1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI GIẢNG LỊCH sử ĐẢNG đại hội x của ĐẢNG với CÔNG tác xây DỰNG và CHỈNH đốn ĐẢNG

21 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 131,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan điểm của Lênin: Đổi mới, chỉnh đốn Đảng là việc làm thường xuyên, liên tục để bảo đảm cho Đảng lãnh đạo ngang tầm với đòi hỏi của sự nghiệp cách mạng. Cụ thể là: Khi chưa giành được chính quyền: đổi mới, chỉnh đốn Đảng để loại bỏ những phần tử cơ hội, thoái hoá, sợ hy sinh gian khổ. Khi đã giành được chính quyền: Yêu cầu nhiệm vụ mới có nhiều khó khăn đặt ra cần G.quyết. Vị trí của một Đảng cầm quyền làm cho một số kẻ cơ hội tìm cách chui vào Đảng để thực hiện mục đích cá nhân. Cũng từ vị trí của một Đảng cầm quyền, một số đảng viên không giữ được bổn phận, trách nhiệm của mình  thoái hoá, biến chất, trục lợi cá nhân, tham ô, tham nhũng  ảnh hưởng xấu đến thanh danh, uy tín của Đảng. ==> Phải thường xuyên đổi mới, chỉnh đốn để thanh trừ những phần tử thoái hoá, biến chất, bảo đảm cho Đảng có đủ sức mạnh lãnh đạo cách mạng đi tới thành công.

Trang 1

PHẦN I: Ý ĐỊNH HUẤN LUYỆN

1 Mục đích yêu cầu

- Giúp người học nắm được tính tất yếu khách quan đổi mới, chỉnh đốnĐảng

- Chủ trương của ĐHX về đổi mới, chỉnh đốn Đảng

- Biết vận dụng, liên hệ với thực tiễn, góp phần tích cực vào việc thực hiệnnhiệm vụ đổi mới, chỉnh đốn Đảng hiện nay

2 Bố cục, nội dung: Gồm 3 phần:

I Tính tất yếu đổi mới chỉnh đốn Đảng

II Những điểm mới cơ bản trong Báo cáo XDĐ của ĐHX

III P hướng, nhiệm vụ và giải pháp XDĐ của ĐHX

Trang 2

PHẦN II: NỘI DUNG

I TÍNH TẤT YẾU ĐỔI MỚI CHỈNH ĐỐN ĐẢNG

1 Cơ sở lí luận:

- Quan điểm của Lênin: Đổi mới, chỉnh đốn Đảng là việc làm thường xuyên, liên tục để bảo đảm cho Đảng lãnh đạo ngang tầm với đòi hỏi của sự nghiệp cách mạng.

Cụ thể là:

Khi chưa giành được chính quyền: đổi mới, chỉnh đốn Đảng để loại

bỏ những phần tử cơ hội, thoái hoá, sợ hy sinh gian khổ

Khi đã giành được chính quyền:

Yêu cầu nhiệm vụ mới có nhiều khó khăn đặt ra cần G.quyết

Vị trí của một Đảng cầm quyền làm cho một số kẻ cơ hội tìmcách chui vào Đảng để thực hiện mục đích cá nhân

Cũng từ vị trí của một Đảng cầm quyền, một số đảng viênkhông giữ được bổn phận, trách nhiệm của mình  thoáihoá, biến chất, trục lợi cá nhân, tham ô, tham nhũng  ảnhhưởng xấu đến thanh danh, uy tín của Đảng

==> Phải thường xuyên đổi mới, chỉnh đốn để thanh trừ những phần tử

thoái hoá, biến chất, bảo đảm cho Đảng có đủ sức mạnh lãnh đạo cách mạng đitới thành công

- Quan điểm của Hồ Chí Minh: Muốn cho Đảng thực sự giữ được vai trò lãnh đạo của mình thì phải thường xuyên đổi mới, chỉnh đốn (ĐM, CĐ).

Trang 3

+ Lúc còn sống, Bác rất chú trọng nhiệm vụ ĐM, CĐ Đảng, nhất là khitình hình nhiệm vụ cách mạng có những biến đổi quan trọng -> vì thế đã có cáccuộc chỉnh huấn vào các năm 1953, 1961.

+ Tháng 5/1968, sau khi xem lại tài liệu “Tuyệt đối bí mật” - tức Bản Di

chúc, Người đã quyết định viết thêm mấy điểm để dặn lại cho muôn đời concháu mai sau

Trong số nhiều điều phải quan tâm giải quyết, Bác xác định, việc phải làm

trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng Bác viết:

“Ngay sau khi cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toànthắng lợi, công việc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải ra sức làm là mauchóng hàn gắn vết thương nghiêm trọng do đế quốc Mỹ gây ra trong cuộc chiếntranh xâm lược dã man Đó là một công việc cực kỳ to lớn, quan trọng và khókhăn Chúng ta phải có kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo để tránh khỏi bị

động, thiếu sót và sai lầm Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn

nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân Làmđược như vậy thì dù công việc to lớn đến mấy, khó khăn đến mấy chúng ta cũngnhất định thắng lợi” (Di chúc Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, 1999, tr.31)

+ Diễn văn tại Lễ kỷ niệm 109 năm này sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và 30năm thực hiện Di chúc của Người, đồng chí Lê Khả Phiêu khẳng định:

Về chỉnh đốn Đảng, Bác không coi đó là biện pháp tình thế mà là

nhiệm vụ tất yếu, thường xuyên để thực hiện vai trò lãnh đạo củaĐảng;

Khi cách mạng khó khăn, chỉnh đốn Đảng để xây dựng thái độ bình

tĩnh, sáng suốt, kiên định lập trường, không để rơi vào tình trạng biquan dao động;

Trang 4

Khi cách mạng trên đà thắng lợi, chỉnh đốn lại Đảng để ngăn ngừa

bệnh kiêu ngạo, chủ quan, tự mãn, lạc quan tếu;

Khi Đảng cầm quyền, đảng viên dễ đánh mất mình, ngày hôm qua

vĩ đại, không nhất định hôm nay vẫn được mọi người yêu mến nếu

họ không trong sáng, sa vào chủ nghĩa cá nhân Vì vậy lại cần coitrọng chỉnh đốn Đảng

=> Như vậy, vấn đề ĐM,CĐ Đảng theo quan điểm của Lênin và Hồ ChíMinh: không phải là giải pháp tình thế, chỉ đặt ra khi Đảng có vấn đề, mà đó làviệc làm thường xuyên, liên tục để bảo đảm cho Đảng giữ được vai trò lãnh đạo,đưa cách mạng đi tới thành công

Ở những lúc bình thường, việc đổi mới, chỉnh đốn Đảng đã là tất yếu, ởnhững lúc cách mạng gặp khó khăn hay khi đất nước chuyển giai đoạn, đổi mới,chỉnh đốn Đảng lại càng phải đặc biệt coi trọng

+ Đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước: Đảng là người hoạchđịnh đường lối và tổ chức chỉ đạo thực hiện đường lối đổi mới; sự lãnh đạo đúngđắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của CMVN nóichung, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới nói riêng

- Thực trạng công tác XDĐ sau 20 năm đổi mới: (đã N.cứu ở bài trước) + Ưu điểm: Công tác XDĐ về chính trị tư tưởng được coi trọng; đã quan

tâm XD, kiện toàn hệ thống tổ chức; công tác bảo vệ chính trị, nội bộ được quantâm; việc thực hiện NQTW6 (Lần 2 khóa VIII) đạt một số kết quả nhất định…

Trang 5

+ Khuyết điểm, yếu kém: Cuôc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa

tạo được sự chuyển biến cơ bản; công tác GDCT, tư tưởng còn nhiều hạn chế,thiếu sót; công tác tổ chức trên một số mặt còn yếu; nhiều khuyết điểm, yếu kémtrong công tác cán bộ chưa được khắc phục; đổi mới phương thức lãnh đạo củaĐảng còn chậm, lúng túng…

- Những khó khăn, thách thức và những vấn đề mới nảy sinh trong quá

trình đổi mới đòi hỏi phải đổi mới, chỉnh đốn Đảng:

+ Thuận lợi:

Những thành tựu đạt được sau 20 năm đổi mới đã làm cho

thế và lực nước ta lớn mạnh hơn nhiều so với trước đổi mới Chúng ta đã mở rộng được các quan hệ hợp tác quốc tế, đang chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững môi

trường hoà bình, tạo thêm nhiều thuận lợi cho sự nghiệp đổimới

+ Thách thức:

Từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VII (1/1994), các văn kiện

của Đảng dùng cụm từ “4 nguy cơ”.

Đến nay các nguy cơ đó vẫn tồn tại, thậm chí gay gắt hơn.Tuy nhiên, xung quanh vấn đề nguy cơ và 4 nguy cơ trongnhững năm gần đây có nhiều ý kiến khác nhau

Để tránh những tranh luận không cần thiết về các vấn đề trên,Đại hội X không dùng cụm từ “4 nguy cơ” mà đã diễn đạt nộihàm trực tiếp các nguy cơ:

Một là, nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực

và trên thế giới vẫn tồn tại

Trang 6

 Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới: Số liệu năm 2004 thì GDP củanước ta chỉ bằng 1/37 Trung Quốc, chưa bằng 1/3 của Thái Lan vàMalaixia.

GDP bình quân đầu người chưa bằng 1/2 Trung Quốc; 1/3 Thái Lan; 1/8Malaixia

 Đại hội X khẳng định:

Về thu nhập đầu người, chúng ta đã đạt mức của nước đang phát triển có thu nhập thấp.

Nhưng về cơ sở hạ tầng, quản lý, mức độ xuất khẩu theo đầu người thì

nước ta vẫn đang ở tình trạng kém phát triển

=> Nếu tốc độ phát triển của nước ta không nhanh hơn các nước thì khôngbao giờ đuổi kịp họ

Hai là, tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí là nghiêm trọng Biểu hiện:

Suy thoái về đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên có xu hướngtăng cả về số lượng và phạm vi;

Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân có chiều hướng gia tăng;

Tệ nói nhiều, làm ít, nói nhưng không làm, làm không đến nơi đếnchốn vẫn diến ra ở nhiều nơi;

Tệ quan liêu, xa dân, thích nghe thành tích, ngại nghe sự thật còntồn tại ở các cấp, các ngành;

Tham nhũng, nhũng nhiễu dân gây hậu quả nặng nề trên các mặt

Ba là, những biểu hiện xa rời mục tiêu, lý tưởng của CNXH vẫn tồn tại :

 Quá trình thảo luận ở Đại hội X, có ý kiến cho rằng, không có nguy cơchệch hướng hoặc không nên nêu nguy cơ này vì gây tâm lý rụt rè, ngầnngại trong hành động thực tiễn do “sợ chệch hướng”

Trang 7

 Đoàn chủ tịch kết luận: nguy cơ này là có thật, biểu hiện là:

Chưa nhận thức rõ được định hướng XHCN của nền kinh tế, nhất làviệc giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước;

Quá nhấn mạnh các chỉ tiêu lợi nhuận kinh tế, chưa chú ý đầy đủthực hiện tiến bộ và công bằng xã hội;

Mất cảnh giác trước âm mưu “DBHB” của các thế lực thù địch;Chưa tích cực học tập lý luận chính trị, đường lối, quan điểm của Đảng

Bốn là, các thế lực thù địch âm mưu “DBHB”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị

=> Như vậy: Dù không dùng cụm từ “4 nguy cơ” như các Đại hội trước

đó, nhưng theo cách diễn đạt của Đại hội X, thì những nguy cơ đó vẫn tồn tại vàdiễn biến phức tạp, đòi hỏi Đảng phải tích cực đổi mới, chỉnh đốn để bảo đảmcho Đảng giữ được vai trò lãnh đạo trong tình hình mới

+ Về những vấn đề phức tạp mới nảy sinh trong quá trình đổi mới, đòi hỏi

Đảng phải có lời giải đáp thoả đáng:

Vấn đề CNXH với kinh tế thị trường;

Vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước trong điều kiện các thànhphần kinh tế bình đẳng;

Làm gì và làm như thế nào để nâng cao hiệu quả kinh tế Nhà nước?;

Trang 8

Có thể cho phép kinh tế tư bản tư nhân phát triển đến mức độ nào?; Sựphát triển kinh tế tư nhân có thể thành nguy cơ với chế độ XHCN ở nước takhông?;

-> Đòi hỏi Đảng phải đầu tư trí tuệ, tổng kết thực tiễn để có được nhữnglời giải đáp thoả đáng

II NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN TRONG BÁO CÁO XDĐ CỦA ĐHX:

1 Về bản chất của Đảng và cách diễn đạt về Đảng

- Đây là vấn đề nhạy cảm và có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác

XDĐ hiện nay, (vì có hiểu đúng Đảng là gì, bản chất của Đảng ntn thì mới cos cơ

sở đề ra chủ trương, giải pháp XDD vững mạnh)

- Từ ĐH IV đến ĐH IX, trong các VK của Đảng đều xác định: “ĐCS VN

là đội tiền phong của GCCN, đại biểu trung thành cho lợi ích của GCCN, NDLĐ và của cả dân tộc”.

+ Cách diễn đạt như trên là đúng, vì nó đã trả lời được câu hỏi: Đảng làcủa ai, đại biểu quyền lợi cho giai cấp, lực lượng nào trong XH?

+ Tuy nhiên trong điều kiện lịch sử mới, có nhiều ý kiến đề nghị cần thểhiện đầy đủ hơn, phản ánh sát thực tế hơn bản chất vốn có của ĐCSVN- mộtĐảng ra đời từ PTCN, PTYN của DT, kiên trì đấu tranh bảo vệ quyền lợi củaGCCN, NDLĐ và của cả DT

Từ thực tế đó ĐHX kết luận, cần phải khẳng định và diễn đạt lại về Đảng

và bản chất của Đảng

- ĐHX: “ĐCSVN là đội tiền phong của GCCN, đồng thời là đội tiền phong của NDLĐ và của cả DTVN; đại biểu trung thành cho lợi ích của GCCN, NDLĐ và của dân tộc”.

Trang 9

(BCHTƯ Khóa IX có 78,7% số ủy viên tán thành

Thực tế, quá trình phát triển dù tên gọi thế nào (ĐCS hay Đảng Lao động)thì Đảng ta luôn mang bản chất GCCN

Bản chất GCCN của Đảng thể hiện:

M, lí tưởng của Đảng là CNXH và CNCS Nền tảng tư tưởng của Đảng là CNMLN, Tư tưởng HCM N.Tắc tổ chức cơ bản của Đảng là TTDC

Đảng liên hệ mật thiết với QC, Lấy PB và TPB là QL phát triển

+ Hai là, cách diễn đạt của ĐHX thể hiện rõ hơn MQH giữa Đảng với

GC, và DT theo tư tưởng HCM

MQH giữa Đảng với GC, và DT là MQH máu thịt, được thể hiện ngay từ

nguồn gốc ra đời của Đảng (Đảng ta ra đời ko chỉ là sự kết hợp CNMLN với PTCN mà còn thêm một thành tố nữa, đó là PTYN).

Chủ tịch HCM đã nhiều lần nói rằng: Đảng ta ko chỉ là Đảng của GCCN

mà còn là Đảng của NDLĐ và của DTVN

Trang 10

Báo cáo Chính trị tại ĐH II, Bác chỉ rõ: “Đảng Lao động VN phải làngười lãnh đạo sáng suốt, kiên quyết, trung thành của GCCN và NDLĐ…Chính

vì Đảng Lao động VN là Đảng của GCCN và NDLĐ, cho nên nó phải là Đảngcảu DTVN” Tr.37- 38

Điều lệ của ĐH II đã ghi: “Đảng Lao động VN là Đảng của GCCN vàNDLĐ VN”

Đến năm 1957, nói chuyện ở trường cán bộ Công đoàn, Bác khẳng địnhlại: “Đảng là đội tiền phong của GCCN, đồng thời cũng là đội tiền phong củaDT”…

+ Ba là, về vấn đề lợi ích, Đảng ta ko có mục đích nào khác ngoài mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân và của dân tộc

Trong CMDTDCND, Đảng nêu khẩu hiệu: ĐLDT và người cày có ruộng Trong đổi mới hiện nay: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng…

Mục tiêu đó đã thể hiện rõ sự thống nhất lợi ích giữa GCCN với lợi íchcủa NDLĐ và của DT trong từng giai đoạn

Chính vì vậy mà Đảng đã được nhân dân thường xuyên cưu mang, đùm

bọc, thừa nhận Đảng là Đảng của chính mình, trìu mến gọi Đảng là Đảng ta

Tóm lại: Dù cách diễn đạt về Đảng của ĐH X có thay đổi nhưng bản

chất GCCN của Đảng ko thay đổi

Cách diễn đạt như thế thể hiện đầy đủ hơn, phản ánh sát thực tế hơnĐ.Điểm, bản chất vốn có của Đảng

Diễn đạt như thế cho phép phát huy cao độ SMTH của khối ĐĐK toàndân trong sự nghiệp XD và B.vệ TQ

Trang 11

2 Về vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân:

- ĐH cho rằng: Đây là một vấn đề cụ thể nhưng rất hệ trọng vì nó liên quan đến Qđiểm, Đ.Lối cơ bản của Đảng, được đặt ra từ nhiều năm nay

Chúng ta biết rằng: Khi Đảng ta khởi xướng sự nghiệp đổi mới, đất nướcđang trong tình trạng? NN cơ bản: chủ trương, CS chưa phù hợp, LLSX bị kìm

hãm…ĐH VI của Đảng đưa ra chủ trương G.Phóng mọi năng lực SX hiện có, HNTW 6 Khóa VI và ĐH VII chủ trương khuyến khích mọi người làm giàu trong khuôn khổ khiến pháp, PL

Thực hiện chủ trương của Đảng, chỉ trong một thời gian rất ngắn, mọitiềm năng, lợi thế của đất nước đã được khơi dậy và phát huy

Cũng chính từ đó nảy sinh vấn đề: Đảng viên có được phép làm kinh TBTN ko? Trong khi NQ của Đảng đang khuyến khích mọi người làm giàu cho

bản thân, gia đình và XH; Trung Quốc cho phép ĐV làm kinh tế TBTN

Dư luận XH bắt đầu lên tiếng và lần đầu tiên vấn đề có hay ko cho phép

ĐV làm kinh tế TBTN đã được đưa ra thảo luận tại HNĐBTQGNK Khóa VII 1994) Tai HN này TBT Đỗ Mười đã KL: ĐV ko được làm kinh tế TBTN,

vì 3 lí do:

Thứ nhất, nếu cho phép ĐV làm kinh tế TBTN, theo Qluật Ktế, Qluật lợi

nhuận thì ko thể ko bóc lột Đó là điều trái với bản chất, lý tưởng của Đảng Nếu

ĐV làm kinh tế TBTN thì dần dần trong Đảng sẽ có một bộ phận đảng viên trởthành tư sản, bây giờ có thể ít, nhưng càng ngày sẽ càng nhiều, liệu khi đó Đảng

ta có còn giữ được bản chất là ĐCS ko? Nhân dân lao động có còn gắn bó vớiĐảng ko?

Trang 12

Thứ hai, ĐV là công dân của nước CHXHCNVN nhưng ko phải cái gì

công dân làm được thì ĐV cũng làm được, vì ĐV còn phải phục tùng Điều lệĐảng

Thứ ba, ko cho phép ĐV làm kinh tế TBTN ko phải là làm thui chột tài

năng của ĐV, ngược lại trong cơ chế mới ĐV nếu có trình độ, năng lực thì vẫn

có Đkiện phát triển

Tuyệt đại đa số đại biểu và dư luận XH tán thành KL đó Cũng từ đó trở

đi vấn đề ĐV làm kinh tế TBTN trở thành một vấn đề lí luận quan trọng cần phải

nghiên cứu, xem xét thấu đáo… Chính vì vậy ĐHX xác định….là vấn đề cụ thể nhưng rất hệ trọng.

- ĐH X kết luận: Cho phép ĐV làm kinh tế tư nhân nhưng phải giữ được

tư cách ĐV, ko làm biến chất Đảng, phải chấp hành đúng PL của NN, phải chấp hành Điều lệ và những quy định cụ thể của Đảng.

+ Sau nhiều năm nghiên cứu, tổng kết lí luận, thực tiễn, (có tham khảokinh nghiệm của TQ), ĐH X đã biểu quyết tán thành cho phép ĐV làm kinh tế

TƯ NHÂN với đa số phiếu tán thành (87,6% đại biểu TƯ nhất trí), (ĐH gộp TPKT cá thể tiểu chủ với TPKT TBTN thành TPKTTN.)

+ Kết luận của ĐH X được dựa trên những cơ sở sau đây:

XPhát từ tính chất, đặc điểm của TKQĐ lên CNXH ở nước ta đòi hỏiphải huy động, phát huy mọi nguồn lực để XD đất nước ĐV phải là lực lượngtiên phong trong sự nghiệp XD và phát triển kinh tế (trước hết là làm giàu chomình, cho GĐ, đồng thời góp phần làm giàu cho XH, đát nước)

Thực tế hiện nay, số ĐV làm chủ doanh nghiệp tư nhân ở nước ta còn ít,quy mô rất nhỏ bé nhưng hầu hết đều gương mẫu chấp hành Điều lệ Đảng, PL

Trang 13

của NN, có đóng góp tích cực trong XH Dư luận XH chưa có băn khoăn nhiều

về vấn đề này (Số này hầu hết là những cán bộ, ĐV đã từng làm việc trong các

CQ, DNNN, nay về hưu, nghỉ mất sức… Đều được Đảng, NN đào tạo, bồidưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ…)

.Theo PL hiện hành: Những cán bộ, ĐV trong biên chế NN, tại chức, tạingũ ko được làm chủ DNTN, nên ko cần quá lo về việc ĐV làm KTTN sẽ lợidụng chức quyền, thu vén cá nhân (nếu có là làm chui, vi phạm PL)

Cho phép ĐV làm kinh tế tư nhân nhưng phải giữ được tư cách ĐV, kolàm biến chất Đảng, phải chấp hành đúng PL của NN, phải chấp hành Điều lệ vànhững quy định cụ thể của Đảng

+ ĐHX đưa ra dự kiến và thông qua những quy định cụ thể đối với ĐV

làm kinh tế tư nhân (gồm 7 điểm)

+ Đến ngày 28- 8- 2006, BCHTW ra Quy định số 15/QĐ- TƯ Về ĐV làm kinh tế tư nhân Quy định gồm 5 điều, trong đó Điều 3 quy định: “ Đảng

viên đang là cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyênnghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dânViệt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹthuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam; cán bộ lãnh đạo,quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp 100% vốn sở hữu nhà nước (trừ nhữngngười được cử làm đại diện theo uỷ quyền để quản lý phần vốn góp của Nhànước tại doanh nghiệp khác) được làm và không được làm những việc sau đây:

1- Không được thành lập, tham gia thành lập hoặc quản lý doanh nghiệp,bệnh viện tư, trường học tư, tổ chức nghiên cứu khoa học tư

Ngày đăng: 30/09/2021, 13:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w