Thực hiện nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, lần thứ V của Đảng, từ cuối những năm 70, đến đầu những năm 80 của thế kỷ XX, cách mạng nước ta đã giành được nhiều thành tựu quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, do còn nhiều sai lầm, khuyết điểm nên đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng KTXH trầm trọng và kéo dài. Trước yêu cầu bức thiết, đòi hỏi phải đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng KTXH, ổn định tình hình mọi mặt, đưa cách mạng Việt Nam tiến lên, trong điều kiện tình hình thế giới có nhiều biến đổi nhanh chóng, phức tạp và tác động mạnh mẽ. Đòi hỏi Đảng phải tìm tòi, đổi mới. Vậy, Đảng ta đã tìm tòi, đổi mới như thế nào? Hôm nay tôi cùng các đồng chí nghiên cứu chủ đề: Đảng lãnh đạo tìm kiếm con đường thích hợp đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1979 1986).
Trang 1NGHĨA XÃ HỘI (1979 - 1986)
MỞ ĐẦU
Thực hiện nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, lần thứ V của Đảng,
từ cuối những năm 70, đến đầu những năm 80 của thế kỷ XX, cách mạng nước ta đã giành được nhiều thành tựu quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, do còn nhiều sai lầm, khuyết điểm nên đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng KT-XH trầm trọng và kéo dài.
Trước yêu cầu bức thiết, đòi hỏi phải đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng KT-XH, ổn định tình hình mọi mặt, đưa cách mạng Việt Nam tiến lên, trong điều kiện tình hình thế giới có nhiều biến đổi nhanh chóng, phức tạp và tác động mạnh mẽ Đòi hỏi Đảng phải tìm tòi, đổi mới.
Vậy, Đảng ta đã tìm tòi, đổi mới như thế nào?
Hôm nay tôi cùng các đồng chí nghiên cứu chủ đề: Đảng lãnh đạo tìm kiếm con đường thích hợp đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1979 - 1986).
Ý ĐỊNH BÀI GIẢNG
I Mục đích, yêu cầu
- Trang bị những nội dung cơ bản về đường lối lãnh đạo của Đảng trongquá trình tìm kiếm con đường thích hợp đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xãhội giai đoạn 1979- 1986
- Giúp người học nắm vững và hiểu thêm về quá trình nhận thức, phát triển
cả về lý luận và thực tiễn trong việc tìm tòi con đường thích hợp đưa cả nướcquá độ lên chủ nghĩa xã hội
- Từ đó, có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về quá trình lãnh đạo của Đảngtrong giai đoạn 1979- 1986, thấy được vị trí, vai trò to lớn của quá trình đổi mớitừng phần làm tiền đề quan trọng cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước
- Nêu cao lòng tự hào, củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, phấnđấu hoàn thành mọi nhiệm vụ góp phần thực hiện thắng lợi đường lối của Đảngtrong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
II Nội dung: Gồm 2 phần
Phần I HOÀN CẢNH LỊCH SỬ.
Trang 2Phần II QUÁ TRÌNH ĐẢNG TÌM KIẾM CON ĐƯỜNG THÍCH HỢP ĐƯA CẢ NƯỚC QUÁ ĐỘ ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (1979 - 1986).
(Trọng tâm là phần II)
III Thời gian: 4 tiết.
IV Địa điểm
- Đối với học viên: Nghe, ghi những nội dung cơ bản theo ý hiểu làm cơ sởcho việc nghiên cứu thêm đạt chất lượng hiệu quả
2 Lịch sử Đảng CSVN, tập II, Đảng lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa,
3 Hỏi đáp Lịch sử ĐCSVN, Nxb QĐND, Hà Nội 2004, tr 167- 173
4 Lịch sử Đảng CSVN, tập II Nxb QĐND, Hà Nội 1995, tr 51 - 61
5 Góp phần tìm hiểu Lịch sử Đảng CSVN (Hỏi và đáp), Nxb CTQG, HàNội 1998, tr 153- 166
Trang 3* Biểu hiện:
- Khác với cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật lần thứ nhất, lần thứ hai (lúc
đó gọi là cuộc cách mạng công nghiệp) Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lầnthứ nhất diễn ra cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX; lần thứ hai diễn ra từ năm 1871đến năm 1914, nhằm chủ yếu hướng tới mục tiêu cơ khí hóa, điện khí hóa, tự độnghóa và ngày càng hiện đại hóa
- Cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật chính là biểu hiện của cuộc cách mạng lầnthứ ba, khi yếu tố kỹ thuật chuyển biến nhanh chóng và trở thành một bộ phận củacông nghệ Nổi bật như trên các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu,công nghệ năng lượng với các sản phẩm siêu sạch, siêu dẫn, siêu bền, siêu nhẹ, siêu rẻ
+ Kể từ năm 1986 trở đi, loài người đã tạo ra một trạm quỹ đạo (Mir củaLiên Xô) hoạt động trên không gian ròng rã trong mấy thập kỷ (kết thúc hoạtđộng năm 2000)
- Chính sự phát triển mạnh mẽ đó đã tác động to lớn, toàn diện tới các lĩnhvực của đời sống xã hội loài người
- Điển hình, về kinh tế tạo ra bước nhẩy vọt chưa từng thấy của lực lượngsản xuất, chỉ trong vòng 20 năm từ 1970 đến 1990 loài người đã sản xuất đượcmột khối lượng của cải vật chất lớn gấp 2 lần so với trước kia và gấp 2 ngàn lần
số của cải vật chất trong vòng 230 năm trước đó
- Vì vậy, đặt ra vấn đề, nền kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hóacao, thị trường thế giới phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu Do đó, các nướcmuốn phát triển thì phải tận dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật
- Thứ hai: Chủ nghĩa đế quốc chuyển hướng chống phá Chủ nghĩa xã hội,
Trang 4- Đến thập kỷ 70 của thế kỷ XX, cuộc chiến tranh lạnh đã bước vào giaiđoạn có tính phức tạp (đến ngày 03/12/1989, tổng thống thứ 41 của Mỹ, George
W Bush tuyên bố chiến tranh lạnh kết thúc tại Hội nghị thượng đỉnh Malta)
- Vì vậy, đến đầu 1980 chủ nghĩa tư bản đã thay đổi đường lối đối nội, đốingoại: Thay đổi chiến lược an ninh quốc gia, sử dụng chiến lược ngăn chặn,vượt trên ngăn chặn tấn công vào các nước CNXH
- “Chiến lược ngăn chặn”: Tấn công vào lãnh đạo các nước bằng chủ nghĩa
cơ hội; “Chiến lược vượt trên ngăn chặn”: Tấn công vào ý thức hệ chính trị củacác nước XHCN
- Chính các nhà tư tưởng của chủ nghĩa đế quốc đã tổng kết:
+ “Một đài phát thanh cũng có thể bình định xong một đất nước”
+ “Một đô la chi cho tuyên truyền có tác dụng ngang với năm đô la chi choquốc phòng”
+ “Kích động vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo là 4 đòn độtphá, 4 mũi xung kích để chọc thủng mặt trận tư tưởng chính trị”
+ Tổng thống Mỹ Ních- xơn trong cuốn sách “Năm 1999- chiến thắngkhông cần chiến tranh” đã viết rằng: “Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết địnhnhất”; “toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệkinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng ”
- Thứ ba: Các nước tư bản chủ nghĩa đã có sự điều chỉnh thích nghi và đã đạt được nhiều thành tựu trên lĩnh vực kinh tế và khoa học- kỹ thuật.
* Biểu hiện:
Trước tác động mạnh mẽ và nhiều chiều của cuộc cách mạng khoa học
-kỹ thuật, cuộc chạy đua kinh tế trong xu thế quốc tế hóa đã khiến cho các nướcphải đổi mới tư duy đối nội, đối ngoại, tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ Nóđang trở thành xu thế khách quan của tiến trình phát triển
- Chủ nghĩa tư bản đã có những thay đổi, thích nghi trong chủ trương,chính sánh: Cụ thể về thay đổi thích nghi của CNTB:
+ Về sở hữu, cho cổ phần hóa
+ Về chính sách: Quan tâm hơn các chính sách xã hội, quyền lợi thiết thựccủa người lao động
+ Về quản lý: cho công nhân trực tiếp tham gia
=>Song tất cả đều nhằm mục đích: trong thì ru ngủ giai cấp công nhân,quần chúng nhân dân lao động; ngoài thì thay đổi chiến lược chống phá cácnước CNXH
- Mặc dù có những thay đổi thích nghi nhưng bản chất của chủ nghĩa tư bảnkhông hề thay đổi
Trang 5- Thứ tư: Các nước XHCN lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội.
Do đó, cải cách, cải tổ, đổi mới diễn ra như một xu thế khách quan.
- Đồng thời đưa ra quan điểm kiên trì 4 nguyên tắc: Kiên trì đưa khoán vào
cả nông thôn và thành thị; Kiên trì con đường XHCN; Kiên trì sự lãnh đạo của Đảng; Kiên trì sự chỉ đạo của Mao Trạch Đông.
- Năm 1985- 1988, Trung Quốc cải cách về kinh tế bằng chiến lược tăng vốnphấn đấu đến năm 2000 để trở thành cường quốc nhưng thực tế chưa đạt được
- Đến đầu những năm 1990, Trung Quốc mới thực sự có những bước nhảyvọt với chính sách mở cửa nổi tiếng do nhà lãnh đạo thế hệ Đặng Tiểu Bình khởixướng: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội mang mầu sắc Trung Quốc”
- Ở Liên Xô và Đông Âu, tháng 4/1985, Liên Xô quyết định cải tổ để thoátkhỏi khủng hoảng
- Ngày 6/3/1986 Liên Xô tổ chức Đại hội lần thứ 27 để đưa ra đường lối cải
tổ, lấy cải tổ kinh tế làm trung tâm
- Tháng 8/1988, Liên Xô quay về cải tổ chính trị: Thực hiện đa nguyên chính trị; Dân chủ vô hạn độ; Hạ thấp vai trò lãnh đạo của đảng; Không lãnh đạo chặt chẽ phương tiện thông tin đại chúng; Không xem xét lịch sử muốn phủ định lịch sử; Đặt quá nhiều hy vọng vào phương tây.
- Liên Xô cải tổ sau đó lần lượt đến các Đông Âu
- Như vậy, tình hình thế giới với những biến động phức tạp đã tác động tolớn đến tình hình Việt Nam
Trang 6- Một là: Sau 3 năm triển khai thực hiện nghị quyết đại hội Đảng IVtình hình kinh tế xã hội ở nước ta đã lâm vào khủng hoảng và ngày càng trầm trọng kéo dài Lạm phát tăng cao và kéo dài, lưu thông ách tắc, giá cả tăng vọt.
- Sản lượng lương thực bình quân đầu người giảm từ 274,4 kg (năm1976) xuống còn 263,2 kg (1980); các xí nghiệp chỉ sử dụng được khoảng50% công suất thiết kế
- Nền kinh tế thường xuyên ở trong tình trạng thiếu hụt, chưa tạo ra đượctích lũy nội bộ; Lương thực, vải mặc và các hàng tiêu dùng thiết yếu đều thiếu(lương thực mỗi năm cả nước phải nhập hơn một triệu tấn trong điều kiện mộtnước nông nghiệp)
- Năm 1986, Đại hội VI đã chỉ ra: Một quốc gia rừng vàng biển bạc, với haivựa lúa phì nhiêu mà hơn 60 triệu dân lúc đó rơi vào nạn đói
- Trong khi sản suất tăng trưởng chậm, nhu cầu tiêu dùng xã hội ngàycàng tăng cao
- Trong giai đoạn 1976-1980, chúng ta phải dựa vào viện trợ và vay nợnước ngoài để trang trải 38,9% tổng chi
- Theo các nhà hoạch định kinh tế, một nền kinh tế phát triển là một nền kinh tế
có mức tăng giá hợp lý và tốc độ tăng GDP luôn cao hơn tốc độ tăng giá, độ chênhthường xấp xỉ 2% Với những nền kinh tế xuất phát thấp, độ chênh cầu lớn hơn
- Thời kỳ 1976-1980, GDP nước ta tăng 0,4% nhưng giá cả lại tăng bìnhquân 20%/năm (mức lạm phát cao: năm 1976 là 100% ; năm 1981 là131% ; đếnnăm 1986 là 774,7%)
- Hai là, đất nước bị bao vây cấm vận, kinh tế đối ngoại lâm vào tình trạng khó khăn
* Biểu hiện:
- Sau thất bại tại chiến tranh Việt Nam, Mỹ tìm mọi cách chống phá cáchmạng Việt Nam Ngày 16/5/1976, Mỹ tuyên bố thực hiện bao vây cấm vậnchống Việt Nam
- Từ 1976-1979, các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế và khu vực đã cónhững hoạt động thiết thực giúp Việt Nam phát triển kinh tế như Quỹ tiền tệquốc tế (IMF) cho Việt Nam vay 198 triệu đô la, Ngân hàng thế giới (WB) chovay 60 triệu đô la để thực hiện dự án thủy lợi Dầu Tiếng
Trang 7- Nhưng đến cuối năm 1979, đồng loạt các nước phương tây thực hiệnchính sách bao vây, cấm vận đối với Việt Nam Các tổ chức tài chính, tiền tệquốc tế cũng ngừng các hoạt động cho vay đối với Việt Nam.
- Quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta thời kỳ này chủ yếu dựa vào cácnước XHCN, trong khi tại thời điểm đó, các nước XHCN cũng đang rơi vào tìnhtrạng khủng hoảng nên không giúp được ta
- Hoạt động kinh tế đối ngoại của ta gặp nhiều khó khăn, tổng kim nghạchxuất khẩu thời kỳ 1976-1980 có sự chênh lệch lớn: xuất khẩu 1, nhập khẩu 4 (Sốlương thực nhập khẩu năm 1978 là 1,9 triệu tấn; năm 1979 là 2,2 triệu tấn)
- Ba là, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, lòng tin của quần chúng vào Đảng và cách mạng bị giảm sút nghiêm trọng.
* Thực tế:
- Đây là hệ quả tất yếu của khủng hoảng kinh tế- xã hội kéo dài và ngàycàng trầm trọng Đặc biệt là, sản xuất đình trệ, lao động không có hoặc thiếuviệc làm
- Nguời nông dân không thiết tha với đồng ruộng, thu nhập người lao độnggiảm sút, giá cả liên tục tăng
- Đời sống của công nhân, viên chức và nông dân vùng bị thiên tai, địchhọa vốn đã khó khăn, lại gặp càng nhiều nhiều khó khăn
- Về phạm vi: Khủng hoảng kinh tế nước ta không chỉ diễn ra trong mộtnghành, một lĩnh vực mà diễn ra ở nhiều nghành, nhiều lĩnh vực bắt đầu trênlĩnh vực kinh tế, trọng tâm là sản xuất nông nghiệp, phân phối, lưu thông
- Về mức độ: Khủng hoảng ngày càng trầm trọng đe dọa sự sống còn củaĐảng và chế độ xã hộ chủ nghĩa
- Từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX nền kinh tế nước ta đã có nhiều dấuhiệu khủng hoảng, kết thúc kế hoạch 5 năm (1976-1980) hầu hết các chỉ tiêu đặt
ra đều không đạt được, nhiều chỉ tiêu đạt thấp
- Trong khi đó nhu cầu của người dân, của xã hội lại phát triển mạnh do bịkìm nén bởi chiến tranh kéo dài
- Thực tiễn tình hình thế giới, trong nước cho thấy đổi mới là yêu cầukhách quan, buộc các nước phải tìm tòi đổi mới để tồn tại và phát triển
- Thực tiễn trong nước và thế giới đã khiến ta phải đổi mới (Đ/c NguyễnVăn Linh đã khẳng định như vậy)
3 Nguyên nhân của khủng hoảng (Có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan).
* Nguyên nhân khách quan:
Trang 8- Một là, chúng ta bư ớc vào xây dựng CNXH trên cơ sở một nền kinh tế vốn nghèo nàn, lạc hậu, lại chịu hậu quả nặng nề do chiến tranh.
+ Báo cáo chính trị Đại hội Đảng IV đã chỉ rõ: “Nước ta đang ở trong quátrình từ một xã hội mà nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lênCNXH, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”
+ Quá trình đó là vô cùng mới mẻ chưa từng có tiền lệ trong lịch sử Do
đó, con đường lên CNXH ở nước ta là quá độ gián tiếp: Tức là nước ta từ mộtnước thuộc địa, nửa phong quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN Nên quá độ
đi lên CNXH ở nước ta là khó khăn, gian khổ, phức tạp và kéo dài
+ Còn quá độ trực tiếp lên CNXH là phát triển tuần tự theo sự phát triển của cáchình thái kinh tế- xã hội (Đối với các nước đã trải qua phát triển tư bản chủ nghĩa)
- Hai là, nước ta vừa ra khỏi chiến tranh giải phóng, lại thường xuyên phải đư
ơng đầu với thiên tai, địch họa.
+ Một dân tộc sáng chắn bão giông, chiều ngăn năng lửa, đặc biệt là ở miềnTrung đã nói lên điều đó
- Ba là, quan hệ quốc tế có nhiều thay đổi, đất nước trong tình trạng bị bao vây, cấm vận về kinh tế.
+ Nếu như trước đây chúng ta nhận được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô vàcác nước XHCN
+ Thì đến thời điểm đó, các khoản viện trợ không hoàn lại dần chấm dứt.+ Liên Xô và các nước XHCN lâm vào khủng hoảng nên các hợp tác kinh tế,viện trợ và đầu tư không thực hiện được, lại bị các thế lực thù địch ra sức chống phá
* Nguyên nhân chủ quan:
- Một là, trong đánh giá, thực hiện mục tiêu, b ước đi chư a thấy hết những khó khăn, phức tạp, ch ưa nhận thức đầy đủ rằng thời kỳ quá độ là một quá trình lịch sử lâu dài và trải qua nhiều chặng.
- Hai là, Đảng đã mắc phải tư tư ởng chủ quan, nóng vội trong hoạch định đường lối, chủ trư ơng b ước đi ch ưa phù hợp.
Thể hiện:
Trang 9- Trong bố trí cơ cấu kinh tế: Trước hết là cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư.+ Chúng ta đã đề ra chỉ tiêu quá cao trong xây dựng cơ bản và phát triểnsản xuất, không coi trọng đúng mức việc khôi phục và sắp xếp cơ cấu lại nềnkinh tế.
+ Chúng ta thiên về xây dựng công nghiệp nặng và những công trình qui
mô lớn, không tập trung giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm, hàng tiêudùng và hàng xuất khẩu Đó là những sản phẩm hết sức cần thiết đối với mộtnước nông nghiệp vừa ra khỏi chiến tranh
- Trong cải tạo XHCN: Củng cố QHSX, sử dụng các thành phần kinh tếcòn có biểu hiện nóng vội, chủ quan trong nhận thức và hành động
+ Chúng ta chưa thực sự công nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta,
mà đúng ra nó phải tồn tại trong một thời gian dài trong thời kỳ quá độ ở nước ta.+ Chưa nắm vững và vận dụng đúng qui luật về sự phù hợp giữa QHSX vớitính chất và trình độ của LLSX, đã đi ngược lại qui luật khách quan (Xây dựngQHSX quá cao, trong khi LLSX còn thấp, trình độ quản lý thấp; chưa nhận thứcđược chính QHSX vượt trước trình độ phát triển của LLSX càng kìm hãm sựphát triển của LLSX và phát triển sản xuất)
- Trong cơ chế quản lý kinh tế: Duy trì quá lâu cơ chế tập trung quanliêu bao cấp (Cơ chế này chỉ phù hợp với chiến tranh, hòa bình không cònphù hợp)
- Trong thực hiện chuyên chính vô sản còn có sự buông lỏng trong cải tạo, quản
lý và đấu tranh tư tưởng, chưa phát huy hết sức mạnh của chuyên chính vô sản
- Với những nguyên nhân trên cho thấy đổi mới ở nước ta là một yêu cầu kháchquan, là vấn đề sống còn đối với cách mạng Việt Nam
- Vậy, trước tình hình thế giới, đặc biệt là tình hình trong nước, Đảng ta đãtìm kiếm con đường như thế nào để đưa cả nước quá độ lên CNXH?
II QUÁ TRÌNH ĐẢNG TÌM KIẾM CON ĐƯỜNG THÍCH HỢP ĐƯA CẢ NƯỚC QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (1979 - 1986).
1 Thời kỳ 1979- 1981.
Đây là thời kỳ Đảng lãnh đạo đổi mới từng phần, từng lĩnh vực riêng lẻ
a Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá IV (8/1979)
(Đây là bước đột phá đầu tiên với quyết tâm làm cho sản xuất “bung ra”)
* Hoàn cảnh ra đời:
- Thế giới có những biến động nhanh chóng, phức tạp.
+ Các nước XHCN khủng hoảng, bế tắc trong việc cải cách, cải tổ
- Trong nước:
Trang 10+ Trước những khó khăn trong sản xuất, kinh doanh không đảm bảo đượcđời sống nhân dân.
+ Đời sống nhân dân khó khăn, niềm tin giảm sút
+ Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp tỏ rõ sự lạc hậu, nền kinh tế ngàycàng trì trệ
* Nội dung Hội nghị:
(Hội nghị bàn về nhiệm vụ kinh tế cấp bách trước mắt), tập trung một số
- Sản xuất nông nghiệp với chính sách ổn định mức nghĩa vụ lương thực trong
5 năm, phần còn lại bán cho Nhà nước với giá thỏa thuận và được tự do lưu thông
- Khuyến khích khai hoang phục hóa, tạo sự hưng phấn, khuyến khíchngười dân hăng hái lao động sản xuất
- Đẩy mạnh chăn nuôi gia súc dưới mọi hình thức (cả quốc doanh, tập thể
Trang 11- Cải tạo đối với nông nghiệp ở miền Nam theo hướng:
+ Phải nắm chắc phương châm tích cực và vững chắc
+ Chống tư tưởng nóng vội, chủ quan, cưỡng ép theo mệnh lệnh
+ Tránh làm ồ ạt, gây thiệt hại cho sản xuất và đời sống của nhân dân
- Thứ tư, đưa ra các tiêu chí để đánh giá chính sách đúng.
* Đó là:
- Năng xuất lao động phải đạt
- Sản xuất phát triển cả quy mô, chiều rộng và chiều sâu
- Đời sống nhân dân được cải thiện
=> Có thể nói, các tiêu chí trên đến nay vẫn còn nguyên giá trị
* Kết quả:
- Bước đầu khắc phục được những sai lầm khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý kinh tế, sử dụng các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể để sản xuất, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân
- Đánh dấu bước mở đầu quá trình tìm tòi đổi mới của Đảng về con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
+ Khẳng định đến đây Đảng đã nhìn thấy nút thắt của nền kinh tế: là ngănsông cấm chợ, quản lý quan liêu bao cấp Do đó, phải thay đổi để kinh tế pháttriển, ổn định đời sống nhân dân
- Nghị quyết ra đời được nhân dân cả nước hồ hởi đón nhận, bước đầu phát huy được mặt tích cực Tuy chủ trương chính sách chưa toàn diện, đầy đủ nhưng đó là bước mở đầu có ý nghĩa.
Thực tế:
- Nghị quyết đã mở ra hướng mới, bỏ ngăn sông cấm chợ, khai thông phânphối lưu thông
- Nhân dân đã tận dụng 1,1 triệu hécta đất đai hoang hóa
- Do đó, năm 1979, sản lượng lương thực tăng 1.718.500 tấn so với năm 1978
- Nghị quyết được ví như Chính sách kinh tế mới (NEP) của Lênin: Thay đổinhận thức đột ngột của những người cộng sản, thừa nhận các thành phần kinh tế
* Hạn chế:
Sau một thời gian thực hiện nghị quyết, xuất hiện những tiêu cực mới đó là:
- Nghị quyết chưa đi vào cuộc sống
- Sử dụng các thành phần kinh tế không đúng
Cụ thể:
+ Sản xuất bung ra ít hơn so với dịch vụ
+ Sản xuất quốc doanh bung ra ít hơn so với sản xuất tập thể và cá thể.+ Hàng giả, hàng lậu xuất hiện nhiều
Trang 12+ Giá cả ngày càng tăng cao, lạm phát ngày càng tăng.
* Nguyên nhân hạn chế:
- Vẫn giữ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp.
- Nghị quyết chỉ rừng lại ở chủ trương, chính sách.
* Vậy tại sao Hội nghị Trung ương sau khoá IV lại là bước đột phá đầu tiên để tìm đường đổi mới? (Định hướng học viên về nghiên cứu).
(Từ những tiêu cực mới nảy sinh trong thực tiễn, chứng tỏ Nghị quyết chưa
đủ sức để làm kinh tế “bung ra”, chưa đủ sức tháo gỡ khó khăn do thực tiễn đặt
ra Do đó, đòi hỏi Đảng phải tiếp tục tìm tòi, đổi mới)
b Chỉ thị 100 (13/01/1981) của Ban Bí thư, về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp.
(Đến năm 1988 vẫn phải nhập khẩu lương thực)
- Trong tình hình đó, một số địa phương, quần chúng nhân dân tìm tòi đổi mới, tìm lối thoát bằng “ khoán chui ” trong các hợp tác xã nông nghiệp, ở những nơi đó đời sống nhân dân được cải thiện.
* Như:
- Khoán chui đầu tiên ở Vĩnh Phú (Kim Ngọc)
- Sau đó là Đồ Sơn- Hải Phòng (Đoàn Huy Thành)
* Lúc này:
- Đảng ta nhận thức được khoán là nhu cầu của thực tiễn
- Khoán là mô hình sản xuất kinh doanh vừa có lợi cho Nhà nước vừa cólới cho nhân dân
- Khoán nhưng không làm ồ ạt mà thực hiện từng bước
- Chỉ thị ra đời gắn với việc thay đổi mô hình hợp tác xã nông nghiệp