1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

QUYỀN được SUY ĐOÁN VÔ TỘI THÔNG QUA MỘT SỐ VỤ án OAN SAI HOẶC CÓ DẤU HIỆU OAN SAI TRONG THỜI GIAN QUA ở NƯỚC TA

17 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 221,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó: - “Ai cũng có quyền, trên căn bản hoàn toàn bình đẳng, được một toà án độc lập và vô tư xét xử một cách công khai và công bằng để phán xử về những quyền lợi và nghĩa vụ của mình

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

Chủ đề bài tập nhóm:

QUYỀN ĐƯỢC SUY ĐOÁN VÔ TỘI THÔNG QUA MỘT SỐ VỤ ÁN OAN SAI HOẶC CÓ DẤU HIỆU OAN

SAI TRONG THỜI GIAN QUA Ở NƯỚC TA

Giảng viên bộ môn: Ths Lưu Đức Quang

Nhóm thực hiện: Nhóm 4

1 Trang Văn Hoàng

2 Trần Thanh Hơn

3 Tống Duy Hùng

4 Nguyễn Quốc Huy

5 Nguyễn Thị Mai Khanh

6 Trần Trung Kiên

7 Trần Đình Lâm

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2021

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Chúng tôi, các thành viên của Nhóm 4 như được nêu tên dưới đây đã tự mình thực hiện nghiên cứu và tổng hợp các thông tin được đề cập trong bài luận này Tất cả các số liệu, trích dẫn, ví dụ, được đề cập tại bài luận này đều đáng tin cậy và được ghi nguồn cụ thể

Các tác giả của bài luận:

1 Trang Văn Hoàng

2 Trần Thanh Hơn

3 Tống Duy Hùng

4 Nguyễn Quốc Huy

5 Nguyễn Thị Mai Khanh

6 Trần Trung Kiên

7 Trần Đình Lâm

2

Trang 3

MỤC LỤC

4

5

2.1 Quy định về quyền được suy đoán vô tội trong Hiến pháp và Bộ luật tố tụng

5

2.1.1 Các quy định về quyền được suy đoán vô tội qua Hiến pháp các thời kỳ 5

2.1.2 Quy định về quyền được suy đoán vô tội trong Bộ luật tố tụng hình sự

7

2.2 Thực tiễn áp dụng quyền được suy đoán vô tội thông qua một số vụ án oan sai hoặc có dấu hiệu oan sai trong thời gian qua ở Việt Nam 10

2.2.1 Thực tiễn tình trạng oan sai tại Việt Nam 10

3

Trang 4

2.2.2 Đánh giá thực tiễn áp dụng quyền được suy đoán vô tội thông qua các vụ

án oan sai, có dấu hiệu oan sai tại Việt Nam 11

2.3 Vấn đề cần khắc phục trong áp dụng quyền được suy đoán vô tội tại Việt Nam

13

2.3.1 Hạn chế tối đa tư duy “suy đoán có tội”, đối xử với người bị buộc tội như

13

2.3.2 Trình tự, thủ tục tố tụng hình sự tuân thủ tuyệt đối như luật định 14

2.3.3 Phải đảm bảo tính khách quan, đầy đủ trong việc xem xét tình tiết

14

2.3.4 Khắc phục tình trạng kết tội khi không đủ chứng cứ thuyết phục 14

15

16

4

Trang 5

1 PHẦN MỞ ĐẦU

Quyền được suy đoán vô tội là một trong những quyền cơ bản của con người được nêu trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (1948) của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc Theo đó:

- “Ai cũng có quyền, trên căn bản hoàn toàn bình đẳng, được một toà án độc lập và vô tư xét xử một cách công khai và công bằng để phán xử về những quyền lợi

và nghĩa vụ của mình, hay về những tội trạng hình sự mà mình bị cáo buộc” 1

- “Bị cáo về một tội hình sự được suy đoán là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp trong một phiên xử công khai với đầy đủ bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ” 2

- “Không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đã làm hay không làm, nếu những điều ấy không cấu thành tội hình sự chiếu theo luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế hiện hành; mà cũng không bị tuyên phạt một hình phạt nặng hơn hình phạt được áp dụng trong thời gian phạm pháp” 3

Mặc dù tới ngày 20/09/1977 mới chính thức gia nhập Liên Hiệp Quốc, tuy nhiên Việt Nam đã có nguyện vọng gia nhập từ rất sớm (từ ngày 14/01/1946), 4 do đó ngay từ thời kỳ ban đầu của quá trình lập pháp, Việt Nam đã cố gắng hiến định, luật hóa để đảm bảo nhân quyền, trong đó có quyền được suy đoán vô tội tiệm cận tối đa đến Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc Tuy vậy, trong quá trình thực thi pháp luật, không phải lúc nào quyền được suy đoán vô tội của công dân cũng được đảm bảo triệt để và đúng đắn, vì vậy tình trạng oan sai là không thể tránh khỏi Trong phạm vi của bài luận này, nhóm tác giả sẽ trình bày các vấn đề sau đây:

1 Quy định về quyền được suy đoán vô tội trong Hiến Pháp và Bộ luật tố tụng Hình sự Việt Nam qua các thời kỳ.

2 Thực tiễn áp dụng quyền được suy đoán vô tội thông qua một số vụ án oan sai hoặc có dấu hiệu oan sai trong thời gian qua ở Việt Nam

3 Vấn đề cần khắc phục trong áp dụng quyền được suy đoán vô tội tại Việt Nam

1 Điều 10 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền 1948

2 Điều 12 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền 1948

3 Điều 13 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền 1948

4 Theo bài báo “Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc: Mốc son lịch sử”, Tạp chí Mặt Trận, thuộc Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam http://tapchimattran.vn/the-gioi/viet-nam-gia-nhap-lien-hop-quoc-moc-son-lich-su-9912.html

5

Trang 6

2 PHẦN NỘI DUNG

2.1 Quy định về quyền được suy đoán vô tội trong Hiến Pháp và Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam qua các thời kỳ

2.1.1 Các quy định về quyền được suy đoán vô tội qua Hiến Pháp các thời kỳ

Hiến Pháp được Quốc Hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua

ngày 9/11/1946 (Hiến pháp 1946) quy định: “Tư pháp 5 chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm người công dân Việt Nam” 6 , “Các phiên tòa đều được công khai, trừ trường hợp đặc biệt Người bị cáo được quyền bào chữa lấy hoặc mượn luật sư” 7 , “Trong khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp” 8

Hiến Pháp được Quốc Hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua

ngày 31/12/1959 (Hiến pháp 1959) quy định: “Quyền bất khả xâm phạm về thân

thể của công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được bảo đảm Không ai

có thể bị bắt nếu không có sự quyết định của Toà án nhân dân hoặc sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân” 9 “Khi xét xử, Toà án nhân dân có quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” 10 “Việc xét xử tại các Toà án nhân dân đều công khai, trừ những trường hợp đặc biệt do luật định Quyền bào chữa của người bị cáo được bảo đảm”11

Hiến Pháp được Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

thông qua ngày 18/12/1980 (Hiến pháp 1980) quy định: “Công dân có quyền

bất khả xâm phạm về thân thể Không ai có thể bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân Việc bắt và giam giữ người phải theo đúng pháp luật Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình” 12 “Toà án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp

do luật định Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác về mặt pháp lý” 13

Căn cứ vào các nội dung trên, có thể thấy, tuy Hiến Pháp 1946, 1959 và

1980 chưa ghi nhận một cách chính thức và không dùng tới các cụm từ như “vô tội” hay “có tội”, nhưng tinh thần và nội hàm của nó đã bao gồm quyền được

suy đoán vô tội Đến Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp 2013 (Hiến pháp hiện

hành), nội dung nguyên tắc suy đoán vô tội đã có bước tiến mới, được thể hiện

rõ ràng hơn trong câu chữ của văn bản Cụ thể như sau:

5 Theo Điều thứ 63 Hiến pháp 1946, Cơ quan Tư pháp của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa gồm có: a/Tòa án tối cao, b/Các tòa án phúc thẩm, c/Các tòa án đệ nhị cấp và sơ thẩm

6 Điều thứ 11 Hiến Pháp 1946

7 Điều thứ 67, Hiến Pháp 1946

8 Điều thứ 69, Hiến Pháp 1946

9 Điều 27 Hiến Pháp 1959

10 Điều 100 Hiến Pháp 1959

11 Điều 101, Hiến Pháp 1959

12 Điều 69, Hiến Pháp 1980

13 Điều 113 Hiến Pháp 1980

6

Trang 7

Hiến Pháp được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 15/4/1992, sửa đổi năm 2001 (Hiến pháp 1992) quy định:

“Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về

tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh

dự, nhân phẩm của công dân”14 “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình

phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật Người bị

bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh” 15

Hiến pháp được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

thông qua ngày 28/11/2013 (Hiến Pháp 2013) có quy định: “1 Mọi người có

quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh

dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm 2 Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt, giam, giữ người do luật định” 16 “1 Người bị buộc tội được coi

là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật 2 Người bị buộc tội phải

được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai Trường hợp xét xử kín theo quy định của luật thì việc tuyên án phải được công khai 3 Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm 4 Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa 5 Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự Người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật” 17

Một trong những điều kiện quan trọng để đảm bảo Quyền được suy đoán vô tội của người bị buộc tội là việc đảm bảo quyền bào chữa của người

bị buộc tội Người bị buộc tội được quyền tự mình bào chữa hoặc thông qua

người khác để bảo vệ quyền và lợi ích pháp lý cho người bị buộc tội Quyền này được ghi nhận theo hướng cụ thể, chuẩn xác dần trong các bản Hiến Pháp qua các thời kỳ Cụ thể:

- Hiến pháp 1964 quy định “Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư” (Điều 67)

14 Điều 71 Hiến pháp 1992.

15 Điều 72 Hiến pháp 1992

16 Điều 20 Hiến pháp 2013

17 Điều 31 Hiến pháp 2013

7

Trang 8

- Hiến pháp 1959 quy định “Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm” (Điều 101)

- Hiến pháp 1980 quy định “Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác về mặt pháp lý” (Điều 133)

- Hiến pháp 1992 quy định “Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” (Điều 132)

- Hiến pháp 2013 quy định “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa” (Khoản 4, Điều 31)

Hiến pháp 2013 đã xác định rõ chủ thể của quyền được suy đoán vô tội hơn so với Hiến pháp 1992 Nếu như Hiến pháp 1992 quy định “Không ai bị

coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có

hiệu lực pháp luật” (Điều 72) thì Hiến pháp 2013 quy định ‘Người bị buộc tội

được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và

có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (Khoản 1, Điều 31) Không phải tất cả mọi người đều cần đến quyền được suy đoán vô tội Những người không vi phạm pháp luật, những người không phạm tội thì không cần sử dụng đến quyền được suy đoán vô tội, chỉ những người bị buộc tội mới cần sử dụng đến quyền này Việc sửa đổi cụm từ “Không ai” thành “Người bị buộc tội” đã xác định đúng đối tượng chủ thể của quyền được suy đoán vô tội trong pháp luật Hình sự

Một điểm tiến bộ vượt bậc của Hiến pháp 2013 liên quan đến quyền được suy đoán vô tội, đó là điều kiện kết tội của người bị buộc tội được hiến định hóa

chặt chẽ hơn Cụ thể, một người bị kết tội chỉ khi đủ 2 điều kiện: Một là, được

chứng minh theo trình tự luật định và hai là, bản án có hiệu lực của Tòa án thay cho một điều kiện duy nhất là “có bản kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” theo Hiến Pháp 1992 Quy định này để đảm bảo rằng ngay cả khi bị Tòa án kết án là có tội bằng một bản án có hiệu lực, nhưng quá trình chứng minh tội phạm không đúng thủ tục, trình tự, quy định của phạm luật (trong đó có cả bản

án của Tòa án) thì không được kết án Sự thay đổi này thể hiện rõ tinh thần cải cách pháp luật và chấn chỉnh hoạt động xét xử để đảm bảo tôn trọng và bảo vệ quyền cơ bản của công dân

Tương ứng với sự thay đổi của Hiến pháp qua các thời kỳ là sự thay đổi của các văn bản pháp luật cụ thể để thể hiện đúng tinh thần của Hiến pháp Nhóm tác giả sẽ phân tích cụ thể hơn về các thay đổi của quy định về quyền được suy đoán vô tội trong Bộ luật tố tụng hình sự qua các thời kỳ tại mục 2.1.2 bên dưới

2.1.2 Quy định về quyền được suy đoán vô tội trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt nam qua các thời kỳ

8

Trang 9

Từ các phân tích ở phần mở đầu và mục 2.1.1 nêu trên, có thể thấy rằng quyền được suy đoán vô tội là một trong những quyền cơ bản của con người, là quyền được thừa nhận trong các Công ước Quốc tế về Quyền con người của Liên Hiệp Quốc và yêu cầu các thành viên phải tuân thủ Chính vì vậy, với vai trò là Thành viên Liên Hiệp Quốc, Việt Nam đã đưa các nội dung này vào Hiến pháp, đồng thời cụ thể hóa nó qua Bộ luật tố tụng hình sự (Bộ luật TTHS) qua các thời kỳ

Quyền được suy đoán vô tội của người bị buộc tội được thể hiện với mức

độ, phạm vi, cách thức khác nhau qua từng Bộ luật TTHS các thời kì, nhưng nỗ lực của Việt Nam trong việc đảm bảo việc thực hiện quyền này là không thể

phủ nhận qua việc xác định nhiệm vụ của Bộ luật TTHS Việt Nam là không để

hàm oan người vô tội “Điều 1, Bộ luật TTHS Số 7-LCT/HĐNN8, ngày

28/6/1988 (sửa đổi qua các năm 1990, 1992, 2000) (Bộ luật TTHS 1988); Điều

1, Bộ luật TTHS Số 19/2003/QH11, ngày 26 tháng 11 năm 2003 (Bộ luật TTHS 2003); Điều 2, Bộ luật TTHS Số 101/2015/QH13 ngày 27/11/2015 (Bộ luật TTHS 2015)”

Có thể nhận thấy “Nguyên tắc suy đoán vô tội là nguyên tắc mà một người bị buộc tội sẽ được coi là không có tội cho đến khi tội phạm của họ được chứng minh theo trình tự, thủ tục luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Nguyên tắc này thể hiện xuyên suốt trong qua các Bộ luật TTHS 1988, Bộ luật TTHS 2003 và Bộ luật TTHS 2015 (Bộ Luật Tố tụng hình

sự hiện hành) Cụ thể như sau:

Bộ luật TTHS 1988 và Bộ luật TTHS 2003 đều cùng đề cập tới nguyên tắc suy đoán vô tội Theo đó:

- “Không ai có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt, khi chưa có bản

án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” 18

- “Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội” 19

Bộ luật TTHS 2015 đã có bước tiến đặc biệt quan trọng khi đã dùng chính xác cụm từ “suy đoán vô tội” và ghi nhận thành một điều khoản chính thức của

Bộ luật Điều này thể hiện nổi bật quyết tâm cải cách tư pháp, đảm bảo quyền được suy đoán vô tội có cơ chế thực hiện chính thức Theo nhóm tác giả, cách dùng từ này cũng đồng thời nhắc nhở Viện Kiểm Sát, Tòa án và Cơ quan điều tra phải thượng tôn pháp luật nhằm hạn chế oan sai

18 Điều 10 Bộ luật TTHS 1988, Điều 9 Bộ luật TTHS 2003

19 Điều 11 Bộ luật TTHS 1988, Điều 10 Bộ luật TTHS 2003

9

Trang 10

“Điều 13 Suy đoán vô tội: Người bị buộc tội được coi là không có tội

cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và

có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội”

“Điểm h, Khoản 2, Điều 61 về quyền của Bị cáo “không buộc phải đưa

ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội.”

Bên cạnh điều khoản cụ thể về “suy đoán vô tội”, Bộ luật TTHS 2015 đã

có rất nhiều điều khoản quy định theo nguyên tắc đảm bảo tính thực thi cho quyền được suy đoán vô tội của người bị buộc tội trong hoạt động tố tụng hình

sự Cụ thể như sau:

- Nguyên tắc trách nhiệm xác định sự thật, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về người buộc tội: Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về

cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội Cơ quan có thẩm quyền tiến hành

tố tụng có trách nhiệm chứng minh tội phạm bằng các biện pháp hợp pháp, phải xác định sự thật khách quan của vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ (Điều 15 Bộ luật TTHS 2015)

- Nguyên tắc quyền im lặng của người bị buộc tội: Tuy không thể hiện

rõ quyền im lặng bằng thuật ngữ pháp lý cụ thể, nhưng Bộ luật TTHS 2015 đã mặc nhiên thừa nhận quyền im lặng của người bị buộc tội Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình, hoặc buộc phải nhận mình có tội (Điểm d, Khoản 2, Điều 58; Điểm c, Khoản 2, Điều 59; Điểm d, Khoản 2, Điều 60; Điểm h, Khoản 2, Điều 61 Bộ luật TTHS 2015) Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với những chứng cứ khác của

vụ án, và không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để để buộc tội, kết tội (Điều 98 Bộ luật TTHS 2015)

- Nguyên tắc suy đoán theo hướng có lợi cho người bị buộc tội: Mọi

nghi ngờ trong quá trình chứng minh tội phạm của người bị buộc tội nếu không được loại trừ theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định thì phải được giải thích có lợi cho họ Nguyên tắc này được đảm bảo thực hiện bằng việc xác định “Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội” (Điều 13 Bộ luật TTHS 2015)

- Nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội: Người bị

buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ (Điều 16 Bộ luật TTHS 2015)

10

Ngày đăng: 30/09/2021, 07:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w