1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng ngân hàng trung ương và thi hành chính sách tiền tệ vai trò của NHTW trong điều hành CSTT để kiềm chế lạm phát và ổn định nền kinh tế

27 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 482 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A, KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHTW 3 I, Khái niệm 3 II, Chức năng của ngân hàng trung ương 4 III, Công cụ chính 5 B, THỰC TRẠNG NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ THI HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ. VAI TRÒ CỦA NHTW TRONG ĐIỀU HÀNH CSTT ĐỂ KIỀM CHẾ LẠM PHÁT VÀ ỔN ĐỊNH NỀN KINH TẾ 7 I. Giai đoạn 2005 2008: NHTW thực hiện chính sách thắt chặt. 7 II, Giai đoạn từ năm 2010 đến nay 11 C, GIẢI PHÁP CỦA NHTW 16 I, Một số bất ổn của hệ thống ngân hàng 16 II, Một số giải pháp phát triển ổn định và lành mạnh hệ thống ngân hàng 21

Trang 1

NHTW VÀ VAI TRÒ CỦA NHTW

TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn: Phạm Thành Đạt Sinh Viên: Bùi Văn Đông : 1112 Nguyễn Anh Tuấn: 11124378

Đỗ Vân Anh: 11120315 Cao Xuân Bách: 11120318

Trang 2

Mục lục

A, KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHTW 3

I, Khái niệm 3

II, Chức năng của ngân hàng trung ương 4

III, Công cụ chính 5

B, THỰC TRẠNG NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ THI HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VAI TRÒ CỦA NHTW TRONG ĐIỀU HÀNH CSTT ĐỂ KIỀM CHẾ LẠM PHÁT VÀ ỔN ĐỊNH NỀN KINH TẾ 7

I Giai đoạn 2005- 2008: NHTW thực hiện chính sách thắt chặt 7

II, Giai đoạn từ năm 2010 đến nay 11

C, GIẢI PHÁP CỦA NHTW 16

I, Một số bất ổn của hệ thống ngân hàng 16

II, Một số giải pháp phát triển ổn định và lành mạnh hệ thống ngân hàng 21

Trang 3

A, KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHTW

I, Khái niệm

NHTW Việt Nam là ngân hàng trực thuộc chính phủ, đảm trách việc pháthành tiền tệ, quản lí tiền tệ và tham mưu chính sách liên quan đến tiền tệ chochính phủ

Mô hình tổ chức của NHTW Việt Nam

Chịu sự chỉ đạo của các khối là các vụ, cụ thể là:

- Khối chính sách: Vụ chính sách tiền tệ, vụ chiến lược phát triển, vụquản lí ngoại hối, vụ quan hệ quốc tế

- Khối nghiệp vụ: Vụ tài chính kế toán, vụ tín dụng, sở giao dịch, banquản lí dự án

- Khối điều hành: Văn phòng, cục công nghệ tin học ngân hàng

- Khối thanh tra kiểm soát: Thanh tra ngân hàng, vụ các ngân hàng, vụpháp chế, vụ các tổ chức tín dụng hợp tác

II, Chức năng của ngân hàng trung ương

Trang 4

2.1 Phát hành và điều tiết lưu thông tiền tệ:

- Giữ độc quyền phát hành giấy bạc ngân hàng và tiền kim loại

- Tham gia kiểm soát chặt chẽ việc tạo tiền của NHTM và TCTD

2.2.Ngân hàng của các ngân hàng

- Quản lí tài khoản nhận tiền gửi của các NHTM,TCTD

- Cho vay đối với NHTM,TCTD

-Tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt

-Quản lí, kiểm soát hoạt động đối với NHTM, TCTD

2.3 Ngân hàng nhà nước

- NHTW thuộc sở hữu của nhà nước

- Xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia

- Mở tài khoản, giao dịch với kho bạc NN

- Tổ chức thanh toán giữa kho bạc NN với các NH

- Cung cấp tín dụng và tạm ứng cho NHNN

- Thay mặt chính phủ làm đại diện tại các tổ chức tài chính tiền tệ quốctế

III, Công cụ chính

Trang 6

B, THỰC TRẠNG NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ THI HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VAI TRÒ CỦA NHTW TRONG ĐIỀU HÀNH CSTT ĐỂ KIỀM CHẾ LẠM PHÁT VÀ

- 6,5%/năm

- Nghiệp vụ thị trường mở: Giao dịch 3 phiên/tuần, chủ yếu là chào mua,

là công cụ chủ yếu hỗ trợ vốn khả dụng cho các NHTM, có 116 phiên giaodịch

- Nghịêp vụ chiết khấu và tái cấp vốn: NHNN đã thực hiện nghiệp vụ táicấp vốn theo hạn mức chiết khấu Nhiều NHTM đã sử dụng hết hạn mức chiếtkhấu được thông báo để đáp ứng nhu cầu vốn khả dụng

- Tỷ giá được điều chỉnh giảm giá nhẹ đồng VND so với đồng USDnhằm khuyến khích xuất khẩu, góp phần kiểm soát nhập khẩu

Nhìn chung, chính sách tiền tệ năm 2005 đã có những đóng góp tích cựcnhất định cho việc hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô Tuynhiên, cũng còn một số vấn đề chính sách cần được lưu ý

Trước hết, thị trường tín dụng của các khu vực NHTM nhà nước và cổphần năm 2005 cho thấy lãi suất cho vay tăng, song ít có tác động hạn chế cầutín dụng trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế nhanh và lãi suất thực thấp, mà

Trang 7

chỉ chủ yếu làm dịch chuyển phần nào cầu tín dụng bằng ngoại tệ sang cầu tíndụng bằng VNĐ (lưu ý là tốc độ tăng tín dụng bằng ngoại tệ năm 2004 caohơn nhiều so với năm 2003 và cũng cao hơn tốc độ tăng tín dụng bằng VNĐ).Điều này phần nào phản ánh hiệu lực chính sách lãi suất của NHNN còn hạnchế, do thị trường tiền tệ chưa hoàn thiện và thị trường vốn còn không ít méomó.

Trên thực tế, NHNN đã thiên về mục tiêu ngắn hạn hơn là cân nhắc đầy

đủ hơn đến các mục tiêu dài hạn Điều này đang hạn chế khả năng điều chỉnhlinh hoạt chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá trước những biến động kinh tế

vĩ mô, nhất là trong bối cảnh lạm phát có khả năng còn đứng ở mức tương đối

1.2 Năm 2006:

- VN vẫn tiếp tục phải đối phó với lạm phát ngày càng tăng cao Chínhphủ tiếp tục duy trì và thực hiện linh hoạt chính sách tiền tệ thắt chặt đã ápdụng từ cuối 2005 nhằm kiềm chế lạm phát, góp phần ổn định môi trườngkinh tế vĩ mô, tạo thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế

- NHNN vẫn giữ nguyên các mức lãi suất chính thức nhằm tránh phát tínhiệu làm tăng lãi suất thị trường, giữ nguyên tỷ lệ dự trữ bắt buộc để giảm áplực tăng lãi suất huy động trên thị trường, tiếp tục thực hiện cơ chế tỷ giá thảnổi có quản lý

- Kết quả: tổng phương tiện thanh toán năm 2006 đã được giữ ở mứctăng 33,59% so với năm 2005, nhưng vẫn cao hơn so với mức tăng 29,65%của năm 2005; tín dụng tăng chậm lại nhưng chất lượng tín dụng được nângcao; kim ngạch xuất nhập khẩu tăng tăng 22,2%; tốc độ tăng GDP đạt 8,17%,tốc độ tăng CPI giảm còn 6,6%

Trang 8

1.3 Năm 2007 :

- NHTW điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc gấp 1,5 – 2 lần, kiểm soáttăng trưởng tổng phương tiện thanh toán, kiểm soát tín dụng rất chặt chẽ đểhạn chế mức độ dư thừa vốn khả dụng của các TCTD, giảm sức ép tăng lạmphát trong những tháng cuối năm

- Giữ nguyên mức lãi suất như lãi suất cơ bản là 8,25%/năm, lãi suất táicấp vốn là 6,5%/năm, lãi suất chiết khấu là 4,5%/năm, lãi suất qua đêm

- NHNN yêu cầu các TCTD thực hiện kiểm soát tín dụng, khống chế dư

nợ cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán ở mức dưới 3% tổng dư nợ tíndụng

- Bên cạnh việc đưa 144.000 tỷ VND ra thị trường để mua 9 tỷ USD tăng

dự trữ ngoại hối; NHNN đã nới lỏng biên độ tỷ giá từ +/- 0,25% lên +/-0,5%

và đến 12/12/2007, tiếp tục nới rộng biên độ lên +/-0,75% nhằm giảm áp lựclạm phát, tăng tính chủ động cho các TCTD trong hoạt động kinh doanh ngoạitệ

- NHNN đã quản lý an toàn dự trữ ngoại hối Nhà nước, đáp ứng mụctiêu thanh khoản và sinh lời ở mức độ nhất định Tổng dự trữ ngoại hối Nhànước tính theo tuần nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ tăng từ mức 13,6 tuần vàothời điểm cuối năm 2006 lên gần 18 tuần năm 2007

- Với việc thực thi CSTT như trên về cơ bản đạt được mục tiêu đề ra là

ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợvốn tạo môi trường thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế

- Kết quả là tăng trưởng GDP năm 2007 đạt 8,48%, nhưng lạm phát cũngtăng từ 7,45% lên 8,3% Qui mô thị trường tiền tệ mở rộng và ổn định, không

để xẩy ra những cú sốc về lãi suất và tỷ giá trước những biến động khó lườngcủa tình hình thị trường tài chính quốc tế

Trang 9

Nhìn chung, năm 2007 thực thi CSTT của NHNN là cực kỳ khó khăn bởitác động bất lợi của dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam quá lớn trongnăm, cùng với những diễn biến phức tạp của giá cả những mặt hàng chủ yếu

và những nhu cầu hội nhập của nền kinh tế Mặc dầu vậy, về cơ bản, điềuhành CSTT đã đạt được sự ổn định tiền tệ, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởngkinh tế, tạo môi trường vĩ mô thuận lợi cho phát triển kinh tế, song năm 2008,thực thi CSTT vẫn tiếp tục phải đối mặt với những thách thức do dòng vốnđầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục gia tăng và những biến động khó lường của thịtrường tài chính quốc tế, cùng với biến động của giá cả thế giới Điều đó đòihỏi NHNN tiếp tục thực hiện CSTT chặt chẽ và cần có những giải pháp mangtính dài hạn để hạn chế đến mức thấp nhất những tác động bất lợi của nhữngthách thức phải đối mặt

1.4 Năm 2008: Chính sách tiền tệ thắt chặt vào đầu năm và nới lỏng vào cuối năm:

- Trong bối cảnh tình hình thế giới lại rơi vào vòng xoáy khủng hoảngnặng nề hơn Ở Việt Nam, hai quý đầu của năm 2008, cùng với những bất ổntrên thị trường tài chính thế giới, tình hình kinh tế trong nước cũng diễn biếnhết sức phức tạp, lạm phát tăng cao vào đầu năm và suy giảm kinh tế nhữngtháng cuối năm Điều này gây ra rất nhiều sức ép cho việc hoạch định chínhsách tiền tệ trong năm

- Để kiềm chế lạm phát NHTW đã thực hiện đồng thời các công cụ: lãisuất, dự trữ bắt buộc và thị trường mở đồng thời ban hành những quy địnhsiết chặt thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản…

+ Lãi suất cơ bản thay đổi 3 lần

8,25% / năm 1746/QĐ-NHNN ngày 01/12/2005 Ngày

01/12/20058,75% / năm 305/QĐ-NHNN ngày 30/01/2008 Ngày

Trang 10

+ Nghiệp vụ thị trường mở: Để tránh tình trạng đổ vỡ hệ thống ngânhàng xảy ra, NHNN đã liên tục thực hiện bơm thêm tiền thông qua nghiệp vụthị trường, điển hình như việc đưa hơn 39.000 tỷ đồng vào thị trường trongvòng một tuần vào cuối tháng 2/2008 NHNN cũng đã thực hiện việc điềuhành chính sách tỷ giá linh hoạt Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2008, NHNN

đã có 3 lần điều chỉnh nới lỏng biên độ tỷ giá lên mức +/-2% từ ngày 27/6 + Lãi suất cơ bản giảm xuống từ 14%/năm còn 8,5 %

- Sau hàng loạt các chính sách nới lỏng tiền tệ cho đến cuối tháng12/2008, tình hình kinh tế có dấu hiệu khả quan hơn, hoạt động ngân hàngkhởi sắc trở lại, huy động vốn và cho vay bắt đầu trở về với nhịp độ bìnhthường,…Tuy nhiên, hoạt động của thị trường vẫn trong tình trạng chưa códấu hiệu cải thiện, luồng di chuyển tiền tệ trong nền kinh tế có hiện tượngchậm lại, tiến độ cho vay của các ngân hàng cũng như khả năng tiếp cận vốnvay từ phía doanh nghiệp vẫn còn nhiều bất cập

1.5 Năm 2009: Chính sách nới lỏng

Năm 2009, một năm mà chính sách tiền tệ đã phải đối mặt với nhiềuthách thức khó lường phát sinh từ những bất cập của nền kinh tế và tác độngbất lợi của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế Lạm phát cao năm

2008, cùng với sự đảo chiều của vốn đầu tư nước ngoài và thâm hụt mạnh cáncân thương mại (12,783 tỷ USD) đã có tác động mạnh đến tâm là các nhà đầu

tư trên thị trường ngoại hối, gây những biến động khó lường đến tỷ gía

Trang 11

- Lãi suất cơ bản bằng đồng VN được điều chỉnh giảm từ 8,5%/nămxuống 7%/năm, lãi suất tái cấp vốn giảm từ 9,5%/năm xuống 7%/năm, lãisuất tái chiết khấu giảm từ 7,5%/năm xuống 5%/năm Kể từ tháng 12/2009,các mức lãi suất trên được điều chỉnh tăng them 1% cho phù hợp với điềukiện mới của nền kinh tế.

- Điều chỉnh giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi VNĐ không kỳhạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng từ 5% xuống 3% kể từ dự trữ tháng 3/2009;tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên từ 2% xuống 1% kể từ dự trữ tháng1/2009

- Điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở, chủ yếu là chào mua giấy

tờ có giá

- Thực hiện hoán đổi ngoại tệ với các NHTM để vừa hỗ trợ vốn VNĐ,giảm bớt tình trạng mất cân đối giữa vốn và sử dụng vốn VNĐ và ngoại tệcủa các NHTM, vừa bổ sung thêm nguồn ngoại tệ để NHTM có thể can thiệpthị trường ngoại hối khi cần thiết

- Mở rộng biên độ ấn định tỷ giá mua bán USD/VNĐ của các NHTM từ+3% lên +5%

- Giải pháp hỗ trợ lãi suất ( CSTK ) có tác động tích cực hỗ trợ doanhnghiệp phục hồi sản xuất, làm khởi sắc TTCK, bất động sản và thị trường tíndụng

- Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã thực thi CSTT một cách linh hoạtphối hợp đồng bộ với nhiều giải pháp khác để giữ bình ổn thị trường

II, Giai đoạn từ năm 2010 đến nay

Trang 12

2.1 Năm 2010: chính sách tiền tệ thắt chặt

- Nền kinh tế Việt Nam bước vào năm 2010 được đánh giá là có nhiều thuận lợi hơn so với một năm trước đó: Đã ngăn chặn được đà suy giảm tốc độ tăng trưởng GDP ngay từ cuối quý I/2009 và tốc độ tăng trưởng đang trong xu hướng hồi phục rõ rệt.

- Lãi suất cơ bản giữa nguyên là 8%, lãi suất chiết khấu là 6%, lãi suấttái cấp vốn là 8%

- Ngày 6/1/2010 NHNN bơm 15000 tỷ đồng thông qua nghiệp vụ thịTrường mở Động thái này của NHNN làm cho lãi suất vay vốn giữa các Ngânhàng giảm mạnh, kỳ hạn một tuần còn 11%/năm, vay qua đêm còn 8,5%/năm

- NHNN giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng ngoại tệ có kỳhạn dưới 12 tháng 4%, đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên 2% tạođiều kiện cho các NHTM tăng nguồn cung vốn ngoại tệ cho thị trường

- Ngày 14/2, Ngân hàng Nhà nước đã tăng tỷ giá liên ngân hàng thêm3% lên mức 18.544 đồng/USD Trong khi đó biên độ tỷ giá giữ nguyên ở mức+/-3%

- Ngày 17/8/2010, NHTW thực hiện điều chỉnh tỷ giá bình quân liênngân hàng giữa đồng Việt Nam với Đô la Mỹ áp dụng cho ngày 18/8/2010 từmức 18.544 VND lên mức 18.932 VND (tăng gần 2,1%) Trong khi đó biên

độ tỷ giá giữ nguyên ở mức +/-3% Diễn biến thị trường ngoại hối theo chiềuhướng tích cực, nhiều NHTM đã cân đối được ngoại tệ

Chính sách tiền tệ năm 2010 chính phủ điều hành với mục đích ổn địnhkinh tế trong đó tỷ giá là tâm điểm quan trọng nhất việc điều chỉnh tăng tỷ giá

đã ảnh hưởng rất lớn đến thị trường vàng làm cho giá vàng tăng đến mứccao,việc tăng tỷ giá giúp cho các doanh nghiệp thuận lợi trong xuất khẩunhưng khó khăn trong việc nhập khẩu vì đồng tiền giảm giá ,gây tình trạngnhập nguyên liệu cho sản xuất với chi phí cao phần lớn nước ta là nước sản

Trang 13

xuất mang tính gia công phụ thuộc vào thị trường nước ngoài rất lớn nên sảnphẩm sản xuất ra sẽ định giá cao và điều này có thể gây ra lạm phát caonguyên nhân là chi phí đẩy Đồng thời tỷ giá tăng có thể ảnh hưởng đếnkhủng hoảng nợ quốc gia tăng.

2.2 Giai đoạn năm 2011-2013:

- NHTW đã chủ động định hướng, dẫn dắt thị trường, đồng thời có sự

điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với những diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ

-Bước sang năm 2011, kinh tế toàn cầu bắt đầu le lói phục hồi nhưng còn

nhiều khó khăn, tác động tiêu cực đến tình hình kinh tế trong nước Trong 6tháng đầu năm, lạm phát tăng 13,29% so với đầu năm và tăng 20% so cùng kỳnăm trước, gây khó khăn cho nỗ lực kiềm chế lạm phát dưới 15% theo mụctiêu đề ra, thị trường bất động sản và chứng khoán sụt giảm mạnh

NHTW đã điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng để kiểm soátlạm phát và hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an toàn hệ thống, thực hiệnmạnh mẽ các biện pháp điều hành nhằm kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụngdưới 20% và điều chỉnh cơ cấu tín dụng theo hướng tập trung vốn cho sảnxuất, giảm tỉ trọng dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất xuống 22% đến30/6/2011 và xuống 16% đến 31/12/2011 Nhờ đó, đến cuối năm 2011, tổngphương tiện thanh toán và tín dụng lần lượt tăng khoảng 10% và 12%, cácmức lãi suất trên thị trường đã được điều chỉnh phù hợp với diễn biến kinh tế

vĩ mô và chỉ đạo của Chính phủ Việc tăng cường thanh tra, giám sát và xử lýnghiêm những trường hợp vi phạm trần lãi suất huy động đã tạo điều kiện choviệc giảm dần mặt bằng lãi suất huy động và cho vay trong những tháng cuốinăm Trong đó, lãi suất cho vay nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu giảm0,5-1%/năm và dao động ở mức 14,5-17%/năm, thậm chí chỉ còn 13,5%/năm.Tình hình kinh tế những tháng cuối năm đã có dấu hiệu cải thiện, GDP năm

2011 tăng 5,89%, lạm phát so cùng kỳ năm trước bắt đầu có dấu hiệu chững

Trang 14

lại và giảm dần từ mức 22% trong tháng 10/2011 xuống 20% trong tháng 11

và 18,13% trong tháng 12

Cuối năm 2012, lãi suất huy động VND giảm mạnh từ 3-6%/năm, lãisuất cho vay giảm từ 5-9%/năm so với cuối năm 2011 Lãi suất cho vay ưutiên giảm về mức 12%/năm, cho vay sản xuất kinh doanh khác và cho vaytiêu dùng ở mức 12-15%/năm, riêng lãi suất cho vay đối với các khách hàngtốt chỉ còn 9-11%/năm Tổng phương tiện thanh toán và tín dụng tăng lần lượtkhoảng 20% và 9%, phù hợp với mục tiêu kiềm chế lạm phát ở mức thấp(6,8%), góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế

Tháng 8/2013, tổng phương tiện thanh toán tăng 9,16% so với cuối năm

2012, phù hợp với định hướng tăng 14-16% trong năm 2013, thanh khoản của

hệ thống ngân hàng được đảm bảo Các mức lãi suất chủ chốt được điều hànhtheo hướng giảm dần, góp phần tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và nềnkinh tế Mặt bằng lãi suất VND trong 8 tháng đầu năm đã giảm khoảng 2-5%/năm so với đầu năm, trong đó lãi suất huy động giảm 2-3%/năm, lãi suấtcho vay giảm 3-5%/năm và đã trở về mức lãi suất của thời kỳ 2005-2006, cácTCTD cũng chủ động giảm lãi suất đối với những khoản cho vay còn tồnđọng

2.3 Năm 2014

Trên cơ sở bám sát mục tiêu của Quốc hội, Chính phủ, và nhiệm vụ của ngành ngân hàng tại Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 15/1/2014, trong năm

2014, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã điều hành linh hoạt, đồng

bộ các công cụ chính sách tiền tệ để điều tiết tiền tệ phù hợp với mục tiêu

kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, đảm bảo thanh khoản của tổ chức tín dụng (TCTD) và nền kinh tế;

điều chỉnh giảm các mức lãi suất chính sách trên cơ sở bám sát diễn biến vĩ

mô, tiền tệ; thực hiện đồng bộ các giải pháp ổn định tỷ giá, thị trường ngoại

Ngày đăng: 30/09/2021, 22:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w