Bài viết Hệ sinh thái nông nghiệp và vấn đề thích ứng với biến đổi khí hậu tại huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang cho thấy các tác nhân của biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp là: xâm nhập mặn, khô hạn, triều cường (giai đoạn 2005-2016, diện tích đất lúa bị ảnh hưởng 2.381 ha, thiệt hại khoảng 55,91 tỷ đồng). Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1HỆ SINH THÁI NÔNG NGHIỆP VÀ
VẤN ĐỀ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
hệ giữa hệ sinh thái nông nghiệp và vấn đề thích ứng BĐKH, tác giả
đã sử dụng phương pháp thu thập, tham khảo thông tin số liệu thứ cấp
và phương pháp phỏng vấn hộ Kết quả nghiên cứu cho thấy, các tác nhân của BĐKH đã ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp là: xâm nhập mặn, khô hạn, triều cường (giai đoạn 2005-2016, diện tích đất lúa bị ảnh hưởng 2.381 ha, thiệt hại khoảng 55,91 tỷ đồng) Để thích ứng với những tác động tiêu cực đó, hệ xã hội đã có vận động thay đổi để thích nghi: tại tiểu vùng sinh thái ven biển và tiểu vùng sinh thái ven sông không thuận lợi về nguồn nước ngọt, để thích nghi với xâm nhập mặn, triều cường, người nông dân đã phát triển các mô hình nuôi trồng thủy sản mặn lợ để tận dụng nguồn nước mặt Tại những khu vực canh tác lúa bị thiếu nước vào mùa khô hạn, họ đã chuyển sang trồng các cây trồng cạn (rau màu, trồng cỏ nuôi bò) có hiệu quả kinh tế cao hơn, còn khu vực ít bị ảnh hưởng bởi BĐKH, diện tích lúa vẫn được duy trì để đảm bảo an ninh lương thực; đối với tiểu vùng sinh thái nội đồng thuận lợi về nguồn nước ngọt cho sản xuất nông nghiệp và ít chịu ảnh hưởng bởi BĐKH thì các hệ canh tác nông nghiệp phổ biến là: trồng lúa 2 vụ, lúa 3 vụ, trồng chuyên canh rau màu hoặc luân canh rau màu trên đất trồng lúa, nuôi cá nước ngọt, chăn nuôi bò, dê, trồng cây ăn trái (Sơri) Hệ thống canh tác độc canh có tính bền vững thấp hơn so với hệ thống canh tác đa canh
Trang 2Hệ sinh thái nông nghiệp là một hệ sinh thái điển hình của huyện
Gò Công Đông, lao động tham gia vào hệ sinh thái chiếm 82,3% lao động của toàn huyện (UBND huyện Gò Công Đông, 2015) Lúa nước
là cây trồng nông nghiệp chính của huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang Năm 2015, diện tích canh tác là 10.797,3 ha, chiếm 56,65% diện tích đất nông nghiệp của huyện (Phòng TN&MT huyện Gò Công Đông, 2015), là cây lương thực có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội Sản xuất lúa nước của huyện không những ổn định đời sống của người trồng lúa, mà còn góp phần đảm bảo an ninh lương thực và cung ứng một phần cho xuất khẩu
Trong quá trình sản xuất, người nông dân tại huyện Gò Công Đông đã thực thi và phát triển các mô hình nông nghiệp sinh thái bền vững thân thiện với môi trường, phù hợp với điều kiện tự nhiên
và thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất Từ đó, đã tạo nên một hệ sinh thái nhân văn nông nghiệp và có tương tác qua lại với môi trường xung quanh, đặc biệt là tương tác với biến đổi khí hậu (BĐKH)
Bài viết này trình bày mối qua hệ giữa hệ sinh thái nông nghiệp và vấn đề thích ứng với BĐKH, nhằm làm rõ tác động của BĐKH, biến đổi tự nhiên đến sử dụng đất nông nghiệp và sự thay đổi của hệ xã hội,
để thích ứng, sống chung và cùng đồng hành với BĐKH, đồng thời, làm rõ những tính chất cơ bản của hệ sinh thái nông nghiệp trên một địa bàn nghiên cứu cụ thể Đây là một điểm mới về vấn đề thích ứng với BĐKH trên cơ sở hệ sinh thái nhân văn, là cơ sở khoa học quan trọng cho việc xây dựng các giải pháp sử dụng hiệu quả đất lúa nước trong bối cảnh BĐKH diễn ra phức tạp, khó lường
Trang 31 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Phương pháp thu thập và tham khảo thông tin thứ cấp
Tác giả tiến hành thu thập thông tin từ các nguồn có sẵn và tiến hành phân tích tài liệu, số liệu thứ cấp, để nắm bắt được các vấn đề liên quan đến vấn đề nghiên cứu Các nguồn thu thập thông tin thứ cấp bao gồm: các tác giả, nhà khoa học, các viện nghiên cứu, trường đại học, các cơ quan quản lý và địa phương
1.2 Phương pháp phỏng vấn hộ
Phỏng vấn để thu thập thông tin về thực trạng sử dụng đất lúa, kinh nghiệm và tri thức địa phương của hệ xã hội và vấn đề thích ứng với BĐKH Để thực hiện nội dung này, tác giả đã tiến hành phỏng vấn
90 phiếu điều tra các hộ Cách chọn hộ điều ra được bố trí theo các tiểu vùng sinh thái như sau: tiểu vùng sinh thái ven biển: xã Tân Thành (30 phiếu điều tra); tiểu vùng sinh thái ven sông: xã Phước Trung (30 phiếu); tiểu vùng sinh thái nội đồng: xã Bình Nghị (30 phiếu) để thấy rõ sự thay đổi các hệ thống canh tác mà hệ xã hội thực thi để thích ứng với những BĐKH của từng tiểu vùng
2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
2.1 Ranh giới giữa hệ tự nhiên và hệ xã hội
2.1.1 Hệ tự nhiên
Gò Công Đông là vùng đất nằm giữa 3 cửa sông lớn: cửa Tiểu, cửa Đại (thuộc sông Tiền) và cửa sông Vàm Cỏ, phía Đông có bờ biển bằng phẳng dài 32 km tiếp giáp Biển Đông Đây đều là những hệ sinh thái mở là nơi đón nhận những tác động từ Biển Đông vào đất liền và cũng là nơi tiếp nhận những nguồn nước từ hệ thống sông từ đất liền
đổ ra biển (UBDN huyện Gò Công Đông, 2015)
Đất đai là nguồn tài nguyên quan trọng của hệ tự nhiên, đặc biệt là nguồn tài nguyên đất nông nghiệp Theo số liệu thống kê của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Gò Công Đông năm 2015, diện tích đất nông nghiệp của huyện là 19.058,68 ha, chiếm 69,75% diện tích tự nhiên Trong hệ thống đất nông nghiệp, đất lúa nước có diện tích lớn nhất 10.797,30 ha, chiếm 56,65% diện tích đất nông nghiệp và chiếm 39,52% diện tích đất tự nhiên (Phòng TN&MT huyện Gò Công Đông, 2015) (Bảng 1)
Trang 4Bảng 1 Diện tích các loại đất trên địa bàn huyện Gò Công Đông
Nguồn: Phòng TN&MT huyện Gò Công Đông, 2015
Hình 1 Sơ đồ vị trí nghiên cứu
Nguồn: UBND huyện Gò Công Đông, 2008; ảnh vệ tinh từ Google Earth, truy cập
Trang 5Đất lúa nước có ở tất cả 13 xã, thị trấn của huyện, các xã có diện tích đất lúa lớn là xã Tân Thành 1.300 ha, xã Kiểng Phước 1.250,3 ha,
xã Tân Điền 1.174 ha, thị trấn Vàm Láng có diện tích đất lúa ít nhất, chỉ 80 ha (Hình 2)
Hình 2 Biểu đồ diện tích đất lúa huyện Gò Công Đông năm 2015
phân theo đơn vị hành chính (xã, thị trấn)
Nguồn: Điều tra thực địa, 2016
Tác động của biến đổi khí hậu: Các xã thuộc tiểu vùng sinh thái ven sông (Vàm Láng, Gia Thuận, Tân Phước, Tăng Hòa, Tân Hòa)
và tiểu vùng sinh thái ven biển (Tân Thành, Tân Điền, Kiểng Phước) chịu ảnh hưởng nhiều nhất, vì đây là những khu vực điểm cuối của nguồn nước ngọt từ dự án ngọt hóa Gò Công, nên lượng nước ngọt đến muộn, cùng với mưa đến trễ, gây ra khô hạn, làm xâm nhập mặn đến sớm hơn, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa Hiện tượng mưa bão xuất hiện bất thường khó dự đoán, nhưng thiệt hại bão gây ra là vô cùng lớn, không những ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất lúa, mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế và an toàn mạng sống của người dân nơi đây
(ha)
Trang 6Bảng 2 Lịch sử biến đổi khí hậu trên địa bàn huyện Gò Công Đông
BĐKH 1990 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 Ngập
Nguồn: Tổng hợp từ Phòng NN&PTNT huyện Gò Công Đông, 2005, 2015.
Đối với các xã thuộc khu vực ven biển, hiện tượng triều cường, nước biển dâng cao thường xuất hiện vào tháng 10 âm lịch năm trước đến tháng 2 âm lịch năm sau, thời gian này gió thổi rất mạnh
từ biển vào, làm ảnh hưởng đến lúa ở giai đoạn đang trổ bông (làm
tỷ lệ số hạt trên bông giảm), nên năng suất lúa ở một số khu vực thường thấp, khoảng 4 tấn/ha Các xã thuộc tiểu vùng sinh thái nội đồng (Tân Tây, Tân Đông, Bình Ân, Bình Nghị, Phước Trung) gần nguồn nước ngọt, cùng với điều kiện thủy lợi thuận lợi hơn, nên sản xuất lúa ít bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn, khô hạn (Hà Văn Định
và cs., 2016)
Xu thế biến đổi lượng mưa: Theo báo cáo của Trung tâm Khí tượng Thủy văn tỉnh Tiền Giang (2013), lượng mưa trong các thập niên có xu thế ngày càng có cường độ lớn hơn và tần suất xuất hiện nhiều hơn (tại Mỹ Tho thời kỳ 1978-1991, lượng mưa trung bình năm là 1.238 mm, các năm 2002-2011, lượng mưa trung bình 1.441 mm)
Trang 7Bảng 3 Xu thế biến đổi lượng mưa trên địa bàn
huyện Gò Công Đông
Mùa mưa Năm
Nguồn: Trung tâm Khí tượng Thủy văn tỉnh Tiền Giang, 2000 - 2015
Trong 5 năm (2010-2015), lượng mưa trung bình có xu thế giảm dần,
ít hơn trung bình nhiều năm, đặc biệt năm 2015, tổng lượng mưa ghi nhận thấp đứng hàng thứ 3 trong chuỗi số liệu (khoảng 30 năm), bên cạnh lượng mưa có xu hướng giảm, mùa mưa có xu hướng đến muộn hơn khoảng 10-15 ngày và kết thúc sớm hơn khoảng 25-30 ngày
Xu thế xâm nhập mặn: Theo số liệu thống kê của Trung tâm Khí tượng Thủy văn tỉnh Tiền Giang (2012), tình hình xâm mặn đo được tại trạm Vàm Kênh (xã Tân Thành, huyện Gò Công Đông) cho thấy: thời gian xâm mặn tại huyện Gò Công Đông thường bắt đầu từ tháng
II và kéo dài đến tháng VII hàng năm Tháng có độ mặn cao nhất thường diễn ra trong tháng III, tháng IV hàng năm Trong 12 năm qua, tháng có độ mặn cực đại là tháng III năm 2005, có số liệu đo được là 29,8 g/lít, trong khi vào năm 2000, độ mặn tháng cao nhất là tháng IV
là 22,7 g/lít, nguyên nhân là do những tháng này khô hạn thường kéo dài Giai đoạn 2013-2015, mặn đã xuất hiện sớm hơn trung bình nhiều năm, trung bình nhiều năm mặn bắt đầu xuất hiện ở Trạm Thủy văn Hòa Bình từ đầu tháng II, nhưng năm 2013, mặn xuất hiện 1 g/lít ngày trong tháng I (Võ Văn Thông, 2013); năm 2014, mặn xuất hiện vào
Trang 8tháng XII; trong năm 2015, mặn xuất hiện rất sớm vào ngày 20/11
(Nguyễn Văn, 2015)
Xu thế khô hạn: Tình trạng khô hạn xảy ra trong mùa khô các năm
1998, 1999, 2003, 2010, 2012 (Nguyễn Thị Tuyết Hồng, 2014) và diễn ra nặng nhất vào vụ đông xuân năm 2015-2016 do kết thúc mưa sớm, nắng nóng kéo dài, không khí khô hanh, lượng mưa đầu mùa và cuối mùa rất ít, mặn xâm nhập sâu và kéo dài, mực nước kênh mương trong hệ thống ngọt hóa xuống thấp, các kênh nội đồng cạn kiệt, gây nên tình trạng thiếu nước sản xuất và sinh hoạt, thiệt hại nhiều về kinh
tế vùng nông thôn Tuy nhiên vào thời điểm cuối vụ đông xuân, thường thiếu nước và chất lượng nước xấu, thường ở những khu vực nhạy cảm, cặp đê ở các xã Phước Trung, Tăng Hòa, Tân Thành, Tân Điền, Kiểng Phước, thị trấn Vàm Láng, Tân Phước và Gia Thuận Ngập úng cục bộ: Ngập úng cục bộ chỉ xảy ra ở khu vực nội đồng
xã Tân Thành và xã Tân Điền, do đây là khu vực có địa hình trũng, cùng với hệ thống thoát nước của các công trình thủy lợi chưa đảm
bảo yêu cầu
2.1.2 Hệ xã hội
Theo Lê Trọng Cúc (2015), dân số, đặc biệt là tốc độ tăng dân số
và mật độ dân số, là những nhân tố quan trọng trong mối liên hệ giữa
hệ xã hội và hệ sinh thái Năm 2015, dân số của huyện Gò Công Đông
là 140.922 người, với mật độ dân số khoảng 516 người/km2, tốc độ tăng dân số giai đoạn 2010-2015 trung bình khoảng 1,22%/năm (năm 2010: dân số của huyện là 143.418 người) (Chi cục Thống kê huyện
Gò Công Đông, 2015), huyện là nơi tụ sinh của các thế hệ người Việt, Hoa và Khơme từ lâu đời (Phạm Lan Oanh, 2016) Tốc độ gia tăng dân số có tác động rất lớn đến hệ sinh thái nông nghiệp, đặc biệt là quá trình sử dụng đất như: chuyển mục đích đất nông nghiệp sang xây dựng nhà cửa, hạ tầng kỹ thuật; Gia tăng nhu cầu tiêu dùng thực phẩm
từ hệ sinh thái nông nghiệp (lúa gạo, rau quả, cá, thịt) sẽ làm gia tăng sức sản xuất của hệ Theo Nguyễn Võ Linh (2012), nhu cầu tiêu thụ gạo bình quân đầu người năm 2015 khoảng 120 kg/người/năm
Về cơ cấu lao động: Mặc dù cơ cấu lao động đang có xu hướng chuyển dịch theo hướng giảm dần lao động nông nghiệp, tăng dần lao động dịch vụ công nghiệp để đảm bảo mục tiêu công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Tại huyện Gò Công Đông, cơ cấu lao động nông nghiệp vẫn chiếm vai trò chủ đạo Năm 2015, tỷ lệ lao động các ngành kinh tế như sau: cơ cấu lao động ngành nông nghiệp 83,2%, công nghiệp và xây dựng 2,4% và dịch vụ 4,4% (UBND huyện Gò Công Đông, 2015)
Trang 9Sự tham gia của giới trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp: Vấn
đề giới trong phân công lao động: Trong sử dụng đất lúa nước, nam giới thường làm các công việc nặng nhọc, như cày, bừa, phun thuốc Phụ nữ thường tham gia các công việc chọn giống, chăm sóc (Phạm Ngọc Nhàn
và cs., 2014) Cụ thể, tại huyện Gò Công Đông, tỷ lệ phụ nữ tham gia làm đất chỉ chiếm 2,9%, trong khi nam giới chiếm tỷ lệ khá cao cho công việc này (58,5%), cả hai tham gia làm đất chỉ chiếm 9,0% Công việc thu hoạch sản phẩm, như phơi lúa đòi hỏi sử dụng ít công sức, phụ nữ đảm nhận cao nhất (chiếm 21,5%), cả hai cho hoạt động phơi lúa chiếm 56,5% và tỷ lệ thuê mướn (người khác) thấp nhất 2,0%
Bảng 4 Mức độ tham gia của giới trong sử dụng đất lúa
Người tham gia chính (%) Loại công việc
Nữ giới Nam giới cùng làm Cả hai Đi thuê ngoài
Nguồn: Điều tra thực địa, 2015
Tình trạng dễ bị tổn thương của cộng đồng: Tính tổn thương của cộng đồng có liên quan đến vị trí địa lý Đối với cộng đồng dân cư khu vực ven biển, đời sống và sản xuất nông nghiệp thường bị tác động bởi triều cường xâm nhập mặn và vấn đề khô hạn, do đây là tiểu vùng nằm xa nguồn nước ngọt nhất; tiếp theo là cộng đồng dân cư khu vực ven sông thường bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn và khô hạn, do
Trang 10cũng nằm xa nguồn nước ngọt; tiểu vùng sinh thái nội đồng là khu vực gần nguồn nước ngọt nhất, nên đời sống và sản xuất nông nghiệp của vùng ít bị ảnh hưởng bởi khô hạn và xâm nhập mặn
Bên cạnh đó, do đặc thù của ngành nông nghiệp là hiệu quả sản xuất
và tính ổn định của các hệ canh tác phụ thuộc rất lớn vào thị trường đầu
ra của sản phẩm Nếu sản phẩm nào được doanh nghiệp ký kết bao tiêu sản phẩm thì hệ canh tác đó sẽ ổn định Còn các sản phẩm không được doanh nghiệp bao tiêu thì do thương lái quyết định thì sản phẩm đầu ra sẽ khó khăn, thường bị thương lái ép giá hoặc thậm chí sẽ không tiêu thụ được nếu thị trường bất ổn, sản phẩm dư thừa quá mức Do đó, sẽ làm gia tăng tính tổn thương cho cộng đồng những người sản xuất
2.2 Hệ xã hội vận động để thích ứng với sự thay đổi của tự nhiên (trong đó có những tác động của biến đổi khí hậu)
2.2.1 Tính đa dạng và thích nghi của hệ thống
Theo Lê Trọng Cúc (2015), trong các hệ sinh thái nông nghiệp, tính đa dạng thường được biểu thị bằng số lượng các loài hay giống cây trồng khác nhau trong thành phần của hệ Tính đa dạng được xem như là một chỉ tiêu quan trọng, nó cho phép hạn chế rủi ro cho người nông dân và duy trì được chế độ tự cấp, tự túc ở mức tối thiểu khi nhiều hoạt động của họ bị thất bại Tính thích nghi liên quan đến khả năng phản ứng của hệ với những thay đổi của môi trường, để đảm bảo cho sự tồn tại liên lục cho chính bản thân hệ
Tại huyện Gò Công Đông, sự thay đổi hệ thống thủy lợi của con người để ứng phó với những bất lợi của biến đổi tự nhiên, tác động của biến đổi khí hậu và đồng thời đa dạng hóa hệ thống canh tác nông nghiệp:
+Trước năm 1995, khi chưa có Dự án ngọt hóa Gò Công, sản xuất nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế trọng yếu của huyện Gò Công Đông, nhưng lại hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên, nhất là phụ thuộc vào tình hình hạn mặn quanh năm, khiến cây lúa mỗi năm chỉ sản xuất được một vụ bấp bênh, năng suất thấp, đời sống người dân rất cơ cực, vất vả, phải tha phương làm thuê, làm mướn khắp nơi
+Hệ thống canh tác nông nghiệp huyện Gò Công Đông có sự thay đổi nhanh chóng về diện tích và sự đa dạng hóa về các kiểu sử dụng đất từ khi dự án ngọt hóa Gò Công đi vào hoạt động Trước giai đoạn ngọt hóa (trước năm 1980), sử dụng đất lúa chủ yếu là canh tác 1 vụ