Về chínhtrị, Trung Quốc luôn luôn tuyên bố ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân ta.TrungQuốc đã huy động hàng triệu người mít tinh với sự tham gia của các vị lãnh đạo caonhất để phản đối c
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG I: CƠ SỞ VÀ HOÀN CẢNH LỊCH SỬ CỦA MỐI QUAN HỆ VIỆT - TRUNG 1.1 Cơ sở hình thành quan hệ Việt – Trung: 7
1.1.1 Mối quan hệ lịch sử- văn hóa lâu đời: 7
1.1.2 Cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và sự đồng tình ủng hộ lẫn nhau của nhân dân hai nước: 8
1.1.3 Quan hệ giữa Đảng CSVN và Đảng CSTQ trước khi 2 nước thiết lập quan hệ ngoại giao: 9
1.2 Bối cảnh quốc tế, tình hình Trung Quốc và Việt Nam: 9
1.2.1 Bối cảnh quốc tế: 9
1.2.2 Tình hình Trung Quốc: 11
1.2.3 Tình hình Việt Nam: 12
CHƯƠNG II: QUAN HỆ VIỆT NAM – TRUNG QUỐC TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY 2.1 Giai đoạn 1945- 1949 : 14
2.1.1 Quan hệ giữa Đảng cộng sản Việt Nam với Đảng cộng sản Trung Quốc trước khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao: 14
2.1.2 Quan hệ chính trị quân sự: 14
2.1.2.1 Những giúp đỡ của quân và dân Việt Nam đối với Trung Quốc: 14
2.1.2.2 Sự giúp đỡ chi viện của Trung Quốc đối với Việt Nam: 17
1
Trang 22.1.2.3 Ảnh hưởng của cách mạng Trung Quốc và sự ra đời của nước Cộng Hòa
Nhân Dân Trung Hoa (1949): 18
2.1.3 Quan hệ kinh tế, thương mại: 19
2.2 Giai đoạn 1949- 1954: 20
2.2.1 Quan hệ chính trị ngoại giao: 20
2.2.1.1 Hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao: 20
2.2.1.2 Quan hệ giữa hai Đảng, hai nhà nước: 20
2.2.1.3 Ủng hộ lẫn nhau trên mặt trận chính trị, ngoại giao: 21
2.2.2 Quan hệ kinh tế - thương mại 21
2.2.2.1 Từng bước đặt cơ sở pháp lý cho quan hệ kinh tế song phương: 21
2.2.2.2 Quan hệ thương mại: 22
2.2.2.3 Viện trợ kinh tế của Trung Quốc cho Việt Nam 22
2.2.3 Quan hệ văn hóa, khoa học kỹ thuật, giáo dục 22
2.2.3.1 Hợp tác văn hóa: 22
2.2.3.2 Hợp tác giáo dục, khoa học kỹ thuật: 22
2.2.4 Viện trợ về lương thực của Trung Quốc cho Việt Nam: 23
2.2.5 Viện trợ quân sự của Trung Quốc cho Việt Nam: 23
2.3 Giai đoạn 1954- 1975: 24
2.3.1 Cơ sở của quan hệ ngoại giao Việt Trung giai đoạn 1954- 1975: 24
2.3.2 Quan hệ chính trị- ngoại giao: 26
2.3.3 Quan hệ kinh tế - thương mại: 31
2.3.4 Viện trợ quân sự của TQ: 32
Trang 32.4 Giai đoạn 1975 – 1991: 37
2.4.1 Quan hệ chính trị - ngoại giao: 37
2.4.2 Các cuộc đụng độ quân sự: 44
2.4.2.1 Chiến tranh biên giới 1979 45
2.4.2.2 Xung đột Vị Xuyên 1984 49
2.4.2.3 Hải chiến Trường Sa 1988 51
2.5 Giai đoạn 1991 đến nay 52
2.5.1 Quan hệ hợp tác về chính trị, ngoại giao 52
2.5.2 Quan hệ về kinh tế - thương mại 56
2.5.3 Quan hệ về an ninh, quốc phòng 59
2.5.4 Quan hệ về giáo dục - đào tạo, văn hóa, thể thao, du lịch 60
2.5.5 Việc giải quyết các vấn đề do lịch sử để lại: 61
CHƯƠNG III: ĐẶC ĐIỂM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA QUAN HỆ VIỆT- TRUNG TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY 3.1 Đặc điểm của quan hệ Việt- Trung từ năm 1945 đến nay: 67
3.1.1 Quan hệ Việt- Trung chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của yếu tố thời đại: 67
3.1.2 Quan hệ Việt- Trung dù trải qua những thời gian mâu thuẫn, rạn nứt nhưng vẫn trên tinh thần hợp tác, cùng phát triển: 68
3.1.3 Quan hệ Việt- Trung chịu sự chi phối từ vị thế nước lớn của Trung Quốc : 69 3.1.4 Vấn đề biển Đông là vấn đề nóng và bức thiết nhất trong việc duy trì, phát triển quan hệ Việt- Trung: 70
3.2 Tác động của quan hệ Việt- Trung từ năm 1945 đến nay: 72
3
Trang 43.2.1 Đối với Trung Quốc: 72
3.2.2 Đối với Việt Nam: 73
3.3 Bài học lịch sử của mối quan hệ Việt Trung từ năm 1945 đến nay: 74
3.3.1 Nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của mối quan hệ Việt – Trung: 74
3.3.2 Phân định rõ ràng lợi ích quốc gia, dân tộc và ý thức hệ: 74
3.3.3 Giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ nhưng ứng xử tinh tế, khéo léo: 75
KẾT LUẬN 76
PHỤ LỤC 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 5MỞ ĐẦU
Từ xa xưa, một nghìn năm Bắc thuộc, rồi các cuộc xâm lược thời Nguyên Mông để lại những dấu ấn sâu đậm trong quan hệ hai nước.Trung Quốc là nước đầutiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Viêt Nam, ngày 18/1/1950 Trung Quốc ra tuyên
-bố công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Đây là sự kiện quan trọng mở đầucho một loạt thắng lợi ngoại giao khác của Việt Nam.Trong thời kỳ kháng chiếnchống thực dân Pháp,nhìn chung quan hệ Việt-Trung tương đối tốt đẹp.Nhân dân,nhànước và Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đóng góp không nhỏ vào thắng lợi của ViệtNam Sự giúp đỡ đó xuất phát từ truyền thống hữu nghị giữa hai nước,từ sự tươngđồng về ý thức hệ và cũng phù hợp với lợi ích quốc gia của Trung Quốc Trong khángchiến chống Mỹ, Trung Quốc đã giúp đỡ rất nhiều cho nhân dân Việt Nam Về chínhtrị, Trung Quốc luôn luôn tuyên bố ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân ta.TrungQuốc đã huy động hàng triệu người mít tinh với sự tham gia của các vị lãnh đạo caonhất để phản đối cuộc chiến do Mỹ gây ra và ủng hộ nhân dân Việt Nam Đặcbiêt,Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam vũ khí bộ binh, quân trang, quân dụng,lương thực, thực phẩm Sự giúp đỡ to lớn của Trung Quốc đã góp phần quan trọngđưa cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam đi đến thắng lợi, đúng như Bác Hồ đã
nói “Một thắng lợi của Đảng ta và của nhân dân ta không thể tác rời sự ủng hộ nhiệt
tình của Liên Xô, Trung Quốc và cả phe xã hội chủ nghĩa” Quan hệ Việt Trung trong
chiến tranh chống Mỹ nhìn chung rất gắn bó song không phải không có những mặt
“cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt” Trong quan hệ với Việt Nam, lợi ích quốc gia
của Trung Quốc luôn được xếp vị trí hàng đầu.Tháng 1/1974 lợi dụng Việt Nam đangtập trung sức lực giải phóng miền Nam, Trung Quốc đã huy động lực lượng hải quânđánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Với đại thắng mùa Xuân năm 1975,Việt Nam thống nhất đất nước, non sông thu về một mối Quan hệ Việt- Trung lúc nàylại trở nên căng thẳng Trung Quốc đã ngừng viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam
và cuối năm 1977, họ chấm dứt cho vay Trung Quốc còn giật dây Campuchia gây hấnchống Việt Nam và đồng thời khiêu khích vũ trang ở sáu tỉnh biên giới phía Bắc nước
ta Do vậy quan hệ hai nước đã xấu đi nhanh chóng với đỉnh cao là cuộc chiến tranhbiên giới tháng 2/1979 chiến tranh này là hậu quả của sự căng thẳng giữa hai nước
5
Trang 6Việt Nam, Trung Quốc Cuộc chiến đã gây tổn thất lớn về người và của cho nhân dânhai nước và làm phương hại đến quan hệ hữu nghị Việt-Trung Cuộc chiến này cònlàm cho hòa bình và ổn định trong khu vực bị đe dọa, gây ảnh hưởng không nhỏ đến
sự phát triển của các nước trong khu vực Sau chiến tranh biên giới, quan hệ hai nướctiếp tục căng thẳng Tình trạng này kéo dài suốt thập kỷ 80, gây ảnh hưởng xấu đốivới chính sách đối ngoại và sự phát triển kinh tiếc ủa hai nước Trong 12 năm đối đầu(1979-1991), do quan hệ chính trị căng thẳng nên đã dẫn đến sự bế tắc trong các lĩnhvực khác.Trung Quốc thường xuyên gây ra các vụ khiêu khích dọc theo biên giới hainước Nghiêm trọng nhất là ngày 14/3/1988, một biên đội tàu chiến gồm sáu chiếc củahải quân Trung Quốc đã gây sự tấn công các tàu tiếp tế của Việt Nam và đổ bộ đóngchiếm sáu bãi nước ngầm thuộc quần đảo Trường Sa, gây ra sự lo ngại sâu sắc trong
dư luận khu vực và thế giới Trong suốt thời gian này, quan hệ kinh tế, văn hóa giữahai nước bị ngưng trệ Từ năm 1991 đến nay sau khi đã bình thường hóa quan hệ,quan hệ Việt- Trung đã có những bước phát triển vượt bậc trên tất cả các lĩnh vực, tuynhiên vẫn vấp phải một vấn đề khác, đó là tranh chấp chủ quyền ở biển Đông
Như vậy có thể thấy rằng,quan hệ Việt- Trung từ thời phong kiến đến trước khibình thường hóa năm 1991 đã diễn ra rất nhiều thăng trầm và biến đổi lớn lao Từ hai
nước “vừa là đồng chí, vừa là anh em” chuyển thành kẻ thù không đợi trời chung Từ
quan hệ hữu nghị tốt đẹp chuyển sang quan hệ đối đầu căng thẳng Điều này chứng tỏquan hệ Việt- Trung là rất phức tạp và có tác động lớn đối với Việt Nam
Trang 7CHƯƠNG I: CƠ SỞ VÀ HOÀN CẢNH LỊCH SỬ CỦA MỐI QUAN HỆ
VIỆT - TRUNG 1.1 Cơ sở hình thành quan hệ Việt – Trung:
1.1.1 Mối quan hệ lịch sử- văn hóa lâu đời:
Thứ nhất, Việt Nam và Trung Quốc là hai nước có vị trí địa lý núi liền núi,
sông liền sông, có chung quyền lợi ở biển Đông với đường biên giới dài 1400 km
Thứ hai, các khối cư dân của hai nước có nét tương đồng với nhau Trước năm
221 TCN, khu vực phía nam sông Dương Tử là khu vực của những nhóm tộc Việt,nhóm Bách Việt Họ đã một qúa trình cư trú lâu dài với nhau Tộc người Việt củanước Việt Nam ta là một phức hệ trong số đó Năm 221 TCN, Tần Thủy Hoàng thốngnhất Trung Hoa, thành lập đế chế Tần Năm 218 TCN, Tần Thủy Hoàng, phát độngnam chinh xuống phía nam Trong 4 năm, 50 vạn quân liên tiếp tiến hành tấn cônglàm chủ toàn bộ khu vực phía nam sông Dương Tử đến biên giới nước ta, xác lập vàobiên giới Trung Quốc chia thành 3 quận: Quế Lâm, Tượng Quận và Nam Hải Năm
214 – 208 TCN, cuộc bành trướng tiến xuống Đông Nam Á, nhưng lại bị cản trở lại ởnước ta buộc nhà Tần phải bãi binh Năm 208 TCN, Tần Thủy Hoàng mất, chiếntranh kết thúc Thục Phán tiến xuống đánh chiếm Lạc Việt của Hùng Vương thành lậpnên nhà nước Âu Lạc Sau khi nhà Tần suy yếu và sụp đổ Triệu Đà đánh chiếm quậnNam Hải và Quế Lâm, dấy binh xâm lược Âu Lạc Tuy không thắng bằng quân sựnhưng bằng mưu đồ cuối cùng Triệu Đà đánh thắng An Dương Vương, chiếm đượclãnh thổ nước ta Từ đó nước ta rơi vào 1000 năm Bắc thuộc
Thứ ba, là cùng chung nền kinh tế lúa nước Cả Việt Nam lẫn khu vực phía
nam Trung Quốc đều có chung nền nông nghiệp trồng lúa nước
Từ các cơ sở đã nêu trên đã kiến tạo nên những mối quan hệ từ lâu đời giữaViệt Nam và Trung Quốc Năm 179 TCN, Trung Quốc thành công với mưu đồ xâmlược Việt Nam.Trong suốt 1000 năm họ đã thi hành chế độ cai trị nước ta Các triềuđại phong kiến Trung Quốc từ Tần, Hán đến Tùy, Đường tuy biện pháp cai trị có khácnhau nhưng vẫn có mục đích chung là xóa bỏ dấu vết của nước Âu Lạc xưa, đồng hóa
7
Trang 8và sáp nhập lãnh thổ nước ta và Trung Quốc Trong quá trình đó chắc chắn đã xảy raquá trình tiếp xúc, giao lưu trao đổi giữa người Việt và người Trung Quốc Điều đócàng khắc họa rõ hơn mối quan hệ bang giao giữa nước ta với Trung Quốc.
Các triều đại phong kiến Việt Nam thường thực hiện nghi thức xin sách phong
và triều cống những sản vật, đặc sản quý hiếm sang Trung Quốc Và Trung Quốc cũng
cử sứ giả sang thăm Nhà Lê cứ 3 năm cống một lần và tiếp đón các sứ giả của nhàMinh sang thăm Nhà Nguyễn 4 năm một lần cử sứ bộ sang nộp 2 lần lễ cống Cuộcđấu tranh xóa bỏ triều cống ở nước ta ở các triều đại diễn ra vô cùng phức tạp trongsuốt tiến trình lịch sử dân tộc Từ khi giành được độc lập trải qua các triều đại Ngô,Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Lê Sơ, Nguyễn, nước ta từng bước phát triển chế độphong kiến đất nước có lúc thịnh, lúc suy Hơn 1000 năm chịu ách thống trị của phongkiến phương Bắc, đến lúc giành được độc lập, khẳng định chủ quyền của đất nước, vịvua nào cũng ý thức được mối đe dọa thường trực từ nước khổng lồ phong kiếnphương Bắc, đồng thời cũng hiểu rõ mối tương quan lực lượng giữa một nước nhỏđang từng bước xây dựng nhà nước phong kiến và một đế chế phong kiến có lịch sửphát triển lâu dài hơn Vì thế các triều đại phong kiến Việt Nam luôn biết giữ mình,khôn khéo, mềm dẻo trong quan hệ với Trung Quốc nhất là lúc trong nước đang bất
ổn hay mới xây dựng triều đại mới Còn về phía các triều đại phong kiến Trung Hoa,tuy nước ta đã là một nước độc lập có chủ quyền riêng song trong tư tưởng “bình thiênhạ” của họ nước ta vẫn là một nước nhỏ thì phải lệ thuộc vào nước lớn và trải qua cácthời kỳ họ vẫn nuôi ý muốn sáp nhập lãnh thổ nước ta vào lãnh thổ Trung Quốc
Ngay từ ban đầu, quan hệ Việt- Trung đã mang đặc điểm rõ rệt là quan hệ giữanước lớn với nước nhỏ, trong đó Trung Quốc luôn âm mưu thôn tính và đồng hóanước ta, còn nước ta lại khẳng định vị trí độc lập, tự chủ của mình bằng đấu tranhquân sự và ngoại giao khôn khéo
1.1.2 Cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và sự đồng tình ủng hộ lẫn nhau của nhân dân hai nước:
Bước vào thời kì cận đại, hai nước phong kiến Việt Nam và Trung Quốc trướcđây vốn là quan hệ triều cống của nước nhỏ với nước lớn đã trở thành hai nước đồng
Trang 9sĩ yêu nước và nhân dân hai nước đã có mối quan hệ gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau trongquá trình đi tìm con đường giải phóng dân tộc
Trong giai đoạn này quan hệ Việt- Trung đã đi khác giai đoạn trước về nộidung, tính chất, hoàn cảnh “vong nô quốc” đã tạm xóa đi ranh giới phân biệt giữanước lớn với nước nhỏ
1.1.3 Quan hệ giữa Đảng CSVN và Đảng CSTQ trước khi 2 nước thiết lập quan hệ ngoại giao:
Sau khi Đảng CSVN ra đời, quan hệ giữa hai đảng đã khiến hai nước trở nênđoàn kết, gần gũi hơn Quan hệ giữa hai Đảng CS trong giai đoạn 1930- 1949 còn hạnchế bởi khi đó cuộc cách mạng dân chủ của nhân dân Trung Quốc chưa thành công,Đảng CS Trung Quốc chưa trở thành đảng cầm quyền Vì thế, giai đoạn này TrungQuốc chưa có đủ điều kiện để giúp đỡ trực tiếp cho Việt Nam về vật chất nhưngnhững biến chuyển trên chiến trường Trung Quốc, thắng lợi của quan giải phóng doĐảng CS Trung Quốc lãnh đạo đã cổ vũ, khích lệ tinh thần của nhân dân ta
Sau khi giành độc lập, nước VN DCCH ra đời, mặc dù cách mạng Trung Quốcchưa giành được thắng lợi, hai nước còn chưa thiết lập quan hệ ngoại giao nhưngĐảng CS VN đã hết sức coi trong mối quan hệ với Đảng CS TQ và nhân dân TrungQuốc, làm nhiều việc thiết thực để ủng hộ nhân dân TQ, Đảng CS TQ trong cuộc nội
chiến Mối tình hữu nghị “vừa là đồng chí, vừa là anh em” được đặt nền móng vững
9
Trang 10Ngày 26/6/1945, đại diện 50 nước họp ở San Francisco (Mỹ) thông qua bảnhiến chương Liên hợp quốc chính thức có hiệu lực từ ngày 24/10/1945 Mục đích củaLiên hợp quốc là duy trì hòa bình an ninh thế giới, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh,trừng trị mọi hành động xâm lược và phá hoại hòa bình, ngoài ra còn thúc đẩy sự pháttriển quan hệ hữu nghị giữa các nước trên cơ sở quyền bình đẳng dân tộc và nguyêntắc dân tộc tự quyết Ngoài đại hội đồng gồm đại biểu các nước thành viên, cơ quan cóquyền lực nhất của Liên hiệp quốc là Hội đồng Bảo an, trong đó năm ủy viên thườngtrực gồm Mỹ, Anh, Pháp, Trung Hoa dân quốc và Liên Xô1 có quyền hạn rất lớn, đặcbiệt là quyền phủ quyết Liên hợp trở thành diễn đàn quốc tế lớn nhất nhưng cũng sớmbộc lộ sự tranh chấp giữa hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa trong nhiềuvấn đề có ảnh hưởng lớn đến tình hình thế giới.
Chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt tận gốc, phong trào cách mạng, phong trào giảiphóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ nhất là khu vực châu Á – Thái Bình Dương Nhiềunước giành được độc lập, chính quyền thuộc về nhân dân lao động, Đảng cộng sảnphát triển mạnh mẽ
Như vậy, sau chiến tranh thế giới thứ II, một trật tự thế giới mới được hìnhthành, trong đó các quốc gia trên thế giới không riêng gì Việt Nam và Trung Quốc đềuchịu sự chi phối của trật tự thế giới này
Trong những thập niên 50 và 60, dựa vào tiềm lực kinh tế Mỹ đã triển khaichiến lược toàn cầu trên phạm vi toàn thế giới nhằm đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản Mỹ
đã sử dụng sức mạnh của mình chi phối các quốc gia trong đó có Việt Nam Để chốnglại sự xâm lược của Mỹ, nhân dân Đông Dương đã cùng nhau đứng dậy đấu tranhchống lại sự can thiệp của Mỹ vào Đông Dương, được sự ủng hộ của bạn bè trên thếgiới nhất là Liên Xô và Trung Quốc, Cuối thập niên 60, Mỹ thua trận ở ĐôngDương Chính những sự kiện đó gây nên những biến động quan trọng trong tình hìnhquốc tế và khu vực
1 Từ năm 1972 được thay bằng Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, từ năm 1991 Liên bang Nga kế thừa vị trí của Liên Xô.
Trang 11Liên Xô luôn tìm giải pháp kiềm hãm Trung Quốc, đưa ra những biện phápđáng kể đảm bảo an ninh khu vực Châu Á – Thái Bình Dương để tranh thủ được sựảnh hưởng với các nước Châu Á.
Trung Quốc bắt đầu có sự thiết lập quan hệ ngoại giao, phát triển chính sáchngoại giao theo xu hướng bình thường hóa quan hệ ngoại giao với các quốc gia trênthế giới
Cuối thập niên 80, thế giới có nhiều biến đổi, trật tự Ianta sụp đổ bắt đầu hìnhthành một trật tự thế giới mới, với sự xuất hiện cách mạng khoa học kỹ thuật Nhiều
xu thế trong thời kỳ này được xuất hiện mang lại sự mới mẻ chủ yếu xu thế chủ yếuđối thoại, hợp tác, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau được 5 nước Nga, Anh, Pháp, Mỹ,Trung Quốc tiến hành hợp tác với nhau Nhưng đây cũng là thời kỳ đứng trước nhiềukhó khăn và thử thách đối với các quốc gia trên thế giới
1.2.2 Tình hình Trung Quốc:
Ở Trung Quốc, chính quyền Tưởng giới Thạch bị thất bại nặng nề trong cuộctấn công vào vùng giải phóng của Đảng Cộng sản Trung Quốc tại 11 tỉnh sau hiệpđịnh ngày 10 tháng 10 năm 1945, buộc phải ký với Đảng cộng sản Trung Quốc, hiệpđịnh mới ngày 10 tháng Giêng năm 1946 và mở hội nghị chính trị hiệp thương QuốcCộng Tình hình không ổn định trong nước và vị trí ngày càng suy yếu không chophép chính quyền Tưởng giới Thạch triển khai những kế hoạch được trù tính trongchiến tranh nhằm thực hiện vai trò “lãnh đạo châu Á”
Ở Trung Quốc cách mạng thành công, nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa rađời (1949) đã bắt tay vào xây dựng đất nước và gặt hái được nhiều thành tựu đáng kể
Nhưng do thực hiện đường lối “ba ngọn cờ hồng” và vành đai cách mạng hóa vô sản
đã gây ra sự hỗn loạn trong lịch sử Trung Quốc, đỉnh cao là những năm 1966-1968 vàkéo dài đến 1976, đã tàn phá nền kinh tế Trung Quốc, gây nên những hậu quả nghiêmtrọng cho Trung quốc trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa Giớilãnh đạo Trung Quốc gây bất lợi cho cho cách mạng Traung Quốc và thế giới Bêncạnh đó, mâu thuẫn với Xô- Trung lên tới đỉnh điểm dẫn tới cuộc chiến tranh biên giới(1969)
11
Trang 12Tháng 12/1978, Ban chấp hành TW Đảng cộng sản Trung Quốc tiến hành cảicách mở cửa, do Đặng Tiểu Bình khởi xướng và được nâng lên thành “đường lốichung” ở Đại hội XIII Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Như vậy, từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến thập niên 70, tình hình TrungQuốc có nhiều biến động, vừa đứng trước nhiều thách thức lớn
1.2.3 Tình hình Việt Nam:
Sau thắng lợi nhang chóng của cuôc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm1945,Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vừa ra đời phải đối mặt với rất nhiều khókhăn Nước Vịêt Nam non trẻ phải đối phó ngay với các thế lực thù địch bên ngoài có
âm mưu chống phá cách mạng
Ngay sau khi tuyên bố độc lập, các nước thực thi quyết định của Hội nghịPostdam các nước kéo vào Việt Nam với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật Ở miềnBắc có khoảng 20 vạn quânTưởng, miền Nam lực lượng quân Anh kéo đến Ngoài lựclượng của quân Tưởng, quân Anh, còn có mặt của khoảng 6 vạn quân Nhật đã đầuhàng nhưng chưa về nước và quân Pháp Như vậy, cùng một lúc trên đất nước ta cómặt gần 30 vạn quân chính quy của các thế lực Anh, Pháp, Nhật, Tưởng Nguy cơ đedoạ trực tiếp là âm mưu quay trở lại đánh chiếm Đông Dương của thực dân Pháp Bêncạnh đó, các lực lượng phản động trong nước cũng ngóc đầu dậy chống phá cáchmạng Chưa bao giờ trên đất nứoc Việt Nam lại có nhiều kẻ thù đến thế
Về mọi mặt nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đều chưa có thời gian để củng
cố và phát triển Chính quyền cách mạng mới hình thành chưa được một nước nàotrên thế giới công nhận về mặt ngoại giao, lực lượng vũ trang cách mạng còn quá nontrẻ, chưa có kinh nghiệm chiến đấu Đất nước thiếu thốn mọi bề vìchủ nghĩa thực dânthống trị trong gần một thế kỉ Khối đại đoàn kết toàn dân đang trong quá trình củng
cố Cơ cấu tổ chức bộ máy chính quyền còn phải tiếp tục xây dựng Đất nước trongtình trạng “nghìn cân treo sợi tóc”
Bên cạnh những khó khăn to lớn, Việt Nam cũng có những thuận lợi cơ bảnnhư chính quyền cách mạng ra đời đã tạo thé mới rất quan trọng cho dân tộc ta – vị
Trang 13thế của một nhà nước mà nhân dân lao động là chủ nhân bảo vệ và xây dựng đất nước.
Sự gắn bó giữa nhân dân và chính quyền cách mạng, truyền thống quật khởi, ý chíquyết tâm bảo vệ độc lập và chủ quyền Tất cả tạo thành sức mạnh tổng hợp có tácdụng to lớn trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc
Với chiến thắng Điện Biên Phủ và việc ký hiệp định Giơnevơ cuộc khấng chiếnchống Pháp 8 năm gian khỏ đã kết thúc Hòa bình được lập lại ở miền Bắc nhưng mụctiêu thống nhất đất nước chưa thực hiện được trọn vẹn nhân dân Việt nam phải tiếptục hai nhiệm vụ cách mạng đó là cách mạng xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấutranh giải phóng ở miền Nam, thống nhất đất nước trong hoàn cảnh quốc tế hết sứcphức tạp, nhiều lúc ảnh hưởng bất lợi cho Việt Nam
13
Trang 14CHƯƠNG II: QUAN HỆ VIỆT NAM – TRUNG QUỐC
TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY2.1 Giai đoạn 1945- 1949 :
2.1.1 Quan hệ giữa Đảng cộng sản Việt Nam với Đảng cộng sản Trung Quốc trước khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao:
Sau khi Đảng cộng sản Việt Nam, quan hệ giữa hai Đảng khiến cho mối quan
hệ giữa hai nước trở nên bền chặt, gần gũi hơn Quan hệ giữa hai Đảng cộng sản giaiđoạn năm 1930-1949 còn nhiều hạn chế bởi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ của nhândân Trung Quốc chưa thành công Đảng cộng sản Trung Quốc chưa trở thành mộtđảng cầm quyền vì vậy, trong giai đoạn này Đảng cộng sản Trung Quốc chưa có điềukiện thuận lợi để trực tiếp giúp Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp
Sau khi giành được độc lập, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được ra đời.Mặc dù trong thời điểm này cách mạng Trung Quốc chưa giành được thắng lợi, nhưnghai Đảng đã hết sức coi trọng mối quan hệ này luôn tìm cách giúp đỡ cho nhau về vật
chất cũng như tinh thần Mối tình hữu nghị “ vừa là đồng chí, vừa là anh em” được
đặt trên nền móng vững chắc đã có từ lâu đời
2.1.2 Quan hệ chính trị quân sự:
2.1.2.1 Những giúp đỡ của quân và dân Việt Nam đối với Trung Quốc:
Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã đánh đổ nền thống trị của đế quốc Nhật vàthực dân Pháp ở Việt Nam, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập (ngày02-9-1945) Nhưng lúc này, nước ta đang trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, phảichiến đấu trong sự cô độc, không nhận được sự hỗ trợ từ bên ngoài Vì vậy, một trongnhững cố gắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm đầu sau khi giành chínhquyền là nhằm phá vỡ thế bao vây của kẻ thù, gắn cách mạng Việt Nam với cáchmạng thế giới và tranh thủ sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN), các lựclượng tiến bộ trên thế giới cho cuộc kháng chiến chống Pháp
Trang 15Trung Quốc đang gặp khó khăn và cần sự trợ giúp Tháng 3/1946, Hồ ChíMinh đã đồng ý nhận trung đoàn 1 thuộc lực lượng chủ lực của Đảng Cộng sản TrungQuốc vào Việt Nam Việt Nam sẵn sàng giúp đỡ về vật chất và lực lượng ở biên giớiViệt Nam.
Trong những năm 1948 -1949, mặc dù ta đang gặp rất nhiều khó khăn với cuộckháng chiến chống Pháp nhưng Đảng và Chính phủ VNDCCH vẫn sẵn sàng hỗ trợgiúp đỡ ĐCS Trung Quốc trong việc chiến đấu chống lại quân Tưởng Giới Thạch, bảo
vệ khu căn cứ cách mạng ở Tĩnh Tây (Trung Quốc) Với tinh thần trợ giúp “cứu TrungQuốc cũng là tự cứu mình” quân dân Việt Nam đã giúp cách mạng Trung Quốc vềmọi phương diện nhất là gạo, muối, vũ khí, đạn dược và tài chính Từ tháng 1-1948đến cuối năm 1948, mỗi tháng Việt Nam gửi giúp riêng quân, dân Biên khu Điền Quế
50 tấn muối, hàng chục tấn gạo và một số lượng đáng kể đạn cối 81 ly, đạn AT lànhững thứ mà Quân giải phóng Trung Quốc lúc đó rất cần2 Sự ủng hộ, giúp đỡ nóitrên đã góp phần giúp quân, dân các Biên khu Điền Quế, Việt Quế không chỉ đứngvững, bảo vệ và mở rộng vùng căn cứ, mà còn đập tan các cuộc tiến công của quânTưởng Giới Thạch dưới sự trợ giúp của thực dân Pháp Trong những năm 1948-1949,căn cứ địa Việt Bắc trở thành nơi ém quân của Quân giải phóng Trung Quốc Họ đượccung cấp lương thực, thực phẩm và muối Ngành tài chính Việt Nam giúp in tiềnTrung Quốc mới để sử dụng trong vùng giải phóng3 Phía Trung Quốc cũng ghi nhận
điều này: “Trong thời kỳ nhân dân Trung Quốc tiến hành cuộc chiến tranh giải
phóng, từng đội Cống Quế (Quảng Đông - Quảng Tây) và từng đội Điền Quế (Vân Nam - Quảng Tây) do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo khi bị địch bao vây cũng
đã từng di chuyển đến vùng giải phóng của Việt Nam, được Trung ương Đảng Việt Nam và nhân dân các dân tộc vùng biên giới Việt Nam nhiệt tình ủng hộ” 4
Đầu năm 1949, trước sức tiến công như vũ bão của Quân giải phóng TrungQuốc, Tưởng Giới Thạch cố dồn lực lượng giữ lấy miền Hoa Nam Các khu căn cứcủa Trung Quốc sát biên giới Việt - Trung gặp nhiều khó khăn Tháng 3-1949,
2 Võ Nguyên Giáp (1999)“ Đường tới Điện Biên Phủ”, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, tr.32.
3 Lê Văn Hiển(1995) Nhật ký của một bộ trưởng, Nxb Đà Nẵng, tập 2, tr.32.
4 Tạp chí “Nghiên cứu vấn đề quốc tế”, số 2/1981, tr.6.
15
Trang 16ĐCSTQ cử đồng chí Sầm Minh Coóng, Chính ủy Bộ Tư lệnh Biên khu Việt Quế sanggặp Trung ương ĐCS Đông Dương đề nghị đưa bộ đội sang giúp xây dựng, củng cốBiên khu Điền Quế, Việt Quế, chuẩn bị thời cơ đón chủ lực Quân giải phóng TrungQuốc tiến xuống Hoa Nam Mặc dù lúc bấy giờ cuộc kháng chiến chống Pháp cònnhiều gay go và đang trong giai đoạn quyết liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn chỉ thị cho
Bộ Tổng tư lệnh đáp ứng yêu cầu của các đồng chí Trung Quốc, phái ngay lực lượngsang giúp Ngày 23-4-1949, Bộ Tổng tư lệnh ra lệnh "phối hợp với Quân giải phóngTrung Quốc mở rộng khu giải phóng Biên khu Việt Quế"5 Thực hiện Chỉ thị trên, từ
ngày 10-6-1949 đến cuối tháng 10-1949, bộ đội Việt Nam đã phối hợp đắc lực vớiGiải phóng quân Trung Quốc thực hiện nhiều trận đánh và chiến dịch trên các hướngkhác nhau, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao6 Sau khi vùng căn cứ Thập vạn đại sơnđược mở rộng và củng cố vững chắc, bộ đội Việt Nam được lệnh rút về nước Bằngnhững hành động thiết thực, Quân đội nhân dân Việt Nam đã đóng góp công sức củamình vào sự nghiệp giải phóng của nhân dân Trung Quốc Những việc làm nói trêncủa quân, dân Việt Nam được Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc đánh giácao
Ngày 01-10-1949, cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân Trung Quốc giànhthắng lợi, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời Thắng lợi vĩ đại của cách mạngTrung Quốc đã làm nghiêng cán cân lực lượng quốc tế về phía các lực lượng hòa bình
và tiến bộ Ngày 03-10-1949, Liên Xô công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao vớiChính phủ Trung Quốc Tiếp theo đó là hàng loạt các nước trong phe XHCN côngnhận và đặt quan hệ ngoại giao với Trung Quốc Từ đây, hành lang địa lí – chính trịcủa phe xã hội chủ nghĩa được mở rộng đến tận biên giới Việt – Trung
2.1.2.2 Sự giúp đỡ chi viện của Trung Quốc đối với Việt Nam:
Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, vùng biện giới giữa Việt Nam
và Trung Quốc trở thành căn cứ địa- an toàn khu của Việt Nam (của cả cách mạng
5 Tổng quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Tổng tham mưu, 1963, “Những tài liệu chỉ đạo chiến dịch của Trung
ương Đảng” Tài liệu khong phổ biến, Lưu tại Cục nghiên cứu, Bộ Quốc phòng, tr.265
6 Sau khi giải phóng vùng đất này, bộ đội Việt Nam đã chuyển giao cho bạn vũ khí thu được gồm hơn 500 khẩu
súng các loại.
Trang 17Trung Quốc) Nhiều tổ chức cơ sở Đảng, lực lượng vũ trang của Đảng cộng sản TrungQuốc gặp khó khăn trước sự tấn công của Quốc dân Đảng đã di chuyển về đây và lãnhđạo cuộc đấu tranh của nhân dân Trung Quốc tại vùng ven biên giới7 Trong thời gianhoạt động ở khu vực này, Đảng cộng sản Trung Quốc mở các lớp huấn luyện, bồidưỡng cán bộ cách mạng và nhân dân Việt Nam Theo nhà nghiên cứu Ang ChengGuan đã nói : “Năm 1946, một trung đoàn quân cách mạng của Đảng cộng sản TrungQuốc đã đi vào Việt Nam để tránh các cuộc tấn công của Quốc Dân Đảng và ở lại ViệtNam đến tháng 8/ 1949 Theo yêu cầu của Hồ Chí Minh, trung đoàn này ở lại giúpđào tạo quân đội Việt Minh, đặc biệt đào tạo cán bộ Việt Minh và thiết lập một hệthống tình báo”8 Tiếp nối thông tin của ông Ang Cheng Guan, Qiang Zai khẳng định :
“Nhờ được trung đoàn trên giúp đỡ, “đến tháng 7/1947, đã có 830 cán bộ Việt Minh
đã được học tập, bồi dưỡng” 9
Những năm 1946-1947, chính quyền Thái Lan tổ chức thực hiện chính sáchchống cộng, gây khó khăn cho việc chuyển vũ khí mua từ nước ngoài qua đường TháiLan về Việt Bắc, Đảng Cộng sản Đông Dương nhỡ Đảng Cộng sản Trung Quốc giúp
đỡ “mua khoảng 12 triệu đồng trang thiết bị quân sự và chỏ về Việt Bắc trước khiPháp mở cuộc tấn công mùa Thu10
Theo nhận định của Laura M Calkins, nguồn gốc hợp tác giữa Trung Quốc vàViệt Nam những năm 1947-1949 chịu sự tác động trực tiếp bởi các diễn biến nội tạicủa Trung Quốc, khi mà một trong những mối quan tâm chiến lược quan trọng tại thời
điểm này của Đảng Cộng sản Trung Quốc là “giành chiến thắng trong cuộc nội chiến
7 Tháng 2-1946, Ủy ban công tác biên giới lâm thời Quế - Việt của Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập ở Việt Nam Tháng 12- 1946, Ủy ban triệu tập hội nghị nghiên cứu về vấn đề đấu tranh vũ trang và quyết định đổi tên thành Ủy ban công tác Tả Giang Tháng 3- 1947, Ủy ban công tác Tả Giang họp bàn về bạo động vũ trang; tháng 7-1947, Ủy ban công tác Tả Giang lãnh đạo khởi nghĩa vũ trang ở một số địa phương dọc biên giới Việt – Trung như Ái Điếm (Ninh Minh), Hạ Đống (Long Châu), Bình Nạnh (Na Pha).
8 Ang Cheng Guan: Vietnam in 1948: An International History Perspective, Kajian Malaysia, 27 (1 & 2), 2009,
Trang 18bằng cách đánh bại các lực lượng Quốc Dân Đảng ở khu vực phía Tây Nam giáp biên giới Đông Dương” 11
Phân tích những mối liên hệ và sự giúp đỡ của cách mạng Trung Quốc đối vớiViệt Nam những năm 1947-1948, nhà sử học King C Chen lưu ý rằng, “khu căn cứđịa của Việt Minh tại khu vực biên giới giữa Việt Nam - Trung Quốc (Quảng Tây vàVân Nam) và sự hợp tác giữa hai Đảng Cộng sản là những nhân tố quan trọng trongviệc tăng cường khả năng của Việt Minh để tồn tại trước các cuộc tấn công của Phápgiai đoạn này”[8] Trên thực tế, hai Đảng Cộng sản có sự giúp đỡ lẫn nhau, nhưngtrước khi cách mạng Trung Quốc thành công (10-1949) và trước khi chiến dịch Biêngiới (1950) thắng lợi, Trung Quốc chưa có điều kiện hỗ trợ Việt Nam mạnh mẽ Dothời kỳ đầu, khả năng giúp đỡ của Trung Quốc cho cách mạng Việt Nam chưa lớn, vìcách mạng Trung Quốc mới thành công, đang gặp muôn vàn khó khăn
2.1.2.3 Ảnh hưởng của cách mạng Trung Quốc và sự ra đời của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (1949):
Cách mạng Trung Quốc thành công, thắng lợi này đã chấm dứt hơn 100 năm
nô dịch của đế quốc, xóa bỏ tàn dư phong kiến, đánh dấu bước ngoặc quan trọng chocách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Trung Quốc thành công, mở ra cho TrungQuốc một thời kỳ mới, tiếp nối giành được nhiều thắng lợi trong công cuộc xây dựngđất nước sau này, đi lên con đường chủ nghĩa xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước
Thành công của cách mạng Trung Quốc (1946-1949), có ảnh hưởng đến sựnghiệp cách mạng thế giới đặc biệt là các nước Á, Phi, Mĩ Latinh Không chỉ có ảnhhưởng đến thế giới mà còn ảnh hưởng to lớn đến cách mạng Việt Nam, để lại cho ViệtNam nhiều bài học quý giá
Đối với cách mạng Việt Nam, sự thắng lợi của cách mạng Trung Quốc là một
cơ hội lớn mở ra khả năng khai thông liên lạc với phe XHCN Nhằm phá vỡ vòng vâycủa chủ nghĩa đế quốc đối với cách mạng Việt Nam, nước Việt Nam Dân chủ Cộng
11 Laura M Calkins: China and the First Vietnam War, 1947-54 Routledge Studies in the Modern History of
Trang 19hòa đã khẩn trương thiết lập mối quan hệ với Trung Quốc, Liên Xô và các nước kháctrong phe XHCN.
Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta tranh thủ sự công nhận
và giúp đỡ trực tiếp của các nước trong phe XHCN Ngày 05-12-1949, Chủ tịch HồChí Minh gửi điện tới Chủ tịch Mao Trạch Đông, chúc mừng sự ra đời của nước Cộng
hòa nhân dân Trung Hoa Bức điện có đoạn: “Hai dân tộc Việt – Hoa có mối quan hệ
anh em trải qua mấy nghìn năm lịch sử Từ đây, mối quan hệ ấy sẽ ngày càng mật thiết để phát triển tự do và hạnh phúc của hai dân tộc ta, và bảo vệ dân chủ thế giới
và hòa bình lâu dài” 12
Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam thắng lợi đã góp phần nâng cao vị trí
và uy tín của Trung Quốc trên trường quốc tế Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc là mốiquan hệ ủng hộ, gắn bó và giúp đỡ lẫn nhau, vì Việt Nam độc lập có nghĩa là TrungQuốc không bị uy hiếp bởi Chủ nghĩa đế quốc từ phía Nam; ngược lại, Trung Quốcđược giải phóng có nghĩa là Việt Nam tránh được sự đe dọa của Chủ nghĩa đế quốc từphía Bắc
2.1.3 Quan hệ kinh tế, thương mại:
Thời kỳ 1945 - 1949, chủ yếu là Trung Quốc giúp đỡ Việt Nam, cả về quân sự
và kinh tế Trung Quốc cử nhiều chuyên gia sang Việt Nam tham gia các chiến dịchbiên giới, trang bị vũ khí, kinh nghiệm đánh trận
Về kinh tế, sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc của chúng ta đượcTrung Quốc hỗ trợ gang thép Thái Nguyên, nhà máy Cao - Xà - Lá, Hồng Hà, hóachất Việt Trì, các nhà máy xay xát…
Ngược lại, Việt Nam cũng giúp đỡ Trung Quốc khá nhiều Sự hợp tác với nhau
về kinh tế, thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam được khôi phục từ việc viện trợtiền của, lương thực, vận dụng cho cả hai bên
12 Hồ Chí Minh (2009), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.717.
19
Trang 202.2 Giai đoạn 1949- 1954:
2.2.1 Quan hệ chính trị ngoại giao:
2.2.1.1 Hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao:
Ngày 1 tháng 10 năm 1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thànhlập, nhân dân Việt Nam lúc đó còn tiến hành cuộc chiến tranh gian khổ chống thựcdân Pháp dưới sư lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Ngày 18 tháng 1 năm 1950,Trung Quốc chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộnghòa Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới thiết lập quan hệ ngoại giao với nướcViệt Nam
Thiết lập quan hệ ngoại giao là một sự kiện lớn trong quan hệ hai nước Từđây, quan hệ hai đảng, hai nhà nước bước vào một giai đoạn phát triển mới Sự kiệnnày có ý nghĩa lớn với Việt Nam khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra khókhăn, bị phong tỏa bốn bề và rất cần sự cổ vũ, giúp đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần.Tuy nhiên, khi được các nước phe XHCN công nhân, Việt Nam đứng trong pheXHCN có nghĩa là đối đầu với phe đế quốc do Mỹ đứng đầu Từ đó, cuộc chiến tranhViệt – Pháp đã trở thành nơi thể hiện sự đối đầu của hai phe XHCN và đế quốc chủnghĩa
2.2.1.2 Quan hệ giữa hai Đảng, hai nhà nước:
Mặc dù Việt Nam đang tiến hành kháng chiến chống Pháp nhưng từ khi thiếtlập quan hệ, cả hai nước đều duy trì các cuộc viếng thăm lẫn nhau Ngày 19/1/1950,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bí mật vượt biên giới Cao Bằng đến thăm Trung Quốc.Nhân chuyến thăm này Trung Quốc cũng thể hiện lập trường ủng hộ cuộc đấu tranhchính nghĩa của dân tộc Việt Nam Từ năm 1955 – 1965, khi miền Bắc hoàn toàn giảiphóng lãnh đạo cao cấp của hai nước tăng cường hỏi thăm, bàn bạc trao đổi các vấn đềtrong nước hay quốc tế có liên quan, khẳng định lập trường ủng hộ nhau trong côngcuộc xây dựng đất nước và chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc
Trang 212.2.1.3 Ủng hộ lẫn nhau trên mặt trận chính trị, ngoại giao:
Là một nước tham dự hội nghị Geneve về Việt Nam và là nước láng giềng gầngũi, Trung Quốc luôn quan tâm đến việc thực thi Hiệp định, phản đối mạnh mẽ việc
Mỹ phá hoại Hiệp định, can thiệp và xâm lược Việt Nam.Sự ủng hộ của Trung Quốc
về mặt chính trị ngoại giao đã được thể hiện thông qua các tuyên bố, những bức điệngửi cho các nhà lãnh đạo Việt Nam, phát biểu của các nhà lãnh đạo Trung Quốc, cácbức điện của các tổ chức, các đoàn thể Trung Quốc gửi cho các tổ chức, các đoàn thểViệt Nam tương ứng
Tuy nhiên, bên cạnh sự ủng hộ Trung Quốc luôn có những tính toán nhất địnhvới Việt Nam, luôn vận dụng vấn đề Việt Nam quan hệ với Việt Nam mà thực hiệncác ý đồ chiến lược của mình Điều này được thấy rõ trong Hiệp định Geneve, qua ý
đồ của Trung Quốc muốn Việt Nam đánh Mỹ lâu dài…
2.2.2 Quan hệ kinh tế - thương mại
2.2.2.1 Từng bước đặt cơ sở pháp lý cho quan hệ kinh tế song phương:
Thiết lập quan hệ ngoại giao cùng với việc làm chủ 750 km đường biên giớiViệt – Trung sau chiến thắng Biên giới đã đưa quan hệ kinh tế, thương mại hai nướcbước vào giai đoạn phát triển mới Hai nước từng bước đặt cơ sở pháp lý cho quan hệthương mại kinh tế song phương như ngày 28/4/1951, ký hiệp định thương mại; ngày3/5/1951, đoàn đại biểu của hai nước đã có cuộc họp đầu tiên về mậu dịch và công tácgiao nhận hàng hóa; ký các hiệp định về mậu dịch, về tiền tệ,…
2.2.2.2 Quan hệ thương mại:
Khi miền Bắc chưa được giải phóng, nhờ mở cửa thịn trường với Trung Quốc
mà Việt Nam có thêm một nguồn cung cấp hàng, giảm bớt áp lực của việc nhập khẩunhững mặt hàng từ khu vực Pháp chiếm
Khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng và bước vào công cuộc khôi phục kinh tế,quan hệ thương mại giữa hai nước phát triển nhanh chóng Trung Quốc là một tronghai nước quan trọng nhất trong việc cung cấp cho Việt Nam về khối lượng cũng như
21
Trang 22mặt hàng, đáp ứng nhu cầu khôi phục sản xuất cũng như nhu cầu tiêu dùng của ViệtNam, trong những năm sau chiến tranh Nhờ đó, Việt Nam không những vượt qua khókhăn ban đầu, còn khắc phục chiến tranh mà còn tạo niềm tin thắng lợi trong côngcuộc tiến hành xây dựng nền kinh tế XHCN.
2.2.2.3 Viện trợ kinh tế của Trung Quốc cho Việt Nam
Cùng với sự ủng hộ mãnh mẽ về chính trị, trong những năm 1950 -1954, TrungQuốc đã ủng hộ kinh tế cho Việt Nam bằng việc viện trợ hàng hóa, phục vụ nhu cầusản xuất và đời sống thiết yếu cho nhân dân Việt Nam
2.2.3 Quan hệ văn hóa, khoa học kỹ thuật, giáo dục
2.2.3.1 Hợp tác văn hóa:
Trong lĩnh vực văn hóa hiệp định hợp tác văn hóa được ký kết theo từng năm,theo đó các đoàn đại biểu văn hóa, nghệ thuật, báo chí tuyên truyền thường xuyên traođổi, hỏi thăm lẫn nhau Những chuyến lưu diễn dài ngày của các đoàn nghệ thuật,những hoạt động văn hóa chào mừng nhân ngày lễ trọng đại của mỗi nước, góp phầnlàm cho nhân hai nước hiểu biết lẫn nhau, cảm thấy gần gũi, gắn bó hơn
2.2.3.2 Hợp tác giáo dục, khoa học kỹ thuật:
Cùng với sự phát triển trong lĩnh vực hợp tác văn hóa, quan hệ hợp tác tronggiáo dục, khoa học kỹ thuật giữa hai nước trong giai đoạn này có bước phát triển bướcđầu Trong đào tạo, Việt Nam ưu tiên đưa cán bộ, học sinh sang học tập tại TrungQuốc Tính đến tháng 6-1950, số cán bộ sang Trung Quốc học tập là 3.100 người(trong đó 650 cán bộ học bổ túc trung và sơ cấp, 1.200 học đào tạo, chỉ huy bộ binh sơcấp, còn lại học về binh chủng như pháo binh, công binh Trung Quốc đã giúp đỡViệt Nam theo hình thức cử chuyên gia, nhận thực tập sinh, cung cấp tài liệu, cungcấp giống và vật mẫu, phân tích mẫu quặng…Trung Quốc là nước cử chuyên gia sangViệt nhiều nhất
Trang 232.2.4 Viện trợ về lương thực của Trung Quốc cho Việt Nam:
Viện trợ lương thực của Trung Quốc cũng góp phần giải quyết khó khăn vềlương thực cho các chiến dịch của ta Trong những năm 1949, 1950 khi nhân dânTrung Quốc ở vùng Hoa Nam còn đói kém, Đảng và Chính phủ Trung Quốc đã nuôidưỡng hàng chục ngàn cán bộ, chiến sĩ Việt Nam trên đất nước mình, viện trợ choViệt Nam 2.634 tấn gạo Tuy nhiên, từ năm 1951 trở đi, nước ta đã cố gắng huy độnglương thực trong nước để giảm dần lượng gạo viện trợ Từ cuối năm 1950 đến giữanăm 1953, Trung Quốc phải dốc sức tham gia kháng Mỹ viện Triều Vì vậy, trongchiến dịch Điện Biên Phủ, lương thực chủ yếu được huy động từ trong nước, chúng tachỉ còn nhờ Trung Quốc giải quyết 1.700 tấn gạo, chiếm 6,52% tổng nhu cầu
2.2.5 Viện trợ quân sự của Trung Quốc cho Việt Nam:
Theo thống kê của Việt Nam, cho đến hết năm 1950, Trung Quốc đã viện trợcho Việt Nam 3983 tấn hàng, trong đó có 1020 tấn súng đạn (kể cả số súng đạn cácđơn vị bộ đội của Việt Nam sang Trung Quốc huấn luyện rồi đưa về nước), 161 tấnquân trang, 20 tấn thuốc và dụng cụ quân y, 71 tấn hàng quân giới, 30 xe vận tảimolotova, 2634 tấn gạo Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung Quốc đã chi viện chochiến dịch 3600 viên đạn pháo 105 ly, chiếm 18% số đạn pháo sử dụng trong chiếndịch Sau chiến tranh Triều Tiên, đạn pháo 105mm của Trung Quốc cũng khan hiếmsong trước yêu cầu cấp bách của chiến dịch, Trung Quốc đã chuyển thêm cho quân ta7.400 viên đạn 105mm, vì điều kiện vận chuyển khó khăn, số đạn này không kịp đưavào phục vụ chiến dịch Trong những ngày cuối chiến dịch Điện Biên Phủ, TrungQuốc còn giúp thêm một tiểu đoàn DKZ 75mm và 12 dàn hỏa tiễn H-6 6 nòng Đây làhỏa lực mạnh nhất mà ta có được lúc bấy giờ và kịp thời tham gia đợt tổng công kíchcuối cùng diễn ra chiều ngày 6-5-1954, phát huy tác dụng rất lớn
Ngoài trang bị vũ khí, giúp đỡ huấn luyện, viện trợ lương thực, Trung Quốc đã
cử đoàn cố vấn quân sự và chính trị với nhiệm vụ giúp đỡ Việt Nam đánh thắngtrận,đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược và giúp đỡ Việt Nam xây dựng quân đội chínhquy
23
Trang 24Mặc dù có lúc, có công việc chưa giải quyết phù hợp với thực tế, vận dụng một
số kinh nghiệm của cách mạng Trung Quốc chưa linh hoạt do chưa nắm hết tình hìnhViệt Nam, nhưng đoàn cố vấn Trung Quốc đã đóng góp không nhỏ vào thắng lợi củacuộc kháng chiến chống Pháp Ghi nhận công lao này, ngày 2-9-1953, Hồ Chủ tịchdẫn đầu đoàn lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước ta đến nơi ở của đoàn cố vấnTrung Quốc để trao Huân chương Hồ Chí Minh cho các đồng chí Vi Quốc Thanh, LaQuý Ba, biểu dương tinh thần quốc tế vô sản của các đồng chí trong đoàn cố vấn, cảm
ơn sự giúp đỡ mà Đảng Cộng sản, Chính phủ Trung Quốc đã dành cho Việt Nam
Có thể nói, viện trợ, giúp đỡ Việt Nam kháng chiến chống Pháp của TrungQuốc diễn ra trong bối cảnh Liên Xô, Trung Quốc và các nước trong phe XHCN đoànkết chống lại những âm mưu của Mỹ, lợi ích quốc gia hài hòa với tinh thần quốc tế vôsản Điều này khiến mối quan hệ Việt-Trung giai đoạn 1950-1954 đi vào lịch sử hiện
đại của quan hệ hai nước với nét đặc thù“vừa là đồng chí, vừa là anh em”
2.3 Giai đoạn 1954- 1975:
2.3.1 Cơ sở của quan hệ ngoại giao Việt Trung giai đoạn 1954- 1975:
Lợi ích chiến lược– cơ sở củng cố quan hệ Việt - Trung trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Lợi ích chiến lược luôn là một trong những vấn đề trọng yếu của mỗi quốc gia
Đó cũng là mối quan tâm hàng đầu mà mỗi quốc gia đặt nhiệm vụ đảm bảo trong mọihoàn cảnh, điều kiện Lợi ích chiến lược không nhất thành bất biến, nó vận độngkhông ngừng và chi phối chiến lược của mỗi quốc gia trên mọi phương diện, nhất làtrong quan hệ quốc gia – quốc gia; quốc gia - quốc tế
Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1945), Mỹ nhờ lợi dụng vị trí đặc biệt củamình mà trở thành đế quốc giầu có, hùng mạnh nhất thế giới tư bản, thực hiện chiếnlược toàn cầu mở rộng ảnh hưởng Trong chính sách đối ngoại đó, Mỹ rất coi trọng vịtrí chiến lược của Việt Nam – nơi Mỹ đánh giá là một trong những vị trí sống còntrong tuyến ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản Bên cạnh đó, chính sách của Mỹ ở miềnNam Việt Nam gắn với chính sách của Mỹ ở Đông Dương, Đông Nam Á và nằm
Trang 25trong chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc, Liên Xô và hệ thống XHCN nói chung,nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô, Trung Quốc.
Về phía Việt Nam, trước thách thức ấy, nhân dân Việt Nam không có sự lựachọn nào khác là buộc phải tiến hành cuộc kháng chiến chống lại đế quốc Mỹ xâmlược, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước Việt Nam trởthành nơi thử thách sức mạnh cúa dân tộc và thời đại; là nơi thử thách sức mạnh của ýthức hệ, “là cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc mang tính thời đại mộtcách sâu sắc”13 Do tính chất cuộc chiến tranh và đặc điểm thời đại, Việt Nam luôn coitrọng và có được sự ủng hộ, giúp đỡ của lực lượng tiến bộ trên thế giới, của các nướcXHCN, trong đó có Liên Xô, Trung Quốc Trung Quốc là nước láng giềng lớn củaViệt Nam, cùng chung ý thức hệ, cùng chung lợi ích của phe XHCN, việc củng cốquan hệ hữu nghị với Trung Quốc trở thành một đòi hỏi chiến lược của cách mạngViệt Nam
Về phía Trung Quốc, từ sau năm 1954, khi đạt được những thỏa hiệp về vấn đềTriều Tiên và Đông Dương, Trung Quốc tập trung vào xây dựng kinh tế, quốc phòngvới mong muốn sớm trở thành một cường quốc ở châu Á - Thái Bình Dương Về đốingoại, Trung Quốc quan tâm hàng đầu đến việc mở rộng ảnh hưởng, tập hợp lựclượng trong các nước vừa mới giành độc lập ở Á, Phi, đặc biệt là ở Nam Á, ĐôngNam Á - khu vực láng giềng kề cận phía Nam và phía Tây của mình Vì thế, ngay từkhi Mỹ đưa quân can thiệp vào Chiến tranh Triều Tiên (1950), sau đó xây dựng họcthuyết con bài domino14, ngày càng dính líu sâu vào Đông Dương, phong toả, bao vâycấm vận Trung Quốc, khôi phục Nhật Bản, biến nước này thành đồng minh lớn của
Mỹ ở khu vực, Trung Quốc đã ý thức một cách sâu sắc mối nguy hiểm, sự đe dọa của
Mỹ đối với lợi ích quốc gia của mình Trung Quốc ủng hộ Việt Nam chống Mỹ, ngoàiđóng góp thiết thực cho phong trào cách mạng thế giới, ngoài vấn đề ý thức hệ và lợiích chống chủ nghĩa đế quốc, bảo vệ hoà bình, còn có ý nghĩa chiến lược trực tiếp: Mỹ
là kẻ thù của Trung Quốc, tiến hành chiến tranh sát nách Trung Quốc, đe dọa trực tiếp
13 Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1995), Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước, thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 4.
14 Học thuyết này cho rằng do tác động của Trung Quốc, nếu không ngăn chặn kịp thời, bất kỳ một nước nào ở Đông Nam Á cũng có thể rơi vào sự kiểm soát của cộng sản tình hình này sẽ lan sang cả Nam Á và Trung cận Đông, trở thành mối nguy hiểm trực tiếp với sự tồn vong của các nước tư bản.
25
Trang 26an ninh của Trung Quốc từ phía Nam Giúp Việt Nam chống Mỹ, Trung Quốc có lợiích kiềm chế Mỹ, bảo đảm an ninh của Trung Quốc, bảo đảm một số điều kiện choTrung Quốc nhanh chóng trỗi dậy trở thành cường quốc ở khu vực.
Như vậy, lợi ích chiến lược chung tương đồng, lợi ích riêng của mỗi quốc gia
đã làm cho việc củng cố quan hệ hữu nghị giữa hai nước Việt – Trung không những làcần thiết, mà còn trở nên cấp thiết Nhất quán trong toàn bộ cuộc kháng chiến, Đảng
và Chính phủ Việt Nam luôn đặt mục tiêu củng cố, không ngừng xây dựng, phát triểnquan hệ với Trung Quốc, tranh thủ tối đa sự ủng hộ vật chất và tinh thần
2.3.2 Quan hệ chính trị- ngoại giao:
- Lãnh đạo 2 nước tăng cường tiếp xúc, trao đổi:
Từ năm 1955, sau khi miền Bắc được giải phóng hoàn toàn, lãnh đọa cấp caohai nước đã tăng cường thăm hỏi, trao đổi, bàn bạc những vấn đề trong nước, quốc tế
có liên quan, khẳng định lập trường ủng hộ lẫn nhau trong công cuộc xây dựng đấtnước và đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, giải tỏa những nghi ngờ của Trung Quốc
về chính sách ngoại giao của Việt Nam trong lúc mâu thuẫn Xô- Trung ngày càng trởnên gay gắt
Mặc dù Việt Nam đang kháng chiến chống Mỹ còn Trung Quốc đang thực hiệncuộc đại cách mạng văn hóa vô sản nhưng lãnh đạo cấp cao hai nước vẫn duy trì cáccuộc thăm viếng lẫn nhau, tăng cường tiếp xúc (cả công khai lẫn bí mật) Nhữngchuyến thăm này khiến hai bên hiểu hơn về tình hình, chính sách của mỗi nước, đặcbiệt là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở Việt Nam để cùng phối hợp với nhau,viện trợ giúp đỡ Việt Nam kịp thời, hiệu quả
Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam bước vàogiai đoạn quyết liệt, Trung Quốc cũng tăng cường ủng hộ Việt Nam trên nhiềuphương diện: Ra Tuyên bố ngày 6-8-1964, lên án hành động xâm lược của Mỹ, khẳngđịnh tình đoàn kết và trách nhiệm cao đối với Việt Nam trước việc máy bay Mỹ đánhphá một số địa điểm ở miền Bắc Việt Nam; tổ chức cuộc mít tinh tại quảng trườngThiên An Môn (10-2-1965) cùng với sự tham gia của các nhà lãnh đạo cấp cao của
Trang 27Đảng, Nhà nước CHND Trung Hoa và hơn 1 triệu người, phản đối tội ác chiến tranhcủa đế quốc Mỹ trong việc Mỹ dùng không quân, pháo hạm đánh phá dữ dội thị xãĐồng Hới cùng với một số mục tiêu thuộc tỉnh Quảng Bình, Vĩnh Linh và đảo CồnCỏ; tổ chức một cuộc mít tinh lớn tại quảng trường Thiên An Môn (22-7-1966) để ủng
hộ Việt Nam, sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn dân chống Mỹ(17/7/1966)
Trung Quốc luôn thể hiện ủng hộ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.Trước mỗi hành động xâm lược của đế quốc Mỹ, Chính phủ và bộ Ngoại giao TrungQuốc đều tuyên bố lên án, khẳng định lập trường ủng hộ cuộc kháng chiến của nhândân Việt Nam Mặc dù sau này Trung Quốc mở cánh của ngoại giao với Mỹ gây ảnhhưởng trực tiếp đến cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam nhưng sự ủng hộ nàyvẫn ghi dấu ấn đậm nét trong lịch sử quan hệ Việt- Trung Ngày 17-11-1968, khi tiếpđoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam thăm Trung Quốc Mao Trạch Đông đã nói rằng,Việt Nam đánh giỏi, đàm phán cũng giỏi và khẳng định ủng hộ phương châm vừađánh, vừa đàm của Việt Nam15, khẳng định tiếp tục viện trợ và giúp đỡ hết lòng choViệt Nam đánh Mỹ
- Mâu thuẫn Xô- Trung trong việc ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam Quan hệ Việt- Trung bộc lộ một số bất đồng, mâu thuẫn, và phát triển ngày càng xấu đi:
Liên Xô - Trung Quốc tiếp tục đối kháng gay gắt Hai nước mâu thuẫn nhautrong vấn đề Việt Nam và giúp đỡ Việt Nam Mỹ lợi dụng điều đó đã đẩy mạnh hòahoãn với hai nước Đảng ta phải kiên trì tranh thủ cả hai nước, nắm chắc và vận dụngmẫu số chung của các nước trong vấn đề Việt Nam là chống đế quốc Mỹ xâm lược,làm nghĩa vụ quốc tế đối với một nước xã hội chủ nghĩa, góp phần vào an ninh chungcủa cả cộng đồng và bảo vệ hòa bình Chúng ta giữ vững độc lập tự chủ, lấy lợi ích đạicục làm trọng, thực hiện chính sách nhất quán đoàn kết, tranh thủ tất cả các nước,chống và làm thất bại âm mưu của Mỹ chia rẽ Việt Nam với các nước xã hội chủnghĩa
15 Bộ Ngoại giao, Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr 227
27
Trang 28Ngày 26/2/1965, Trung Quốc bác bỏ dự thảo do Việt Nam đề nghị các nướcXHCN cùng ra tuyên bố chung, lên án Mỹ tăng cường chiến tranh xâm lược miềnNam Việt Nam và tiến hành chiến tranh chống phá nước Việt Nam DCCH Ngày3/3/1965, Trung Quốc Trung Quốc tiếp tục bác bỏ đề nghị của Liên Xô về việc họp 3đảng CS Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam bàn về vấn đề phối hợp ủng hộ Việt Namchống Mỹ xâm lược Tháng 4/1965, Trung Quốc cũng bác bỏ đề nghị của Liên Xô lậpcầu hàng không qua Trung Quốc, lập các sân bay tại Trung Quốc để bảo vệ Việt NamDCCH Mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Liên Xô cũng dẫn đến mâu thuẫn giữa hainước trong vận chuyển quá cảnh viện trợ của Liên Xô và các nước cho Việt Nam, ảnhhưởng đến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam, từ đó ảnh hưởng đếnmối quan hệ hai nước Việt- Trung
Trong khoảng thời gian cuối những năm 60, đầu những năm 70, một loạt biến
cố quan trọng đã xảy ra trong chính sách và mối quan hệ của các nước lớn liên quanđến Việt Nam Năm 1966, căng thẳng giữa Trung Quốc và Liên Xô bùng cháy thànhxung đột biên giới Năm 1967, Mỹ tổn thất nặng vì chiến tranh Việt Nam, Tổng thốngJohnson không dám ra tranh cử tổng thống Năm 1968, Nixon trúng cử tổng thống
Mỹ, chuyển sang chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh Cố vấn an ninh quốc giaKissinger, một giáo sư sử học đặc biệt tâm đắc phương thức “cân bằng quyền lực”(balance of power), phương thức mà theo ông đã giúp châu Âu duy trì hòa bình /trongsuốt một thế kỷ (từ sau Chiến tranh Napoléon đến trước Thế chiến thứ 1), bí mật sangTrung Quốc thăm dò khả năng dùng nước này làm đối trọng với Liên Xô Năm 1972,nhân chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Mỹ Nixon, hai nước ký Tuyên bốchung Thượng Hải, đặt nền móng cho liên minh chiến lược chống lại Liên Xô Sự bắttay của Trung Quốc với Mỹ càng làm Việt Nam xích lại gần Liên Xô Như Eero
Palmujoki nhận xét, việc Hà Nội tiếp thu lý luận “ba dòng thác cách mạng” là để thể hiện chính sách thân Liên Xô, vì quan điểm “ba dòng thác cách mạng” mà Liên Xô
đưa ra năm 1969 về cơ bản không khác gì quan điểm “ba lực lượng cách mạng thếgiới” mà Hội nghị các đảng cộng sản và công nhân đã thông qua vào năm 1960
Trang 29Bên cạnh sự giúp đỡ có hiệu quả về vật chất lẫn tinh thần, ở một số thời điểmtrước những thử thách nghiêm trọng, Trung Quốc cũng đã gây nên những trở ngạitrong tiến trình kháng Mỹ của quân và dân ta.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta bước vào giai đoạn cuối cũng làlúc mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc trở nên sâu sắc, điều đó bất lợi cho cáchmạng Việt Nam Là một nước nằm trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, Việt Nam chịu sựtác động không nhỏ của các nước lớn như Liên Xô, Trung Quốc, và đây cũng là hainước viện trợ chính cho cách mạng Việt Nam
Trung Quốc từ chỗ đối đầu đã xích dần đến với Mỹ, chống Liên Xô và cácnước xã hội chủ nghĩa Đế quốc Mỹ nhìn thấy Trung Quốc là một thế lực quốc tế lợihại, do vậy mỗi bước leo thang thay đổi chiến lược chiến tranh ở Việt Nam,Washington luôn tìm đủ mọi cách thăm dò thái độ của Bắc Kinh
Trung Quốc vừa giúp Việt Nam vừa kìm hãm Việt Nam Họ không muốn ViệtNam tiến lên đánh đổ Mỹ và chính quyền Sài Gòn bắng con đường đấu tranh vũ trang
Mao Trạch Đông đã từng tuyên bố với nhà báo Mỹ: “quân đội Trung Quốc sẽ không
vượt biên giới của mình để đánh nhau”, “người không đụng đến ta, thì ta không đụng đến người” Hay nói cách khác là bật đèn xanh cho Mỹ trực tiếp xâm lược Việt Nam.
Bước vào những năm 70 quan hệ Trung – Mỹ trở nên khăng khít hơn Trung Quốcđến với Mỹ vì những quyền lợi của Trung Quốc, đồng thời để chống Liên Xô, khốngchế Việt Nam Mỹ cũng muốn dùng Trung Quốc để chống Liên Xô và các nước xãhội chủ nghĩa cũng như dành thắng lợi ở Việt Nam
Tháng 3/1971 Trung Quốc mời một đoàn bóng bàn Mỹ sang thăm Trung Quốc
mở đầu cho cái mà dư luận thế giới gọi là “ngoại giao bóng bàn” Sau đó là các cuộcgặp gỡ trao đổi ở cấp đại sứ, cấp nguyên thủ quốc gia, tiêu biểu là chuyến thăm TrungQuốc của tổng thống Nic xơn (1972) Từ việc giảm cấm vận và bao vây kinh tế đốivới Trung Quốc, Mỹ đã ủng hộ việc đưa Trung Quốc vào Liên hợp quốc và trở thànhmột trong năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an (1971) Qua chuyến thămcủa Nic xơn, thông cáo Thượng Hải đã được ký kết Mỹ nhượng bộ cho Trung Quốcmột số quyền lợi ở Liên hợp quốc, công nhận Đài Loan là một bộ phận của Trung
29
Trang 30Quốc, chia sẻ quyền lợi và địa vị với Trung Quốc ở Đông Nam Á Đặc biệt là việc giảiquyết quân Mỹ rút khỏi Đài Loan thì Trung Quốc phải ép Việt Nam chấp nhận giảipháp của Mỹ, thừa nhận tình trạng chia cắt Việt Nam, thừa nhận sự tồn tại của ngụyquyền ở miền nam Việt Nam Như vậy Trung Quốc đã lấy Việt Nam để thỏa hiệp với
Mỹ hòng đạt được quyền lợi cho Trung Quốc
Tháng 12/1972 sau khi cuộc đàm phán Pa ri đạt được thỏa thuận nhất định, đại
sứ quán Trung Quốc chuyển tới Việt Nam lời đe dọa của Mỹ: “nếu Việt Nam cứ giữ
lập trường thì đàm phán đứt quãng và Mỹ sẽ có mọi hành động bảo vệ nguyên tắc của mình” Bất chấp sức ép của Bắc Kinh và Washington, Việt Nam không những không
nhân nhượng những vấn đề có tính nguyên tắc mà còn trừng trị thích đáng đế quốc
Mỹ, cuối cùng Mỹ phải ký hiệp định Pa ri về Việt Nam (27/1/1973), chấm dứt sự cómặt lâu dài của Mỹ ở Việt Nam
Hiệp định Pa ri ký kết Mỹ cút khỏi Việt Nam Những người lãnh đạo TrungQuốc nói với lãnh đạo Đảng và nhà nước Việt Nam “ở Việt Nam cần ngừng (chiếnđấu) nửa năm, một năm, một năm rưỡi, hai năm càng tốt Họ hoàn toàn ngừng viện trợquân sự, tìm cách lôi kéo tướng tá và quan chức ngụy quyền Sài Gòn hợp tác với họ.Đặc biệt nguy hiểm là từ 1973 những người cầm quyền Bắc Kinh tăng cường nhữnghành động khiêu khích và lấn chiếm đất đai ở các tỉnh biên giới phía bắc Việt Namnhằm làm suy yếu những cố gắng của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giảiphóng miền Nam
Trung Quốc còn ngăn cản Việt Nam khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình
để khôi phục và phát triển kinh tế Họ còn đòi “không để một nước thứ ba vào thăm
dò vịnh Bắc bộ” chính vì vậy mà cuộc đàm phán đường biên giới trên biển giữa hai
nước (1974) trở nên bế tắc
Nguy hiểm hơn, ngày 19/1/1974, Trung Quốc sử dụng lực lượng hải quân vàkhông quân tiến đánh ngụy quyền Sài Gòn, chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa – từ lâuvốn là lãnh thổ của Việt Nam, nhằm khống chế Việt Nam từ phía đông Hành động đó
có tính toán và được sự đồng ý của Mỹ Do vậy khi quân ngụy Sài Gòn ở Hoàng Sa
Trang 31yêu cầu viện trợ, Mỹ đã bác bỏ và ra lệnh cho hạm đội Mỹ ở Thái Bình Dương tránh
xa quần đảo Hoàng Sa
2.3.3 Quan hệ kinh tế - thương mại:
- Quan hệ thương mại:
Trong giai đoạn này, Trung Quốc là một trong hai nước cung cấp quan trọngnhất cho Việt Nam, đáp ứng nhu cầu phục hồi sản xuất và nhu cầu tiêu dùng của ViệtNam trong những năm chiến tranh Xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc nằmtrong xu thế phát triển chung của xuất khẩu cả nước đó là tăng trưởng không ổn định
do điều kiện chiến tranh
Sau khi kí hiệp định Paris, quan hệ kinh tế thương mại Việt- Trung đã có sự
thay đổi Đó là “phải đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, có đi có lại, cùng chiếu cố đến
lợi ích của nhau” Thêm vào đó, quan hệ kinh tế thương mại hai nước những năm sau
1970 cũng chịu tác động của những biến đổi từ chính sách đối ngoại của Trung Quốccũng như mâu thuẫn Xô- Trung
- Viện trợ kinh tế của TQ cho VN:
Trong tất cả các nước viện trợ cho Việt Nam kháng chiến chống Mỹ, TrungQuốc là nước duy nhất viện trợ cho nước ta trực tiếp bằng ngoại tệ, từ năm 1964 đếnnăm 1975 là 626.042.653,52 USD/tổng số 678.701.874,36 USD viện trợ của chínhphủ, nhân dân và các tổ chức quốc tế cho Việt Nam
Trong 10 năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, Trung Quốc vẫn duy trìviện trợ kin tế cho Việt Nam Tuy nhiên từ năm 1973, với lý do Trung Quốc còn nhiềukhó khăn và còn phải viện trợ cho nhiều nước khác (nhưng thực ra là do quan hệ Xô-Trung ngày càng phát triển xấu đi, Việt Nam ngả về phía Lien Xô) nên Trung Quốc đãgiảm viện trợ kinh tế cho Việt Nam Bằng việc chuyển một số mặt hàng viện trợ sangthương mại, giảm và chậm thi công các công trình viện trợ Viện trợ không hoàn lạinăm 1974 là 1250 triệu NDT, năm 1975 là 850 triệu NDT; viện trợ thiết bị toàn bộnăm 1974 là 500 triệu NDT, năm 1975 trở đi không có viện trợ
31
Trang 322.3.4 Viện trợ quân sự của TQ:
- Viện trợ trang bị quân sự của TQ
Tính chung trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, tổng khối lượng việntrợ quốc tế ước tính 2.362.682 tấn, trị giá 7 tỷ rúp16, thì viện trợ của Trung Quốcchiếm khoảng trên 50% tổng số viện trợ nói trên Trong lĩnh vực quân sự, Trung Quốcviện trợ cho Việt Nam chủ yếu là vũ khí bộ binh, quân trang, quân dụng, lương thực,thực phẩm, thuốc chữa bệnh, một phần nhiên liệu, phương tiện vận tải và một số xequân sự, pháo và đạn pháo, mặc dù trong khoảng thời gian trên, Trung Quốc còn gặpnhiều khó khăn về kinh tế, mức thu nhập bình quân tính theo đầu người còn thấp Vàogiai đoạn đầu của kháng chiến chống Mỹ (1956-1963), viện trợ quân sự của TrungQuốc cho Việt Nam là 320 triệu Nhân dân tệ17
Trong tổng số viện trợ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, ước tính có khoảng2.362.682 tấn trị giá khoảng 7 tỉ rúp thì phần lớn là Trung Quốc và Liên Xô Riêngviện trợ của Trung Quốc chiếm khoảng 50% con số nói trên
Khối lượng vật chất phục vụ chiến tranh mà Trung Quốc giành cho cuộc khángchiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam được nhân dân Việt Nam sử dụnghiệu quả trong các hoạt động tác chiến trên chiến trường, góp phần từng bước đưa lựclượng và phong trào cách mạng miền Nam phát triển cả về lượng, về chất, từng bướcđánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ
Các con số viện trợ đã đủ nói lên rất nhiều điều, đủ nói lên sự giúp đỡ hiệu quả
và to lớn từ phía Trung Quốc cho nhân dân Việt Nam chống Mỹ và thắng Mỹ Songđiều đáng nói hơn còn ở chỗ:
Thứ nhất, viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam phần lớn là không hoàn lại,
phần nhỏ không lấy lãi hoặc lãi suất thấp Thí dụ viện trợ không hoàn lại đạt 18,84 tỷ
đô la Mỹ chiếm 93% tổng ngạch viện trợ, cho vay 1,35235 tỷ đô la Mỹ, chiếm 6,7%tổng ngạch viện trợ
16 Chiến tranh cách mạng Việt Nam, thắng lợi và bài học, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 200, tr 601
17 Chen Jian, Chiná s Involvement in the Vietnam War 1964-1969, In: the China Quarterly, No 142, June 1995,
Trang 33Thứ hai, nhiều hạng mục hàng hoá vật tư trong nước rất khó khăn, Trung Quốc
phải cắt bỏ hạng mục của mình để giúp Việt Nam (pháo cao xạ, máy radar, ống thépđặt ống dẫn dầu ), hoặc có loại vật tư phải mua của nước ngoài để giúp Việt Nam(mua tiểu mạch và ngô của Canada, Australia, Argentina, mua phân bón hoá học củaNhật, mua thiết bị cơ khí của Tây Đức và viện trợ cho Việt Nam)
Thứ ba, trên tinh thần “hữu cầu tất ứng”, Trung Quốc đã không nề hà, quản
ngại, luôn cố gắng đáp ứng Việt Nam theo yêu cầu, ở mức cao nhất, thậm chí cả conngười (có mất mát và hy sinh xương máu)
Thứ tư, các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước Trung Quốc đã nhiều lần khẳng định
phía Trung Quốc không coi viện trợ là giúp đỡ một bên, mà là viện trợ lẫn nhau Chủtịch Mao Trạch Đông phát biểu: nhân dân Trung Quốc, Đảng Cộng sản Trung Quốcphải cảm ơn nhân dân Việt Nam đã đánh thắng đế quốc Mỹ Thủ tướng Chu Ân Laicũng từng nói: Nhân dân Việt Nam kháng chiến đổ máu hy sinh trên tuyến đầu chống
Mỹ, đó là sự chi viện mạnh mẽ biết bao đối với nhân dân Trung Quốc đang tiến hànhcách mạng XHCN
Tháng 4/1970 nhân thành công của hội nghị cấp cao 3 nước Đông Dương,chính phủ Trung Quốc đã ra tuyên bố khẳng định: nhiệt liệt chào mừng hội nghị vàkiên quyết ủng hộ tuyên bố chung của hội ghị cấp cao Đông Dương “ chính phủ vànhân dân Trung Quốc kiên quyết ủng hộ nhân dân Việt Nam tiến hành đến cùng cuộcchiến tranh chống Mỹ”
Bên cạnh ủng hộ tinh thần, Trung Quốc tiếp tục viện trợ cho nhân dân ta mộtkhối lượng vật chất hàng hóa không nhỏ, bao gồm vũ khí bộ binh, quân trang quândụng, lương thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, nhiên liệu, phương tiện vận tải , xequân sự, pháo và đạn pháo… Ngoài việc giúp đỡ vật chất vũ khí phương tiện chiếntranh cho nhân dân Việt Nam đánh Mỹ, Trung Quốc tiếp tục làm nhiệm vụ vậnchuyển hàng hóa quá cảnh mà các nước khác giúp đỡ Việt Nam Năm 1972 Mỹ tiếnhành thả thủy lôi phong tỏa các cảng sông, cửa biển, ngăn khôngcho tàu thuyền cácnước chuyên chở hàng hóa vũ khí giúp Việt Nam Các thủy thủ Trung Quốc đã dùng
33
Trang 34tàu vận tải Hồng Kỳ neo đậu ở phao số 0, lợi dụng nước thủy triều thả hàng hóa giảiquyết nhu cầu cấp thiết cho Việt Nam.
Trung Quốc giúp Việt Nam xây dựng các khu chứa xăng dầu ở Lạng Sơn –Quảng Ninh, chi viện cho Việt Nam 500 km đường ống dã chiến cùng một số máymóc thiết bị, nhờ đó Việt Nam đã xây dựng được tuyến đường ống T72 từ Đồng Đăng
về Hà Nội, từ Móng Cái về Hải Dương, góp phần đánh bại chiến lược bao vây phongtỏa của Mỹ
Nếu tính chung từ 1965 đến 1975, tổng giá trị hàng hóa các nước viện trợ choViệt Nam cả về quân sự lẫn kinh tế là 6561triệu rúp Số lượng trên chủ yếu là củaLiên Xô, Trung Quốc và nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa
- Giúp đỡ của TQ trong việc đảm bảo giao thông, liên lạc:
Ngoài việc giúp đỡ vật chất, vũ khí, phương tiện chiến tranh cho nhân dân ViệtNam đánh Mỹ, Trung Quốc còn đảm nhiệm một công việc rất quan trọng là vậnchuyển quá cảnh số lượng hàng hoá, vũ khí, đạn dược mà các nước khác viện trợ choViệt Nam Cũng theo thoả thuận giữa Việt Nam và Trung Quốc, một số đơn vị côngbinh và pháo binh của Trung Quốc đã sang giúp Việt Nam nâng cấp, sửa chữa mởrộng thêm và bảo vệ các tuyến đường giao thông trên bộ, thuộc các tỉnh biên giới giápTrung Quốc Từ cuối năm 1966 đến đầu năm 1969, một số chi đội phòng không củaquân đội Trung Quốc đã luân phiên nhau sang tham gia chiến đấu chống máy bay Mỹ,bảo vệ các tỉnh phía Bắc, giáp biên giới Việt – Trung (số lượng kỹ sư và lực lượng bộđội thuộc lực lượng pháo binh Trung Quốc lên tới 320.000 người)
Từ ngày 5/6/1965, Trung Quốc đã cử 8 vạn bộ đội giúp Việt Nam sửa chữa sânbay, kho chứa, Giai đoạn từ 1965 - 1975, Trung Quốc cử nhiều đơn vị quân độisang Việt Nam giúp nâng cấp, sửa chữa các tuyến đường giao thông trên bộ dọc biêngiới Việt - Trung, bảo vệ vận chuyển đường sắt và đường ô tô từ biên giới về các tỉnhthành, qua đó giúp đẩy nhanh tốc độ vận chuyển hàng hoá cho chiến trường miềnNam Trong thời kì Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai,chính phủ Trung Quốc đồng ý cho Việt Nam sử dụng cảng Phòng Thành và để một số
Trang 35Giang (Quảng Đông), sau đó được chở bằng đường sắt vào Việt Nam qua tuyếnđường sắt Lạng Sơn.
Trung Quốc giúp Việt Nam xây dựng hai đường ống dẫn dầu: tuyến ĐồngĐăng qua Hải Dương đến Nhân Vực (Hà Nội) và tuyến Hoành Bồ (Quảng Ninh) vềbắc Hải Dương nối với Nhân Vực , góp phần quan trọng vào thắng lợi chống phongtỏa của Mỹ
Sự giúp đỡ về vật chất lẫn tinh thần mà Trung Quốc và các nước dành cho nhândân Việt Nam trong công cuộc kháng chiến là một biểu tượng cao đẹp của tinh thầnđoàn kết quốc tế vô sản, góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóngdân tộc Việt Nam
Sơ kết:
Ngay từ những ngày đầu tiên của cuộc kháng chiến chống Mỹ- một cuộc chiếntranh có mức độ tàn bạo, khốc liệt nhất trong lịch sử thế giới đương đại mà Mỹ tiếnhành chống lại dân tộc Việt Nam, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định phải tranhthủ sự ủng hộ quốc tế, nhất là sự ủng hộ của các nước XHCN, trong đó có Liên Xô vàTrung Quốc cho cuộc kháng chiến Với vị trị địa lý kề cận, Trung Quốc trở thành chỗdựa vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam và công cuộc xây dựng đất
nước của Việt Nam Tổng bí thư Lê Duẩn phát biểu: “Một điều rõ ràng và dễ thấy là
không có Trung Quốc làm cách mạng thành công thì không thể có Việt Nam ngày hôm nay Đó là lô-gích lịch sử” 18
Mặc dù trong giai đoạn này, hữu nghị, hợp tác ủng hộ lẫn nhau là đặc điểm nổibật nhưng do chịu tác động của các nhân tố khách quan và chủ quan, quan hệ Trung-Việt đã phát triển theo chiều hướng xấu đi với những bất đồng, thiếu tin tưởng xuấthiện ngày càng nhiều Đó là những bất đồng về đường lối trong cuộc đấu tranh chống
Mỹ, bất đồng về vấn đề quan hệ với Liên Xô, tác động của việc hòa hoãn Trung- Mỹ,vấn đề về biên giới lãnh thổ Đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến căng thẳng,thậm chí xung đột trong quan hệ hai nước sau năm 1975
18 “Sự thật về quan hệ Trung Quốc – Việt Nam”, Tạp chí “Nghiên cứu vấn đề quốc tế” của Sở nghiên cứu vấn
đề quốc tế Trung Quốc, số 2/1981.
35
Trang 36Có thể nói trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhân dân ViệtNam đang dồn tâm, dồn sức cho việc giải phóng miền Nam thống nhất đất nước,Trung Quốc đã thực hiện chính sách hai mặt, vừa giúp đỡ, vừa có những hành đônggây cản trở cho cách mạng Việt Nam Quan hệ Việt – Trung đã có những dấu hiệu rạnnứt rõ rệt, biểu hiện cho một chiều hướng xấu.
Nhân dân Việt Nam luôn luôn biết ơn sự giúp đỡ về vật chất lẫn tinh thần củaĐảng, chính phủ và nhân dân Trung Quốc, nhưng cũng kiên quyết giữ vững đường lốiđộc lập tự chủ của mình, đi đúng đường lối mà Đảng cộng sản Việt Nam đã vach ra,
để cuối cùng dành thắng lợi trọn vẹn cho cách mạng Việt Nam, giải phóng miền namthống nhất đất nước Mặc dù quan hệ hai nước còn có lúc, có chỗ không hoàn toànbằng phẳng, nhưng xuyên suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tình hữu nghịvẫn là dòng chủ lưu trong quan hệ Việt – Trung Việc lực lượng đồng minh chiến lượccủa Việt Nam trong lúc khó khăn, hay thuận lợi chủ yếu đứng về phía nhân dân ViệtNam, kiên định sự ủng hộ, giúp đỡ cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đã chứng tỏ
điều đó “Bán anh em xa, mua láng giềng gần”, chung sống hòa hiếu, hữu nghị, hợp
tác và giúp đỡ lẫn nhau cũng phát triển - đó là một yêu cầu ngoại giao, một nguyên tắcđối ngoại, mà ý nghĩa của nó trở nên giá trị hơn bao giờ hết trong ngày hôm nay
2.4 Giai đoạn 1975 – 1991:
2.4.1 Quan hệ chính trị - ngoại giao:
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Trung Quốc là nước đã giúp đỡ,viện trợ cho Việt Nam Theo một logic thông thường, lý ra sự hợp tác, quan hệ truyềnthống giữa hai nước càng phải được củng cố, phát triển Tuy nhiên, từ giữa năm 1975,
do nhiều nguyên nhân lịch sử, chính trị quan hệ Việt Nam - Trung Quốc rạn nứt vàtrở nên không bình thường, rơi vào tình trạng thường xuyên căng thẳng dẫn đến đếnđối đầu, xung đột với sự kiện đỉnh cao là cuộc tấn công của Trung Quốc dọc theo biêngiới phía Bắc Việt Nam (2-1979)
Sau năm 1975, điều bất thường là quan hệ Việt Nam - Trung Quốc bắt đầu bộc
lộ nhiều “lỗ hổng” và mang dáng vẻ lạnh nhạt Dường như không phải ngẫu nhiên mà
Trang 37Duẩn bắt đầu chuyến thăm cấp Nhà nước tại Bắc Kinh, tờ Nhân dân nhật báo ngày
18-9-1975 đã đăng 6 ảnh lớn về các đơn vị quân đội Trung Quốc ở Hoàng Sa19 Tương
tự, một ngày sau khi phái đoàn Việt Nam rời khỏi Trung Quốc, các bức ảnh lớn vềHoàng Sa tiếp tục xuất hiện trong những tờ báo uy tín tại Bắc Kinh Nhìn chung,chuyến thăm Bắc Kinh tháng 9-1975 của Lê Duẩn được các nhà quan sát coi như mộtthất bại chính trị - ngoại giao20, bởi mặc dù được tiếp đón có vẻ như trọng thị, songphái đoàn đã rút ngắn thời gian lưu lại tại Bắc Kinh và đã không mở tiệc chiêu đãi đểcảm tạ lòng hiếu khách của người Trung Hoa như vẫn thường thấy trong thông lệngoại giao Phái đoàn đã rời Bắc Kinh đúng hai ngày trước khi kỷ niệm ngày Quốckhánh Trung Quốc (1-10), mà không đưa ra bất cứ một phát biểu hoặc thông cáo nào
về cuộc viếng thăm Tiếp đó, ngày 26-11-1975, sau khi Đoàn Việt Nam kết thúc
chuyến thăm hữu nghị Liên Xô, tờ Quang minh nhật báo có bài viết về Hoàng Sa và Trường Sa với lời báo động không giấu giếm: “Một số đảo vẫn chưa trở về trong tay
nhân dân Trung Hoa… Tất cả các đảo thuộc về Trung Hoa đều phải trở về lãnh thổ của Tổ quốc” 21
Tuy hai nước còn cố gắng kiềm chế, tránh xung đột, nhưng từ giữa những năm
1976, quan hệ Việt - Trung đã xấu đi rất nhanh chóng với các tranh cãi liên quan đếnvấn đề biên giới, vấn đề người Việt gốc Hoa và đặc biệt về vai trò của Liên Xô trongcác vấn đề thế giới, khu vực Trong bài phát biểu của Lê Duẩn tại Hội nghị lần thứ 25Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (họp từ ngày 24-9 đến 24-10-
1976) xuất hiện những cụm từ nhiều hàm ý: “Ta thắng là nhờ có sự giúp đỡ tích cực
của Liên Xô, Trung Quốc, của phe ta, của thế giới, Liên Xô và Trung Quốc giúp ta rất nhiều Không có sự giúp đỡ của họ ta khó lòng thắng được Ta phải luôn luôn biết ơn Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em khác đã giúp ta; ta nói cho con cháu ta mãi mãi nhớ ơn họ Nhưng chúng ta phải độc lập, tự chủ bởi vì trong quan hệ quốc tế, mỗi nước có lập trường riêng do vị trí và quyền lợi mỗi nước một khác, cho nên giữa các
19Marwyun S.Samules: Tranh chấp biển Đông, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Quân đội, 1982, tr.127
20 Trong khi đó, cuộc đi thăm hữu nghị Liên Xô do Lê Duẩn dẫn đầu vào tháng 10-1975 lại được đánh giá là thành công Việt Nam đã ký hiệp định phối hợp kinh tế quốc gia với Liên Xô trong 5 năm (1976-1980) và nhận được 500 triệu USD viện trợ với trên 400 hạng mục công trình.
21 Marwyun S.Samules: Tranh chấp biển Đông, sđd, tr.7.
37
Trang 38nước anh em, khó có sự nhất trí với nhau, có khi về những vấn đề rất quan trọng đối với một nước trong phe, cũng không nhất trí được” 22
Tháng 2-1977, Trung Quốc ngỏ ý với Việt Nam rằng, không sẵn sàng cung cấpviện trợ cho Việt Nam trong công cuộc tái thiết đất nước sau chiến tranh23
Cũng vào thời kỳ này, biên giới Việt Nam - Campuchia liên tục có xung đột.Chính phủ Việt Nam không dưới một lần đề nghị Trung Quốc giúp đỡ dàn xếp, mongmuốn thông qua hợp tác với Trung Quốc tác động tới phía Campuchia, song TrungQuốc đã im lặng Việc Trung Quốc từ chối ủng hộ Việt Nam trong việc tìm kiếm cácphương thức giải quyết căng thẳng biên giới với Campuchia càng cho thấy những vếtnứt sâu hơn trong quan hệ hai nước Điều đáng chú ý là trong thời điểm phức tạp,nhạy cảm của quan hệ Việt Nam - Campuchia, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc
Hoàng Hoa đã chính thức phát biểu (30-7-1977): “Chúng tôi ủng hộ lập trường chống
đế quốc xét lại Liên Xô của Campuchia và sẽ không thể ngồi nhìn bất cứ sự can thiệp nào đối với chủ quyền Campuchia hoặc thèm khát lãnh thổ nào bởi đế quốc xã hội Chúng tôi sẽ ủng hộ Campuchia trong cuộc đấu tranh và có các hành động nhằm bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền quốc gia Campuchia bằng mọi sự giúp đỡ có thể”24 Ngầmsau lời tuyên bố đó, người ta dễ dàng nhận thấy ẩn ý “chống lưng” của Ban lãnh đạoTrung Quốc đối với tập đoàn Polpot-Iêngxari
Ngày 20-11-1977, Lê Duẩn sang thăm Trung Quốc một lần nữa Đây được coinhư một nỗ lực nhằm hàn gắn những vết rạn nứt trong quan hệ với Trung Quốc, thựchiện việc cố gắng cân bằng quan hệ giữa Việt Nam - Liên Xô; Việt Nam - TrungQuốc Tuy nhiên, giới quan sát nhận thấy rằng, người đứng đầu Nhà nước Việt Nam
Lê Duẩn đã được đón tiếp với một thái độ vừa phải (nếu không muốn nói là lạnhnhạt), trái ngược với sự trọng thị và nồng nhiệt được dành cho Polpot trước đó mộttháng25 Chuyến viếng thăm Trung Quốc lần này của Lê Duẩn chẳng những không làm
22 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.37, tr 333.
23 Pao Min Chang: Cuộc tranh chấp Trung - Việt và vấn đề thiểu số người Hoa, Bản dịch, Lưu tại Thư viện
Quân đội, Hà Nội, 1982, tr.16.
24 Lưu Văn Lợi: 50 năm ngoại giao Việt Nam (1945-1995), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1998, t.2, tr.122.
25 Hàng vạn người đã được huy động đứng dọc quãng đường từ sân bay về Thủ đô Bắc Kinh, vẫy cờ, hoa chào
đón Polpot, còn cuộc đón tiếpLê Duẩn không khí lặng lẽ một cách bất thường Tờ Nhân dân nhật báo đã đăng
những bức ảnh đen trắng về chuyến thăm của Lê Duẩn, chứ không phải là các bức ảnh mầu như thông lệ khi có
Trang 39cho quan hệ hai nước ấm lên, mà bộc lộ những bất đồng mới Trong cuộc hội đàmgiữa Lê Duẩn và Hoa Quốc Phong, mặc dù hai bên đều tránh nói đến một vấn đề tếnhị trong quan hệ hai nước là những tranh chấp về Hoàng Sa, Trường Sa, song sựkhác biệt về quan điểm đối với việc nhìn nhận thế giới, chiến tranh và hòa bình… đãbộc lộ ngày càng rõ Lê Duẩn bày tỏ quan điểm không tham gia vào cuộc tranh cãiTrung - Xô thông qua việc “chân thành cảm ơn Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩakhác về sự nhiệt tình, giúp đỡ to lớn đối với Việt Nam” Không khí có vẻ căng thẳnghơn, khi Lê Duẩn đề nghị những nhà lãnh đạo Trung Quốc yêu cầu Campuchia Dânchủ chấp nhận một giải pháp cho cuộc xung đột trên tuyến biên giới Tây Nam, nhưngTrung Quốc đã không mấy mặn mà Cuối cùng, giống như chuyến thăm Trung Quốcvào tháng 9-1975, Lê Duẩn cũng đã ra về mà không mở tiệc khoản đãi “những ngườiTrung Hoa anh em”.
Về phía Trung Quốc, từ cuối năm 1977, các văn kiện của Quân khu QuảngChâu luôn nhấn mạnh tinh thần “phải chuẩn bị các mặt để đánh Việt Nam”, tuyên
truyền: “Việt Nam là tay sai của Liên Xô, có tham vọng xâm lược Campuchia, Lào,
chiếm Đông Nam Á, thực hiện bá quyền khu vực, phải đánh cho bọn xét lại Việt Nam, không đánh là không thể được và phải đánh lớn Việt Nam là tiểu bá ở châu Á, xâm lược Campuchia, xua đuổi người Hoa” 26 Tháng 1-1978, Thủ tướng Phạm Văn Đồng
yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ giải quyết cuộc xung đột Việt Nam Campuchia Một lần nữa Trung Quốc không đáp ứng Trong khi đó, tháng 1-1978, BàĐặng Dĩnh Siêu, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc sang thămPhnompenh và ký một hiệp định xúc tiến viện trợ quân sự cho Campuchia Dân chủ,bắt đầu chuyển vũ khí đến Campuchia Thậm chí, trong chuyến thăm, bà Đặng DĩnhSiêu đã tuyên bố, Trung Quốc sẽ không tha thứ cho một cuộc tấn công nào vào liênminh của họ (ngụ ý ám chỉ Việt Nam đã rõ, mặc dù không nêu đích danh)
-Sự rạn nứt trong quan hệ Việt - Trung trở nên sâu sắc và chuyển dần sang trạngthái căng thẳng, xung đột thể hiện qua hàng loạt sự kiện rắc rối khác, mà trước tiên
là vấn đề người Việt gốc Hoa.
26 Bộ mặt thật, phản động, phản bội của tập đoàn cầm quyền Bắc Kinh và sự đầu độc của chúng đối với quân
đội Trung Quốc, Báo cáo của Cục tuyên truyền đặc biệt, Tổng cục chính trị, Tập tài liệu văn kiện Trung ương,
Lưu tại Tổng cục chính trị, Bộ Quốc phòng, tr.2.
39
Trang 40Tháng 4-1978, Việt Nam tiến hành cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh
ở miền Nam Vấn đề người Hoa được Trung Quốc nêu lên Trung Quốc coi việc ViệtNam tiến hành cải tạo công thương nghiệp, động chạm tới người Hoa ở một số thànhphố lớn miền Nam như một sự công khai thách đố chính sách bảo vệ Hoa kiều hảingoại mà Trung Quốc vừa công bố Một phong trào đòi lấy quốc tịch Trung Quốctrong người Hoa ở Việt Nam được dấy lên Trung Quốc đưa ra chính sách “đoàn kếtvới giai cấp tư sản Hoa kiều”, kêu gọi chống lại chính sách “bài Hoa” của Việt Nam;đồng thời, loan truyền trong cộng đồng người Việt, gốc Hoa những luận điệu kích
động về một cuộc chiến tranh không thể tránh khỏi giữa Việt Nam - Trung Quốc, gây
tâm lý hốt hoảng trong quần chúng người Hoa Do sự khuyến khích đó của TrungQuốc và với sự im lặng đồng tình ngầm của Việt Nam muốn tống xuất hiểm họa của
“đội quân thứ năm”, trong năm 1978, các dòng người Hoa ở Việt Nam ồ ạt kéo vềTrung Quốc Ngày 30- 4-1978, Chủ nhiệm Văn phòng Hoa kiều vụ đã phát biểu bày
tỏ “sự quan tâm đối với hiện tượng Hoa kiều ở Việt Nam về nước hàng loạt”, hứa hẹn
“sẽ sắp xếp thích đáng cho những Hoa kiều đã trở về một cách vội vàng”
Để thu hút sự chú ý của dư luận thế giới về tình trạng “nạn kiều”, Trung Quốclập ra các trạm đón tiếp dọc theo biên giới hai nước, tuyên bố sẽ gửi hai tàu chuyênchở sang Việt Nam để đón “nạn kiều” về nước, nói trắng ra rằng, tàu Trung Quốcsang Việt Nam không phải để đón người Hoa, người Việt gốc Hoa, hay Hoa kiềumuốn đi Trung Quốc, mà đón “nạn kiều”.Tháng 5-1978, Trung Quốc đơn phương đưatàu sang đón người Hoa về Trung Quốc Ngày 12-7-1978, Trung Quốc đóng cửa biêngiới Việt Nam – Trung Quốc, làm cho hàng vạn người Hoa muốn đi Trung Quốc bịkẹt lại, tạo nên tình trạng mất an ninh ở khu vực biên giới Đến khi các đợt ra đi củangười Hoa trở nên ồ ạt, Trung Quốc lại đưa ra điều kiện là người Hoa muốn về TrungQuốc phải chính thức xin giấy phép hồi hương do Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nộicấp, cần có hộ chiếu xuất cảnh của Chính quyền Việt Nam Trung Quốc chỉ đón nhậnnhững “nạn kiều người Hoa” đang bị Chính quyền Việt Nam ngược đãi, chứ dứt khoátkhông nhận về “người Việt gốc Hoa”, hay người Hoa có quốc tịch Việt Nam Cũngcần nói thêm rằng, trong khi Trung Quốc khêu lên vấn đề bảo vệ Hoa kiều một cáchmạnh mẽ, thì ở Campuchia, do chính sách khủng bố trong nước của Chính quyền