1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vai trò giám sát tối cao của quốc hội đối với hoạt động của chính phủ trong thời gian qua ở nước ta

11 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 151,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước Điều 69, Hiến Pháp 2013.. Giám sát là

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ LUẬT

KHOA LUẬT

BÀI TẬP NHÓM MÔN HỌC : LUẬT HIẾN PHÁP Giảng viên : Ths Lưu Đức Quang Nhóm SV thực hiện (Nhóm 02)

Chủ đề:

Vai trò giám sát tối cao của Quốc hội đối với hoạt động của Chính phủ trong thời gian qua ở nước ta

Nội dung trình bày:

Ở nước ta, chức năng giám sát của Quốc hội đóng vai trò quan trọng trong đời sống chính trị và trong việc khẳng định vị thế, vai trò của Quốc hội Hiến pháp năm 2013 đã tạo một bước tiến mới trong việc phân công rõ ràng hơn nhiệm vụ của Quốc hội và Chính phủ, là cơ sở quan trọng cho lập pháp kiểm soát quyền lực của hành pháp Quốc hội Việt Nam là một cơ quan quan trọng trong hệ thống chính trị Việt Nam là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân Việt Nam và là cơ quan quyền lực Nhà nuớc cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Điều 83 Hiến Pháp 1992 ghi nhận “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.” Quốc hội với tư cách là một cơ quan thuộc bộ máy Nhà nước ở trung ương bắt đầu chính thức được ghi nhận ở một chế định trong Hiến Pháp 1959 Trải qua ba bản Hiến pháp là Hiến pháp

1959, Hiến pháp 1980 và Hiến Pháp 1992 cùng với hơn nửa thế kỷ đi vào thực tiễn từ Quốc hội đầu tiên là Quốc hội khóa I (1946- 1950) cho đến nay Quốc

Trang 2

hội khóa XV (2021- 2026), Quốc hội đã, đang và sẽ ngày càng khẳng định được vai trò đặc biệt to lớn và vô cùng quan trọng của mình trong sự nghiệp phát triển chung của đất nước trong giai đoạn công nghiệp hóa- hiện đại hóa và trong bối cảnh hội nhập Thế giới hiện nay Qua được học tập môn Luật Hiến pháp cùng với sự hướng dẫn tận tình và tâm huyết của giảng viên phụ trách, chúng em đã có được lượng kiến thức nhất định về môn học đồng thời có góc nhìn rộng hơn, bao quát hơn về hệ thống chính trị, bộ máy nhà nước, chính quyền địa phương cùng các quy định của pháp luật phục vụ công tác quản lý nhà nước và xã hội ở nước ta Với chủ đề nghiên cứu để làm rõ vai trò giám sát tối cao của Quốc hội đối với hoạt động của Chính phủ, tập thể nhóm 02 tập trung nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề thể hiện chức năng giám sát tối cao của Quốc hội đối với các hoạt động của Chính phủ qua qua một số nội dung thể hiện dưới đây

1.Chủ thể của nghiên cứu.

Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực

nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước (Điều 69, Hiến Pháp 2013)

Chính phủ Việt Nam là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, cơ quan chấp hành của Quốc hội Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước( Điều

94, Hiếp pháp 2013)

2.Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính Phủ.

Quốc hội có chức năng bầu Thủ tướng trong số các đại biểu quốc hội, phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng về danh sách các thành viên khác của Chính phủ Giám sát hoạt động của Chính phủ bằng việc xét báo cáo hoạt động của Chính phủ, thực hiện việc chất vấn Quốc hội còn giao cho Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) phụ trách việc giám sát hoạt động của Chính phủ UBTVQH

có quyền bãi bỏ các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng nếu trái với văn bản

Trang 3

của UBTVQH, đình chỉ và đề nghị Quốc hội bãi bỏ đối với các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng trái với văn bản của Quốc hội Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội về việc thực hiện công việc được giao Quốc hội xem xét bỏ phiếu tín nhiệm với các thành viên Chính phủ Chính phủ có quyền trình dự án luật, pháp lệnh trước Quốc hội và UBTVQH Thủ tướng có quyền

đề nghị UBTVQH triệu tập Quốc hội họp bất thường Chính phủ tổ chức thực hiện các văn bản của Quốc hội và UBTVQH Vì thế, hiệu quả tổ chức thực hiện các văn bản của Quốc hội sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của việc ban hành pháp luật của Quốc hội Chính phủ có sự độc lập về nhân viên, ngoài Thủ tướng, các thành viên khác không nhất thiết phải là đại biểu Quốc hội, thành viển của UBTVQH không đồng thời là thành viên Chính phủ Như vậy chúng ta thấy mối quan hệ mật thiết không thể tách rời giữa Quốc hội và Chính phủ gần như là một thể thống nhất không thể tách rời, đồng thời thể hiện sự ràng buộc trong công tác lập pháp của Quốc hội và hành pháp của Chính phủ

3 Quy định hiện hành của pháp luật về chức năng giám sát tối cao của Quốc hội.

Trước hết, chúng ta cần hiểu giám sát là xem xét, kiểm tra và nhận định

về một việc làm nào đó đúng hay sai với những điều đã quy định Giám sát là hoạt động có mục đích, luôn gắn với chủ thể, đối tượng nhất định và được tiến hành theo quy định.Pháp luật hiện hành quy định Giám sát là việc Quốc hội,

Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan,

tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Ngoài ra, chất vấn là một hoạt động giám sát, trong đó đại biểu Quốc hội nêu những vấn đề thuộc trách nhiệm của Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và yêu cầu những người này trả lời Như vậy, để thực hiện quyền giám sát của mình, Quốc hội sẽ yêu cầu Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ báo cáo các hoạt động của mình thông qua hình thức báo cáo bằng văn bản hoặc báo cáo chất vấn trực tiếp qua các kỳ họp quốc hội

Trang 4

Hiến pháp 1946 là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên quy định thẩm quyền giám sát tối cao của Quốc hội Trên cơ sở kế thừa và phát triển quy định

về quyền giám sát tối cao của Quốc hội trong các bản Hiến pháp trước, Điều

69 Hiến pháp 2013 quy định: “Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập

pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước” Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao việc

tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập (Khoản 2, Điều 70, Hiến pháp 2013; Điều 6 Luật tổ chức Quốc hội 2014)

Uỷ ban thường vụ Quốc hội thực hiện Giám sát việc thi hành Hiến pháp,

luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ

Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện

kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập (Khoản 3, Điều 74, Hiến pháp 2013; Điều 50 Luật tổ chức Quốc hội 2014) Từ căn cứ trên, ta thấy hoạt động các của Chính phủ còn chịu sự giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

Việc giám sát của Quốc hội còn thông qua hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước (Khoản 1, Điều 80, Hiến pháp 2013)

Quốc hội, theo chức năng, nhiệm vụ của mình, giám sát việc thực hiện Hiến pháp và pháp luật do nhiều cơ quan nhà nước tiến hành như Hội đồng

nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân…Nhưng sự giám sát của Quốc hội là sự

giám sát cao nhất bởi vì: Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là

nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân

Vậy, mục đích của việc thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội đó

là nhằm đảm bảo cho những quy định của Hiến pháp và pháp luật được thi hành triệt để, nghiêm chỉnh và thống nhất Quốc hội giám sát hoạt động của

Trang 5

các cơ quan nhà nước nhằm bảo đảm cho các cơ quan này hoàn thành nhiệm

vụ, quyền hạn đã được quy định, làm cho bộ máy nhà nước hoạt động nhịp nhàng, có hiệu lực và hiệu quả, chống những biểu hiện tham nhũng, quan liêu

Thông qua các văn bản quy phạm pháp luật như: Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội cho thấy chức năng giám sát tối cao của Quốc hội được thể hiện qua một số nội dung sau:

Về nội dung và đối tượng giám sát: Trong phạm vi nghiên cứu này, Quốc

hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Chính phủ bao gồm hoạt động theo dõi tính hợp hiến và hợp pháp đối với nội dung các văn bản do Chính phủ ban hành, cũng như tính hợp hiến, hợp pháp trong hoạt động thực tiễn của Chính phủ Như vậy, có thể thấy đối tượng chịu sự giám sát của Quốc hội trong nghiên cứu này là Chính phủ

Về thẩm quyền giám sát, chủ thể thực hiện quyền giám sát: Theo quy

định tại Điều 1 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội: “Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao của mình tại kỳ họp Quốc hội trên cơ sở hoạt động giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội” Để cụ thể hoá hơn

nữa quy định này, Điều 3 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội đã quy định

về thẩm quyền giám sát đối với từng chủ thể

Về căn cứ thực hiện quyền giám sát của Quốc hội: Quốc hội là cơ quan

duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp và quyền giám sát tối cao nhưng trong hoạt động của mình Quốc hội cũng phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật vì Quốc hội cũng là một cơ quan nằm trong bộ máy nhà nước chứ không phải là một tổ chức đứng trên nhà nước Do đó để đảm bảo tính khách quan trong hoạt động giám sát, bảo đảm cho Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật, khi thực hiện chức năng giám sát

của mình, Quốc hội phải có những căn cứ nhất định: Thứ nhất, căn cứ vào

những quy định của Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh của

Ủy ban thường vụ Quốc hội Thứ hai, căn cứ vào nội dung văn bản đã ban

Trang 6

hành của các cơ quan nhà nước chịu sự giám sát của Quốc hội và căn cứ vào thực tế hoạt động của những cơ quan nhà nước đó

Các hình thức giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ:

Thứ nhất, hoạt động giám sát thông qua việc xem xét báo cáo của Chính phủ.

Quốc hội, UBTVQH và các cơ quan khác của Quốc hội thực hiện chức năng giám sát bằng cách xem xét, thẩm tra báo cáo công tác hằng năm, nửa năm và báo cáo chuyên đề của Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC, Tổng kiểm toán nhà nước Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội có thể yêu cầu các thành viên của Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC, Kiểm toán nhà nước trực tiếp đến báo cáo hoặc báo cáo bằng văn bản hay cung cấp các tài liệu mà Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội quan tâm Cùng với việc tổng hợp các ý kiến của cử tri và qua hoạt động giám sát của các đại biểu Quốc hội

là cơ sở để đánh giá việc thi hành pháp luật

Như vậy, Chính phủ phải thực hiện công việc báo cáo nửa năm, hằng năm hoặc báo cáo các chuyên đề để Quốc hội hoặc các cơ quan của Quốc hội xem xét, thẩm tra tính hợp pháp và các kết quả đạt được của Chính phủ

Thứ hai, hoạt động giám sát thông qua kiểm tra việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ.

Với việc thực hiện chức năng này, Quốc hội và UBTVQH có quyền hủy

bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành các văn bản của Chính phủ ban hành trái với quy định của Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết của Quốc hội, của UBTVQH

Thứ ba, hoạt động giám sát thông qua việc trả lời chất vấn của các thành viên Chính phủ.

Thông qua việc trả lời của người bị chất vấn (Thủ tướng và các thành viên của Chính phủ), Quốc hội có thể giám sát được hoạt động của Chính phủ Chất vấn là quyền của từng đại biểu Quốc hội, nhưng khi đại biểu thực hiện quyền này thì có tính chất là một hoạt động giám sát của Quốc hội Hình thức chất vấn thể hiện trực tiếp quyền giám sát của Quốc hội, nó có tính công khai, dân chủ trong hoạt động của Quốc hội, nên nó có ý nghĩa rất quan trọng Hiến pháp

Trang 7

năm 2013 tiếp tục khẳng định quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội, như quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ, VKSNDTC, TANDTC và bổ sung thêm chất vấn Tổng kiểm toán nhà nước Có hai hình thức chất vấn của đại biểu Quốc hội: chất vấn của đại biểu Quốc hội tại kỳ họp Quốc hội và giữa hai

kỳ họp Quốc hội Trong những năm gần đây, hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn của Quốc hội được tiến hành thường xuyên, nghiêm túc thể hiện tinh thần

và trách nhiệm cao của các đại biểu Quốc hội, của Chính phủ và các cơ quan liên quan trước nhân dân Thông qua hoạt động này nhiều vấn đề kinh tế – xã hội đã được làm sáng tỏ góp phần thực hiện tốt hơn chức năng giám sát của Quốc hội Một số vị Đại biểu Quốc hội điển hình, có những bài phát biểu sâu sắc và truyền đạt đúng tâm tư, nguyện vọng của người dân trên các kỳ họp Quốc hội như: Đại biểu Lưu Bình Nhưỡng đoàn Bến Tre chất vấn về các vấn

đề án oan sai (Kỳ họp thứ mười một Quốc hội khoá XIV), Đại biểu Ksor H’Bơ Khắp chất vấn vấn đề thuỷ điện gây sạt lở ở tây nguyên(Kỳ họp thứ mười Quốc hội khoá XIV), Đại biểu Nguyễn Thanh Hải đoàn ĐB Tiền Giang chất vấn về vấn đề đảm bảo an sinh xã hội (Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá XV) , Đại biểu

Đỗ Quang Thành đoàn Cao Bằng chất vấn về vấn đề các dự án chậm tiến độ (Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá XV) …rất nhiều vấn đề thông qua chất vấn được làm rõ tại nghị trường Quốc hội, qua đó thấy được thực trạng các vấn đề

mà cử tri, Đại biểu Quốc hội quan tâm Đây là hình thức giám sát trực tiếp các vấn đề về kinh tế, xã hội thông qua việc chất vấn trực tiếp

Thứ tư, hoạt động giám sát của Quốc hội được thực hiện thông qua các đoàn đi giám sát ở các địa phương.

Hằng năm Quốc hội, Hội đồng dân tộc (HĐDT) và các Ủy ban của Quốc hội thành lập các Đoàn giám sát để đi giám sát hoạt động của các cơ quan thuộc Chính phủ, hoạt động của cơ quan chính quyền địa phương Việc thành lập các đoàn dựa trên cơ sở chương trình giám sát của các chủ thể có quyền giám sát Tùy theo tính chất của sự việc và cấp độ mà thành phần mỗi đoàn giám sát có thể bao gồm: Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên UBTVQH, đại diện của HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội Ngoài ra, căn cứ tính chất của từng việc giám sát mà có thể có đại diện của

Trang 8

TANDTC, VKSNDTC Để hoạt động giám sát có chất lượng, các đoàn giám sát phải chuẩn bị kế hoạch giám sát, chương trình giám sát, nội dung yêu cầu của việc giám sát… gửi xuống các địa phương để phối hợp hoạt động Khi tiến hành giám sát, đoàn giám sát có quyền yêu cầu cơ quan, đơn vị, tổ chức bị giám sát cung cấp các tài liệu liên quan tới hoạt động giám sát, hoặc yêu cầu các tổ chức đơn vị, cá nhân trả lời những vấn đề mà đoàn giám sát quan tâm Như vậy, hoạt động giám sát của Quốc hội được pháp luật nước ta quy định rõ ràng, cụ thể trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau Căn cứ vào các quy định của pháp luật, Quốc hội tổ chức hoạt động giám sát với nhiều hình thức và nội dung khác nhau Thông qua hoạt động giám sát ở các địa phương, Quốc hội và các Uỷ ban của Quốc hội nắm được thực trạng về các vấn

đề giám sát, từ đó có thể quy trách nhiệm chỉ đạo của các cơ quan cấp trên như Chính phủ, VKSNDTC, TANDTC…

4 Thực tiễn hoạt động giám sát của Quốc hội nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Trong thời gian qua, hoạt động giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội tiếp tục được chú trọng, nên đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần quan trọng vào kết quả hoạt động chung của Quốc hội Sự phối hợp trong hoạt động giám sát giữa các cơ quan của Quốc hội với Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan, địa phương đã được quan tâm và thực hiện tốt hơn Nội dung giám sát tập trung vào nhiều vấn đề bức xúc của xã hội, được đông đảo cử tri quan tâm Quốc hội ngày càng tăng cường hoạt động giám sát tối cao Tuy nhiên, hoạt đô ̣ng giám sát của Quốc hội vẫn còn những hạn chế nhất định, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao trong hoạt động của Quốc hội, làm cho chất lượng giám sát còn thiếu hiệu quả Từ trước đến nay, ở Việt Nam thường nhấn mạnh đến các chức năng của Quốc hội là chức năng lập hiến, lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; trong đó, dường như chức năng lập pháp luôn được coi là chức năng chủ yếu và thường xuyên nhất, chức năng hành pháp và chức năng giám sát chưa được thực sự coi trọng

do còn tồn tại những vướng mắc, bất cập về mặt lý luận, thực tiễn và về thể

Trang 9

chế, cơ chế Các bất cập trong hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam biểu hiện qua:

Khái niệm giám sát tối cao của Quốc hội và giám sát của các cơ quan của Quốc hội còn chưa rõ ràng, dẫn đến chưa giới hạn được phạm vi, đối tượng và mục đích giám sát Việc không rõ ràng trong vấn đề quy trách nhiệm của các chủ thể được giám sát có một phần nguyên nhân từ việc chưa xác định rõ được mục đích của giám sát

Đối tượng giám sát chưa thực sự phù hợp, quá rộng, nội dung giám sát không rõ nên chưa xác định đối tượng nào, việc nào là trọng tâm, cần tập trung trong hoạt động giám sát nên hoạt động giám sát thiếu khả thi Việc xác định mục đích giám sát không rõ ràng cũng dẫn đến việc xác định đối tượng giám sát không chính xác Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 cũng như Hiến pháp năm 2013 đều quy định Quốc hội có chức năng giám sát tối cao đối với hoạt động của bộ máy nhà nước Nhiều ý kiến đã cho rằng, sự quy định quá nhiều chủ thể bị Quốc hội giám sát, làm cho công việc giám sát của Quốc hội Việt Nam thiếu đi một trọng tâm cần phải giám sát là hoạt động của Chính phủ - hành pháp Trong khi đó, chức năng giám sát của Quốc hội nhiều nước trên thế giới chỉ tập trung vào công việc của hành pháp Hình thức giám sát còn chưa đa dạng nên thiếu hiệu quả Cũng như các nước thuộc chế độ đại nghị, Quốc hội Việt Nam thực hiện chức năng giám sát bằng các hình thức: nghe báo cáo của các cơ quan nhà nước tại các kỳ họp; các đại biểu có thể thực hiện quyền chất vấn của mình tại kỳ họp hoặc ngoài kỳ họp, và cuối cùng các đại biểu Quốc hội thực hiện chức năng giám sát bằng các đoàn kiểm tra, thường là các đoàn kiểm tra của các Ủy ban và Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Chất vấn là một hình thức giám sát của Quốc hội đối với hoạt động của các cơ quan và các quan chức Nhà nước được giao quyền Các hình thức giám sát khác là nghe báo cáo, nghe điều trần, tổ chức điều tra, tổ chức đi nghiên cứu, xem xét tình hình , tuy nhiên, có một vài hình thức chưa được áp dụng trong thực tiễn hoạt động của Quốc hội nước ta Ngoài ra, thời gian, nhân lực, thông tin và các điều kiện bảo đảm khác cho việc giám sát của Quốc hội còn hạn chế

Trang 10

Thực tế cho thấy, tại các kỳ họp Quốc hội, do số lượng Đại biểu đông, rất nhiều bài chất vấn muốn được các Bộ trưởng hoặc Chính phủ… trả lời chất vấn làm rõ ngay tại kỳ họp, tuy nhiên thời lượng có hạn, mỗi Đại biểu chỉ được trình bày vài phút nên chưa thể hiện hết được các vấn đề bức xúc của cử tri ngay tại nghị trường Quốc hội Bên cạnh đó, qua theo dõi một số kỳ họp Quốc hội, với nhiều vấn đề chất vấn được nêu ra, tuy nhiên việc xử lý, khắc phục các vấn đề bức xúc của Đại biểu, của cử tri còn chưa được giải quyết một cách triệt

để Nhiều vấn đề được các Đại biểu giải đáp ngay sau khi chất vấn, tuy nhiên vẫn chưa thật sự đi vào trọng tâm vấn đề, giải trình còn mang tính chung chung hoặc đi lạc hướng vấn đề dẫn đến kết quả giải trình chưa được thoả đáng hoặc chưa được giải quyết triệt để

Kết luận :

Từ những căn cứ nêu trên, chúng ta có thể thấy được vai trò tối cao trong thực hiện chức năng giám sát của Quốc hội đối với các cơ quan chịu sự giám sát trong đó có Chính phủ được thể hiện rất rõ qua quy định của Hiến pháp và pháp luật Ngược lại việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ luôn chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội, UBTVQH và các cơ quan chuyên môn của Quốc hội nhằm mục đích giúp cơ quan này thực thi Hiến pháp và pháp luật một cách nghiêm minh đồng thời giúp Chính phủ hoàn thành nhiệm vụ của mình Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tập thể chúng em đã cùng nhau thảo luận và đưa ra những luận điểm như đã nêu ở trên, tuy nhiên do lượng kiến thức đang còn hạn hẹp và thời gian hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Chúng em kính mong thầy chỉ ra những vấn đề chưa phù hợp để chúng em rút kinh nghiệm và cập nhật kịp thời vào kho tàng tri thức pháp luật của mình Trân trọng cám ơn thầy!

Tài Liệu tham khảo:

1.https://luatvietnam.vn/, Luật hiến pháp 2013.

2.Quốc hội (2015) Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 3.http://chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/trangchu.

4.https://quochoi.vn/cacvilanhdao/Pages/hoat-dong.aspx.

Ngày đăng: 30/09/2021, 07:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w