- Giới thiệu đôi nét về bài thơ “Ánh Trăng” + In trong tập “Ánh Trăng”- tập thơ được giải A của Hội nhà văn Việt Nam + Thể thơ 5 chữ kết hợp kết hợp chặt chẽ giữa tự sự với trữ tình + Vi[r]
Trang 1ÔN TẬP THƠ HIỆN ĐẠI Bài 1: “ĐỒNG CHÍ ” - CHÍNH HỮU.
Kiến thức cần nhớ.
1.Tác giả
- Chính Hữu tên là Trần Đình Đắc, sinh năm 1926, quê ở Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh
- Ông tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ Từ người lính Trung đoànThủ đô trở thành nhà thơ quân đội - Chính Hữu làm thơ không nhiều, thơ ôngthường viết về người lính và chiến tranh, đặc biệt là những tình cảm cao đẹp củangười lính, như tình đồng chí, đồng đội, tình quê hương đất nước, sự gắn bó giữatiền tuyến và hậu phương
- Thơ ông có những bài đặc sắc, giàu hình ảnh, cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ côđọng, hàm súc
- Chính Hữu được Nhà nước trao tặng Giải thưởng HCM về văn học NT năm 2000
cả để làm nên chiến thắng Sau chiến dịch này, Chính Hữu viết bài thơ “Đồng chí” vào đầu năm 1948, tại nơi ông phải nằm điều trị bệnh Bài thơ là kết quả của những trải nghiệm thực và những cảm xúc sâu xa, mạnh mẽ, tha thiết của tác giả với đồng đội, đồng chí của mình trong chiến dịch Việt Bắc (thu đông 1947)
Trang 2- Bài thơ là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất viết về người lính cách mangcủa văn học thời kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954)
- Bài thơ đi theo khuynh hướng : Cảm hứng thơ hướng về chất thực của đời sốngkháng chiến, khai thác cái đẹp, chất thơ trong cái bình dị, bình thường, không nhấnmạnh cái phi thường
- Bài thơ nói về tình đồng chí, đồng đội thắm thiết, sâu nặng của những người línhcách mạng – mà phần lớn họ đều xuất thân từ nông dân Đồng thời bài thơ cũnglàm hiện lên hình ảnh chân thực, giản dị mà cao đẹp của anh bộ đội trong thời kìcủa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp còn rất khó khăn, thiếu thốn (Đó là hainội dung được đan cài và thống nhất với nhau trong cả bài thơ)
- Chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ giản dị, chân thực, cô đọng, giàu sức biểu cảm
- Mạch cảm xúc (bố cục)
- Bài thơ theo thể tự do, có 20 dòng, chia làm hai đoạn Cả bài thơ tập trung thểhiện vẻ đẹp và sức mạnh của tình đồng chí, đồng đội, nhưng ở mỗi đoạn, sức nặngcủa tư tưởng và cảm xúc được dẫn dắt để dồn tụ vào những dòng thơ gây ấn tượngsâu đậm (các dòng 7,17 và 20)
Phần 1: 6 câu thơ đầu: Lý giải về cơ sở của tình đồng chí Câu 7 có cấu trúc đặcbiệt (chỉ với một từ với dấu chấm than) như một phát hiện, một lời khẳng định sựkết tinh tình cảm giữa những người lính
Phần 2: 10 câu thơ tiếp theo: Những biểu hiện cụ thể của tình đồng chí, đồng độicủa người lính
+ Đó là sự cảm thông sâu xa những tâm tư, nỗi lòng của nhau (Ruộng nương anhgửi bạn thân cày…… nhớ người ra lính)
+ Đó là cùng nhau chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời người lính (Áoanh rách vai… Chân không giầy)
Trang 3+ Sự lạc quan và tình đồng chí đồng đội đã giúp người lính vượt qua được nhữnggian khổ, thiếu thốn ấy.
-Phần 3: 3 câu cuối: Biểu tượng giầu chất thơ về người lính
3
Phâ n tích bài thơ
Đề bài : Phân tích bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu để thấy bài thơ đã diễn tả sâu sắc tình đồng chí gắn bó thiêng liêng của anh bộ đội thời kháng chiến.
- Phần lớn thơ ông hướng về đề tài người lính với lời thơ đặc sắc, cảm xúc dồn
nén, ngôn ngữ hàm súc, cô đọng giàu hình ảnh
- Bài thơ “Đồng chí” là một trong những bài thơ viết về người lính hay của
ông Bài thơ đã diễn tả thật sâu sắc tình đồng chí gắn bó thiêng liêng của anh bộ độithời kháng chiến
Cách 2: Trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc vĩ đại, hình ảnh người lính mãi
mãi là hình ảnh cao quý nhất, đẹp đẽ nhất Hình tượng người lính đã đi vào lòngngười và văn chương với tư thế, tình cảm và phẩm chất cao đẹp Một trong nhữngtác phẩm ra đời sớm nhất, tiêu biểu và thành công nhất viết về tình cảm của nhữngngười lính Cụ Hồ là “Đồng chí” của Chính Hữu Bằng những rung động mới mẻ vàsâu lắng, bằng chính sự trải nghiệm của người trong cuộc, qua bài thơ “Đồng chí”,Chính Hữu đã diễn tả thật sâu sắc tình đồng chí gắn bó thiêng liêng của anh bộ độithời kháng chiến
Trang 4II – Thân bài
Chính Hữu viết bài thơ : “Đồng chí” vào đầu năm 1948, khi đó ông là chính trịviên đại đội, đã từng theo đơn vị tham gia chiến dịch Việt Bắc, và cũng là người đãtừng sống trong tình đồng chí, đồng đội keo sơn, gắn bó vượt qua những khó khăngian khổ trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc
1 Trong 7 câu thơ đầu, nhà thơ lý giải cơ sở hình thành tình đồng chí thắm thiết, sâu nặng của những người lính cách mạng
- Cùng chung cảnh ngộ xuất thân: Trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, những
chiến sĩ dũng cảm, kiên cường chiến đấu bảo vệ Tổ quốc không ai khác chính lànhững người nông dân mặc áo lính Từ giã quê hương, họ ra đi tình nguyện đứngtrong đội ngũ những người chiến đấu cho một lí tưởng chung cao đẹp, đó là độc lập
tự do cho dân tộc Mở đầu bài thơ là những tâm sự chân tình về con người và cuộcsống rất bình dị và cũng rất quen thuộc:
Quê hương anh nước mặn đồng chua.
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
+ Giọng điệu thủ thỉ, tâm tình như lời kể chuyện, tâm sự của hai người đồngđội nhớ lại kỉ niệm về những ngày đầu tiên gặp gỡ Họ đều là con em của nhữngvùng quê nghèo khó, là những nông dân ở nơi “nước mặn đồng chua” hoặc ở chốn
“đất cày lên sỏi đá”.Hình ảnh “quê hương anh” và “làng tôi” hiện lên với biết baonỗi gian lao vất vả, mặc dù nhà thơ không chú ý miêu tả Nhưng chính điều đó lạilàm cho hình ảnh vốn chỉ là danh từ chung chung kia trở nên cụ thể đến mức có thểnhìn thấy được, nhất là dưới con mắt của những người con làng quê Việt Nam.Thành ngữ dân gian được tác giả vận dụng rất tự nhiên, nhuần nhuỵ khiến ngườiđọc có thể dễ dàng hình dung được những miền quê nghèo khổ, nơi sinh ra nhữngngười lính Khi nghe tiếng gọi thiêng liêng của Tổ Quốc, họ sẵn sàng ra đi vànhanh chóng có mặt trong đoàn quân chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc
Trang 5=> Hai câu thơ đầu theo cấu trúc sóng đôi, đối ứng: “Quê anh – làng tôi” đã
diễn tả sự tương đồng về cảnh ngộ Và chính sự tương đồng về cảnh ngộ ấy đãtrở thành niềm đồng cảm giai cấp, là cơ sở cho tình đồng chí, đồng đội củangười lính
- Cùng chung lí tưởng chiến đấu: Trước ngày nhập ngũ, những con người này vốn
“xa lạ”:
“Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”
Những câu thơ mộc mạc, tự nhiên, mặn mà như một lời thăm hỏi Họ hiểu nhau,thương nhau, tri kỉ với nhau bằng tình tương thân tương ái vốn có từ lâu giữanhững người nghèo, người lao động Nhưng “tự phương trời” họ về đây không phải
do cái nghèo xô đẩy, mà họ về đây đứng trong cùng đội ngũ do họ có một lí tưởng
chung, cùng một mục đích cao cả: chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc Hình ảnh : “Anh – tôi” riêng biệt đã mờ nhoà, hình ảnh sóng đôi đã thể hiện sự gắn bó tương đồng của
họ trong nhiệm vụ và lí tưởng chiến đấu: “Súng bên súng đầu sát bên đầu”.
“Súng” và “đầu” là hình ảnh đẹp, mang ý nghĩa tượng trưng cho nhiệm vụ chiếnđấu và lý tưởng cao đẹp Điệp từ “súng” và “đầu” được nhắc lại hai lần như nhấnmạnh tình cảm gắn bó trong chiến đấu của người đồng chí
- Tình đồng chí nảy nở bền chặt trong sự chan hoà, chia sẻ mọi gian lao cũng như niềm vui, đó là mối tình tri kỉ của những người bạn chí cốt mà tác giả
biểu hiện bằng một hình ảnh thật cụ thể, giản dị mà hết sức gợi cảm: “Đêm rétchung chăn thành đôi tri kỉ” Đêm Việt Bắc thì quá rét, chăn lại quá nhỏ, loay hoaymãi không đủ ấm Đắp được chăn thì hở đầu, đắp được bên này thì hở bên kia.Chính trong những ngày thiếu thốn, khó khăn ấy từ “xa lạ” họ đã trở thành tri kỉcủa nhau “Tri kỉ” là người bạn thân thiết hiểu rất rõ về ta Vất vả nguy nan đã gắnkết những người đồng chí khiến họ trở thành người bạn tâm giao gắn bó Nhữngcâu thơ giản dị mà hết sức sâu sắc, như được chắt lọc từ cuộc sống, từ cuộc đời
Trang 6người lính gian khổ Bao nhiêu yêu thương được thể hiện qua những hình ảnh vừagần gũi vừa tình cảm hàm súc ấy Chính Hữu đã từng là một người lính, đã trải quacuộc đời người lính nên câu thơ bình dị mà có sức nặng, sức nặng của tình cảm trìumến, yêu thương với đồng đội Hình ảnh thật giản dị nhưng rất cảm động.
- Từ trong tâm khảm họ, bỗng bật thốt lên hai từ « đồng chí » Từ “đồng chí”được đặt thành cả một dòng thơ ngắn gọn mà ngân vang, giản dị mà thiêng liêng
Từ “đồng chí’ với dấu chấm cảm như một nốt nhấn đặc biệt mang những sắc tháibiểu cảm khac nhau, nhấn mạnh sự thiêng liêng cao cả trong tình cảm mới mẻ này.Đồng chí là cùng chí hướng, cùng mục đích Nhưng trong tình cảm ấy một khi cócái lõi bên trong là « tình tri kỉ » lại được thử thách, được tôi rèn trong gian khổ thìmới thực sự vững bền Không còn anh, cũng chẳng còn tôi, họ đã trở thành mộtkhối đoàn kết, thống nhất gắn bó Như vậy, trong tình đồng chí có tình cảm giai cấp(xuất thân từ nông dân), có tình bạn bè tri kỉ và có sự gắn bó giữa con người cùngchung lí tưởng, chung mục đích chiến đấu Và khi họ gọi nhau bằng tiếng “đồngchí” họ không chỉ còn là người nông dân nghèo đói lam lũ, mà họ đã trở thành anh
em trong cả một cộng đồng với một lý tưởng cao cả vì đất nước quên thân để tạonên sự hồi sinh cho quê hương, cho dân tộc Câu thơ vẻn vẹn có 2 chữ như chấtchứa, dồn nén bao cảm xúc sâu xa từ sáu câu thơ trước và khởi đầu cho những suynghĩ tiếp theo Quả thật ngôn từ Chính Hữu thật là hàm súc
2.Nhưng Chính Hữu đã không dừng lại ở việc biểu hiện những xúc cảm về quá trình hình thành tình đồng chí Trong mười câu thơ tiếp theo nhà thơ sẽ nói với chúng ta về những biểu hiện cao đẹp của tình đồng chí
Trước hết, đồng chí là sự thấu hiểu và chia sẻ những tâm tư, nỗi lòng của nhau
“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Trang 7Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”
+ Họ là những người lính gác tình riêng ra đi vì nghĩa lớn, để lại sau lưng mảnhtrời quê hương với những băn khoăn, trăn trở Từ những câu thơ nói về gia cảnh, vềcảnh ngộ, ta bắt gặp một sự thay đổi lớn lao trong quan niệm của người chiến sĩ:
“Ruộng nương” đã tạm gửi cho “bạn thân cày”, “gian nhà không” giờ để “mặc kệgió lung lay” Lên đường đi chiến đấu, người lính chấp nhận sự hi sinh, tạm gạtsang một bên những tính toán riêng tư Hai chữ “mặc kệ” đã nói lên được cái kiênquyết dứt khoát mạnh mẽ của người ra đi khi lí tưởng đã rõ ràng, khi mục đích đãlựa chọn Song dù dứt khoát, mạnh mẽ ra đi nhưng những người lính nông dânhiền lành chân thật ấy vẫn nặng lòng với quê hương Chính thái độ gồng mình lên
ấy lại cho ta hiểu rằng những người lính càng cố gắng kiềm chế tình cảm bao nhiêuthì tình cảm ấy càng trở nên bỏng cháy bấy nhiêu Nếu không đã chẳng thể cảm
nhận được tính nhớ nhung của hậu phương: “giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” Hình ảnh thơ hoán dụ mang tính nhân hoá này càng tô đậm sự gắn bó yêu
thương của người lính đối với quê nhà, nó giúp người lính diễn tả một cách hồnnhiên và tinh tế tâm hồn mình Giếng nước gốc đa kia nhớ người ra lính hay chínhtấm lòng người ra lính không nguôi nhớ quê hương và đã tạo cho giếng nước gốc
đa một tâm hồn? Quả thực giữa người chiến sĩ và quê hương anh đã có một mốigiao cảm vô cùng sâu sắc đậm đà Tác giả đã gợi nên hai tâm tình như đang soi rọivào nhau đến tận cùng Ba câu thơ với hình ảnh: ruộng nương, gian nhà, giếngnước, gốc đa, hình ảnh nào cũng thân thương, cũng ăm ắp một tình quê, một nỗinhớ thương vơi đầy Nhắc tới nỗi nhớ da diết này, Chính Hữu đã nói đến sự hi sinhkhông mấy dễ dàng của người lính Tâm tư ấy, nỗi nhớ nhung ấy của “anh” vàcũng là của “tôi”, là đồng chí họ thấu hiểu và chia sẻ cùng nhau Tình đồng chí đãđược tiếp thêm sức mạnh bởi tình yêu quê hương đất nước ấy
- Tình đồng chí còn là sự đồng cam cộng khổ, sự sẻ chia những gian lao thiếu
thốn của cuộc đời người lính:
Trang 8Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi
Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá
Là người lính, các anh đã từng trải qua những cơn sốt rét nơi rừng sâu tronghoàn cảnh thiếu thuốc men, lại thêm trang phục phong phanh giữa mùa đông lạnhgiá: “áo rách vai, quần tôi vài mảnh vá, chân không giày…” Tất cả những khó khăngian khổ được tái hiện bằng những chi tiết hết sức thật, không một chút tô vẽ Ngàyđầu của cuộc kháng chiến, quân đội Cụ Hồ mới được thành lập, thiếu thốn đủđường, quần áo rách bươm phải buộc túm lại nên người lính vệ quốc còn được gọi
là “vệ túm” Đọc những câu thơ này, ta vừa không khỏi chạnh lòng khi thấu hiểunhưng gian nan vất vả mà thế hệ cha ông đã từng trải qua vừa trào dâng một niềmkính phục ý chí và bản lĩnh vững vàng của những người lính vệ quốc
- Cùng hướng về một lí tưởng, cùng nếm trải sự khắc nghiệt của chiến
tranh, người lính chia sẻ cho nhau tình thương yêu ở mức tột cùng Chi tiết
“miệng cười buốt giá” đã ấm lên, sáng lên tình đồng đội và tinh thân lạc quan củangười chiến sĩ Rồi đến cái cử chỉ “thương nhau tay nắm lấy bàn tay” đã thể hiệnđược tình thương yêu đồng đội sâu sắc Cách biểu lộ tình thương yêu không ồn ào
mà thấm thía Trong buốt giá gian lao, những bàn tay tìm đến để truyền cho nhauhơi ấm, truyền cho nhau niềm tin, truyền cho nhau sức mạnh để vượt qua tất cả,đẩy lùi gian khổ Những cái nắm tay ấy đã thay cho mọi lời nói Câu thơ ấm áptrong ngọn lửa tình cảm thân thương! Nhà thơ đã phát hiện rất tinh cái sức mạnhtinh thần ẩn sâu trong trái tim người lính Sức mạnh tinh thần ấy, trên cơ sở cảmthông và thấu hiểu sâu sắc lẫn nhau đã tạo nên chiều sâu và sự bền vững của thứtình cảm thầm lặng nhưng rất đỗi thiêng liêng này
3.Ba câu thơ cuối là bức tranh đẹp về tình đồng chí:
Trang 9Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo
Ba câu thơ tả một đêm phục kích giặc Nền bức tranh là đêm – “rừng hoang sươngmuối”gợi ra một cảnh tượng âm u, hoang vắng và lạnh lẽo Không chỉ cái giá, cáirét cứ theo đuổi mà còn bao nguy hiểm đang rình rập người chiến sĩ
- Nổi bật trên nền hiện thực khắc nghiệt ấy là những người lính đứng cạnh bênnhau chờ giặc tới trong cái nơi mà sự sống và cái chết chỉ trong gang tấc Từ “chờ”cũng đã nói rõ cái tư thế, cái tinh thần chủ động đánh giặc của họ Rõ ràng khinhững người lính đứng cạnh bên nhau vững chãi, truyền cho nhau hơi ấm thì tìnhđồng chí đã trở thành ngọn lửa sưởi ấm họ để họ có sức mạnh vượt qua cái cái giankhổ, ác liệt, giá rét ấy… Tầm vóc của những người lính bỗng trở nên lớn lao anhhùng
- Câu thơ cuối là một hình ảnh đẹp được nhận ra từ những đêm hành quân phục
kích giặc của chính người lính Đêm khuya, trăng trên vòm trời cao đã sà xuống
thấp dần, ở vào một vị trí và tầm nhìn nào đó, vầng trăng như treo trên đầu mũisúng của người chiến sĩ đang phục kích chờ giặc.Rõ ràng, tình cảm đồng chí ấm áp,thiêng liêng đã mang đến cho người lính nét lãng mạn, cảm hứng thi sĩ trong hiệnthực đầy khắc nghiệt qua hình ảnh “Đầu súng trăng treo”.Trong hoàn cảnh hết sứcgian khổ khốc liệt: đêm đông giá lạnh, rừng hoang sương muối, cái chết cận kề,tâm hồn nhậy cảm của người chiến sĩ vẫn tìm thấy chất thơ bay bổng trong vẻ đẹpbất ngờ của trăng Bốn chữ “Đầu súng trăng treo”chia làm hai vế làm nhịp thơ độtngột thay đổi, dồn nén, như nhịp lắc của một cái gì đó chông chênh, trong bátngát…gây sự chú ý cho người đọc Từ “treo” đã tạo nên một mối quan hệ bất ngờđộc đáo, nối hai sự vật ở cách xa nhau - mặt đất và bầu trời, gợi những liên tưởngthú vị, bất ngờ “Súng” là biểu tượng của chiến đấu, “trăng” là biểu tượng của cáiđẹp, cho niềm vui lạc quan, cho sự bình yên của cuộc sống Súng và trăng là hư và
Trang 10thực, là chiến sĩ và thi sĩ, là “một cặp đồng chí” tô đậm vẻ đẹp của những cặp đồngchí đang đứng cạnh bên nhau Chính tình đồng chí đã làm cho người chiến sĩ cảmthấy cuộc đời vẫn đẹp, vẫn thơ mộng, tạo cho họ sức mạnh chiến đấu và chiếnthắng.
=> Hiếm thấy một hình tượng thơ nào vừa đẹp vừa mang đầy ý nghĩa như “Đầusúng trăng treo” Đây là một sáng tạo đầy bất ngờ góp phần nâng cao giá trị bài thơ,tạo được những dư vang sâu lắng trong lòng người đọc
4 Suy nghĩ về tình đồng chí: Như vậy tình đồng chí trong bài thơ là tình cảm
cao đẹp và thiêng liêng của những con người gắn bó keo sơn trong cuộc chiến đấu
vĩ đại vì một lý tưởng chung Đó là mối tình có cơ sở hết sức vững chắc: sự đồngcảm của những người chiến sĩ vốn xuất thân từ những người nông dân hiền lànhchân thật gắn bó với ruộng đồng Tình cảm ấy được hình thành trên cơ sở tình yêu
Tổ Quốc, cùng chung lí tưởng và mục đích chiến đấu Hoàn cảnh chiến đấu giankhổ và ác liệt lại tôi luyện thử thách làm cho mối tình đồng chí đồng đội của nhữngngười lính càng gắn bó, keo sơn Mối tình thiêng liêng sâu nặng, bền chặt đó đã tạonên nguồn sức mạnh to lớn để những người lính “áo rách vai”, “chân không giầy”vượt lên mọi gian nguy để đi tới và làm nên thắng trận để viết lên những bản anhhùng ca Việt Bắc, Biên giới, Hoà Bình, Tây Bắc… tô thắm thêm trang sử chốngPháp hào hùng của dân tộc
III - Kết luận:
Bài thơ “Đồng chí” vừa mang vẻ đẹp giản dị lại vừa mang vẻ đẹp cao cả thiêngliêng, thơ mộng Cấu trúc song hành và đối xứng xuyên suốt bài thơ làm hiện lênhai gương mặt người chiến sĩ rất trẻ như đang thủ thỉ, tâm tình, làm nổi bật chủ đề
tư tưởng: Tình đồng chí gắn bó keo sơn Chân dung người lính vệ quốc trongnhững ngày đầu kháng chiến chống Pháp hiện lên thật đẹp đẽ qua những vần thơmộc mạc, chân tình mà gợi nhiều suy tưởng Với những đặc điểm đó, bài thơ xứng
Trang 11đáng là một trong những tác phẩm thi ca xuất sắc về đề tài người lính và chiếntranh cách mạng của văn học Việt Nam.
B Một số câu hỏi luyện tập
Câu 1: Viết đoạn văn trình bày cảm nhận của em về đoạn cuối bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu.
(tham khảo phần 3 của bài phân tích)
Câu hỏi tương tự : Sửa lỗi câu văn sau : Với hình ảnh « đầu súng trăng treo » đãdiễn tả đầy sức gợi cảm mối tình tình đồng chí keo sơn trong bài bài thơ « đồngchí » được sáng tác năm 1954 sau chiến thắng Việt Bắc
Triển khai đoạn văn có câu chủ đề trên
Câu 2: Phân tích hình ảnh người lính trong bài thơ “Đồng chí”
- Bài thơ về tình đồng chí đã cho ta thấy vẻ đẹp bình dị mà cao cả của ngườilính cách mạng, cụ thể ở đây là anh bộ đội hồi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp.+ Hoàn cảnh xuất thân: họ là những người nông dân nghèo ra đi từ hai miềnđất xa nhau: “ nước mặn đồng chua”, “ đất cầy lên sỏi đá.”
+ Họ ra đi vì nghĩa lớn (hai chữ “mặc kệ” nói được cái dứt khoát, mạnh
mẽ mặc dù vẫn luôn lưu luyến với quê hương “giếng nước gốc đa ”
+ Họ đã trải qua những gian lao, thiếu thốn tột cùng, những cơn sốt rét runngười, trang phục phong phanh giữa mùa đông lạnh giá => Những gian khổ cànglàm nổi bật vẻ đẹp của anh bộ đội: sáng lên nụ cười của người lính (miệng cườibuốt giá)
+ Đẹp nhất ở họ là tình đồng chí đồng đội sâu sắc, thắm thiết
+ Kết tinh hình ảnh người lính và tình đồng chí của họ là bức tranh đặc sắctrong đoạn cuối của bài thơ
Trang 12Cõu 3.Theo em, vỡ sao tỏc giả đặt tờn cho bài thơ về tỡnh đồng đội của những người lớnh là “Đồng chớ”?
Đú là tờn một t/c mới, đặc biệt xuất hiện và phổ biến trong những năm CM vàkhỏng chiến Đú là cỏch xưng hụ phổ biến của những người lớnh, cụng nhõn, cỏn bộ
từ sau Cỏch mạng Đú là biểu tượng của t/c CM, của con người CM trong thời đạimới
Cõu 4 : Phõn tớch giỏ trị nghệ thuật của hỡnh ảnh hoỏn dụ mang tớnh nhõn hoỏ trong cõu thơ: “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lớnh”
(Tham khảo bài tập làm văn)
Cõu 5 : 1.Giả sử em phải làm bài văn phân tích bài thơ Đồng chí , em hãy xét xem“ ”
phần thân bài của bài làm có đợc trình bày theo dàn ý đại cơng dới đây không? Vì sao? Nếu thấy dàn ý cha đúng em hãy sửa lại cho hợp lí:
a.Phân tích 7 câu thơ đầu
b Bài thơ nói lên tình đồng chí gắn kết những ngời chiến sĩ trong một cuộcchiến đầu đầy gian khổ
c Bài thơ còn nêu lên một hình ảnh rất đẹp vào một đêm chờ giặc giữa rừngtrong đêm trăng lạnh
Nhận xột dàn ý: Khụng chia theo một căn cứ nhất định: mục a chia theo bố
cục; mục b, c chia theo nội dung
Mục b chưa phõn tớch rừ và sõu ý nghĩa cao đẹp của tỡnh đồng chớ trong 10 cõuthơ
Mục c lạc ý, mang nặng tả cảnh, chưa xoay quanh vấn đề về tỡnh đồng chớ
Sửa lại dàn ý:
a.Bảy cõu đầu: sự lớ giải về tỡnh đồng chớ
b.Mười cõu tiếp theo: là những biểu hiện cụ thể của tỡnh đồng chớ
c.Ba cõu cuối cựng: biểu tượng đẹp đẽ giàu chất thơ của tỡnh đồng chớ
Trang 13Câu 6 Phân tích bài thơ để thấy rõ chủ đề đồng chí hiện lên trong thơ Chính Hữu với rất nhiều dáng vẻ:
Chủ đề đồng chí hiện lên trong thơ Chính Hữu với rất nhiều dáng vẻ “Anh với tôi”khi thì riêng rẽ trong từng dòng thơ để nói về cảnh ngộ của nhau: “Quê hương anhnước mặn đồng chua/ Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”; khi lại chen lên đứng vàocùng một dòng: “Anh với tôi đôi người xa lạ/ Tự phương trời chẳng hẹn quennhau” Từ riêng lẻ đã nhập thành “đôi”, thành chung khăng khít khó tách rời:
“Súng bên súng, đầu sát bên đầu”/ Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ” Đây lànhững hình ảnh đầy ắp kỉ niệm và ấm áp tình đồng chí Câu thơ đang từ trải dài,bỗng cô đọng lại thành hai tiếng “Đồng chí!” vang lên thiết tha, ấm áp, xúc độngnhư tiếng gọi của đồng đội và nó khắc ghi trong lòng người về hai tiếng mới mẻ,thiêng liêng đó Tình đồng chí là cùng giai cấp, cùng nhau từ những chi tiết nhỏnhất của đời sống: “âo anh rách vai/ Quần tôi có vài mảnh vá/ Miệng cười buốt giá/Chân không giày” Trong buốt giá gian lao, các anh chuyền cho nhau hơi ấm tìnhđồng đội: “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” Những bàn tay không lời mà nóiđược tất cả, các anh sát cánh bên nhau để cùng đi tới một chiều cao: “Đêm nayrừng hoang sương muối/ Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới/ Đầu súng trăng treo”.Cùng chung chiến hào, cùng chung sống chết, đó chính là biểu hiện cao đẹp nhấtcủa tình đồng chí Chính tình đồng chí đã khiến các anh ngay giữa nguy hiểm gianlao vẫn thấy tâm hồn thanh thản và lãng mạn Và đó cũng chính là tình cảm xã hộithiêng liêng nhất, là cội nguồn của tình yêu nước, của sức mạnh con người ViệtNam
Câu 7: Viết đoạn văn quy nạp (15 câu) :
Tám câu thơ (Đồng chí – Chính Hữu) đã nói thật giản dị những thiếu thốn của cuộckháng chiến Và tình đồng đội đầy mến thương đã tiếp thêm sức mạnh giúp họ vượtqua mọi thử thách
Gợi ý :
Trang 14- 5 câu đầu : những câu thơ dung dị nói về những gian khổ của người lính : ngườinông dân mặc áo lính giản dị, nghèo khó…áo rách, quần vá… hình ảnh thơ giản dịnhư đời sống
- Nói đến những thiếu thốn của người chiến sĩ nhưng ở những câu thơ tiếp theo, tathấy những thiếu thốn ấy đâu chỉ tồn tại riêng rẽ với hai cá thể anh và tôi mà đã hoànhập yêu thương gắn bó Nụ cười buốt giá, cái cười lạc quan, xua đi cái lạnh giá …
nụ cười của những con người như đang cố gắng vượt qua cái rét buốt ruột buốt gan
ấy Hình ảnh thơ vừa tô đậm những gian nan, thiếu thốn, vừa thể hiện nghị lựcvượt qua mọi khó khăn của những anh lính vệ trọc (sốt rét - rụng tóc) =>Những câuthơ được viết theo thể thơ tự do rất dung dị với những hình ảnh thơ chân thực cànggiúp ta thêm hiểu về cuộc chiến tranh đã qua, những vất vả mà người lính đã nếmtrải, vừa cảm phục quá khứ hào hùng…
- Đến câu cuối khổ, nhịp thơ thay đổi, dài ra trầm lắng, âm điệu câu thơ lan toả nhưbộc lộ tình cảm Đây có thể là hình ảnh cảm động nhất của bài, từ « thương nhau »đứng ở đầu câu như bộc lộ tình yêu da diết, sâu nặng của những con người cùng lítưởng chiến đấu, họ nắm lấy bàn tay nhau như truyền cho nhau hơi ấm….Chânkhông giầy giữa vùng rừng núi gập ghềnh, hiểm trở Áo rách, quần vá giữa cáilạnh cắt da cắt thịt, tình đồng chí đã giúp họ vượt qua tất cả : « thương nhau taynắm lấy bàn tay » => Tình đồng đội và tình người ấy cũng là sức mạnh chiếnthắng
- 3 câu thơ cuối cùng kết lại trong một hình ảnh đẹp, lãng mạn đến bất ngờ, thú vịbằng hai âm bằng : « Đầu súng trăng treo » Âm điệu câu thơ như ngân vang, câuthơ như mở ra, ánh trăng như soi sáng khắp núi rừng Phải chăng chính tình đồngchí, đồng đội đã đem lại cho họ những khoảng lặng hiếm hoi trong đời lính giannan
*********************************************************
BÀI 2: BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH - PHẠM TIẾN DUẬT.
Trang 15A Kiến thức cần nhớ.
1 Tác giả
- Phạm Tiến Duật sinh năm 1941, quê ở tỉnh Phú Thọ Sau khi tốt nghiệp đại học,năm 1964 vào bộ đội, hoạt động ở tuyến đường Trường Sơn và trở thành một trongnhững nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ trẻ những năm kháng chiến chống đếquốc Mỹ
- Thơ ông giàu chất liệu hiện thực, chiến trường, thể hiện sinh động, có giọng điệungang tàng, tinh nghịch, sôi nổi, tươi trẻ, đã làm sống lại hình ảnh thế hệ trẻ ởTrường Sơn và những khó khăn của thời đánh Mỹ gian khổ
- PTD thể hiện hình ảnh thế hệ thanh niên trong cuộc chiến tranh chống đế quốc
Mỹ qua những hình tượng cô gái TNXP và anh bộ đội trên tuyến đường TrườngSơn
- Tác phẩm chính: Vầng trăng -Quầng lửa(1970), Thơ một chặng đường ( 1971), Ởhai đầu núi (1981) Nhiều bài thơ đã đi vào trí nhớ của công chúng như các bài:
Trường Sơn Đông, Trường Sơn tây, Lửa đèn, Gửi em cô thanh niên xung phong….
2 Tác phẩm:
a Hoàn cảnh
- Bài thơ về tiểu đội xe không kính rút từ tập thơ Vầng trăng -Quầng lửa của tác
giả Là tác phẩm đoạt giải nhất trong cuộc thi thơ trong báo Văn nghệ (1969 1970)
Bài thơ được ra đời trong thời kỳ cuộc kháng chiến chống Mĩ diiễn ra rất ác liệt
Mĩ trút hàng ngàn, hàng vạn tấn bom trên con đường chiến lược Trường Sơn.Trong khi đó những đoàn xe vận tải vẫn băng ra chiến trường vì Miền Nam phíatrước
b Nội dung
Trang 16- Bài thơ đã sáng tạo một hình ảnh độc đáo: những chiếc xe không kính, qua đókhắc hoạ nổi bật hình ảnh những người lính lái xe ở Trường Sơn trong thời kìkháng chiến chống Mĩ cứu nước, với tư thế hiên ngang, tinh thần dũng cảm, thái độbất chấp khó khăn coi thường gian khổ hiểm nguy, niềm lạc quan sôi nổi của tuổitrẻ và ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam, trái tim yêu nước nồng nhiệt của tuổitrẻ thời chống Mĩ.
c Nghệ thuật:
- Thể thơ tự do, câu dài ngắn khác nhau, gieo vần ở tiếng cuối cùng của dòng thơ
- Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm nhưng có sự gia tăng đáng kể của các yếu
tố tự sự Điều đó tạo nhiều cơ sở để biểu cảm đồng thời tăng sức phản ánh hiệnthực cho thơ
- Tác giả đưa vào bài thơ chất liệu hiện thực sinh động của cuộc sống ở chiếntrường, cùng với ngôn ngữ và giọng điệu giàu tính khẩu ngữ tự nhiên, khoẻ khoắn,
có nét khá đặc biệt gần với văn xuôi, gần với lời nói bình thường hàng ngày Nétnổi bật là giọng điệu vui, tinh nghịch, lạc quan Nó làm nên chất trẻ trong thơ PhạmTiến Duật nói riêng và thơ chống Mĩ nói chung
4 Phân tích những nội dung chính của bài thơ.
a Ý nghĩa nhan đề bài thơ.
Bài thơ có một nhan đề khá dài, tưởng như có chỗ thừa nhưng chính nhan đề ấy lạithu hút người đọc ở cái vẻ lạ, độc đáo của nó Nhan đề bài thơ đã làm nổi bật rõhình ảnh của toàn bài: những chiếc xe không kính Hình ảnh này là một sự pháthiện thú vị của tác giả, thể hiện sự gắn bó và am hiểu của nhà thơ về hiện thực dờisống chiến tranh trên tuyến đường Trường Sơn Nhưng vì sao tác giả còn thêm vàonhan đề hai chữ “Bài thơ”? Hai chữ “bài thơ” nói lên cách nhìn, cách khai thác hiệnthực của tác giả: không phải chỉ viết về những chiếc xe không kính hay là cái hiệnthực khốc liệt của chiến tranh, mà chủ yếu là Phạm Tiêến Duật muốn nói về chất
Trang 17thơ của hiện thực ấy, chất thơ của tuổi trẻ Việt Nam dũng cảm, hiên ngang, vượtlên những thiếu thốn, gian khổ, khắc nghiệt của chiến tranh
b Hình ảnh những chiếc xe không kính.
Trong bài thơ nổi bật lên một hình ảnh độc đáo: những chiếc xe không kính vẫnbăng ra chiến trường
-Xưa nay, những hình ảnh xe cộ, tàu thuyền nếu đưa vào thơ thì thường được “mĩ
lệ hoá”, “lãng mạn hoá” và thường mang ý nghĩa tượng trưng hơn là tả thực Ngườiđọc đã bắt gặp chiếc xe tam mã trong thơ Pus-kin, con tàu trong “tiếng hát contàu” của Chế Lan Viên, đoàn thuyền đánh cá trong bài thơ cùng tên của Huy Cận
- Ở bài thơ này, hình ảnh những chiếc xe không kính được miêu tả cụ thể, chi tiếtrất thực Lẽ thường, để đảm bảo an toàn cho tính mạng con người, cho hàng hoánhất là trong địa hình hiểm trở Trường Sơn thì xe phải có kính mới đúng Ấy thế
mà chuyện “xe không kính” lại là môt thực tế, những chiếc xe “không kính” rồi
“không đèn”, “không mui” ấy vẫn chạy băng ra tiền tuyến
+ Hai câu thơ mở đầu có thể coi là lời giải thích cho “sự cố” có phần không bìnhthường ấy:
Không có kính không phải vì xe khôg có kính Bom giật, bom rung, kính vỡ đi rồi”
Lời thơ tự nhiên đến mức buộc người ta phải tin ngay vào sự phân bua của cácchàng trai lái xe dũng cảm Chất thơ của câu thơ này hiện ra chính trong vẻ tựnhiên đến mức khó ngờ của ngôn từ Câu thơ rất gần với văn xuôi lại có giọng thảnnhiên, ngang tàng trong đó ngày càng gây ra sự chú ý về vẻ đẹp khác lạ của nó.Hình ảnh “bom giật, bom rung” vừa giúp ta hình dung được một vùng đất từngđược mệnh danh là “túi bom” của dịch vừa giúp ta thấy được sự khốc liệt của chiếntranh và đó chính là nguyên nhân để những chiếc xe vận tải không có kính
Trang 18- Những chiếc xe như vậy vốn không hiếm trong chiến tranh, nhưng phải có mộthồn thơ nhạy cảm với nét ngang tàng, tinh nghịch thích cái lạ như Phạm Tiến Duậtmới nhận ra đụơc và đưa nó vào thơ thành hình tượng thơ độc đáo của thời chiếntranh chống Mĩ Hơn nữa, viết về những người lái xe thì không gì gắn họ với hìnhảnh chiếc xe, qua xe mà làm nổi bật hình ảnh ngưới lái xe
b Hình ảnh những chiếc xe không kính đó làm nổi bật hình ảnh những chiến sĩ lái xe ở Trường Sơn.Thiếu đi những phương tiện vật chất tối thiểu lại là một cơ hội
để người lái xe bộc lộ những phẩm chất cao đẹp, sức mạnh tinh thần lớn lao của họ,đặc biệt là lòng dũng cảm, tinh thần bất chấp khó khăn, gian khổ
*Trước hết là tư thế hiên ngang, sự ung dung, bình tĩnh giữa chiến trường hiểmnguy
- Những câu thơ tả thực, chính xác đến từng chi tiết Không có kính chắn gió, bảohiểm, xe lại chạy nhanh nên người lái phải đối mặt với bao khó khăn nguy hiểm:nào là “:gió vào xoa mắt đắng”, nào là “con đường chạy thẳng vào tim”, rồi “saotrời”, rồi “cánh chim” đột ngột, bất ngờ như sa, như ùa- rơi rụng, va đập, quăngném vào buồng lái, vào mặt mũi, thân mình Dường như chính nhà thơ cũngđang cầm lái, hay ngồi trong buồng lái của những chiếc xe không kính nên câu chữmới sinh động và cụ thể, đầy ấn tượng, gợi cảm giác chân thực đến thế
- Cảm giác, ấn tượng căng thẳng, đầy thử thách Song người chiến sĩ không run sợ,hoảng hốt, trái lại tư thế các anh vấn hiên ngang, tinh thần các anh vẫn vữngvàng “ung dung nhìn thẳng Hai câu thơ “ung dung thẳng” đã nhấn mạnh tưthế ngồi lái tuyệt đẹp của người chiến sĩ trên những chiếc xe không kính Đảo ngữ
“ung dung” với điệp từ “nhìn” cho ta thấy cái tư thế ung dung, thong thả, khoanthai, bình tĩnh, tự tin của người làm chủ, chiến thắng hoàn cảnh Bầu không khícăng thẳng với “Bom giật, bom rung”, vậy mà họ vẫn nhìn thẳng, cái nhìn hướng
về phía trước của một con người luôn coi thường hiểm nguy Nhịp thơ 2/2/2 vớinhững dấu phẩy ngắt khiến âm điệu câu thơ trở nên chậm rãi, như diễn tả thái độ
Trang 19thản nhiên đàng hoàng Với tư thế ấy, họ đã biến những nguy hiểm trở ngại trênđường thành niềm vui thích Chỉ có những người lính lái xe với kinh nghiệm chiếntrường dày dạn, từng trải mới có được thái độ, tư thế như vậy.
=> Vậy đấy, hai khổ thơ mở đầu tả thực những khó khăn gian khổ mà nhữngngười chiến sĩ lái xe TSơn đã trải qua Trong khó khăn, các anh vẫn ung dung, hiênngang bình tĩnh nêu cao tinh thần trách nhiệm, quyết tâm gan góc chuyển hàng ratiền tuyến Không có kính chắn gió, bảo hiểm, đoàn xe vẫn lăn bánh bình thường.Lời thơ nhẹ nhõm, trôi chảy như những chiếc xe vun vút chạy trên đường
* Thái độ bất chấp khó khăn, coi thường gian khổ, tinh thần lạc quan hồn nhiên,yêu đời của người lính trẻ
- Nếu như hai khổ trên là những cảm giác về những khó khăn thử thách dùsao cũng vẫn mơ hồ thì đến đây, thử thách, khó khăn ập tới cụ thể, trực tiếp Đó là
“bụi phun tóc trắng” và “mưa tuôn xối xả” (gió, bụi, mưa tượng trưng cho gian khổthử thách ở đời) Trên con đường chi viện cho miền Nam ruột thịt, những ngườilính đã nếm trải đủ mùi gian khổ
+ Trước thử thách mới, người chiến sĩ vẫn không nao núng Các anh càng bìnhtĩnh, dũng cảm hơn “mưa tuôn, mưa xối xả”, thời tiết khắc nghiệt, dữ đội nhưngđối với họ tất cả chỉ “chuyện nhỏ”, chẳng đáng bận tâm, chúng lại như đem lạiniềm vui cho người lính.Chấp nhận thực tế, câu thơ vẫn vút lên tràn đầy niềm lạc
quan sôi nổi: “không có kính ừ thì có bụi, ừ thì ướt áo” Những tiếng “ừ thì” vang
lên như một thách thức, một chấp nhận khó khăn đầy chủ động, một thái độ cứngcỏi Dường như gian khổ hiểm nguy của chiến tranh chưa làm mảy may ảnh hưởngđến tinh thần của họ, trái lại họ xem đây là một dịp để thử sức mình như người xưaxem hoạn nạn khó khăn để chứng tỏ chí làm trai
+ Sau thái độ ấy là những tiếng cười đùa, những lời hứa hẹn, quyết tâm vượt
gian khổ hiểm nguy:”Chưa cần rửa khô mau thôi” Cấu trúc câu thơ vẫn cân đối,
nhịp nhàng theo nhịp rung cân đối của những bánh xe lăn Câu thơ cuối 7 tiếng
Trang 20cuối đoạn có đến 6 thanh bằng “mưa ngừng gió lùa khô mau thôi” gợi cảm giác nhẹ
nhõm, ung dung rất lạc quan, rất thanh thản Đó là khúc nhạc vui của tuổi 18 - 20
hoà trong những hình ảnh hóm hỉnh: “phì phèo châm điếu thuốc - nhìn nhau mặt lấm cười ha ha” ý thơ rộn rã, sôi động như sự sôi động hối hả của đoàn xe trên
đường đi tới Những vần thơ ít chất thơ nhưng càng đọc thì lại càng thấy thích thú,giọng thơ có chút gì nghịch ngợm, lính tráng Ta nghe như họ đương cười đùa, tếutáo với nhau vậy Có lẽ với những năm tháng sống trên tuyến đường Trường Sơn,
là một người lính thực thụ đã giúp Phạm tiến Duật đưa hiện thực đời sống vào thơ
ca - một hiện thực bộn bề, một hiện thực thô tháp, trần trụi, không hề trau chuốt,giọt rũa Đấy phải chăng chính là nét độc đáo trong thơ Phạm Tiến Duật Và nhữngcâu thơ gần gũi với lời nói hàng ngày ấy càng làm nổi bật lên tính cách ngang tàngcủa những anh lính trẻ hồn nhiên, yêu đời, trẻ trung Đó cũng là một nét rất ấntượng của người lính lái xe Trường Sơn Cái cười sảng khoái vô tư, khác với cáicười buốt giá trong bài thơ “Đồng chí”, nụ cười hồn nhiên ấy rất hiếm khi gặptrong thơ ca chống Pháp, nụ cười ngạo nghễ của những con người luôn luôn chiếnthắng và tràn đầy niềm tin
* Tình đồng chí, đồng đội thắm thiết
- Sau mỗi trận mưa bom bão đạn cùng với những chiếc xe bị tàn phá nặng nề hơn,
họ lại gặp nhau trong những phút dừng chân ngắn ngủi tạo thành một “tiểu đội xekhông kính” - tiểu đội những chàng trai lái xe quả cảm, hiên ngang mà hồn nhiêntinh nghịch Hình tượng người chiến sĩ lái xe thêm một nét đẹp nữa về tâm hồn vàtình cảm Đấy là tình cảm gắn bó, chia sẻ ngọt bùi của những chàng trai vui vẻ, sôinổi, yêu đời Cái bắt tay độc đáo là biểu hiện đẹp đẽ ấm lòng của tình đồng chí,đồng đội đầy mộc mạc nhưng thấm thía : “bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”, cái bắt taythay cho lời nói Chỉ có những người lính, những chiếc xe thời chống Mĩ mới cóthể có những cái bắt tay ấy, một chi tiết nhỏ nhưng mang dấu ấn của cả một thờiđại hào hùng
Trang 21- Lúc cắm trại, các anh trò chuyện, ăn uống, nghỉ ngơi thoải mái, xuềnh xoàng,nhường nhịn nhau như anh em ruột thịt.: chung bát,chung đũa, mắc võng chôngchênh chỉ trong một thoáng chốc Tình cảm gia đình người lính thật bình dị, ấm
áp thân thương tạo nên sức mạnh, nâng bước chân người lính để rồi các anh lại tiếptục hành quân: “Lại đi lại đi trời xanh thêm”, đi đến thắng lợi cuối cùng.Trong tâmhồn họ, trời như xanh thêm chứa chan hi vọng lạc quan dào dạt Câu thơ bay bay,phơi phới, thật lãng mạn, thật mộng mơ Nhịp điệu câu thơ vừa sôi nổi, vừa nhịpnhàng cùng với điệp từ “lại đi” được lặp lại hai lần gợi tả nhịp sống chiến đấu vàhành quân của tiểu đội xe không kính mà không một sức mạnh đạn bom nào có thểngăn cản nổi Sự sống không chỉ tồn tại mà còn tồn tại trong một tư thế kiêu hãnh,hiên ngang – tư thế của người chiến thắng
d Khổ cuối dựng lên hai hình ảnh đối lập đầy kịch tính, rất bất ngờ và thú vị khái quát nội dung cả bài thơ
- Hai câu đầu là hình ảnh những chiếc xe không còn nguyên vẹn về phương tiện kĩthuật, dồn dập những mất mát, khó khăn do quân địch gieo xuống, do đường trườnggây ra: những chiếc xe bị hư hỏng nhiều hơn “không kính, không mui, không đèn,thùng xe có xước ” và biết bao chiến sĩ đã dũng cảm hi sinh Ấy vậy mà nhữngchiếc xe mang trên mình đầy thương tích đó lại như những chiến sĩ kiên cườngvượt lên trên bom đạn, hăm hở lao ra tiền tuyến với một tình cảm thiêng liêng:
“Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim”
- Vậy là đoàn xe đã chiến thắng, vượt lên bom đạn, hăm hở tiến ra phía trước,hướng ra tiền tuyến lớn với một tình cảm thiêng liêng “vì Miền Nam”, vì cuộcchiến đấu giành độc lập thống nhất đất nước đang vẫy gọi Bởi vì trong nhữngchiếc xe đó lại nguyên vẹn một trái tim dũng cảm Hình ảnh trái tim là một hìnhảnh hoán dụ tuyệt đẹp gợi ra biết bao ý nghĩa Trái tim là hình ảnh hội tụ vẻ đẹptâm hồn và phẩm chất của người chiến sĩ lái xe Trái tim nồng cháy một lẽ sống caođẹp và thiêng liêng: tất cả vì Miền Nam thân yêu, trái tim chứa đựng bản lĩnh hiên
Trang 22ngang, lòng dũng cảm tuyệt vời Trái tim mang tinh thần lạc quan và một niềm tinmãnh liệt vào ngày thống nhất Bắc Nam Thì ra cội nguồn sức mạnh của cả đoàn
xe, gốc rễ, phẩm chất anh hùng của người cầm lái tích tụ, đọng kết lại ở cái “tráitim” gan góc, kiên cường, giầu bản lĩnh và chan chứa tình yêu thương này Nhà văn
đã tô đậm những cái “không” để làm nổi bật cái “có” để làm nổi bật chân lí củathời đại: bom đạn, chiến tranh có thể làm méo mó những chiếc xe, huỷ hoại nhữnggiá trị vật chất nhưng không thể bẻ gẫy được những giá trị tinh thần cao đẹp….đểrồi một nước nhỏ như Việt Nam đã chiến thắng một cường quốc lớn
=> Điệp ngữ “không có”, các từ ngữ tương ứng “vẫn … chỉ cần có” đã làm chogiọng thơ, ý thơ trở nên mạnh mẽ, hào hùng Vẫn là cách nói thản nhiên ngang tàngcủa lính nhưng câu thơ lại lắng sâu một tinh thần trách nhiệm và có ý nghĩa nhưmột lời thề thiêng liêng Quyết tâm chiến đấu và chí khí anh hùng của người línhkhông có đạn bom nào của kẻ thù có thể làm lay chuyển được
B Câu hỏi luyện tập.
Câu 1: “Không có kính rồi xe không có đèn”
a Chép tiếp câu thơ trên để hoàn chỉnh đoạn thơ gồm 4 dòng.
b Cho biết, đoạn thơ vừa chép trong bài thơ nào? Của ai? Nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ
c Từ “trái tim” trong câu thơ cuối cùng của đoạn vừa chép được dùng với nghĩa như thế nào?
d Viết một đoạn văn diễn dịch từ 6 đến 8 câu phân tích hình ảnh người lính lái xe trong đoạn thơ.
Gợi ý:
a Chép tiếp: Không có kính rồi xe không có đèn
Không có mui xe thùng xe có xước
Trang 23Xe vẫn chạy vì Miền Nam phía trướcChỉ cần trong xe có một trái tim.
b (tham khảo phần kiến thức cần nhớ)
c Từ “Trái tim” trong câu thơ cuối cùng có thể hiểu theo nghĩa chuyển:
- Bất chấp gian khổ, hi sinh, những chiếc xe vẫn thẳng đường ra tiền tuyến
- Những người lính lái xe quả cảm vững tay lái vì học có một trái tim tràn đầy nhiệttình cách mạng, tình yêu tổ quốc nồng nàn, ý chí quyết tâm giải phóng miền Namsắt đá
Tham khảo đoạn văn phân tích:
Hai câu cuối của “bài thơ về tiểu đội xe không kính” đã khắc đậm hình ảnhđẹp đẽ của người chiến sĩ lái xe trên đường Trường Sơn :
Xe vẫn chạy vì Miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim
Những chiếc xe ấy đã bị bom đạn chiến tranh phá hủy nặng nề, mất đi cảnhững hệ số an toàn, tưởng như không thể lăn bánh Vậy mà những người chiến sĩlái xe đâu có chịu dừng Những chiếc xe vận tải của họ chở lương thực, thuốc men,đạn dược vẫn chạy trong bom rơi đạn lửa bời phía trước là miền Nam đang vẫy gọi
Trang 24Công cuộc giành độc lập tự do của nửa nước vẫn phải tiếp tục Dùng hình ảnhtương phản đối lập, câu thơ không chỉ nêu bật được sự ngoan cường, dũng cảm,vượt lên trên gian khổ, ác liệt mà còn nêu bật được ý chí chiến đấu giải phóng MiềnNam, thống nhất đất nước Hơn thế hình ảnh hoán dụ “một trái tim” là hình ảnh đẹpnhất của bài thơ chỉ người lính lái xe, chỉ sự nhiệt tình cứu nước, lòng yêu nướcnồng nàn, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất Tổ quốc Hình ảnh nàykết hợp cùng kết cấu câu “vẫn - chỉ cần” đã lý giải về sức mạnh vượt khó, khẳngđịnh hơn tinh thần hiên ngang bất khuất, sự lạc quan tự tin trong cuộc chiến củangười lính lái xe Chính điều đó đã tạo nên cho họ sức mạnh để chiến đấu và chiếnthắng để chúng ta mãi mãi yêu quý và cảm phục
Câu 2 : Triển khai câu chủ đề sau : Cả bài thơ là dòng cảm xúc của người lính lái xe trên con đường xe ra tiền tuyến Thật vậy, dòng cảm xúc ấy tuôn chảy dào
dạt trong suốt bài thơ Đi vào cuộc chiến đấu với tất cả tính chất chủ động, tự tincủa những người có lý tưởng cao đẹp, có sức mạnh và tiềm lực nên tâm hồn ngườilính cũng có những nét thanh thản, vui tươi Điều khiển những chiếc xe không kínhvới một tốc độ phi thường như lướt nhanh trong bom đạn họ có cảm giác thích thú,như cảm nhận cả con đường như “chạy thẳng vào tim” Qua khung cửa qua nhữngchiếc xe không kính, các anh cảm nhận được vẻ đẹp của những “cánh chim chiều”
và “cả những ánh sao đêm” lấp lánh trên bầu trời như “sa như ùa” vào buồng lái.Gió cũng được nhân hoá và chuyển đổi cảm giác thật ấn tượng: “gió vào xoa mắtđắng”, mắt đắng, mắt cay là những con mắt đói ngủ vì phải thức thâu đêm Tronggian khổ ấy, họ vẫn cất lên những nụ cười lạc quan, yêu đời từ những khuôn mặtlấm lem khi đồng đội gặp nhau Những câu thơ lạc quan yêu đời như thách thức vớimọi khó khăn : “không có kính, ừ thì có bụi Bụi phun tóc trắng như người già.Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”.Cái bắttay của người lính cũng thật hồn nhiên, mộc mạc mà thấm thía tình đồng chí đồngđội: “bắt tay qua cửa kính vỡ rồi” “Từ trong bom rơi” mà vẫn có cái bắt tay nhưthế thì thật mừng vui, tự tin và tự hào biết mấy Đời người lính là đi, nhất là lính lái
Trang 25xe, nhưng trong những phút dừng chân ngắn ngủi, ta càng thấy rõ sự gắn bó tựnhiên mà cao đẹp của tình đồng đội Chỉ là “bếp Hoàng Cầm” và “võng mắc chôngchênh” Rồi cả những bữa cơm hội ngộ thân mật, tình đồng chí cũng như tình anh
em ruột thịt: “chung bát đĩa nghĩa là gia đình đấy” Đến cả giấc ngủ ngắn cũng rấtđặc biệt thú vị : “võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi trời xanhthêm” Trong tâm hồn họ, trời như xanh hơn chứa chan hy vọng Không dễ gì cóđược thái độ lạc quan đến như thế nếu không mang trong mình một trái tim yêunước của tuổi trẻ Việt Nam thời chống Mĩ Phải nói rằng hình ảnh người chiến sĩlái xe trong thơ Phạm Tiến Duật thật tươi tắn và yêu đời Chúng ta mãi mãi yêu quý
và tự hào về họ
Câu 3: Triển khai câu chủ đề:
Bài thơ gây được ấn tượng mạnh về các anh, những chiến sĩ lái xe rất dũng cảm, rất đáng yêu bởi những nét nghịch ngợm, ngang tàng Thật vậy, người lính
trong thơ Phạm Tiến Duật đi vào cuộc chiến đấu với tất cả tính chất chủ động, tựtin của những người có lý tưởng cao đẹp, có sức mạnh và tiềm lực nên họ rất dũngcảm và mang những nét thanh thản, vui tươi Lái xe trên con đường Trường Sơnkhói lửa, con đường ấy trong bom đạn, mưa tuôn phải trả giá bằng bao mồ hôi,xương máu nhưng các vẫn tràn đầy nghị lực bất chấp gian khổ, hiểm nguy để hoànthành nhiệm vụ Xe “không kính, không mui, không đèn” mà tâm thế vẫn ung dungthanh thản, khó khăn nhiều mà mắt vẫn “nhìn trời, đất, gió chim”, vẫn hiên ngang:
“nhìn đất nhìn trời, nhìn thẳng” Những câu thơ dí dỏm, tinh nghịch, ngang tàngđầy sức trẻ của những chàng trai như thách thức với mọi khó khăn:
- Không có kính, ừ thì có bụi
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha
Trang 26- Không có kính, ừ thì ướt áo
Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời
Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa
Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi
Chuyện vặt ấy mà, có hề gì ! Nhịp điệu câu thơ, đặc biệt là các từ “ừ thì” đã nói lênrất rõ điều đó Đọc những câu thơ trên, ta tưởng như nhìn thấy mái đầu bụi trắng,
bộ mặt lấm lem và nghe rõ tiếng cười ha ha, sảng khoái của người lính.Nhưng đằngsau những dòng chữ bông đùa đáng yêu này là một bản lĩnh chiến đấu rất vữngvàng của họ, bởi không vững vàng thì không thể đùa vui như vậy giữa cái tuyếnđường Trường Sơn ác liệt này Và điều đó đã ngân lên câu hát nâng bước chânngười lính đi tiếp những chặng đường mới: “lại đi, lại đi trời xanh thêm” Không dễ
gì có được một thái độ dũng cảm đến ngang tàng và lạc quan đến như thế nếukhông mang trong mình một trái tim yêu nước can trường!
Câu 4: Cảm nhận của em về hình ảnh người lính lái xe trong bài thơ “Bài thơ
về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật.
Người lái xe trong bài thơ là những người chiến sĩ trẻ trung Các anh rất trẻ trung,hồn nhiên, tâm hồn gần gũi với thiên nhiên Khó khăn gian khổ các anh coi thường:
ừ thì có bụi, ừ thì ướt áo Thái độ “chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc, chưacần thay, lái trăm cây số nữa là sự thách thức, coi thường khó khăn gian khổ.Những chiếc xe từ trong bom rơi, bị bom giật, bom rung, nhưng người chiến sĩ vẫnung dung Các anh nhìn thẳng phía trước, vui vẻ bắt tay nhau Xe hư hỏng không
có kính, không có đèn, không có mui xe, thùng xe có xước, nhưng xe vẫn chạy vìMiền Nam phía trước Tất cả vì tiền tuyến, vì mặt trận, đó là khẩu hiệu của họ Vànhững chiếc xe mang đầy thương tích vẫn lăn bánh ra mặt trận Có thể nói nhữngngười lái xe, người làm chủ phương tiện là yếu tố quyết định làm nên thắng lợi trênmặt trận vận tải và cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước
Trang 27Câu 5:
a Phân tích giá trị biểu cảm của từ “Chông chênh” trong câu thơ: “Võng mắc
chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi trời xanh thêm”
b Chỉ với hai câu thơ trên, Phạm Tiến Duật đã cho ta hiểu vẻ đẹp người lái xeTrường Sơn thời chống Mĩ Hãy viết tiếp từ 7 đến 12 câu tạo đoạn văn diễn dịchhoàn chỉnh (trong đó có sử dụng phép nối và câu đơn mở rộng thành phần chủ ngữ)Gợi ý:
a.- “Chông chênh” là một từ láy giàu giá trị gợi tả, gợi cảm Từ “chông chênh” gợi
tả tư thế không thăng bằng, không chắc chắn, không vững chãi, gợi sự nguy hiểmcủa người lính trên đường lái xe ra tiền tuyến Đây là một nét vẽ hiện thực màPhạm Tiến Duật tái hiện lại cuộc đời gian khổ của người lính lái xe Trường Sơn.Trong hoàn cảnh chiến đấu hết sức gian khổ, họ phải ăn, phải ngủ những giấc ngủngắn trên xe hoặc trên dọc đường đi, giữa làn mưa bom của kẻ thù nhằm huỷ diệt
sự sống
- Song từ “chông chênh” còn gợi tả phong thái hiên ngang của người lính Bom đạncủa kẻ thù tưởng như có thể dùng sức mạnh để huỷ diệt sự sống con người nhưngkhông! HÌnh ảnh những chiếc võng mắc “chông chênh” trên tuyến đường TS khóilửa ấy đã chứng minh điều ngược lại: sự sống không chỉ tồn tại mà còn tồn tại trongmột tư thế kiêu hãnh, hiên ngang, tư thế của người chiến thắng
a.Viết đoạn văn :
- Câu thơ tái hiện một cách tinh tế gian khổ mà những người lính lái xe TS phải trảiqua Đó là cuộc sống gian khổ, phải ăn, phải ngủ những giấc ngủ ngắn ngay trên xegiữa những làn mưa bom của giặc đang ngày đêm trút xuống nhằm huỷ diệt sựsống
- Chông chênh” là một từ láy giàu giá trị gợi tả, gợi cảm Từ “chông chênh” gợi tả
tư thế không thăng bằng, không chắc chắn, không vững chãi, gợi sự nguy hiểm
Trang 28Song trong hoàn cảnh của bài thơ, từ “chông chênh” còn gợi tả phong thái hiênngang của người lính như ngạo nghễ, thách thức kẻ thù.
- Họ luôn có tư thế tiến về phía trước Điệp từ “lại đi” tái hiện vòng bánh xe lăntiến lên phía trước, rộng hơn là đoàn xe vận tải lao nhanh ra mặt trận bỏ lại đằngsau tất cả đạn bom u ám để đến với bầu trời xanh phía trước
- Bầu trời xanh là hình ảnh tượng trưng cho hoà bình, cho cuộc sống tươi đẹp Vớihình ảnh này, ta thấy được niềm lạc quan, niềm tin bất diệt của người lính vàochiến thắng Phải chăng đó là sức mạnh lớn lao để đoàn xe lăn bánh tới đích?
Câu 6: Khi phân tích bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, trong phần giải quyết vấn đề, bạn em đã nêu được một nhận xét:
“Bài thơ không chỉ phản ánh được cái khốc liệt, sự gian khổ của chiến tranh qua
hình ảnh những chiếc xe không kính mà từ trong những gian khổ, sự khốc liệt ấy bài thơ còn là lời khẳng định ngợi ca vẻ đẹp phẩm chất của người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn trong những năm kháng chiến chống Mĩ”
a Câu văn trên chứa đựng đề tài gì?
b Triển khai 1 ý trong đề tài trên thành một đoạn văn hoàn chỉnh
Gợi ý:
a.Đề tài:
- Bài thơ phản ánh được cái khốc liệt, gian khổ của chiến tranh qua hình ảnhnhững ch iếc xe không kính
- Bài thơ là khú hát ngợi ca vẻ đẹp của những người chiến sĩ lái xe Trường Sơn
a Triển khai đề tài 2: Vẻ đẹp của những người chiến sĩ lái xe (theo các ý sau)
- Tư thế hiên ngang, bình tĩnh (khi xe mất đi những hệ số an toàn)
- Thái độ bất chấp gian khổ, hiểm nguy, đón nhận gian khổ khó khăn rất đànghoàng, chủ động
Trang 29- Lạc quan, vui vẻ, trẻ trung
- Tinh thần quyết chiến, quyết thắng, vượt lên mọi thiếu thốn, gian khổ, hiểmnguy, tất cả vì Miền Nam phía trước
-“Bài thơ về tiểu đội xe không kính” ra đời trong hoàn cảnh đó Đây là một trongnhững bài thơ đặc sắc của Phạm Tiến Duật, nằm trong chùm thơ được tặng giảinhất cuộc thi thơ báo văn nghệ 1969 - 1970
-Bài thơ đã sáng tạo một hình ảnh độc đáo : Những chiếc xe không kính để làm nổibật hình ảnh những người lái xe ở chiến trường Trường Sơn hiên ngang, dũng cảm,trẻ trung, sôi nổi…Qua đó nhà thơ ca ngợi chủ nghĩa anh hùng Cách mạng của ViệtNam thời đánh Mĩ
Cách 2:
Người lính trở thành một đề tài lớn trong văn học chống Pháp, chống Mĩ thời kì
1945 – 1975 Những anh bộ đội cụ Hồ, những con người chịu bao hi sinh thử thách
Vì thế thật dễ hiểu tại sao hình ảnh của họ lại in đậm trong văn chương thời kì đó,như: Đồng chí, Khoảng trời hố bom… Và “bài thơ về tiểu đội xe không kính” củaPhạm Tiến Duật là một trong những sáng tác ấy Bài thơ đã khắc hoạ một cách độcđáo người lính lái xe Trường Sơn trong cuộc kháng chiến chống Pháp
Trang 30-Tác giả giải thích nguyên nhân cũng rất thực:
-“Không có kính không phải vì xe không có kính.
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi”.
-Bom đạn khốc liệt của chiến tranh làm cho những chiếc xe ấy không có kính Cáihình ảnh thực này được diễn tả bằng hai câu thơ rất gần với văn xuôi lại có giọng
thản nhiên pha chút ngang tàng, đọc lên nghe rất thú vị Ba chữ “không” đi liền
nhau với hai nốt nhấn “ Bom giật, bom rung” biểu lộ chất lính trong cách nói phóngkhoáng hồn nhiên Như vậy tác giả đi từ hiện thực khốc liệt, những chiếc xe vận tải
bị bom Mỹ tàn phá để xây dựng lên một hình tượng thơ độc đáo và nhiều ý nghĩa
2.Hình ảnh người chiến sỹ lái xe :
Tác giả miêu tả những chiếc xe không kính nhằm làm nổi rõ h/a những ngườichiến sĩ lái xe ở TS Thiếu đi những điều kiện phương tiện vật chất tối thiểu lại làmột cơ hội để người lái xe bộc lộ những p/c cao đẹp, sức mạnh tinh thần lớn laocủa họ Những p/c cao đẹp ấy được khắc hoạ 1 cách cụ thể và gợi cảm ở 14 câu thơtiếp theo
a Trước hết là sự ung dung, bình tĩnh giữa chiến trường hiểm nguy.
- Những câu thơ tả thực, chính xác đến từng chi tiết Không có kính chắn gió,bảo hiểm, xe lại chạy nhanh nên người lái phải đối mặt với bao khó khăn nguy
Trang 31hiểm: nào là “:gió vào xoa mắt đắng”, nào là “con đường chạy thẳng vào tim”, rồi
“sao trời”, rồi “cánh chim” đột ngột, bất ngờ như sa, như ùa- rơi rụng, va đập,quăng ném vào buồng lái, vào mặt mũi, thân mình Dường như chính nhà thơcũng đang cầm lái, hay ngồi trong buồng lái của những chiếc xe không kính nêncâu chữ mới sinh động và cụ thể, đầy ấn tượng, gợi cảm giác chân thực đến thế
- Cảm giác, ấn tượng căng thẳng, đầy thử thách Song người chiến sĩ khôngrun sợ, hoảng hốt, trái lại tư thế các anh vấn hiên ngang, tinh thần các anh vẫn vữngvàng “ung dung nhìn thẳng Hai câu thơ “ung dung thẳng” đã nhấn mạnh tưthế ngồi lái tuyệt đẹp của người chiến sĩ trên những chiếc xe không kính Hai chữ
“ta ngồi” với điệp từ “nhìn” cho ta thấy cái tư thế ung dung, thong thả, khoan thai,bình tĩnh, tự tin của người làm chủ, chiến thắng hoàn cảnh Bầu không khí căngthẳng với “Bom giật, bom rung”, vậy mà họ vẫn nhìn thẳng, cái nhìn hướng về phíatrước của một con người luôn coi thường hiểm nguy Nhịp thơ 2/2/2 với những dấuphẩy ngắt khiến âm điệu câu thơ trở nên chậm rãi, như diễn tả thái độ thản nhiênđàng hoàng Với tư thế ấy, họ đã biến những nguy hiểm trở ngại trên đường thànhniềm vui thích Chỉ có những người lính lái xe với kinh nghiệm chiến trường dàydạn, từng trải mới có được thái độ, tư thế như vậy
=> Vậy đấy, hai khổ thơ mở đầu tả thực những khó khăn gian khổ mà nhữngngười chiến sĩ lái xe TSơn đã trải qua Trong khó khăn, các anh vẫn ung dung, hiênngang bình tĩnh nêu cao tinh thần trách nhiệm, quyết tâm gan góc chuyển hàng ratiền tuyến Không có kính chắn gió, bảo hiểm, đoàn xe vẫn lăn bánh bình thường.Lời thơ nhẹ nhõm, trôi chảy như những chiếc xe vun vút chạy trên đường
b Những người lính trẻ rất yêu đời lạc quan, bất chấp khó khăn, coi thường gian khổ.
- Nếu như hai khổ trên là những cảm giác về những khó khăn thử thách dù saocũng vẫn mơ hồ thì đến đây, thử thách, khó khăn ập tới cụ thể, trực tiếp Đó là “bụiphun tóc trắng” và “mưa tuôn xối xả” (gió, bụi, mưa tượng trưng cho gian khổ thử
Trang 32thách ở đời) Trên con đường chi viện cho NM ruột thịt, những người lính đã nếmtrải đủ mùi gian khổ
+ Trước thử thách mới, người chiến sĩ vẫn không nao núng Các anh càng bìnhtĩnh, dũng cảm hơn “mưa tuôn, mưa xối xả”, thời tiết khắc nghiệt, dữ đội nhưngđối với họ tất cả chỉ “chuyện nhỏ”, chẳng đáng bận tâm, chúng lại như đem lạiniềm vui cho người lính.Chấp nhận thực tế, câu thơ vẫn vút lên tràn đầy niềm lạc
quan sôi nổi: “không có kính ừ thì có bụi, ừ thì ướt áo” Những tiếng “ừ thì” vang
lên như một thách thức, một chấp nhận khó khăn đầy chủ động, một thái độ cứngcỏi Dường như gian khổ hiểm nguy của chiến tranh chưa làm mảy may ảnh hưởngđến tinh thần của họ, trái lại họ xem đây là một dịp để thử sức mình như người xưaxem hoạn nạn khó khăn để chứng tỏ chí làm trai
+ Sau thái độ ấy là những tiếng cười đùa, những lời hứa hẹn, quyết tâm vượt gian
khổ hiểm nguy:”Chưa cần rửa khô mau thôi” Cấu trúc câu thơ vẫn cân đối, nhịp
nhàng theo nhịp rung cân đối của những bánh xe lăn Câu thơ cuối 7 tiếng cuối
đoạn có đến 6 thanh bằng “mưa ngừng gió lùa khô mau thôi” gợi cảm giác nhẹ
nhõm, ung dung rất lạc quan, rất thanh thản Đó là khúc nhạc vui của tuổi 18 - 20
hoà trong những hình ảnh hóm hỉnh: “phì phèo châm điếu thuốc - nhìn nhau mặt lấm cười ha ha” ý thơ rộn rã, sôi động như sự sôi động hối hả của đoàn xe trên
đường đi tới
(Nếu chúng ta quen đọc, hoặc yêu thích nhưng vần thơ trau chuốt, mượt mà thì lầnđầu tiên đọc những vần thơ này, có thể cảm thấy hơi gợn, ít chất thơ Nhưng càngđọc thì lại càng thấy thích thú, giọng thơ có chút gì nghịch ngợm, lính tráng Tanghe như họ đương cười đùa, teeos táo với nhau vậy Có lẽ với những năm thángsống trên tuyến đường Trường Sơn, là một người lính thực thụ đã giúp Phạm tiếnDuật đưa hiện thực đời sống vào thơ ca - một hiện thực bộn bề, một hiện thực thôtháp, trần trụi, không hề trau chuốt, giọt rũa Đấy phải chăng chính là nét độc đáotrong thơ Phạm Tiến Duật Và những câu thơ gần gũi với lời nói hàng ngày ấy càng
Trang 33làm nổi bật lên tính cách ngang tàng của những anh lính trẻ hồn nhiên, yêu đời, trẻtrung Đó cũng là một nét rất ấn tượng của người lính lái xe Trường Sơn Cái cườisảng khoái vô tư, khác với cái cười buốt giá trong bài thơ “Đồng chí”, nụ cười hồnnhiên ấy rất hiếm khi gặp trong thơ ca chống Pháp, nụ cười ngạo nghễ của nhữngcon người luôn luôn chiến thắng và tràn đầy niềm tin.)
c Tình đồng chí, đồng đội gắn bó, yêu thương.
- Sau mỗi trận mưa bom bão đạn cùng với những chiếc xe bị tàn phá nặng nề hơn,
họ lại gặp nhau trong những phút dừng chân ngắn ngủi Hình tượng người chiến sĩlái xe thêm một nét đẹp nữa về tâm hồn và tình cảm Đấy là tình cảm gắn bó, chia
sẻ ngọt bùi của những chàng trai vui vẻ, sôi nổi, yêu đời Cái bắt tay độc đáo làbiểu hiện đẹp đẽ ấm lòng của tình đồng chí, đồng đội đầy mộc mạc nhưng thấmthía : “bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”, cái bắt tay thay cho lời nói Chỉ có những ngườilính, những chiếc xe thời chống Mĩ mới có thể có những cái bắt tay ấy, một chi tiếtnhỏ nhưng mang dấu ấn của cả một thời đại hào hùng
- Lúc cắm trại, các anh trò chuyện, ăn uống, nghỉ ngơi thoải mái, xuềnh xoàng,nhường nhịn nhau như anh em ruột thịt.: chung bát,chung đũa, mắc võng chôngchênh chỉ trong một thoáng chốc Để rồi lại tiếp tục hành quân”Lại đi lại đi trờixanh thêm” Trong tâm hồn họ, trời như xanh thêm chứa chan hi vọng lạc quan dàodạt Câu thơ bay bay, phơi phới, thật lãng mạn, thật mộng mơ Điệp từ “lại đi”được lặp lại hai lần gợi tả nhịp sống chiến đấu và hành quân của tiểu đội xe khôngkính mà không một sức mạnh đạn bom nào có thể ngăn cản nổi Sự sống không chỉtồn tại mà còn tồn tại trong một tư thế kiêu hãnh, hiên ngang – tư thế của ngườichiến thắng
d Khổ cuối dựng lên hai hình ảnh đối lập đầy kịch tính, rất bất ngờ và thú vị làm
nổi bật sự khốc liệt trong chiến tranh nhưng cũng làm nổi bật ý chí chiến đấu, quyết tâm sắt đá, tình cảm sâu đậm với miền Nam ruột thịt
Trang 34+ Hai câu đầu dồn dập những mất mát, khó khăn do quân địch gieo xuống, dođường trường gây ra: những chiếc xe bị hư hỏng nhiều hơn “không kính, khôngmui, không đèn, thùng xe có xước ” và biết bao chiến sĩ đã dũng cảm hi sinh.Điệp ngữ “không có” nhắc lại 3 lần như nhân lên 3 lần thử thách khốc liệt Haidòng thơ ngắt làm 4 khúc như bốn chặng gập ghềnh, khúc khuỷu đầy chông gai,bom đạn Ấy vậy mà những chiếc xe như những chiến sĩ kiên cường vượt lên trênbom đạn, hăm hở lao ra tiền tuyến với một tình cảm thiêng liêng:
“Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim”
+ Hai câu cuối âm điệu đối chọi mà trôi chảy, êm ru Hình ảnh đậm nét Vậy làđoàn xe đã chiến thắng, vượt lên bom đạn, hăm hở tiến ra phía trước, hướng ra tiềntuyến lớn với một tình cảm thiêng liêng “vì Miền Nam”, vì cuộc chiến đấu giànhđộc lập thống nhất đất nước đang vẫy gọi
+ Thì ra cội nguồn sức mạnh của cả đoàn xe, gốc rễ, phẩm chất anh hùng của ngườicầm lái tích tụ, đọng kết lại ở cái “trái tim” gan góc, kiên cường, giầu bản lĩnh vàchan chứa tình yêu thương này Phải chăng chính trái tim con người đã cầm lái?Tình yêu Tổ Quốc, tình yêu thương đồng bào, đồng chí ở miền Nam đau khổ đãkhích lệ, động viên người chiến sĩ vận tải vượt khó khăn gian khổ, luôn lạc quan,bình tĩnh nắm chắc tay lái, nhìn thật đúng hướng để đưa đoàn xe khẩn trương tớiđích?
+ Ẩn sau ý nghĩa trái tim cầm lái, câu thơ còn muốn hướng người đọc về một chân
lí của thời đại chúng ta: sức mạnh quyết định, chiến thắng không phải là vũ khí, làcông cụ mà là con người- con người mang trái tim nồng nàn yêu thương, ý chíkiên cường dũng cảm, niềm lạc quan và một niềm tin vững chắc Có thể nói, bàithơ hay nhất là câu thơ cuối cùng này Nó là nhãn tự, là con mắt của bài thơ, bậtsáng chủ đề, toả sáng vẻ đẹp của hình tượng nhân vật trong thơ
(Tô đậm những cái không để làm nổi bật cái có….=> nổi bật chân lí của thời đại,bom đạn, chiến tranh có thể làm méo mó những chiếc xe, huỷ hoại những giá trị vật
Trang 35chất nhưng không thể bẻ gẫy được những giá trị tinh thần cao đẹp….để rồi mộtnước nhỏ như VN đã chiến thắng một cường quốc lớn… Phải chăng đó là câu trảlời …? )
III - Kết luận :
“Bài thơ về tiểu đội xe không kính” là bài thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam thờichống Mĩ Bài thơ gợi lại bao kỷ niệm hào hùng của người chiến sĩ lái xe nơiTrường Sơn khói lửa Đọc xong bài thơ, ta càng hiểu hơn về các chiến sĩ lái xe, vềlòng dũng cảm, tư thế hiên ngang bất khuất của họ Ta cũng thấy được chất tinhnghịch hồn nhiên của mỗi người lính trẻ Chiến tranh đã qua đi nhưng lời thơ củaPhạm Tiến Duật vẫn còn văng vẳng đâu đây cái chất vui tươi khỏe khoắn yêu đờicủa cả một thế hệ trẻ Việt Nam thời chống Mĩ
===============
Đề số 2: Phân tích vẻ đẹp của người lính qua hai bài thơ: “Đồng chí” và “Tiểu đội xe không kính”.
A Mở bài: Đoàn giải phóng quân một lần ra đi.
Nào có sá chi đâu ngày trở về.
Ra đi ra đi bảo tồn sông núi.
Ra đi ra đi thà chết cho vinh.
Khúc hát quen thuộc từ xa chợt vọng lại gợi trong lòng chúng ta biết bao suytưởng Chúng ta như được sống lại một thời hào hùng của dân tộc theo tiếng hát sôinổi trẻ trung và cũng bình dị như cuộc đời người lính Không biết đã có bao nhiêubài thơ nói về họ - những chàng Thạch Sanh của thế kỉ hai mươi Tiêu biểu cho haithời kì chống Pháp và chống Mĩ là hai bài thơ: “Đồng chí” của Chính Hữu và “Tiểuđội xe không kính” của Phạm Tiến Duật
Trang 36- Những người lính trong hai bài thơ thuộc hai thế hệ khác nhau nhưng ở họ cónhiều nét đẹp chung của người lính cách mạng và của con người Việt Nam trongcác cuộc kháng chiến cứu nước.
B.Thân bài.
1 Họ đều là những con người bình dị, mộc mạc, thấm nhuần tinh thần yêu nước, khát vọng độc lập tự do để đi vào cuộc chiến đấu
- Người lính trong bài thơ “Đồng chí” xuất thân từ những cảnh ngộ nghèo khó:
“nước mặn đồng chua”, “đất cày lên sỏi đá” Họ là những người nông dân vừa
được cách mạng giải phóng khỏi kiếp nô lệ lầm than Bởi vậy, tình nguyện ra nhập
bộ đội cầm lấy khẩu súng của cách mạng cũng chính là cầm vũ khí để giải phóngtriệt để cho thân phận của mình, cho quần chúng và cho cả dân tộc Vì tiếng gọithiêng liêng của Tổ quốc mà họ “mặc kệ” tất cả, sẵn sàng từ biệt làng quê vớiruộng nương, nhà cửa vốn hết sức thân thiết, gắn bó để ra đi, dấn thân vào cuộc đời
người chiến sĩ: Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
- Còn người lính trong thơ Phạm Tiến Duật là những chàng trai còn rất trẻ, có trithức, họ sẵn sàng gác lại những ước vọng tương lai của mình để cống hiến tuổithanh xuân theo tiếng gọi thiêng liêng của miền Nam yêu dấu:
“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước.
Mà lòng phơi phới dậy tương lai”.
2.Nhờ có tình đồng chí, đồng đội keo sơn gắn bó bền chặt, chan hoà và nhờ lòng dũng cảm, hiên ngang, mà họ đã bất chấp những gian khổ, thiếu thốn đến tột cùng để hoàn thành nhiệm vụ.
- Trên trận tuyến gay go ác liệt, các anh phải cùng chịu biết bao khó khăn gian khổ,thiếu thốn
Trang 37+ Thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp vô cùng gian nan vất vả, các anh
đã từng chịu những cơn “sốt run người vầng trán ướt mồ hôi”, cùng cảnh “áo rách vai, quần tôi có vài mảnh vá”, “chân không giầy”… Cũng chính từ trong gian khổ
và thiếu thốn của những ngày đầu tiên bước vào quân ngũ ấy đã nẩy sinh ở họ mốitình cao đẹp – tình đồng chí! Và chính có tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn,chia bùi sẻ ngọt mà họ có đủ sức mạnh lớn lao để vượt qua tất cả: “thương nhau taynắm lấy bàn tay” Đẹp làm sao giữa đêm rừng hoang đầy sương muối, ở nơi mà sựsống và cái chết chỉ trong gang tấc, những người chiến sĩ vẫn ôm súng đứng canhgác quân thù trong đêm trăng sáng Các anh vẫn chiến đấu và vẫn cứ tin có ngàychiến thắng Ta thấy được ở các anh một tinh thần chiến đấu dũng cảm kiên cường,một niềm lạc quan bất diệt Đời lính gian khổ nhưng luôn giữ mãi nụ cười dẫu cho
nó cận kề cái chết “Đầu súng trăng treo”, một biểu tượng đẹp của hình ảnh người
lính, biểu tượng cao quý của mối tình đồng chí đã khắc sâu trong tâm trí mọi người.(Nhà thơ Quang Dũng trong bài thơ Tây Tiến cũng cho ta thấy rõ điều đó:
Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.”
Chính điều đó đã giúp ta hiểu được sự quyết tâm của người lính và ta thêm cảmphục sự hi sinh ấy hơn Tấm lòng của các anh thật cao đẹp và lớn lao biết chừngnào! Đó cũng là hình ảnh chung của những người lính trong thời kì kháng chiếnchống Pháp - những con người bình dị mà cũng thật anh dũng, hiên ngang
+ Cuộc kháng chiến chống Pháp đã giành được thắng lợi vẻ vang với trận ĐiệnBiên Phủ lẫy lừng Đất nước vẫn chưa được bình yên, cả Miền Nam lại chìm vàomáu lửa và những người con của quê hương lại tiếp tục lên đường Những anhchiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn hiện lên trong trang thơ của Phạm
Trang 38Tiến Duật là những anh lính thật ngang tàng, yêu đời, dũng cảm, hóm hỉnh Từnggiây, từng phút, các anh phải đối mặt với nhiều gian khổ và sự ác liệt, dữ dội củabom đạn quân thù hằng ngày trút xuống con đường và nhằm vào những chiếc xecủa họ Những gian khổ và ác liệt hiện hình trong hình ảnh những chiếc xe khôngkính rồi không cả đèn, cả mui xe, thùng xe có xước, méo mó Gian khổ tưởngchừng như không thể vượt qua được, cái chết như kề bên, vậy mà lúc nào các anhcũng “ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất nhìn trời nhìn thẳng”.
Mở đường Trường Sơn để xe tăng tiến vào phía Nam thực hiện chiến dịch Hồ ChíMinh lịch sử là giai đoạn gay go nhất, ác liệt nhất và cũng hào hùng nhất Có lẽ chỉ
có những chàng trai tuổi trẻ ngạo nghễ ngang tàng kia mới có sức thực hiện nhiệm
vụ thiêng liêng cao cả này Những chiếc xe tưởng chừng như không thể sử dụngđược vậy mà nó vẫn tiến lên phía trước bởi có những nụ cười rất ngang tàng, rấtnghịch ngợm của những anh lái xe rất phớt đời:
“Không có kính, ừ thì có bụi.
Bụi phun tóc trắng như người già.
Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc.
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha…”
Bằng sự đồng cảm của một người lính và cảm xúc của một nhà thơ, Phạm TiếnDuật đã xây dựng nên hình ảnh những chiến sĩ lái xe thật hào hùng, thật tếu táo.Cái cử chỉ: “phì phèo châm điếu thuốc” và tiếng cười “ha ha” như một lời tháchthức của họ đối với quân thù Đó là sức mạnh thứ nhất, còn sức mạnh nào nữakhiến cho những chiếc xe ấy vẫn băng băng lên phía trước? Tác giả đã trả lời mộtcách mạnh mẽ và dứt khoát, trong những chiếc xe không kính có những trái timyêu nước, luôn hướng về Miền Nam phía trước với là khát vọng cháy bỏng là giảiphóng Miền Nam, thống nhất đất nước:
“Xe vẫn chạy vì Miền Nam phía trước
Trang 39Chỉ cần trong xe có một trái tim”
3 Qua hình ảnh anh chiến sĩ Trường Sơn, chúng ta chợt nhận ra sự gần gũi, thânquen giữa những người lính qua các thời kì Từ anh bộ đội cụ Hồ thời kháng chiếnchống Pháp trong thơ Chính Hữu đến anh chiến sĩ Trường Sơn thời chống Mĩtrong thơ PTD đều có chung một nét đẹp truyền thống kiên cường, bất khuất, dũngcảm và đầy tinh thần lạc quan yêu đời Với điều kiện thuận lợi hơn, người lính thờichống Mĩ đã được trau rèn, huấn luyện Các anh đã kế thừa và phát huy được tinhthần cách mạng vốn đã vững vàng nay lại vững vàng hơn
- Tuy cùng khai thác chất liệu thơ từ đời sống thực với những chi tiết thật đếntrần trụi của cuộc sống người lính nhưng hai bài thơ còn khác nhau bởi bút pháp vàgiọng điệu riêng của mỗi tác giả và cảm hứng nổi bật ở mỗi bài Cảm hứng củaChính Hữu hướng vào vẻ đẹp của tình đồng chí, đồng đội của người lính, còn PTDthì lại tập trung làm nổi bật chủ nghĩa anh hùng, tinh thần dũng cảm, bất chấp mọikhó khăn và bom đạn kẻ thù của những người lính lái xe
C Kết bài:
Nhìn lại những chặng đường lịch sử đã đi qua, đọc lại hai bài thơ về ngườilính qua hai thời kì, trong ta bỗng dấy lên niềm xúc động lẫn tự hào Hình ảnhnhững người lính ấy trở nên bất tử và đẹp rực rỡ Dù lớp bụi thời gian có phủ đầynhững trang sách và những đổi mới của cuộc sống làm biến chuyển đi tất cả, nhưnghình ảnh những anh lính cụ Hồ, anh giải phóng quân đến các anh chiến sĩ TrườngSơn vẫn sống mãi trong lòng mọi người với một niềm cảm xúc trào dâng mạnh mẽ
Bài 3: ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ - HUY CẬN
A Kiến thức cần nhớ.
1 Tác giả:
Trang 40- Huy Cận bút danh là Cù Huy Cận, sinh năm 1919, quê ở hà Tĩnh Ông mất năm
- Thơ Huy cận sau cách mạng tràn đầy niềm vui, niềm tin yêu cuộc sống mới.Thiên nhiên, vũ trụ là nguồn cảm hứng dồi dào trong thơ Huy Cận và nó mangnhững nét đẹp riêng
2 Tác phẩm.
a Hoàn cảnh sáng tác:
- Bài thơ được viết vào năm 1958, khi đất nước đã kết thúc thắng lợi cuộc khángchiến chống thực dân Pháp, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và đi vào xâydựng cuộc sống mới Không khí hào hứng, phấn chấn, tin tưởng bao trùm trongđời sống xã hội và ở khắp nơi dấy lên phong trào phát triển sản xuất xây dựng đấtnước Chuyến thâm nhập thực tế ở vùng mở Quảng Ninh vào nửa cuối năm 1958
đã giúp nhà thơ Huy Cận thấy rõ và sống trong không khí lao động ấy của nhân dân
ta, góp phần quan trọng mở ra một chặng đường mới trong thơ Huy Cận