhưng không thể thấp hơn TrungQuốc (hiện tại, chi phí nhân công ở Trung Quốc chỉ bằng 1/15 đến 1/10 so với ở Nhật Bản
và Hàn Quốc, nơi lao động chiếm tới 30% tổng chi phí)
- Thứ hai, Nhà nước không thể tiếp tục trợ cấp như vừa rồi đối với Vinashin khiViệt Nam gia nhập WTO cũng như dưới sự đe dọa của các vụ kiện bán phá giá từ các đốithủ cạnh tranh Hơn nữa, với tiềm lực ngân sách hạn chế, Nhà nước rất khó có khả năngmỗi năm dành ra 5-6% ngân sách quốc gia để trợ cấp riêng cho ngành công nghiệp đóngtàu
- Thứ ba, trong kế hoạch phát triển ngành đóng tàu, Việt Nam không có các nướcphương Tây đứng đằng sau hỗ trợ như Nhật Bản và Hàn Quốc trước đây, hay có thị trườngnội địa rộng lớn như Trung Quốc hiện nay
- Thứ tư, khả năng phát triển nguồn nhân lực là có thể, nhưng với tình trạng nềngiáo dục đang có nhiều vấn đề và sự chậm trễ trong cải cách giáo dục như hiện nay thìnguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam vẫn rất hạn chế
- Cuối cùng, và có lẽ quan trọng nhất, việc phát triển các ngành phụ trợ là tháchthức khó có thể vượt qua do chúng ta không có một thị trường đủ lớn như Trung Quốc,không nằm trong một liên minh như Nhật Bản và Hàn Quốc để tạo lợi thế theo quy mô hay
sự tập trung của các ngành, cụm công nghiệp
1.2 Chủ trương, biện pháp phát triển
Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế nói chung và vận chuyển hàng hoá nói riêng, tronggiai đoạn đến năm 2020, ngành vận tải biển phải được đầu tư phát triển nhanh và toàn diện cả về
hệ thống cảng biển, đội tàu, công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu biển, dịch vụ cảng biển vàdịch vụ hàng hải… theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá với sự tham gia của nhiều thànhphần kinh tế và mở rộng hợp tác với nước ngoài Cụ thể là:
- Nhanh chóng xây dựng quy hoạch phát triển đội tàu quốc gia hoàn chỉnh, có đủ sốlượng và chất lượng để cạnh tranh với đội tàu nước ngoài Có những chính sách ưu đãi chocông tác vận tải nhằm khuyến khích và tạo điều kiện phát triển đội tàu quốc gia Xây dựng
hệ thống dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động hàng hải như tài chính, công nghệ thông tin… Tạo
Trang 19môi trường cạnh tranh bình đẳng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về hàng hải để các doanhnghiệp hình thành và phát triển, tạo điều kiện hỗ trợ cho các dịch vụ hàng hải đặc biệt nhưđại lý, giao nhận, ngân hàng…
- Về xây dựng hệ thống cảng biển, trên cơ sở quy hoạch tổng thể phát triển hệ thốngcảng biển Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, cần thực hiện tốt công tácquản lý quy hoạch hệ thống cảng biển, tiến hành lập và quy hoạch chi tiết các nhóm cảngquan trọng Trong đầu tư cảng, cần tạo liên kết cảng với các hệ thống giao thông mặt đấtnhằm tạo thuận lợi nhất cho khách hàng qua phương thức vận tải đa phương tiện Vai tròvận tải ven biển cũng ngày càng tăng đối với hàng rời thông thường và hàng bách hoá Đầu
tư ngắn hạn cho cảng tại các cảng tổng hợp với mục tiêu nâng cao năng suất cảng, hiện đạihoá những thiết bị dẫn luồng Nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải trong xếp dỡ, khuyếnkhích các tàu lớn, hiện đại vào cảng Việt Nam Đối với các cảng địa phương và cảng do các
Bộ quản lý cần lựa chọn những cảng có đủ lượng hàng hoá hoạt động có hiệu quả để nâng cấpnhằm phát huy hiệu quả đầu tư
- Đối với công nghiệp tàu biển, Vinashin chỉ nên tập trung vào một vài cụm côngnghiệp đóng tàu nơi có sẵn lợi thế và chấm dứt việc đầu tư dàn trải ở hầu hết các vùngmiền Đồng thời, chỉ nên chọn những công đoạn phù hợp trong chuỗi giá trị toàn cầu trướckhi tính đến phát triển tất cả các ngành phụ trợ Thay vì đầu tư rất lớn cho kế hoạch đóngtàu như đã nêu trên, Việt Nam nên tìm phương thức kết hợp lợi thế vốn có của mình là laođộng rẻ với công nghệ tiên tiến của nước ngoài Nhà nước cần xem xét mở rộng thêm cơhội và phương thức đầu tư cho các đối tác nước ngoài, nhất là Nhật Bản và Hàn Quốc.Trên cơ sở đó thúc đẩy sự chuyển giao công nghệ và phát triển các ngành công nghiệp phụtrợ hạ nguồn
2 Đánh bắt, nuôi trồng và chế biến hải sản
Trang 20nước và xuất khẩu; tạo công ăn việc làm, thu nhập, cải thiện đời sống ngư dân các tỉnh venbiển; đảm bảo sự hiện diện, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên các vùng biển Từ năm 1993,sau khi thuỷ sản được coi là ngành kinh tế mũi nhọn, nghề đánh bắt thuỷ sản đã có nhữngbước phát triển đáng kể Trong giai đoạn 1995-2005, sản lượng thuỷ sản tăng bình quân7,7%/năm, sản lượng khai thác tăng bình quân 5%/năm Đánh bắt hải sản đã tạo việc làmcho hơn 5 vạn lao động đánh cá trực tiếp và 10 vạn lao động dịch vụ nghề cá Số lượng tàuthuyền cũng tăng đều đặn qua các năm, theo thống kê trong khoảng 15 năm (1990 - 2005),tàu cá Việt Nam tăng 4,7 lần về số lượng (95.000 chiếc năm 2005 so với 41.000 chiếc năm1990) và 5,7 lần về công suất, bình quân công suất đã vượt quá 60 CV/tàu (so với côngsuất bình quân 18 CV/tàu năm 1991 và 44 CV/tàu năm 2000) Tuy nhiên, nghề khai tháchải sản của Việt Nam đang đứng trước không ít khó khăn và bất cập.
Sự dễ dãi tiếp cận khai thác nguồn lợi hải sản, những bất cập trong quản lý, kiểmsoát khai thác và những hạn chế về tài chính, đội tàu cá Việt Nam được đầu tư phát triểntheo phong trào, thiếu quy hoạch, tập trung tăng về công suất máy đẩy và tăng về số lượngdẫn đến, sau gần vài thập kỷ tập trung khai thác, nguồn lợi hải sản đã có những biến độngđáng kể về mật độ sản lượng, chủng loài, kích thước… đặc biệt vùng biển ven bờ, tậptrung trên 80% tổng số phương tiện nghề cá, sản lượng khai thác hằng năm chiếm từ 70 -80% tổng sản lượng hải sản của cả nước Ba ngư trường trọng điểm là Hải Phòng-QuảngNinh, Ninh Thuận-Bình Thuận và Cà Mau-Kiên Giang, những khu vực tập trung trên 50%tổng số phương tiện nghề cá tham gia đánh bắt hàng năm, qua kết quả khảo sát, mật độ sảnlượng đều giảm Cùng với những thay đổi về sản lượng, chủng loài hải sản cũng biến độngđáng kể về mật độ, kích cỡ và ngày càng có nhiều loài trở thành quý hiếm, có nguy cơtuyệt chủng Sự thay đổi trên là nguyên nhân giảm năng suất, sản lượng khai thác củanhiều nhóm nghề (khai thác cá nổi nhỏ ven bờ, cá đáy, câu cá rạn…), đồng thời tăng thờigian khai thác thực tế trên biển, thời gian tìm kiếm ngư trường, chi phí, giá thành sảnphẩm… Thống kê gần đây cho thấy dấu hiệu dư thừa cục bộ phương tiện đánh bắt hải sản
đã xuất hiện, công suất huy động tàu tham gia đánh bắt giảm dần, có tàu chỉ huy độngkhoảng 50% thời gian hoạt dộng (khai thác cá nổi, tôm biển…)
Nghề cá biển thuộc nhóm nghề vất vả, tai nạn luôn rình rập, đặc biệt đối với nhữngquốc gia nằm trong khu vực thường chịu tác động của các hiện tượng thời tiết bất thường
Trang 21như Việt Nam Môi trường hoạt động khai thác hải sản rất khắc nghiệt, song đội tàu cá lạichưa được đầu tư tương thích Trong khoảng 95.000 phương tiện nghề cá hiện nay, loạidưới 50 CV và thuyền thủ công có khoảng 64.500 chiếc, chiếm 68%, số tàu cá lắp máy từ
90 CV trở lên có khoảng 13.600 chiếc, chiếm khoảng 14,3% Cơ cấu đội tàu cá Việt Namhiện nay, xét về sự tương thích với ngư trường, với nguồn lợi hải sản cho thấy không có sựbất cập lớn, song chất lượng kém của vỏ, máy, các thiết bị an toàn hàng hải đã hạn chế thờigian hoạt động hữu ích trong năm Vào những năm 1980, phần đông các tàu cá, nếu thực tếhoạt động khai thác đạt 80-100 ngày/năm, thì hạch toán kinh tế thường không bị lỗ, songnhững năm gần đây các tàu làm nghề khai thác cá nổi nhỏ ven bờ, lưới kéo xa bờ… đểkhỏi bị lỗ, thời gian thực tế khai thác hải sản trên biển phải từ 160-180 ngày/năm Với thờigian khai thác thực tế tăng, thời gian tìm kiếm ngư trường tăng, kéo theo chi phí tăng, đồngthời rút ngắn tuổi thọ của các tàu, đặc biệt các tàu cũ, cải hoán, nâng cấp hoặc chất lượngđóng không đảm bảo Từ năm 1997, thực hiện Chương trình đánh bắt cá xa bờ, Nhà nước
đã đầu tư 1.300 tỷ đồng đóng 1.292 chiếc tàu đánh bắt xa bờ, tuy nhiên cho đến nayChương trình này bị đánh giá là không hiệu quả
Ngoài ra, chất lượng đội tàu, lao động trên tàu còn nhiều bất cập nên số vụ tai nạntàu cá trên biển có xu hướng ngày càng tăng Thống kê chưa đầy đủ, trong vòng 15 nămgần đây, mỗi năm trên các vùng biển xảy ra khoảng 500 vụ tai nạn tàu cá, gây thiệt hạiđáng kể về người và tài sản, chỉ riêng ba tháng cuối năm 2006 và hai tháng đầu năm 2007
có gần 400 vụ, trong đó hơn 50% vụ tàu bị hỏng máy, vỏ bị phá nước Bên cạnh đó, tàu cá
bị các nước trong khu vực bắt, bị cướp biển trong những năm gần đây là vấn đề phức tạp,không chỉ ảnh hưởng đến mối quan hệ láng giềng giữa Việt Nam và các quốc gia vùngbiển giáp ranh, mà tác động trực tiếp đến tâm lý ngư dân tham gia đánh bắt hải sản Theothống kê chưa đầy đủ, từ 1999 đến 2002 cả nước đã có 274 tàu thuyền bị các nước lân cậnbắt Những vất vả vốn có của nghề đánh bắt hải sản và những thay đổi, chuyển dịch cơ cấukinh tế chung của đất nước đã tác động không nhỏ đến nghề đánh bắt hải sản, đòi hỏi nghềnày sớm được cải thiện để phát triển bền vững
- Về nuôi trồng hải sản:
Trang 22Bên cạnh đánh bắt hải sản, nuôi trồng hải sản cũng có nhiều tiềm năng và lợi thế.Tính trên phạm vi cả nước, diện tích có khả năng nuôi trồng hải sản trên biển gồm hơn400.000 ha vùng vịnh và đầm phá; nhiều vùng biển có điều kiện phát triển như QuảngNinh - Hải Phòng hơn 200.000 ha, khu vực ven biển miền trung từ Thừa Thiên - Huế đến
Bà Rịa - Vũng Tàu hơn 41.000 ha, khu vực Ðông và Tây Nam Bộ có hơn 62.000 ha, vịnhVăn Phong tỉnh Khánh Hòa 20.000 ha Giống loài thủy sản nuôi phong phú, đối tượngnuôi chủ yếu là tôm hùm, cá song, cá giò, cá cam, cá hồng, cá đù đỏ, cua, ghẹ, hải sâm,bào ngư, nuôi trai lấy ngọc, nuôi ngao, nghêu, hầu, trồng rong sụn, nuôi sứa đỏ và san hô
Trước tình trạng nguồn lợi hải sản đang suy kiệt, ngư dân đã chuyển từ khai thácsang nuôi trồng thủy sản ở biển với nhiều hình thức đa dạng Nhà nước đã ban hành cácchính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhânthuộc các thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực nuôi trồng hảisản trên biển và hải đảo Nhà nước phân cấp cho UBND các tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương giao, cho thuê đất và mặt nước biển cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có nhucầu sử dụng mặt nước biển, đất trên đảo để nuôi trồng hải sản, tạo điều kiện để nhà đầu tư
tự quản lý đất mặt nước, yên tâm đầu tư phát triển sản xuất Nhà nước đã đầu tư và hỗ trợđầu tư cho quy hoạch nuôi hải sản trên biển, hải đảo; cho nhập khẩu giống gốc một số loàiđặc sản sạch bệnh có giá trị kinh tế cao, quý hiếm và kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo đòihỏi công nghệ sản xuất cao và nuôi thương phẩm hải sản trên biển và hải đảo; đào tạo độingũ cán bộ khoa học kỹ thuật; ưu tiên bố trí kinh phí cho công tác khuyến ngư nuôi hảisản; hỗ trợ các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu của các vùng nuôi hải sản biển.Ngân hàng chính sách, các tổ chức tín dụng đã đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn của các
tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có đủ điều kiện vay vốn nuôi trồng hải sản trên biển và hảiđảo Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có nhiều biện pháp hỗ trợ lãi suất vốn vay,
ưu tiên bố trí nguồn vốn cho vay của Quỹ quốc gia về việc làm cho các dự án nuôi trồnghải sản khả thi
Kết quả là, trong những năm qua, nuôi trồng hải sản đã phát triển khá mạnh ở nhiềuđịa phương trên cả nước Thí dụ, chỉ tính riêng hình thức nuôi lồng bè, trong giai đoạn2001-2004, tổng số lồng bè nuôi hải sản trên biển đã tăng lên hơn 1,6 lần Năm 2001, tổng
số lồng bè nuôi trên biển là 23.989 chiếc, trong đó số lồng nuôi tôm hùm là 19.912 chiếc,
Trang 23nuôi cá biển là 4.077 chiếc Năm 2004 tổng số lồng bè nuôi tôm, cá trên biển đã tăng đến38.965 lồng, trong đó số lồng nuôi tôm hùm là 30.115 lồng, nuôi cá là 8.850 lồng Sảnlượng nuôi lồng bè nước mặn năm 2001 chỉ đạt 2.635 tấn, năm 2004 đạt hơn 10.000 tấn.Thủy sản nuôi trên biển có chất lượng và giá trị hàng hóa cao, có thị trường tiêu thụ rộng
mở, được khách hàng thế giới ưa thích Vì vậy, hải sản nuôi trên biển có đóng góp quantrọng cho xuất khẩu của nước ta Bên cạnh nuôi trồng hải sản tiêu thụ trong nước và xuấtkhẩu, nước ta cũng đã sản xuất được giống một số loài như cá giò, cá song chấm nâu, cá súchấm (cá Hồng Mỹ), cá vược, bào ngư, ốc hương, cua và chuyển giao công nghệ sảnxuất giống và nuôi thương phẩm cho nhiều địa phương phát triển sản xuất
Việc phát triển nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo giúp các tổ chức, giúp ngườidân có cơ hội đầu tư phát triển, góp phần điều chỉnh nghề khai thác ven bờ bằng phươngtiện thủ công sang nuôi trồng thủy sản biển (nhất là người dân ở các xã nghèo vùng bãingang ven biển, hải đảo), bảo vệ và phát triển được nguồn lợi thủy sản Nuôi trồng thủysản biển còn giúp người dân có điều kiện tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo, thay đổi cơcấu kinh tế; góp phần bảo vệ an ninh vùng biển và hải đảo Ngành thủy sản dự kiến đếnnăm 2010 nuôi cá biển ở nước ta ước đạt khoảng 200.000 tấn, nuôi nhuyễn thể đạt 380.000tấn, rong biển đạt 50.000 tấn khô, đuổi kịp và vượt các nước tiên tiến trong khu vực vàvùng lãnh thổ về trình độ nuôi hải sản trên biển
Tuy nhiên, nuôi trồng hải sản nước ta hiện nay mới tập trung vào một số doanhnghiệp, xí nghiệp liên doanh và các hộ có vốn lớn, sản xuất mang tính tự phát ở một sốvùng ven biển; còn đại bộ phận người dân ven biển chưa có sự hiểu biết và điều kiện thamgia nuôi trồng hải sản trên biển Việc sử dụng diện tích mặt nước biển để nuôi hải sản chưađáng kể, việc giao, cho thuê mặt nước biển còn nhiều bất cập, sản lượng nuôi chưa nhiều,giống loài thủy sản tham gia sản xuất còn ít, giá trị kim ngạch xuất khẩu so với tiềm nănghiện có còn thấp Chính sách khuyến khích đầu tư, phát triển công nghệ và xây dựng cơ sở
hạ tầng hầu như chưa có gì đáng kể để phục vụ yêu cầu sản xuất, đã làm hạn chế phát triểnnuôi trồng thủy sản trên biển và hải đảo
- Về chế biến hải sản: