Từ đó tác giả tiểu luận đưa ra được những dạng thức và phương thứcbiểu hiện của cái tôi trữ tình trong thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng tám.. Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu Cái tôi trữ
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Bố cục bài tiểu luận 4
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1 CÁI TÔI TRỮ TÌNH VÀ SỰ XUẤT HIỆN CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ MỚI 5
1.1 Quan niệm về cái tôi và cái tôi trữ tình 5
1.1.1 Cái tôi 5
1.1.2 Cái tôi trữ tình 6
1.2 Sự xuất hiện cái tôi trữ tình trong Thơ mới 7
CHƯƠNG 2 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÁC GIẢ XUÂN DIỆU VÀ TẤC PHẨM “GỬI HƯƠNG CHO GIÓ” 8
2.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Xuân Diệu 8
2.1.1 Cuộc đời 8
2.1.2 Sự nghiêp 9
2.2 Tập thơ “Gửi hương cho gió” 10
2.2.1 Xuất xứ tập thơ 10
2.2.2 Tư tưởng chung của tập thơ 11
2.3 Vị trí thơ của Xuân Diệu trong phong trào thơ mới 12
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ XUÂN DIỆU TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 15
Trang 23.1.1 Cái tôi độc đáo – tích cực thiết tha yêu đời, yêu cuộc sống 15
3.1.2 Xuân Diệu – hồn thơ cô đơn ngay chính giữa cuộc đời 20
3.2 Các phương thức thể hiện của cái tôi trữ tình trong thơ Xuân Diệu 25
3.2.1 Cái tôi trữ tình nhập thân vào đối tượng phản ánh 26
3.2.2 Cái tôi trữ tình biến hóa qua nhiều hình ảnh 27
3.2.3 Sự đồng nhất cái tôi trữ tình với thiên nhiên 29
KẾT LUẬN 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phong trào thơ mới ra đời từ năm 1932 nhưng đến nay, thơ mới vẫn cònnguyên giá trị và khẳng định vị thế của mình đối với nền thi ca Việt Nam Chỉtrong vòng chưa đến 15 năm phát triển, thơ mới đã có những thành tựu to lớngóp phần vào sự phát triển của nền thi ca nói riêng và nền văn học Việt Namnói chung Một trong những thành tựu nổi bật của thơ ca nói chung và thơmới nói riêng đó là cái tôi trữ tình Đây là vấn đề được rất nhiều nhà phê bình,giới nghiên cứu quan tâm nhưng vẫn còn nhiều điều thú vị cần khám phá
Nói đến cái tôi trữ tình trong thơ mới thì đây là một biểu hiện, một sắcthái riêng của các nhà thơ giai đoạn này Đề tài này sẽ đi nghiên cứu về cái tôitrữ tình trong thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng tám Bởi Xuân Diệuđược xem là đỉnh cao của phong trào thơ mới Hơn bất cứ nhà thơ trongphong trào thơ mới, ông bộc lộ trong thơ cái tôi trữ tình một cách phong phú
và độc đáo Do đó, việc tìm hiểu cái tôi trữ tình trong thơ Xuân Diệu nhằmhiểu rõ hơn về bút pháp và phong cách nghệ thuật của ông giai đoạn này
Trước năm 1945, Xuân Diệu chủ yếu sáng tác thơ về mảng tình yêu Cáitôi trữ tình của Xuân Diệu giai đoạn này cũng đã được bộ lộ một cách đầy đủ
và trọn vẹn qua mảng lớn những bài thơ về tình yêu Vấn đề này đã có rấtnhiều người đã và đang nghuên cứu Tuy nhiên ở đây, chỉ đi sâu vào cái tôi
trữ tình thông qua tập thơ “Gửi hương cho gió” Vì đây là tập thơ tiêu biểu và
nổi bật nhất của Xuân Diệu về tình yêu trước cách mạng
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Xoay quanh quan niệm cái tôi trữ tình, đã có nhiều ý kiến bàn luận vàđược đưa ra như:
Trang 4Trong “Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 - 1995” Vũ Tuấn Anh đã khái
quát được quy luật vận động, phát triển của thơ trữ tình Việt Nam cũng nhưrút ra được những dạng thức biểu hiện chính của cái tôi trữ tình trong thơ cáchmạng Tiếp đến, tác giả xác định hai dạng thức biểu hiện cơ bản của cái tôi là
“cái tôi sử thi” và “cái tôi thế hệ” Lê Lưu Oanh trong “Thơ trữ tình Việt Nam
1975 -1990” thì tiến hành khái quát bản chất chủ quan của thể loại trữ tình và
khái niệm cái tôi trữ tình Ở đây các nhà nghiên cứu chủ yếu đi sâu vào biểuhiện của cái tôi trữ tình trong thơ sau cách mạng, do đó vẫn chưa có cách nhìntoàn diện về cái tôi trữ tình nói chung
Còn trong phong trào thơ mới thì không thể không kể đến công trình
nghiên cứu của Hoài Thanh, Hoài Chân “Thi nhân Việt Nam” Theo Hoài
Thanh, Hoài Chân thì một trong những đóng góp của thơ mới đó là cái tôi LêĐình Ky cũng khẳng định “Thơ mới là thơ của cái tôi” Tuy nhiên, các côngtrình nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc đưa ra nhận xét về cái tôi trữ tìnhtrong giai đoạn này chứ chưa đi làm rõ thông qua một tác phẩm hay tác giả cụthể nào Các công trình tuy chưa đi sâu khám phá cái tôi trữ tình nhưng cũngnhận diện được một số nét nổi bật của cái tôi trữ tình trong phong trào thơmới
Riêng về cái tôi trữ tình của tác giả Xuân Diệu thì có một số bài viếtnghiên cứu về cái tôi trữ tình trong thơ ông của một số tác giả như Lưu KhánhThơ Ở các bài nghiên cứu này có đưa ra được một số đặc điểm của cái tôi trữtình trong thơ Xuân Diệu Tuy nhiên, không đi phân tích sâu và cũng khôngkhái quát được những biểu hiện hay dạng thức thể hiện của cái tôi trữ tìnhtrong thơ Xuân Diệu
Với lịch sử vấn đề nghiên cứu trên, tiểu luận có cơ sở đi sâu tìm hiểu rõcái tôi trữ tình trong thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng tám qua tập thơ
Trang 5“Gửi hương cho gió” dưới một cách nhìn nhận, một cách phân tích toàn diện
hơn Từ đó tác giả tiểu luận đưa ra được những dạng thức và phương thứcbiểu hiện của cái tôi trữ tình trong thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng tám
3 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu Cái tôi trữ tình trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng
tám qua tập thơ “Gửi hương cho gió” là con đường tiếp cận sâu vào một khía
cạnh phong cách nghệ thuật của nhà thơ Xuân Diệu Việc xác định cái tôi trữtình nhìn từ dạng thức biểu hiện và phương thức thể hiện là nhằm khái quát hệthống đặc điểm cái tôi trữ tình trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng thángtám; trên cơ sở đó, khẳng định phong cách, bản sắc của nhà thơ Xuân Diệutrong giai đoạn này Đồng thời, thông qua bài tiểu luận cũng cho thấy rằng sựchi phối của hoàn cảnh lịch sử, bối cảnh đời sống văn học cũng như lý tưởngthẩm mỹ đã tạo nên một sự khác biệt, một diện mạo riêng cho cái tôi trữ tìnhtrong thơ của Xuân Diệu trước cách mạng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Do phạm vi nghiên cứu của bài tiểu luận,
ở đây tác giả tiểu luận chỉ đi nghiên cứu cái tôi trữ tình trong thơ
Xuân Diệu trước cách mạng tháng tám qua tập thơ “Gửi hương
cho gió” Trong tập thơ này tập trung vào những tác phẩm làm
nổi bật được những dạng thức và phương thức biểu hiện của cáitôi trữ tình trong thơ Xuân Diệu
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Cái tôi trữ tình trong thơ Xuân Diệu trước
Cách mạng tháng tám qua tập thơ “Gửi hương cho gió” với
những dạng thức biểu hiện và một số phương thức thể hiện nổibật
Trang 65 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp tiếp cận hệ thống: Tiếp cận hệ thống những bài thơ
trog tập thơ “Gửi hương cho gió” của nhà thơ Xuân Diệu; từ đó
đáng giá, khái quát về đặc trưng của cái tôi trữ tình trong thơXuân Diệu trước cách mạng
5.2 Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phân tích những nét biểu
hiện của cái tôi trữ tình trong tập thơ “Gửi hương cho gió” của
Xuân Diệu; qua đó, tổng hợp, khái quát thành những dạng thứccái tôi trữ tình trong thơ Xuân Diệu trước cách mạng
5.3 Phương pháp so sánh – đối chiếu: So sánh biểu hiện của cái tôi
trữ tình trong thơ Xuân Diệu với một số nhà thơ khác cùng thời
để từ đó có cái nhìn toàn cục về đặc điểm cái tôi trữ tình trongthơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng tám
6 Bố cục bài tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tiểu luận được cấu trúc thành 3 chương
Chương 1 Cái tôi trữ tình và sự xuất hiện cái tôi trữ tình trong thơ mới
Chương 2 Giới thiệu chung về tác giả Xuân Diệu và tác phẩm “Gửi hương
cho gió”
Chương 3 Đặc điểm cái tôi trữ tình trong thơ Xuân Diệu trước cách mạngtháng tám
Trang 7Trong cuốn “Sự hình thành con người”, Trần Đức Thảo cho rằng: “Cái
tôi tự khẳng định chính nó và tìm được tiếng vang của nó trong cái ta, đồngthời cái ta cũng tự khẳng định khi bao bọc cái tôi và tìm được tiếng vang bêntrong của nó trong cái tôi” Tức là, cái tôi thuộc về bản chất, là chiều sâu củatinh thần con ngườu Cái tôi là sự thức tỉnh đầu tiên của con người, từ đó nhận
ra mình là một con người khác với tự nhiên là một cá thể độc lập, khác vớingười khác
Bởi vì nội hàm khái niệm và ý nghĩa sâu xa của cái tôi rất rộng, do đó đã
có rất nhiều quan niệm được đưa ra để giải thích vấn đề này Tuy nhiên, vớiphạm vi bài nghiên cứu, tôi chỉ đưa ra một số quan niệm của triết học về cáitôi mà có sự liên quan trực tiếp hoặc gần gũi với việc tìm hiểu cái tôi trữ tình.Với Descartes (1596 – 1650), cho rằng cái tôi thể hiện ra như một cáinhìn thuộc về thực thể biết tư duy như càn nguyên của nhận thức duy lý, do
đó cái tôi thể hiện tính độc lập của mình bằng định nghĩa “Tôi tư duy tức là
tôi tồn tại” Kant (1724 – 1804), một đại diện tiêu biểu của triết học duy tâm,
cũng thấy rất rõ ý nghĩa của cái tôi trong đời sống con người Theo Kant, cáitôi tồn tại ở hai phương diện: Cái tôi với tư cách chủ thể tư duy nhận thức thếgiới và cái tôi với tư cách là khách thể của chính quá trình nhận thức, đồngthời Kant còn tuyệt đối hóa khả năng nhận thức của cái tôi: “Tính thống nhất
Trang 8nhất của chủ thể nhận thức, của cái tôi” Như vậy, cái tôi cá nhân được thừanhận như là một đối tượng khám phá phức tạp của con người Với Hegel(1770 – 1831), cái tôi tồn tại như một cá thể độc lập Cái tôi có khả năng tựbiểu hiện mình, thể hiện khát vọng của con người Đối lập với những triếtthuyết đối hóa cái tôi cá nhân, đến triết học Marx xác định giá trị con người
cá nhân từ bản thân con người với tư cách là chủ thể và khách thể của các mốiquan hệ xã hội Theo chủ nghĩa Marx, mỗi cá nhân có ý nghĩa như là một bộmặt xã hội hóa cá thể con người và cá nhân cùng tìm thấy mình trong xã hội
Lý tưởng về giải phóng cá nhân của triết học Marx là tự do cho mỗi cá nhântrong tự do cho tất cả mọi người Đồng thời, vai trò của cái tôi cũng đượckhẳng định là trung tâm tinh thần của con người, cuả cá tính con người cóquan hệ tích cực đối với thế giới và chính bản thân mình
Văn học nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội chịu ảnh hưởng sâusắc của tư tưởng triết học Trong khi đó, cái tôi luôn gắn với những bước tiếnhóa của nhân loại trong quan niệm về con người cuả triết học đã ảnh hưởngđến ý thức nghệ thuật văn chương trong việc thiết lập quan niệm về cái tôi trữtình Suy cho cùng, cái tôi trong thế giới trữ tình khởi đi từ ý thức về cái tôitrong nguồn gốc triết học song đi vào thế giới thơ ca, cái tôi lại mang mộtdiện mạo riêng Đó là nhu cầu được biểu hiện và nhìn nhận về hiện thựckhách quan Và những dạng thức khác nhau của cái tôi trải qua các nền vănhọc đều ít nhiều thể hiện sự ảnh hưởng của quan niệm cái tôi triết học, tạothành biểu hiện phong phú của cái tôi trữ tình trong thơ
Trang 9Bản chất của cái tôi trữ tình là một khái niệm tổng hòa nhiều yếu tố hội
tụ theo quy luật nghệ thuật bao gồm cả ba phương tiện: Bản chất chủ quan cánhân, đây là mối liên hệ giữa tác giả với cái tôi trữ tình được thể hiện trongtác phẩm; bản chất xã hội của cái tôi trữ tình là mối quan hệ của cái tôi trữtình và cái ta cộng đồng; bản chất thẩm mỹ của cái tôi trữ tình là trung tâmsáng tạo và tổ chức văn bản
Cái tôi trữ tình khác về chất so với cái tôi nhà thơ – Đó là sự khác nhaugiữa cuộc đời và nghệ thuật, giữa chủ nghĩa tự nhiên và chủ nghĩa hiện thực,giữa nguyên mẫu và điển hình, “giữa gốc rễ” và những “cành lá” nảy nở, sinhđộng của nó Cái tôi trữ tình có quan hệ mật thiết và chặt chẽ với cái tôi nhàthơ nhưng từ cái tôi nhà thơ đến cái tôi trữ tình còn phụ thuộc vào nhiều yếu
tố khác
1.2 Sự xuất hiện cái tôi trữ tình trong thơ mới
Cái tôi có mầm mống trong thơ ca từ sớm nhưng do điều kiện kháchquan và chủ quan mà nó chưa thể phát triển thành một quan niệm văn học.Đến đầu thế kỷ XX, đặc biệt là những năm 1930 có những biến động to lớntrong lòng thành thị Việt Nam, tầng lớp tiểu tư sản đông lên về số lượng, họdường như không có gì gắn bó với ý thức hệ phong kiến vì họ hầu hết chịuảnh hưởng của nhà trường đế quốc “Cửa khổng sân trình” không chi phốiđược họ trong khi đó sinh hoạt đô thị tư sản hóa rất mạnh, họ tiếp xúc với vănhóa phương Tây, đặc biệt là văn hóa Pháp, dần dần nảy sinh ở họ những suynghĩ mới Họ bừng tỉnh về ý thức cá nhân Cái tôi tư sản, tiểu tư sản xuất hiện
nó tấn công rất mạnh vào lễ giáo, vào ý thức hệ phong kiến đã từng trói buộctinh thần, tình cảm con người từ hàng ngàn đời nay, văn thơ đã trở thành địahạt để cái tôi tự khẳng định mình Thơ ca là nơi có thể nói đầy đủ tiếng lòngcủa họ, họ tuyên bố “Tình chúng ta đã đổi mới, thơ chúng ta cũng phải đổi
Trang 10Yêu cầu đổi mới thi ca chính là yêu cầu khẳng định cái tôi, yêu cầu giảiphóng tình cảm, cá tính của cái tôi Thơ mới ra đời trong hoàn cảnh thoái tràocách mạng, tầng lớp tiểu tư sản hoang mang dao động, mất phương hướng,mất lẽ sống, vì vậy họ quay lưng lại Cuộc chiến tranh chính trị chuyển dầnsang đấu tranh bên lĩnh vực văn hóa Thơ ca trở thành nơi lựa chọn để “chạytrốn”, thoát ly cuộc đời, vừa để nguôi quên thực tại vừa như có thể giải phóng
và phát triển cá nhân Trong khi “chạy trốn” như thế, họ thấy mình vẫn cóđóng góp cho dân tộc nên trong thơ mới nhu cầu khẳng định và nhu cầu thoát
ly gần như tồn tại song song Nếu nhu cầu khẳng định đưa thơ mới đến sự tintưởng, thái độ nhập cuộc, lòng yêu đời thì thoát ly đưa đến nỗi buồn, nỗi côđơn và ngày càng có xu hướng tăng cao Trên thực tế, thơ mới đã tìm đượcnhiều con đường thoát ly: Vào cõi tiên (Thế Lữ), vào tình yêu (Xuân Diệu),
về đồng quê (Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ…), vào tôn giáo (HànMặc Tử), vào vũ trụ (Huy Cận)
Cũng trong thời kỳ này văn học có nhu cầu đổi mới theo hướng hiện đạihóa Một số nhà thơ đã thấy sự khủng hoảng tiêu điều của thi đàn với loại thơnhìn mất sinh khí (thơ Đường cuối mùa), họ dũng cảm đổi mới thơ ca củamình (Tản Đà, Trần Tuấn Khải) Nhưng đó chỉ là những cố gắng lẻ tẻ và phảiđến thơ mới, thì mới có cuộc cách mạng trong thơ ca để chuyển từ thơ trungđại sang thơ hiện đại, từ thơ điệu ngâm sang thơ điệu nói và cái ta phi ngã đãdần nhường chỗ cho cái tôi cá nhân thơ mới
Tiểu kết chương 1.
Cái tôi trữ tình là một khái niệm cơ bản của việc nghiên cứu đặc trưngthể loại thơ trữ tình Cái tôi trữ tình là một hiện tượng nghệ thuật khác với cáitôi của nhà thơ Cái tôi trữ tình là thế giới chủ quan, là thế giới tinh thần củacon người được thể hiện trong tác phẩm nghệ thuật Cái tôi trữ tình có khảnăng khái quát được những giá trị tinh thần, không chỉ là một cá nhân mà của
Trang 11cả một thời đại Cái tôi trữ tình không chỉ cái suy tư, cái cá nhân, cái độc đáo
mà còn bao gồm nhiều cung bậc đa dạng khác
CHƯƠNG 2 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÁC GIẢ XUÂN DIỆU VÀ
TẤC PHẨM “GỬI HƯƠNG CHO GIÓ”
2.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Xuân Diệu
2.1.1 Cuộc đời
Xuân Diệu (1916 – 1985) còn có bút danh là Trảo Nha, tên khai sinh làNgô Xuân Diệu Cha của Xuân Diệu là một nhà nho, quê ở làng Trảo Nha(nay là xã Đại Lộc), huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh; mẹ thi sĩ quê ở Gò Bồi, xãTùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định Xuân Diệu lớn lên ở QuyNhơn Năm 1940, sau khi tốt nghiệp tú tài, ông đi dạy học tư và làm viênchức ở Mỹ Tho (nay là Tiền Giang), sau đó ra Hà Nội sống bằng nghề viếtvăn kết bạn thơ với Huy Cận, là thành viên của Tự lực văn đoàn(1938 –1940) Xuân Diệu tham gia mặt trận Việt Minh từ trước cách mạng tháng támnăm 1945 Ông hăng say hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật Cảcuộc đời ông gắn bó với nền văn học dân tộc Ông là Uỷ viên Ban Chấp hànhHội Nhà văn Việt Nam các khóa I, II, III Năm 1983, Xuân Diệu được bầu làViện sĩ thông tấn Việt Hàn lâm nghệ thuật Cộng hòa dân chủ Đức Năm 1985,ông lâm trọng bệnh và qua đời
Cuộc đời của Xuân Diệu gắn bó với giấy bút và được mọi người nhận xét
là người vô cùng chăm chỉ tỉ mỉ trong công việc Ông từng nói rằng “Nhà văntồn tại ở tác phẩm Không có tác phẩm thì nhà văn ấy coi như đã chết” Ôngthích lối sống gọn gàng ngăn nắp, chỉn chu.Thời gian trong ngày ông dùngvào việc viết lách cho các tờ báo và cần mẫn sáng tác thơ ca
Trang 12Ông đã được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuậtnăm 1996.
2.1.2 Sự nghiêp
Xuân Diệu là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất trong phong tràothơ mới những năm 1935-1945 Bên cạnh là một thi sĩ, ông còn là nhà báo,nhà phê bình văn học nổi tiếng Nhắc đến Xuân Diệu là nhắc đến "ông hoàngcủa thơ tình Việt Nam' Những tác phẩm thơ của ông được nhiều người mến
mộ, cũng như có vị trí nhất định trong văn đàn thơ ca nước nhà Người ta tìmđến thơ ca, là để tìm thấy sự đồng điệu, sự ngân cảm trong tâm hồn conngười Thơ của Xuân Diệu như những dòng chảy tâm tình, dạt dào, bao la, rạorực Cũng như bao nhà thơ khác trong thơ mới, thơ của Xuân Diệu có nhữngnỗi buồn chất chứa, sâu lắng trong từng con chữ Thế nhưng, ông có một điểmkhá đặc biệt và nổi trội hơn hẳn, đó chính là sự nhận thức, ý thức về khônggian, thời gian, lí tưởng sống: sống nhanh, sống có ý nghĩa Sự ý thức, nhậnthức về thời gian, về cuộc đời ấy ở Xuân Diệu, đã khiến cho thơ của ôngmang màu sắc riêng, nét đẹp riêng Dẫu rằng thời gian có trôi đi, năm tháng
có dần phai mờ từng nét mực, thì những tiếng lòng tha thiết của Xuân Diệuvẫn mãi còn đó, còn sống mãi trong lòng độc giả bao thế hệ mai sau Và quảthật không ngoa chút nào, khi Hoài Thanh, Hoài Chân - nhà phê bình văn học,
đã nhận xét về ông: "Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới"
Không phải tự nhiên ông được Hoài Thanh cho là nhà thơ “mới nhấttrong các nhà thơ mới” hay là “ông hoàng thơ tình” Bởi ông đã đem đến chonền thơ ca Việt Nam đương thời một sức sống mới, một nguồn cảm hứng mới,thể hiện một quan niệm sống mới mẻ cùng với những cách tân nghệ thuật đầytính sáng tạo Ông là nhà thơ của mùa xuân, của tình yêu, của tuổi trẻ, củakhát vọng với giọng thơ sôi nổi, đắm say, yêu đời thắm thiết
Trang 13Với phong cách làm thơ như thế ông đã để lại cho đời một di sản vănhọc đồ sộ gồm nhiều thể loại:
- Trước cách mạng tháng Tám:
Trước cách mạng tháng Tám ông được xem là “người mang đến cho thơmới nhiều cái mới nhất” (Vũ Ngọc Phan), là nhà thơ “mới nhất trong các nhàthơ mới” (Hoài Thanh) Ở thời kì này ông viết cả thơ lẫn văn xuôi, tiêu biểu
như: Thơ thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945), Phấn thông vàng (1939),
Trường ca (1945).
- Sau cách mạng tháng Tám:
Lúc này thơ của ông hướng mạnh vào đời sống thực tế và rất giàu tínhthời sự Ông cổ vũ và hăng hái thể nghiệm khuynh hướng tăng cường chất
hiện thực trong thơ Với những tập thơ tiêu biểu: Ngọn quốc kì (1945), Hội
nghị non sông (1946), Dưới vàng sao (1949), Sáng (1953), Mẹ con (1954), Ngôi sao (1955), Riêng chung (1960), Mũi Cà Mau - Cầm tay ( 1962), Khối hồng (1964), Hai đợt sóng (1967), Tôi giàu đôi mắt (1970), Hồn tôi đôi cánh
(1976), Thanh ca (1982); các tập văn xuôi, tiểu luận phê bình nghiên cứ văn học: Tiếng thơ (1951), Những bước đường tư tưởng (1958), Ba thi hào dân
tộc (1959), Phê bình giới thiệu thơ (1960), Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ (1961), Dao có mài mới sắc (1963), Thi hào dân tộc Nguyễn Du
(1966), Đi trên đường lớn (1968), Và cây dời mãi mãi xanh tươi (1971), Mài
sắt nên kim (1977), Lượng thông tin và những kĩ sư tâm hồn ấy (1978), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam ( hai tập; 1981& 1982).
Trang 142.2 Tập thơ “Gửi hương cho gió”
(Lời thơ vào tập Gửi hương)
Phần tác phẩm chính gồm 50 bài
2.2.2 Tư tưởng chung của tập thơ
Cảm hứng nổi bật trong thơ của Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám
là cảm hứng tình yêu Do đó đây cũng là một tập thơ không ngoại lệ Tập thơnói về tình yêu với những nỗi buồn rất não nùng, đi cùng với những nỗi buồn
là những cung bậc cảm xúc khác nhau Buồn vì mặc dù biết rằng tình yêu nórất nồng cháy, rất mãnh liệt nhưng nó không được cuộc đời đón nhận và phảicầu xin:
“Mở miệng vàng và hãy nói yêu tôi Dầu chỉ là trong một phút mà thôi!”
(Mời yêu)
Có lúc vì buồn tủi quá mà người cất tiếng kêu gọi những ngày xa, nhữngcảm xúc thuở thanh xuân - tiếng kêu nhiều khi thật mạnh mẽ:
Trang 15“Hỡi năm tháng vội đi làm quá khứ Trả về đây! và đem trả về đây Rượu nơi mắt với khi nhìn ướm thử Gấm trong lòng và khi thức chờ ngây!”
(Xuân đầu)Bên cạnh sự sợ hãi, cô đơn của bản thân là sự xót thương của ông trước
cuộc đời thờ ơ, lạnh nhạt, phải đau đớn van xin: “Chớ đạp hồn em”, “Chớ để
riêng em phải gặp lòng em” và rơi vào tâm trạng tuyệt vọng:
“Xao xác tiếng gà, trăng ngà lạnh buốt Mắt run mờ, kỉ nữ thấy trăng trôi
Du khách đi, du khách đã đi rồi…”
(Lời kỹ nữ)Cũng vì thế, tình yêu trong thơ Xuân Diệu gắn liền với nỗi cô đơn và sựhoài nghi Ngay cả khi “được yêu” nhưng “cái tôi” vẫn lo sợ vì cảm nhận sựbiệt li, tan vỡ đang dần đến Cho dù cùng người yêu dạo bước dưới ánh trăng
“cái tôi” vẫn cảm thấy:
“Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ.”
hay là:
“Nắng mọc chưa tin, hoa rụng không ngờ Tình yêu đến, tình yêu đi ai biết
Trang 16Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt Những vườn xưa nay đoạn tuyệt dấu hài”
(Giục giã)
Tất cả những gì diễn ra trong câu chuyện “Gửi hương cho gió” đều được
thể hiện qua mấy câu thơ trong bài thơ chủ đề:
“Tình yêu muôn thuở vẫn là hương Biết mấy lòng thơm mở giữa đường
Đã mất tình yêu trong gió rủi Không người thấu rõ đến nguồn thương!”
(Gửi hương cho gió)
“Còn người yêu
muôn kiếp là hoa núi Uổng nhụy lòng tươi tặng khách hờ.”
(Gửi hương cho gió)
2.3 Vị trí thơ của Xuân Diệu trong phong trào thơ mới
Ngay từ khi mới xuất hiện trên thi đàn Xuân Diệu đã lọt vào “mắt xanh”của những người có tên tuổi và uy tín trong giới văn nghệ sỹ Mặc dù, cáchnhìn nhận và đánh giá của các tác giả có những điểm khác nhau nhưng nhìnchung các bài viết đều thống nhất đánh giá cao vai trò và vị trí hàng đầu củaXuân Diệu đối với phong trào thơ mới
Trong bài viết đầu tiên giới thiệu Xuân Diệu năm 1937, Thế Lữ người đitiên phong của phong trào thơ mới đã có những nhận xét chuẩn xác, biểu hiện
Trang 17sự trân trọng đối với một tài năng của đất nước “thơ của ông không phải là
“văn chương” nữa, đó là lời nói, là tiếng reo vui hay năn nỉ, là sự chân thành cảm xúc, hoặc là những tình ý rạo rực biến lẫn trong những âm thanh…Xuân Diệu, nhà thi sỹ của tuổi xuân, của lòng yêu và của ánh sáng”.
Bài viết về Xuân Diệu trong “Thi nhân Việt Nam” năm 1942 của HoàiThanh cho rằng thơ Xuân Diệu là nguồn sống dạt dào chưa từng có, là “nhàthơ mới nhất trong các nhà thơ mới…”
Lịch sử phát triển của phong trào thơ mới có ba chặng (1932 – 1935,
1936 – 1939, 1940 – 1945) Xuân Diệu xuất hiện trên thi đàn ở chặng thứ haivào lúc mà thơ mới phát triển đến đỉnh cao
Trong nửa sau những năm ba mươi, lá cờ đầu của phong trào thơ mớiđược chuyển qua tay Xuân Diệu Với sự xuất hiện của Xuân Diệu, ông đượcxem là chủ soái của phong trào thơ mới Cùng với các nhà thơ mới cùng thời(Huy Cận, Tế Hanh…) họ đã làm thành dòng chính của thơ mới thời kỳ này
Xuân Diệu – nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới, tiêu biểu đầy đủnhất cho thời đại, cái tôi đã thực sự được giải phóng Nó không còn dáng vẻ
bỡ ngỡ, dè dặt trước đó mà nó phát triển hết sức thành thật, táo bạo nhữngcảm xúc, khát khao của trái tim đang tràn đầy cháy bỏng Thơ Xuân Diệu làkhát sống, khát yêu đến cuồng nhiệt Con người ấy muốn uống cạn một cách
vồ vập cái ly tràn đầy sự sống nhưng đồng thời, Xuân Diệu hiểu rất rõ sự trôichảy của thời gian, sự tàn phai của tuổi trẻ, nỗi bất trắc của cuộc đời vì vậycon người yêu sống nồng nàn ấy luôn vội vàng, giục giã để tận hưởng cuộcsống
“Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”
Trang 18Khát vọng yêu và khát vọng giao cảm với cuộc đời là một thái độ nhânsinh tích cực, ông quả quyết không chấp nhận cuộc sống tẻ nhạt, vô nghĩa.Trong thơ Xuân Diệu thoát lên một nhu cầu mãnh liệt là được cảm thông, chia
sẻ Con người rất có ý thức về bản ngã ấy không phải là một cái tôi khép kín
mà là cái tôi luôn mơ ra với cuộc đời, khát khao được hòa nhịp cùng cuộcsống với lòng khát sống, khát yêu Và khát khao giao cảm ấy là động lực biếnXuân Diệu thành nhà thơ tình lớn Bởi vì trên đời không có gì làm cho conngười ta cảm thấy được sống đầy đủ, trọn vẹn, mãnh liệt bằng tình yêu và cóniềm giao cảm nào gần gũi, tuyệt vời hơn khi người ta yêu?
Một tình yêu đích thực, chân thành, táo bạo rất đỗi trần tục, đậm sắc dụcnhưng thật lý tưởng, đòi hỏi trước hết là sự giao hòa tuyệt đối của hai tâmhồn Lời thơ nồng nàn, đầy sức sống thể hiện niềm khao khát giao cảm trọnvẹn về linh hồn của con người, trong cái cuộc đời lạnh lùng đẩy mỗi cá nhânvào một hòn đảo cô đơn đó Bi kịch của tâm hồn Xuân Diệu cũng chính ở đó.Muốn hiến dâng tâm tình chân thành, si mê, thèm khát sự giao cảm với đờinhưng cuộc đời đáp lại ông bằng sự thờ ơ, lạnh lẽo Hoài Thanh có câu “Đờichúng ta nằm trong vòng chữ tôi, mất bề rộng ta đi tìm bề sâu nhưng càng đisâu càng thấy lạnh”
Đến Xuân Diệu, cái tôi đã đào tới tận đáy của nó, nó bỗng cảm thấy tất
cả sự nhỏ bé, trơ trọi của nó trong một thế giớ bao la xa lạ cuối cùng nó gặp
chính nó: “Chớ để riêng em phải gặp lòng em”.
Có thể nhận định rằng, Xuân Diệu là người có vai trò to lớn trong việccách tân đối với thơ ca Việt Nam khi đó “Xuân Diệu là người đem đến cho thi
ca nhiều cái mới nhất” (Vũ Ngọc Phan) Cái mới ấy diễn đạt bằng một giọngđiệu, một ngôn ngữ nồng nàn, trẻ trung chưa từng có
Trang 19Đồng thời, do ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng Pháp để đi sâu càocái huyền diệu bên trong của cái tôi cho nên Xuân Diệu có những rung cảmhết sức tinh tế.
Quy luật thăng trầm cùng bi kịch của cuộc đời cái tôi Cái tôi trữ tìnhtrong thơ mới được thể hiện khá đầy đủ trong sáng tác của Xuân Diệu, vị đạidiện ưu tú nhất cho thời đại thơ ca Cùng chung nỗi đau lớn của những thânphận nô lệ trong xã hội, mỗi nhà thơ lãng mạn có một cách “chạy trốn”, riêngXuân Diệu là người chấp nhận nỗi đau một cách độc đáo và nhân văn với mộtkhát vọng sống nồng cháy và bền bỉ:
“Tôi kẻ đưa răng bấu mặt trời
Kẻ đựng trái tim trìu máu đất Hai tay chín móng bám vào đời”
(Hư vô)
Tiểu kết chương 2
Xuân Diệu là một cây bút có sức sáng tạo mãnh liệt, dồi dào, bền bỉ, cóđóng góp to lớn trên nhiều lĩnh vực đối với nền văn học Việt Nam hiện đại.Xứng đáng với danh hiệu một nhà thơ lớn, một nghệ sĩ lớn, một nhà văn hóalớn
Trang 20CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ XUÂN
DIỆU TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
3.1 Các dạng thức biểu hiện của cái tôi trữ tình trong thơ Xuân
Diệu
3.1.1 Cái tôi độc đáo – tích cực thiết tha yêu đời, yêu cuộc sống
Làm nên chiến thắng vẻ vang của phong trào thơ mới qua mấy năm đấutranh khá kịch liệt với thơ cũ trước tiên phải ghi nhận công lao của Thế Lữ,Lưu Trọng Lư, Huy Thông Khi Xuân Diệu, với trái tim si mê, với hồn thơ
“Âu hóa” rõ rệt hơn xuất hiện thì những tháng năm “đại náo” trong dòng thơ
đã đi qua Thơ mới vừa toàn thắng ngọn cờ phong trào từ chủ tướng Thế Lữđược chuyển giao ngay sang bàn tay mới và chàng thanh niên Xuân Diệu quảkhông phụ công sức của những người giành giật, khai thác đã giương cao hơnnữa ngọn cờ, mau chóng trở thành vị đại biểu ưu tú nhất của một thời đại thica
Do cái tôi thời này còn e dè, chưa dám bộc lộ một cách trực tiếp mọiham muốn cá nhân, Lưu Trọng Lư đưa người đọc vào thế giới dường nửa hư,nửa thực, thế giới của mộng mơ, của nhớ thương bằng những vần thơ trongsáng, đượm buồn trong nhạc điệu vấn vương êm đềm Cuộc sống thơ Thế Lữvẫn chưa phải là cuộc sống thực mà dường như vẫn khoác cái áo bồng lại tiêncảnh Đó dường như vẫn là thế giới của những người tiên, cảnh tiên, củanhững kim đồng, ngọc nữ,… Tuy là ngọn cờ đầu của phong trào thơ mớinhưng vẫn chưa đoạn tuyệt hẳn với những ước lệ cổ điển, cái tôi ở đây còn e
dè, ngượng ngịu như cô dâu mới về nhà chồng còn phải lấy cái quạt che mặt.Cái quạt là ước lệ trong thơ cũ Giữa lúc ấy, Xuân Diệu xuất hiện, gạt bỏnhững giấc mộng sầu man mác của Lưu Trọng Lư, hoài bão mơ hồ trong thơThế Lữ Xuân Diệu dứt khoát và say sưa phát biểu thẳng những ham muốn
Trang 21riêng tư, những khao khát hưởng thụ của mình Có thể nói rằng, đến XuânDiệu, cái tôi tiểu tư sản ngang nhiên đòi hỏi được thỏa mãn một cách tối đanhững nhu cầu của cuộc sống vật chất, của tình cảm, cảm giác phức tạp mànồng nàn mãnh liệt nhất.
Có lẽ trong tất cả các nhà thơ mới chưa ai bộc lộ lòng ham sống đến mứcthiết tha, cuồng nhiệt như Xuân Diệu:
“Kẻ đứng trái tim trìu máu đất Hai tay chín móng bám vào đời”
(Hư vô)Ông luôn ví mình như cây kim bé nhỏ mà vạn vật là muôn đá nam châm.Xuân Diệu luôn ước ao sự hòa hợp khăng khít với thế giới thiên nhiên, vầngtrăng, cây cỏ, hoa lá,…với mọi người, nhất là những người đang trẻ tuổi, trẻlòng Không ít nhà thơ mới có những lần cảm thấy thú vị khi trầm mình trongnỗi cô đơn, ngược lại Xuân Diệu rất lo sợ sự lẻ loi, sợ thờ ơ lạnh nhạt Vì thế,trong các nhà thơ, khao khát thực hiện bằng thơ cái nhu cầu đối thoại giaotiếp như Xuân Diệu, ông bộc bạch lòng ham muốn, bộc lộ nỗi hốt hoảng trước
sự chảy trôi của thời gian
Ông khẩn thiết kêu gọi mọi người hãy bận tâm, siêng năng mà sống, màyêu cho toàn vẹn tuổi xuân hiếm hoi của ta:
“Trời cao trêu nhử chén xanh êm Biển đắng không nguôi nỗi khát thèm Nên lúc môi ta kề miệng thắm Trời ơi ta muốn uống hồn em”
Trang 22tư sản không còn yêu một cách rụt rè, nhớ thương bóng gió nữa Bây giờ
Xuân Diệu là “Kẻ uống tình yêu dập cả môi” mà vẫn không lúc nào nguôi nỗi
khát thèm
Rõ ràng, tình yêu của cái tôi tiểu tư sản này mang nặng triết lý hưởng thụcuộc sống trần tục, thèm muốn hòa hợp vô biên và tuyệt đích trong tình yêuđược Xuân Diệu nói một cách chân thành táo bạo Cường độ cảm xúc caođược biểu hiện bằng thứ ngôn ngữ sinh động giàu sức gợi cảm trực tiếp Phảichăng đây chính là nguyên nhân khiến thơ ông “mang theo một nguồn sốngdào dạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này” theo “Thi nhân ViệtNam”