1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

Nghiên cứu đề xuất mô hình mạng động cho bài toán lập lịch tài nguyên trong mạng Mạng Long Term Evolution (LTE)

8 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 529,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bệnh viện, cảm biến được đặt tại các phòng khám nhằm giám sát số lượng bệnh nhân đến khám chữa bệnh. Trong điều trị, bệnh nhân mang các thiết bị cảm biến sinh trắc học để theo dõi sức khỏe.... Nghiên cứu đề xuất mô hình mạng động cho bài toán lập lịch tài nguyên trong mạng LTE nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và là một phần của bệnh viện thông minh.

Trang 1

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH MẠNG ĐỘNG CHO BÀI TOÁN

LẬP LỊCH TÀI NGUYÊN TRONG MẠNG LONG TERM EVOLUTION (LTE)

Lê Minh Tuấn 1,2 , Lê Hoàng Sơn 2 , Phạm Thị Minh Phương 3 , Vũ Như Lân 4 , Đặng Thanh Hải 5 , Đinh Thu Khánh 4

1Đại học Nội vụ Hà Nội

2Viện Công nghệ Thông tin, Đại học Quốc gia Hà Nội

3Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội

4Đại học Thăng Long

5Đại học Đà Lạt

letuan104@gmail.com, sonlh@vnu.edu.vn, phamthiminhphuong_t60@hus.edu.vn, vnlan@ioit.ac.vn,

haidt@dlu.edu.vn, dinhthukhanh@gmail.com

TÓM TẮT: Ngày nay, mạng cảm biến được sử dụng nhiều trong lĩnh vực như y tế, giao thông vận tải, công nghiệp sản xuất, nông

nghiệp Trong bệnh viện, cảm biến được đặt tại các phòng khám nhằm giám sát số lượng bệnh nhân đến khám chữa bệnh Trong

điều trị, bệnh nhân mang các thiết bị cảm biến sinh trắc học để theo dõi sức khỏe Các dữ liệu thu thập được từ các cảm biến

(node) sẽ được gửi về trung tâm xử lý Dữ liệu sau xử lý sẽ được lập lịch để truyền thông tới các thiết bị người dùng (PAD,

smartphone ) thông qua mạng có dây hoặc không dây (3G, 4G (LTE), 5G) Dựa trên các thông tin nhận được, bệnh nhân có thể

được gợi ý di chuyển đến phòng khám khác nếu phòng khám hiện tại có nhiều bệnh nhân cùng thăm khám, hoặc hỗ trợ Bác sĩ trong

việc ra quyết định điều trị cho bệnh nhân Trong mạng Long Term Evolution (LTE), chất lượng dịch vụ (QoS) là yếu tố đảm bảo

thông tin được lập lịch để truyền đến đúng thiết bị yêu cầu dịch vụ với độ trễ tối thiểu, tỷ lệ mất gói tin thấp hay tính công bằng cao

Trong thực tế, các node trong mạng cảm biến có thể di chuyển, vào và ra mạng làm cho cấu trúc mạng luôn thay đổi Khi số lượng

node lớn và luôn thay đổi, việc lập lịch tài nguyên trong mạng LTE nhằm đảm bảo QoS là một thách thức Trong bài báo này, nhóm

nghiên cứu đề xuất mô hình mạng động cho bài toán lập lịch tài nguyên trong mạng LTE nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và là

một phần của bệnh viện thông minh

Từ khóa: cảm biến, lập lịch, y tế, bệnh viện thông minh, LTE

I GIỚI THIỆU

Các mạng máy tính mà ở đó việc cấu trúc của mạng luôn thay đổi theo thời gian, các node trong mạng có thể ra

nhập và rời khỏi mạng, các cạnh của mạng có thể bị biến đổi được coi là mạng động (Dynamic-Network) Mạng

động có thể tìm thấy ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống như: mạng truyền thông; mạng xã hội; web; mạng

lưới giao thông; và các mạng cơ sở hạ tầng khác Trong mạng Internet, cấu trúc của mạng, lưu lượng truy cập, hay các

ứng dụng mạng luôn thay đổi tạo nên cấu trúc động Trong mạng LAN, người dùng và lưu lượng truy cập thay đổi tạo

nên cấu trúc động Trong mạng không dây tùy biến (mobile ad hoc wireless network), sự di chuyển của các node trong

mạng hay sự thay đổi về điều kiện của môi trường truyền dẫn cũng tạo nên cấu trúc động Do đặc điểm của mạng động,

các nghiên cứu trước đây thường tập trung vào việc kiểm soát tải trên mạng khi mạng liên tục thay đổi, kiểm soát các

gói tin được định tuyến đến và đi, kiểm soát các đối tượng của ứng dụng được thêm vào hay loại bỏ khỏi ứng dụng [4,

5, 24, 27] Ngày nay mạng cảm biến (IoT) được sử dụng rất nhiều trong các lĩnh vực khác nhau [23] Đặc điểm của các

cảm biến là nhỏ, dễ dàng di động và tiêu thụ năng lượng thấp, nên mạng các cảm biến được ứng dụng nhiều trong các

lĩnh vực như: y tế; sản xuất nông nghiệp; công nghiệp; giao thông vận tải [23] Mặc dù dường như là một xu hướng

chính, nhiều trở ngại vẫn phát sinh khi thiết lập một mạng cảm biến Với khả năng dễ dàng kết nối và rời bỏ mạng, các

cảm biến làm cho cấu trúc mạng thay đổi một cách liên tục (mạng động), số lượng các node trong mạng có thể tăng

nhanh biến mạng cảm biến thành mạng có cấu trúc phức tạp, khó kiểm soát [28]

Các nghiên cứu gần đây về mạng cảm biến chủ yếu tập trung vào kiến trúc mạng [16], phương thức kết nối [22],

các vấn đề về an ninh [1, 2, 11, 14, 20, 29], quản lý và khai thác dữ liệu trong mạng [6, 10, 13, 15] Các tiến bộ gần đây

trong công nghệ Internet of Things đang thúc đẩy sự phát triển các hệ thống thông minh Trong y tế, cảm biến là một

trong các công nghệ được sử dụng trong các thiết bị y tế hoặc cấy trong người bệnh nhân nhằm thu thập thông tin bệnh

nhân và chuyển đổi các thông tin thu thập được thành các tín hiệu điện tử để gửi về trung tâm xử lý để phân tích thông

qua mạng Internet Dựa trên các ứng dụng khác nhau, các cảm biến IoT được sử dụng trong các thiết bị y tế nhằm theo

dõi bệnh nhân, chẩn đoán bệnh, hỗ trợ điều trị, chăm sóc sức khỏe và các ứng dụng khác [11, 18, 19, 21] một cách

đáng tin cậy Với các ứng dụng chăm sóc sức khỏe, Rahmani, Amir M [19] sử dụng điện toán sương mù

(fog-computing) để hình thành lớp phân tán giữa mạng cảm biến và điện toán đám mây nhằm giảm tải giữa mạng cảm biến

và trung tâm điều khiển Khan et al in [21] giới thiệu hệ thống chăm sóc sức khỏe dùng các thẻ IoT (các thiết bị y tế

đeo được) để thu thập thông tin bệnh nhân và sử dụng sóng RFID để gửi dữ liệu về các trạm cơ sở (base station), trước

khi chúng được gửi về máy chủ vì đặc điểm RFID là có khả năng chống lại tấn công và ít nhiễu hơn tín hiệu khác

Trong các hệ thống chăm sóc sức khỏe thời gian thực, các cảm biến thường kết nối vào đơn vị xử lý cục bộ thông qua

Trang 2

kết hợp thêm chất lượng dịch vụ được đưa ra bởi các trạm cơ sở

Trong thực tế, các hệ thống chăm sóc sức khỏe tồn tại một mạng mà ở đó các cảm biến có thể tắt, bật tùy thuộc vào nhiệm vụ của nó Ngoài ra, với các cảm biến gắn trên người bệnh, khi người bệnh di chuyển, vị trí của các cảm biến đến trạm cơ sở cũng thay đổi theo Tất cả sự thay đổi đó làm cho mạng cảm biến luôn thay đổi về cấu trúc Việc lập lịch thiết bị trong mạng cũng trở nên phức tạp Có thể thấy, nhiều nghiên cứu về mạng cảm biến gần đây tập trung vào các vấn đề về an ninh, quản lý và khai thác dữ liệu, lập lịch dữ liệu dựa trên tần số lấy mẫu, độ ưu tiên gói tin mà chưa chú ý nhiều đến lập lịch cho mạng động Mục tiêu của bài báo này là đề xuất một mô hình mạng động cho bài toán lập lịch tài nguyên cho các thiết bị IoT trong mạng Long Term Evolution (LTE) nhằm nâng cao chất lượng dịch

vụ khám chữa bệnh trong bệnh viện, là một phần của bệnh viện thông minh

Phần tiếp theo của bài báo được tổ chức như sau: phần II, chúng tôi tổng quan lại các phương pháp lập lịch trong mạng LTE; phần III, đưa ra đề xuất mô hình mạng động cho bài toán lập lịch trong mạng; phần IV, một số thực nghiệm và trao đổi; cuối cùng là kết luận và hướng phát triển trong thời gian tới

II TỔNG QUAN VỀ LẬP LỊCH TRONG MẠNG LTE

Trong phần này, mục 2.1 sẽ giới thiệu tổng quan về lập lịch trong mạng LTE, mục 2.2 sẽ trình bày thuật toán lập lịch Round Robin, mục 2.3 sẽ trình bày thuật toán lập lịch Best-CQI, và mục 2.4 sẽ trình bày thuật toán lập lịch Proportional Fair

2.1 Tổng quan về lập lịch trong mạng LTE

LTE là viết tắt của Long Term Evolution, một chuẩn truyền thông không dây được phát triển bởi dự án đối tác thế hệ thứ 3 (3rd Generation Partnership Project) LTE được thiết kế để cung cấp tốc độ truyền dữ liệu cao lên đến 100Mbps cho dữ liệu tải xuống và 50Mbps dữ liệu tải lên Mạng LTE có thể hoạt động được trên các băng tần khác nhau từ 1.4MHz đến 20MHz Lập lịch trong mạng LTE là cơ chế cấp phát tài nguyên vô tuyến cho người dùng truyền

dữ liệu khác nhau trong cùng khoảng thời gian [26] Trong mạng LTE, tài nguyên vô tuyến được chia sẻ cho các người dùng theo miền thời gian và miền tần số Miền thời gian được chia thành các frame, mỗi frame được tạo thành từ 10 khoảng thời gian truyền (TTI) liên tiếp, mỗi khoảng thời gian truyền có độ dài 1ms, mỗi khoảng thời gian truyền có 2 khe thời gian, mỗi khe 0.5ms Theo miền tần số, toàn bộ băng thông được chia thành các kênh phụ có độ lớn 180 KHz Mỗi tài nguyên vô tuyến theo miền thời gian và miền tần số nằm trong một khe thời gian và một kênh phụ trong miền tần số được gọi là một khối tài nguyên (RB) Một khối tài nguyên là một đơn vị tài nguyên vô tuyến nhỏ nhất được cấp phát cho thiết bị người dùng để truyền dữ liệu Số lượng khối tài nguyên tương ứng với thiết lập băng tần của hệ thống

Ví dụ: 6, 12, 100 khối tài nguyên tương ứng với 1.25MHz, 2.5MHz, 20MHz [30] Hình 1 mô tả tài nguyên vô tuyến

theo miền thời gian và miền tần số của mạng LTE

2.2 Thuật toán lập lịch Round Robin

Ý tưởng của thuật toán lập lịch Round Robin (RR) là cho phép mọi người dùng thay phiên nhau sử dụng tài nguyên chia sẻ (time/RB) mà không quan tâm đến điều kiện kênh truyền Ưu điểm chính của thuật toán lập lịch Round Robin là đảm bảo tính công bằng cho mọi người dùng Với đặc điểm là dễ cài đặt, nên thuật toán lập lịch Round Robin được sử dụng trong rất nhiều hệ thống Do không quan tâm đến điều kiện kênh truyền nên kết quả của thuật toán cho thấy băng thông của người dùng là thấp, dẫn đến băng thông toàn bộ hệ thống là thấp Thuật toán lập lịch Round Robin

có thể được thể hiện bằng Hình 2:

Trang 3

Hình 1 Tài nguyên vô tuyến miền thời gian và miền tần số trong mạng LTE

Hình 2 Thuật toán lập lịch Round Robin

2.3 Thuật toán lập lịch Best-CQI

Hình 3 Mô phỏng thuật toán lập lịch Best-CQI

Như tên gọi của thuật toán, thuật toán Best-CQI (Best Chanel Quality Indicator) lựa chọn người dùng có điều kiện kênh truyền tốt nhất để gán tài nguyên vô tuyến Để thuật toán thực hiện được, mỗi người dùng phải tính toán thông tin về chất lượng kênh truyền (CQI) dựa vào tín hiệu tham chiếu mà trạm cơ sở truyền trước đó và gửi về trạm

cơ sở Giá trị CQI càng lớn, nghĩa là chất lượng kênh truyền càng tốt Dựa vào tín hiệu điều kiện về kênh truyền nhận được, trạm cơ sở sẽ chọn người dùng nào có chất lượng kênh truyền tốt nhất và gán tài nguyên vô tuyến cho người

(Được chọn)

Chất lượng kênh

Trang 4

Hình 4 Thuật toán lập lịch Best-CQI

2.4 Thuật toán lập lịch Proportional Fair

Ý tưởng của thuật toán lập lịch Proportional Fair (PF) là cấp phát nhiều tài nguyên vô tuyến hơn tới người dùng

có điều kiện kênh truyền tốt hơn tại thời điểm truyền với mục tiêu đối đa hóa băng thông của hệ thống, đồng thời đảm bảo sự công bằng giữa các người dùng Trước tiên, thuật toán tính độ ưu tiên của mỗi người dùng tại mỗi tài nguyên vô tuyến, sau đó người dùng với ưu tiên cao nhất sẽ được cấp phát tài nguyên này và thuật toán sẽ tiếp tục với người dùng với độ ưu tiên cao tiếp theo Tiến trình lập lịch kết thúc khi tất cả các tài nguyên vô tuyến được cấp phát tới tất cả người dùng Thuật toán PF được mô tả bằng toán học như sau [9]:

( )

( )

Trong đó K* là người dùng k th

có độ ưu tiên cao nhất tại khe thời gian t th và tại mỗi khối tài nguyên n th R k,n(t), n=1,2, ,N là tốc độ dữ liệu tức thời của người dùng k th tại khe thời gian t thvà khối tài nguyên n th Tốc độ truyền dữ liệu

tức thời tại thời sóng mang con n th tại khe thời gian t thđược tính bằng công thức:

( ) ( ( ))

Trong đó R k,n (t) là tỷ lệ truyền của người dùng k th tại khe thời gian t th , B là băng thông của hệ thống, N là số lượng sóng mang con Giá trị SINR nhận được tại tín hiệu của khối tài nguyên n th

của người dùng k th tại khe thời gian

t th được tính bằng công thức [27]:

( ) ( ) ( )

Trong đó S k,n(t), Hk,n(t) là công suất truyền tải được cấp phát và mức tăng kênh tại sóng mang con n th và khe

thời gian t th , N 0 là mật độ phổ công suất của nhiễu gauss cộng sinh, B là băng thông của hệ thống và N và số lượng sóng mang con Khi đó, thông lượng trung bình T k,n (t) được cập nhật lại theo công thức:

( ) {( ) ( ) ( ) ( )

( ) ( ) ( )

Độ dài tham số t c điều khiển độ trễ của hệ thống Theo thuật toán PF, nếu t c lớn (ví dụ t c = ∞), tài nguyên cấp

phát phụ thuộc vào SINR sẽ đạt max băng thông của hệ thống nhưng không đạt được tính công bằng Nếu t c nhỏ (ví dụ

t c = 1), thuật toán cấp phát tài nguyên giống thuật toán RR[17]

(1)

(2)

(3)

(4)

Trang 5

III MÔ HÌNH MẠNG ĐỘNG ĐỀ XUẤT CHO BÀI TOÁN LẬP LỊCH TRONG MẠNG LTE

Hình 5 Ví dụ về topo mạng trong hệ thống mạng y tế chăm sóc sức khỏe

Trong mạng y tế chăm sóc sức khỏe, khi số lượng thiết bị (cảm biến sinh trắc học ) (IoT) trong mạng tăng nhanh đưa ra một thách thức về truyền thông cho hệ thống Bên cạnh đó, các thiết bị IoT trong mạng có thể ở trạng thái nằm chờ để gửi dữ liệu mà không cần có sự tương tác của con người làm có mạng trở nên phức tạp, không cố định Mặt khác, mô hình mạng y tế chăm sóc sức khỏe động được đề xuất cho bài toán lập lịch trong mạng LTE bên cạnh việc tối ưu hóa băng thông của hệ thống, nhưng vẫn đảm bảo được tính công bằng giữa các thiết bị và tối thiểu năng lượng truyền Trong phần này, một mô hình mạng động được đề xuất cho việc lập lịch trong mạng LTE nhằm khắc

phục các nhược điểm của các hệ thống hiện tại Giả sử mạng động đề xuất gồm K thiết bị cảm biến (người dùng), trong

bài toán này, chúng tôi giả sử các cảm biến đặt cố định trong vùng phủ sóng của trạm cơ sở (eNB), tất cả các cảm biến của cùng một loại Các cảm biến được đặt tại các phòng khám nhằm thu thập thông tin về môi trường, thông tin bệnh nhân và gửi về trạm cơ sở Tín hiệu được gửi và nhận hai chiều giữa trạm cơ sở và cảm biến Hình 5, là ví dụ về topo mạng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe Các thiết bị cảm biến có thể ở trạng thái nhận (bật) tín hiệu hoặc gửi (bật) tín hiệu (có bệnh nhân thăm khám) hoặc trong trạng thái chờ (tắt) (không có bệnh nhân thăm khám) trong khoảng thời

gian t = 1 T Trạng thái bật, tắt của các thiết bị làm thay đổi số lượng thiết bị trong mạng tạo thành mạng động R k,n (t)

là tỷ lệ truyền của người dùng k th tại khe thời gian t th và tại sóng mang con n th Bài toán đặt ra là: lập lịch cho K thiết bị

sao cho thỏa mãn: tối ưu hóa băng thông của hệ thống và đảm bảo tính công bằng cho tất cả các thiết bị này

Hàm mục tiêu:

( ) ∫ ∑ ∑ ( ( ) ( )) Với ràng buộc:

( ) ( ) {

( )

Trong đó, I(t) là tập phòng khám tại thời điểm t, k* là người dùng có tỷ lệ truyền lớn nhất trong khe thời gian t th

và tại sóng mang con n th Nếu ta bỏ qua và không xét đến tính công bằng và không gian địa lý, thì mục tiêu lập lịch là

lựa chọn người dùng có tỷ lệ truyền lớn nhất để ưu tiên cấp phát tài nguyên:

( ) ( ) Trong các ứng dụng yêu cầu thời gian thực, độ trễ được tính toán và thêm vào hàm mục tiêu để tăng tính công bằng:

(5)

(6)

(7)

Trang 6

Theo (11), giá trị SINR càng lớn thì chất lượng kênh truyền càng tốt Do một người dùng có thể nằm trong vùng phủ sóng của nhiều trạm cơ sở, người dùng có thể nhận tín hiệu từ các trạm cơ sở khác nhau, do đó giá trị SINR của người dùng k th tại vùng phủ sóng của trạm cơ sở j có thể chịu ảnh hưởng về năng lượng giao thoa của trạm cơ sở khác

Khi đó, SINR được tính lại theo công thức:

∑ ( )

Ở đó, rk là khoảng cách từ người dùng k th đến trạm cơ sở, là tỷ lệ tín hiệu mất theo khoảng cách, thường

nhận giá trị từ 2 đến 6 (dB) tùy thuộc vào môi trường truyền dẫn, là năng lượng truyền từ trạm cơ sở đến người

dùng k th( ) là năng lượng mà người dùng k th nhận được từ các trạm cơ sở lân cận

Như vậy, để tối đa băng thông và đảm bảo tính công bằng, k th

sẽ được gán cho trạm cơ sở mà ở đó giá trị SINR

là lớn nhất:

( )

IV KẾT LUẬN

Trong bài báo này, nhóm tác giả đã tập trung nghiên cứu về các thuật toán lập lịch tải xuống trong mạng Long Term Evolution và đề xuất một mô hình mạng động ứng dụng trong mạng y tế chăm sóc sức khỏe cho bài toán lập lịch

Mô hình mạng động cho bài toán lập lịch đề xuất có ưu điểm: (1) đảm bảo tối đa băng thông của hệ thống; (2) đảm bảo tính công bằng cho tất cả các người dùng Ngoài ra, mô hình còn chỉ ra ưu điểm trong việc tối ưu hóa bằng thông, thông qua việc xác định chỉ các thiết bị nào truy cập mạng để gửi và nhận dữ liệu mới được đưa vào danh sách các thiết

bị được lập lịch

Từ nghiên cứu đạt được, nhóm tác giả đưa ra gợi ý các hướng có thể phát triển trong tương lai như: i) mở rộng

mô hình bài toán với các thiết bị có sự di chuyển; ii) tính toán sự ảnh hưởng của địa hình đến chất lượng kênh truyền trong mạng động Kết quả của bài báo cũng sẽ là tiền đề để nhóm tiếp tục cải tiến mô hình trong các nghiên cứu tiếp theo nhằm hiện thực hóa bài toán lập lịch bệnh nhân trong các bệnh viện tại Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Amelina, Natalia, Alexander Fradkov, Yuming Jiang, and Dimitrios J Vergados "Approximate consensus in stochastic networks with application to load balancing." IEEE Transactions on Information Theory 61, no 4, 1739-1752, 2015

[2] Atzori, L., A Iera, and G Morabito "The Internet of things: a survey.” Computer Network, 54 (15): 2787–2805,

2010

[3] Bahillo Martinez, A., "Evaluation of multiuser scheduling algorithm in OFDM for different services." Master's thesis, Institutt for elektronikk og telekommunikasjon, 2006

[4] Bechir, N., Nasreddine, M., Mahmoud, A., Walid, H and Sofien, M., “Novel Scheduling Algorithm for 3gpp Downlink LTE cellular network” Procedia Computer Science, 40, pp.116-122, 2014

[5] Changyan Yi and Jun Cai, “A Truthful Mechanism for Scheduling Delay-Constrained Wireless Transmissions in IoT-Based Healthcare Networks” IEEE Transactions on Wireless Communications, 18(2), IEEE, pp.912-925,

2019

(12)

(13)

Trang 7

[6] Dahlman, E., Parkvall, S., Skold, J and Beming, P., “3G evolution: HSPA and LTE for mobile broadband” Academic press, 2010

[7] Dastjerdi, Amir Vahid, and Rajkumar Buyya "Fog computing: Helping the Internet of Things realize its potential." Computer 49, no 8: 112-116, 2016

[8] Dhar, Sourav Kumar, Suman Sankar Bhunia, and Nandini Mukherjee "Interference aware scheduling of sensors

in IoT enabled health-care monitoring system." In 2014 Fourth International Conference of Emerging Applications of Information Technology, pp 152-157 IEEE, 2014

[9] Dikamba T., “Downlink Scheduling in 3GPP Long Term Evolution (LTE)” MSc Thesis, TUDelft, March 2011 Delft University of Technology (2011)

[10] Elsasser, Robert, Burkhard Monien, and Stefan Schamberger "Load balancing in dynamic networks." In 7th International Symposium on Parallel Architectures, Algorithms and Networks, 2004 Proceedings, pp 193-200 IEEE, 2004

[11] Hassanalieragh, Moeen, Alex Page, Tolga Soyata, Gaurav Sharma, Mehmet Aktas, Gonzalo Mateos, Burak Kantarci, and Silvana Andreescu "Health monitoring and management using Internet-of-Things (IoT) sensing with cloud-based processing: Opportunities and challenges." In 2015 IEEE International Conference on Services Computing, pp 285-292 IEEE, 2015

[12] Karaoglu, Bora, and Wendi Heinzelman "Cooperative load balancing and dynamic channel allocation for cluster-based mobile ad hoc networks." IEEE transactions on mobile computing 14, no 5, 951-963, 2015

[13] Khan, Sarfraz Fayaz "Health care monitoring system in Internet of Things (IoT) by using RFID." In 2017 6th International Conference on Industrial Technology and Management (ICITM), IEEE pp 198-204, 2017

[14] Lee, In, and Kyoochun Lee "The Internet of Things (IoT): Applications, investments, and challenges for enterprises." Business Horizons 58, no 4: 431-440, 2015

[15] Mahmoud, Rwan, Tasneem Yousuf, Fadi Aloul, and Imran Zualkernan "Internet of things (IoT) security: Current status, challenges and prospective measures." In 2015 10th International Conference for Internet Technology and Secured Transactions (ICITST), pp 336-341 IEEE, 2015

[16] Mahmoud, Rwan, Tasneem Yousuf, Fadi Aloul, and Imran Zualkernan "Internet of things (IoT) security: Current status, challenges and prospective measures." In 2015 10th International Conference for Internet Technology and Secured Transactions (ICITST), pp 336-341 IEEE, 2015

[17] Mishra, Nilamadhab, Chung-Chih Lin, and Hsien-Tsung Chang "A cognitive adopted framework for IoT big-data management and knowledge discovery prospective." International Journal of Distributed Sensor Networks 11, no 10: 718390 2015

[18] Oh, Se-Ra, and Young-Gab Kim "Security requirements analysis for the IoT." In 2017 International Conference

on Platform Technology and Service (PlatCon), pp 1-6 IEEE, 2017

[19] Olivier, Flauzac, Gonzalez Carlos, and Nolot Florent "New security architecture for IoT network." Procedia Computer Science 52: 1028-1033, 2015

[20] P Castillejo, J F Martinez,J Rodriguez-Molina,A.Cuerva, “Integration of wearable devices in a wireless sensor network for an E-health application” IEEE Wireless Communications, vol 20, pp 38-49, 2013

[21] Rahmani, Amir M., Tuan Nguyen Gia, Behailu Negash, Arman Anzanpour, Iman Azimi, Mingzhe Jiang, and Pasi Liljeberg "Exploiting smart e-Health gateways at the edge of healthcare Internet-of-Things: A fog computing approach." Future Generation Computer Systems 78: 641-658, 2018

[22] Sivaraman, Vijay, Hassan Habibi Gharakheili, Arun Vishwanath, Roksana Boreli, and Olivier Mehani "Network-level security and privacy control for smart-home IoT devices." In 2015 IEEE 11th International conference on wireless and mobile computing, networking and communications (WiMob), pp 163-167 IEEE, 2015

[23] Verma, Shikhar, Yuichi Kawamoto, Zubair Md Fadlullah, Hiroki Nishiyama, and Nei Kato "A survey on network methodologies for real-time analytics of massive IoT data and open research issues." IEEE Communications Surveys & Tutorials 19, no 3: 1457-1477, 2017

[24] Viswanath, P., Tse, D N C., & Laroia, R., “Opportunistic beamforming using dumb antennas” In Proceedings IEEE International Symposium on Information Theory, (p 449) IEEE, 2002

[25] Wali, Prashant K., and Debabrata Das., "A novel access scheme for IoT communications in LTE-Advanced network." In 2014 IEEE International Conference on Advanced Networks and Telecommuncations Systems (ANTS), pp 1-6 IEEE, 2014

[26] Wan, Jiafu, Baotong Chen, Muhammad Imran, Fei Tao, Di Li, Chengliang Liu, and Shafiq Ahmad "Toward dynamic resources management for IoT-based manufacturing." IEEE Communications Magazine 56, no 2:

52-59, 2018

Trang 8

PROBLEM BASED ON LONG TERM EVOLUTION NETWORK

Le Minh Tuan, Le Hoang Son, Pham Thi Minh Phuong, Vu Nhu Lan, Dang Thanh Hai, Dinh Thu Khanh

ABSTRACT: Nowadays, sensor networks are widely used in areas such as health, transportation, manufacturing industry, even

agriculture In hospitals, sensors are located in clinics to monitor the number of patients who come for medical examination and treatment In treatment, patients carry biometric sensors to monitor their health The data collected from the sensors will be sent to the processing center Post-processing data will be scheduled to communicate to user devices such as PAD, smartphone via wired

or wireless network such as 3G, 4G (LTE) Based on the information received, patients may be recommended to move to another clinic in their process, or assist the Doctor gives right decisions in making treatment In the Long Term Evolution network (LTE), quality of service (QoS) is the main factor that ensures information is scheduled to be delivered to the correct service equipment with minimal latency, low packet loss rates and fairness among users In fact, the nodes in the sensor network can sleep or wake up,

so they make the network structure change all the time When the number of sensor increases, resource scheduling in the LTE network is a challenge to ensure QoS In this paper, we propose a dynamic model for resource scheduling problem in LTE network The proposed model not only improves the service quality but also a part of smart hospitals

Keywords: sensor, schedule, healthcare, smart hospital, LTE

Ngày đăng: 01/10/2021, 15:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w