1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

Ứng dụng mạng phức hợp trong khai phá dữ liệu tương tác người dùng

7 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết này sẽ mô hình hóa bộ dữ liệu email bằng một mạng lƣới và phân tích hệ thống theo tiếp cận mạng lưới bằng các thuật toán phân cụm K-core và modularity cực đại. Tìm ra các cụm dữ liệu, phân tích tính môđun để tìm ra các tri thức mới. Đây là một kỹ thuật phân tích mới giúp hiểu rõ về kiến trúc hệ thống và hỗ trợ thiết kế quy trình nghiệp vụ.

Trang 1

ỨNG DỤNG MẠNG PHỨC HỢP TRONG KHAI PHÁ DỮ LIỆU TƯƠNG TÁC

NGƯỜI DÙNG Nguyễn Minh Tân 1 , Trần Tiến Dũng 2

1

Trung tâm Thông tin thư viện, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội

2Khoa Công nghệ thông tin, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội

minhtan@triz.edu.vn, trantd@haui.edu.vn

TÓM TẮT: Một hệ thống thông tin quản lý là sản phẩm tin học hóa các quy trình nghiệp vụ của một tổ chức, doanh nghiệp

Bằng việc sử dụng phương pháp mô hình hoá và phân tích hệ thống theo tiếp cận mạng lưới, bài báo phân tích một mạng phức hợp

về dữ liệu tương tác người dùng của hệ thống thông tin quản lý Dữ liệu là một mạng có hướng gồm 1292 nốt và 968706 cạnh Kết quả phân tích thu được 16 môđun, 19 lớp core, số bậc trung bình của mỗi nốt là 19,15, với phương sai = 409,37, độ lệch chuẩn

= 20,23, hệ số phân cụm trung bình là 0.482 Từ đó đưa ra phân tích về cấu trúc các môđun, mối liên hệ giữa các môđun cũng

như đặc điểm của lõi mạng dữ liệu Chúng tôi phát hiện rằng từ dữ liệu tương tác email có thể xác định được các nhóm chức năng

và cấu trúc tổ chức của một trường đại học bằng thuật toán modularity cực đại Ngoài ra kết qủa phân tích K-core trên hệ thống có thể dùng để tham khảo cho việc xếp lương cho người lao động theo từng lớp lõi của hệ thống Kết quả thu được có thể dùng để thẩm định tính hợp lý của hệ thống và hỗ trợ thiết kế quy trình

Từ khóa: Mạng phức hợp, khai phá đồ thị, tính môđun, K-core, phân bố bậc, hệ số phân cụm

I MỞ ĐẦU

Mạng phức hợp là đồ thị đại diện cho các kết nối phức tạp giữa các yếu tố trong nhiều hệ thống tự nhiên và nhân tạo [1] Cách tiếp cận mạng lưới không chỉ hữu ích cho việc đơn giản hóa và hình dung số lượng dữ liệu khổng lồ

mà còn hiệu quả trong việc tìm ra các yếu tố quan trọng nhất và tìm ra các tương tác quan trọng nhất của chúng Các ứng dụng gần đây của các phương pháp mạng phức hợp bao gồm các lĩnh vực khá đa dạng như khí hậu học, động lực học chất lỏng, sinh lý thần kinh, kỹ thuật, và kinh tế từ đó chứng minh được tiềm năng to lớn của mạng lưới thời gian

để giải quyết các vấn đề khoa học đương đại trong thế giới thực [2] Andor Háznagy và cộng sự sử dụng phương pháp mạng phức hợp để phân tích hệ thống giao thông công cộng đô thị của 5 thành phố ở Hungary Kết quả phân tích cho thấy được những đặc điểm tương đồng và khác biệt trong cách tổ chức giao thông, những điểm xung đột, kém hiệu quả

từ đó đề xuất phương án điều phối hoạt động giao thông được hiệu quả [3]

Phân cụm là một kỹ thuật quan trọng trong khai phá dữ liệu Từ một cơ sở dữ liệu ta nhóm các đối tượng có cùng tính chất với nhau, từ đó ta được các cụm dữ liệu Việc phân cụm dữ liệu được tiến hành khá sớm trong lĩnh vực nhân học rồi sau đó được mở rộng sang lĩnh vực tâm lý học bởi Zubin 1938 [4] Ngày nay kỹ thuật phân cụm được sử dụng phổ biến trong một số hoạt động như: hỗ trợ tiền xử lý dữ liệu, nhận dạng mẫu, phân loại khách hàng, nhận dạng đối tượng, phân đoạn hình ảnh [5] Trên thực tế các bài toán xử lý dữ liệu thì dữ liệu đầu vào thường có nhiễu, nhiều tác giả đã sử dụng kỹ thuật phân cụm với tập mờ loại 2 để giải quyết vấn đề này [6, 7] Chúng ta có thể sử dụng kỹ thuật phân cụm để khai phá dữ liệu, tìm ra những đặc tính đặc trưng của từng cụm giúp cho việc phát hiện ra tri thức mới Đặc biệt ngày nay chúng ta có những bộ dữ liệu siêu lớn như Facebook, Google, Twitter nếu khai thác tốt sẽ mang lại rất nhiều tri thức quý giá [8] Hiện nay đã có nhiều thuật toán phân cụm dữ liệu lớn dựa trên những thuật toán

và ứng dụng khác nhau được áp dụng [9]

Bài báo này sẽ mô hình hoá bộ dữ liệu email bằng một mạng lưới và phân tích hệ thống theo tiếp cận mạng lưới bằng các thuật toán phân cụm K-core và modularity cực đại Tìm ra các cụm dữ liệu, phân tích tính môđun để tìm ra các tri thức mới Đây là một kỹ thuật phân tích mới giúp hiểu rõ về kiến trúc hệ thống và hỗ trợ thiết kế quy trình nghiệp vụ

II DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐẦU

2.1 Dữ liệu và xử lý dữ liệu

Bài báo khai phá dữ liệu của hệ thống email quản lý hành chính điện tử của Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội (eGov) Tập dữ liệu đơn giản chỉ có 02 trường kiểu văn bản: ID người gửi và ID người nhận giao dịch trong khoảng thời gian từ 01/01/2015 đến 16/9/2016 ID người gửi/nhận cho biết tên đơn vị cũng như cho phép xác định chức năng, nhiệm vụ của đơn vị người gửi/nhận đang công tác Từ bộ dữ liệu đơn giản này, chúng tôi xây dựng một mạng dữ liệu eGov là một đồ thị có hướng mô tả thông tin người gửi gửi tin đến người nhận qua email Mỗi nút mạng (đỉnh) biểu diễn một người gửi/nhận Hai nút mạng A và B bất kỳ nối với nhau bằng 01 cung có hướng từ A B nếu như A gửi email cho B Dữ liệu ban đầu khi chưa qua tiền xử lý là một đồ thị có hướng, bao gồm 1.292 nút và 1.000.000 cạnh Qua phân tích thấy dữ liệu eGov tồn tại 3 loại nhiễu, không thể hiện được mối quan hệ công việc:

Loại 1: Người gửi và người nhận trùng nhau

Loại 2: Người gửi gửi tin nhắn đại chúng (broadcast)

Trang 2

Loại 3: Các thư lạc hoặc tương tác có số lượng thư quá ít, thư không thể hiện được mối quan hệ công việc Nhiễu ở loại 1 được xử lý như sau: So sánh Id người gửi và Id người nhận để kiểm tra xem có trùng nhau hay không Đánh dấu và xoá các trường hợp trùng nhau Sau khi xử lý, bộ dữ liệu còn 968.706 cạnh

Nhiễu ở loại 2 được xử lý như sau: Đầu tiên, xác định số lượng người trong đơn vị Sau đó, tính xem ở mỗi lần gửi, người gửi gửi tin đến bao nhiêu người Cuối cùng, loại những trường hợp gửi tin đến vượt quá số lượng người trong đơn vị của người đó

Nhiễu ở loại 3 được xử lý như sau: Đầu tiên, tính xem số lần gửi tin cho nhau của mỗi cặp hai người là bao nhiêu Sau đó sẽ đưa mạng dữ liệu vừa xử lý vào phần mềm phân tích mạng Gephi để lọc những trường hợp tương tác một chiều bằng cách sử dụng bộ lọc Mutual Edge Sau khi loại bỏ những trường hợp tương tác một chiều, chúng tôi thu được một mạng có hướng, có trọng số Sau khi đã loại bỏ các tương tác một chiều, chúng tôi đã tạo một mạng vô hướng bằng cách cộng tổng trọng số của hai chiều liên kết của mạng có hướng hiện tại Biểu đồ histogram phân bố trọng số mạng lưới như Hình 1

Sau khi đã loại bỏ các tương tác một chiều, ta tạo một mạng vô hướng bằng cách cộng tổng trọng số của hai chiều liên kết của mạng có hướng hiện tại

Hình 1 Biểu đồ histogram phân bố trọng số mạng lưới sau khi cộng tổng trọng số của hai chiều liên kết

Mạng dữ liệu eGov sau khi xử lý các trường hợp gây nhiễu bao gồm 1.163 nốt và 11.136 cạnh Trong đó, mỗi người đại diện cho một nốt, hai nốt trong mạng được kết nối với nhau trong hệ thống eGov

2.2 Mô hình hoá dữ liệu

Để mô hình hoá mạng lưới eGov ta sử dụng phần mềm Gephi, trước tiên từ dữ liệu ban đầu ta sẽ tạo hai file định dạng *.csv chứa danh sách các nốt và danh sách các cạnh cần biểu diễn Sau đó lần lượt đưa file chứa dữ liệu các nốt và các cạnh vào Gephi để tạo mạng lưới

Hình ảnh mạng lưới eGov được mô hình hóa cho ra kết quả như Hình 2

Hình 2 Mạng lưới eGov được xây dựng từ dữ liệu email gồm 02 trường: ID người gửi, ID người nhận

2.3 Thuật toán phân tích dữ liệu email trên đồ thị

Bài báo sử dụng thuật toán K-core để phân tích bộ dữ liệu Thuật toán dùng để cài đặt được mô tả như sau: Khởi tạo danh sách chứa kết quả đầu ra L

Trang 3

Tính số bậc của mỗi đỉnh v trong G, là số lượng các đỉnh kề với v mà chưa có trong L

Khởi tạo một mảng D sao cho D[i] chứa một danh sách các đỉnh v không có trong L mà dv = i

Khởi tạo biến k bằng 0

Lặp lại n lần:

Quét các giá trị trong mảng D[0], D[1],… cho đến khi tìm được i mà D[i] không rỗng

Gán k = max(k, i)

Chọn một đỉnh v từ D[i] Thêm v vào đầu mảng L và xoá đỉnh v khỏi D[i]

Với mỗi đỉnh kề w của v mà chưa có trong L, trừ dw đi 1 và di chuyển đỉnh w tới vị trí trong mảng D tương ứng với dw

Kết thúc thuật toán, k sẽ chứa độ phân rã của G (K-Core max), L sẽ chứa một danh sách các đỉnh được sắp xếp theo thứ tự giá trị độ phân rã tăng dần

III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Môđun của hệ thống

Sau khi mạng lưới được tạo ra, chúng tôi dùng thuật toán moduarity cực đại [10] để phát hiện các môđun (cụm) trong mạng lưới eGov Kết quả có 16 môđun được phát hiện đánh số thứ tự từ 0 đến 15 như Hình 3

Hình 3 16 môđun của mạng eGgov được phát hiện bằng thuật toán modularity cực đại

Bảng 1 Bảng liệt kê các môđun trong hệ thống

Bảng 1 liệt kê các môđun trong hệ thống, đi kèm với số phần trăm của số lượng nốt trong từng môđun theo thứ

tự giảm dần Trong Bảng 1, có thể thấy môđun lớn nhất là môđun 11, lớn thứ hai là môđun 8, nhỏ nhất là môđun 15 Sau khi đối chiếu từng môđun với danh sách cán bộ của từng đơn vị, chúng tôi nhận thấy hầu hết các môđun của mạng

Trang 4

chính là các đơn vị chức năng trong trường Điều này cho thấy rằng các môđun của dữ liệu email phát hiện bởi thuật toán phản ánh các chức năng hoạt động của một hệ thống thực tế Nói cách khác, từ dữ liệu email có thể xác định được các nhóm chức năng của hệ thống thực bằng thuật toán modularity cực đại Đặc biệt, có một vài môđun như Môđun 11 bao gồm 4 đơn vị, số lượng người chiếm phần lớn từ khoa Ngoại ngữ với 195 người (Hình 4); môđun 8 bao gồm 25 đơn vị, số lượng người được phân bố chủ yếu ở các trung tâm (Hình 5) Các môđun này khác biệt với các môn đun khác, đóng vai trò liên kết các môđun khác ở trong mạng lưới Hình 6 là một đồ thị vô hướng có trọng số mô tả sự liên kết giữa các môđun với nhau Trong đó các nốt sẽ đại diện cho các môđun, hai môđun được coi là có liên kết với nhau nếu tồn tại đơn vị chung giữa hai môđun, trọng số của hai môđun liên kết với nhau được tính bằng số lượng các đơn vị chung giữa hai môđun Các nốt có bậc cao sẽ có màu đậm hơn các nốt có bậc thấp và nếu hai môđun có trọng số cạnh nối giữa chúng càng cao thì cạnh đó được vẽ càng đậm Hình 8 cho thấy, môđun 5 và môđun 7 độc lập với các môđun khác

và tách biệt khỏi hệ thống Môđun 8 có số bậc cao nhất (có số lượng các môđun chung với các môđun khác là nhiều nhất), đóng vai trò là trung tâm của mạng và có ảnh hưởng phần lớn đến các môđun còn lại trong mạng [11] Môđun 2, môđun 8

và môđun 14 tạo thành một tam giác liên kết chặt chẽ với nhau, đặc biệt là hai môđun 2 và môđun 8

Môđun 11 bao gồm 4 đơn vị, số lượng người chiếm phần lớn từ khoa Ngoại ngữ với 195 người (Hình 4)

Hình 4 Các đơn vị trong môđun 11

Môđun 8 bao gồm 25 đơn vị, số lượng người được phân bố chủ yếu ở các trung tâm (Hình 5)

Hình 5 Các đơn vị trong môđun 8

3.2 Kết quả phân tích K-core

Core của một hệ thống là một cụm bộ phận đại diện cho các chức năng cơ bản của cả hệ thống Nói chung, các mạng có thể được phân tách thành lõi dày đặc và ngoại vi được kết nối lỏng lẻo bằng cách sử dụng phương pháp phân

rã mạng Phân rã lõi K dựa trên bậc của nút thường được sử dụng để xác định các tập hợp con cụ thể của mạng, được gọi là lõi k (k ≥ 1), trong đó k biểu thị mức lõi [12] Lõi k của mạng G bao gồm một tập hợp con các nút trong mạng G, được lấy theo quy tắc cắt tỉa sau Với một mạng, tất cả các nút có bậc < k được loại bỏ, cùng với các tương tác đi qua của chúng, khỏi mạng Quá trình loại bỏ này được lặp lại cho đến khi bậc của mọi nút trong mạng còn lại là ≥ k Lõi k biểu thị tập hợp các nút còn lại và do đó, lõi k1 là tập con của lõi k2 nếu k1 ≥ k2 Dựa trên định nghĩa K-Core của một mạng lưới với K là số bậc tối thiểu của các nút lõi, chúng tôi đã tìm ra mạng dữ liệu eGov có chỉ số K-Core tối đa bằng K=19 Nói cách khác, hệ thống dữ liệu email có 19 cụm core như Hình 7 Trong Hình 7, các nốt có chỉ số K-Core thấp

Trang 5

sẽ nằm ở vị trí bên rìa của hệ thống và có màu tối Càng vào bên trong lõi hệ thống, các nốt có chỉ số K-Core cao hơn

và màu nóng hơn Nói cách khác, các nốt nằm ở bên trong lõi hệ thống có số bậc cao hơn các nốt ở xung quanh và nắm vai trò chức năng cơ bản của hệ thống Bảng 2 liệt kê danh sách 27/47 đơn vị xuất hiện trong lõi của hệ thống, được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái và tỉ lệ % tham gia K-Core trong cùng của từng đơn vị Lõi trong cùng gồm 27 đơn vị chức năng bao gồm: Ban Giám hiệu, Khoa, Phòng, Trung tâm, và Viện nghiên cứu là các chức năng chủ chốt của một trường đại học Nói cách khác, những người nằm trong lõi là đối tượng tác nghiệp chủ chốt của trường đại học Có thể ứng dụng kết quả phân tích này để xếp lương cho cán bộ nhân viên trong trường với 19 bậc lương tương ứng với 19 lớp lõi

Hình 6 Sự liên kết giữa các môđun trong mạng dữ liệu eGov

Hình 7 Mạng dữ liệu Egov được phân lớp theo chỉ số K-Core Bảng 2 Danh sách các đơn vị thuộc vào lõi trong cùng của hệ thống

Trang 6

STT Tên đơn vị %

3.3 Kết quả phân tích phân bố số bậc

Số bậc trung bình của mỗi nốt là 19,15, với phương sai = 409,37, độ lệch chuẩn = 20,23, số bậc thấp nhất

và cao nhất tương ứng là 1 và 151 Như vậy trung bình mỗi người sẽ tương tác với khoảng 19 người khác, ít nhất là 1

và nhiều nhất là 151 Biểu đồ Scatter thể hiện sự phân phối các bậc trong mạng lưới như Hình 8 Trong biểu đồ hầu hết các nốt có số bậc tập trung từ 1 đến 30 Nhưng có tồn tại một số ít các nốt có số bậc trên 60 Như vậy, theo biểu đồ và

lý thuyết đã đề cập ở trên thì mạng lưới dữ liệu eGov thuộc dạng mạng Scale-free với các tính chất về sự miễn dịch, khoảng cách, thẩm thấu đã được đề cập trong [13]

Hình 8 Biểu đồ scatter thể hiện sự phân phối các bậc trong mạng lưới

3.4 Kết quả về mối tương quan giữa hệ số phân cụm và số bậc

Hệ số phân cụm (Ci) chỉ ra sự gắn kết cục bộ của một nốt hay xác suất để hai người tương tác với một người thứ

ba cũng trực tiếp tương tác với nhau Một giá trị (Ci) lớn có nghĩa là nốt i có kết nối chặt chẽ với một hệ thống các nốt

kề nó hơn Trong khi đó hệ số phân cụm trung bình (C) đo mật độ của toàn bộ các nốt trong mạng Hệ số phân cụm trung bình (C) của mạng dữ liệu eGov là 0,482 Hệ số phân cụm của một nốt phản ánh sự kết nối tới các nốt kề với nó Nếu chọn hai nốt kề của một nốt bất kỳ trong mạng dữ liệu eGov thì có khả năng là hai nốt kề đó sẽ kết nối trực tiếp với nhau là 48,2 %, do hệ số phân cụm trung bình (C) của mạng dữ liệu eGov là 0,482

Hình 9 Biểu đồ scatter mô tả sự tương quan giữa hệ số phân cụm và số bậc

Theo Hình 9, mạng lưới có thể được chia ra làm 02 phần Phần một khi giá trị của số bậc nhỏ hơn 60, có các kết nối dày đặc Phần thứ hai khi giá trị của số bậc lớn hơn 60, thể hiện sự tương quan âm giữa hệ số phân cụm với số bậc,

hệ số phân cụm giảm xuống một cách nhanh chóng, nơi có các kết nối thưa hơn và có xu hướng tuyến tính Các nốt liên kết trực tiếp với các nốt hub thì thường ít tương tác với nhau

Trang 7

IV KẾT LUẬN

Bài báo đã phân tích mạng dữ liệu eGov bằng phương pháp tiếp cận mạng lưới Trong đó, mạng dữ liệu eGov được tạo thành bởi sự kết hợp các nốt đại diện cho các cán bộ giáo viên và được liên kết bởi các cạnh đại diện cho sự tương tác giữa các cán bộ giáo viên trong trường Đặc điểm tôpô của mạng dữ liệu cho thấy mạng dữ liệu eGov thuộc dạng mạng Scale-Free, được đặc trưng bởi có các hub lớn, nơi có các nốt có bậc cao hơn so với các nốt khác trong mạng và đại diện cho những người có tầm ảnh hưởng lớn trong trường Các kết quả phân tích kiến trúc có thể được tóm tắt như như sau:

Mạng dữ liệu eGov thuộc dạng mạng Scale-Free

Mạng dữ liệu được chia ra làm 16 môđun, trong đó môđun 8 là trung tâm, môđun 5 và môđun 7 độc lập với

hệ thống Môđun 11 có số lượng người nhiều nhất

Mạng dữ liệu có số K-Core lớn nhất là 19

Có 20/47 đơn vị thuộc vào vị trí lõi trong hệ thống

Mỗi môđun thường có 2 đến 3 người là “leader” quản lý môđun đó, riêng môđun 2, môđun 8 và môđun 14

là ngoại lệ; ba môđun này có liên hệ mật thiết với nhau và có kiến trúc rất bền vững

Trung bình mỗi người sẽ tương tác với khoảng 19 người khác, ít nhất là 1 và nhiều nhất là 151

Xác suất để hai người cùng tương tác với một người thứ ba cũng tương tác trực tiếp với nhau là 48,2 %

V TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Hossain, M M and S Alam, “A complex network approach towards modeling and analysis of the Australian Airport Network” Journal of Air Transport Management, 60: pp 1-9, 2017

[2] Zou, Y., et al., “Complex network approaches to nonlinear time series analysis” Physics Reports, 787: pp 1-97,

2019

[3] Háznagy, A., et al “Complex network analysis of public transportation networks: A comprehensive study” in

2015 International Conference on Models and Technologies for Intelligent Transportation Systems (MT-ITS),

2015

[4] Zubin, J., “A technique for measuring like-mindedness” The Journal of Abnormal and Social Psychology, 33(4):

pp 508-516, 1938

[5] Saxena, A., et al., “A review of clustering techniques and developments” Neurocomputing, 2017 267: pp

664-681

[6] Linda, O and M Manic, “General Type-2 Fuzzy C-Means Algorithm for Uncertain Fuzzy Clustering” IEEE Transactions on Fuzzy Systems, 20(5): pp 883-897, 2012

[7] Melin, P and O Castillo, “A review on type-2 fuzzy logic applications in clustering, classification and pattern recognition” Applied Soft Computing, 21: pp 568-577, 2014

[8] Havens, T C., et al., “Fuzzy c-Means Algorithms for Very Large Data” IEEE Transactions on Fuzzy Systems, 20(6): pp 1130-1146, 2012

[9] Bharill, N., A Tiwari, and A Malviya, “Fuzzy Based Scalable Clustering Algorithms for Handling Big Data Using Apache Spark” IEEE Transactions on Big Data, 2(4): pp 339-352, 2016

[10] Tran, T.-D and Y.-K Kwon, “The relationship between modularity and robustness in signalling networks” Journal of The Royal Society Interface, 10(88): pp 20130771, 2013

[11] Truong, C.-D., T.-D Tran, and Y.-K Kwon, “MORO: a Cytoscape app for relationship analysis between modularity and robustness in large-scale biological networks” BMC Systems Biology, 10(4): pp 122, 2016 [12] Tran, T.-D and Y.-K Kwon, “Hierarchical closeness-based properties reveal cancer survivability and biomarker genes in molecular signaling networks” PLOS ONE, 13(6): pp e0199109, 2018

[13] Broido, A D and A Clauset, “Scale-free networks are rare” Nature Communications, 10(1): pp 1017.Author1_Name, Author2_Name, Web Caching and Replication, Addison-Wesley(Publication_ Name), USA,

2014, 2019

APPLYING COMPLEX NETWORK IN MINING USER INTERACTION DATA

Nguyen Minh Tan, Tran Tien Dung

ABSTRACT: A management information system is a computerized product of an organization's or enterprise's business

processes By using the system modeling and analysis method according to network approach, the paper analyzes a complex network of user interaction data of management information system The data is a directed network of 1292 nodes and 968706 edges The analysis results obtained 16 modules, 19 core classes, the average order of each note is 19.15, with variance = 409.37, standard deviation σ = 20.23, average clustering coefficient is 0.482 From that, the analysis of the module structure, the relationship between the modules as well as the characteristics of the data network core The results can be used to validate the system and support the process design

Ngày đăng: 30/09/2021, 16:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm