Phần I: Đặt vấn đềĐại dịch COVID-19, hay còn được gọi là Đại dịch virus corona, là một đại dịch bệnh truyền nhiễm với tác nhân là virus SARS-CoV-2 và các biến thể của nó, đang diễn ra tr
Trang 1MỤC LỤC
Phần I: Đặt vấn đề 2
Mục tiêu chủ đề 3
Phần II: Tổng quan 4
2.1 Tình hình đại dịch Covid 19 trên thế giới: 4
2.2 Tình hình Covid-19 tại Việt Nam 6
2.3 Dịch tễ Covid-19 8
2.3.1: Nguồn gốc và nguồn lây truyền 8
2.3.2 Đường lây truyền: 9
2.3.3 Cơ thể cảm nhiễm 9
2.4 Các triệu chứng và phòng bệnh 12
2.4.1 Các triệu chứng bệnh 12
2.4.2 Các biện pháp phòng bệnh 13
Phần III: Tình hình mắc Covid-19 tại Việt Nam tính đến 26/07/2021 15
Phần IV: Tài liệu tham khảo 18
Trang 2Phần I: Đặt vấn đề
Đại dịch COVID-19, hay còn được gọi là Đại dịch virus corona, là một đại dịch bệnh truyền nhiễm với tác nhân là virus SARS-CoV-2 và các biến thể của nó, đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu Khởi nguồn vào cuối tháng 12 năm 2019 với tâm dịch đầu tiên được ghi nhận tại thành phố Vũ Hán thuộc miền Trung Trung Quốc đại lục, bắt nguồn từ một nhóm người mắc viêm phổi không rõ nguyên nhân.Giới chức y tế địa phương xác nhận rằng trước đó họ đã từng tiếp xúc, chủ yếu với những thương nhân buôn bán và làm việc tại chợ bán buôn hải sản Hoa Nam Các nhà khoa học Trung Quốc đã tiến hành nghiên cứu và phân lập được một chủng coronavirus mới, được Tổ chức Y tế Thế giới lúc đó tạm thời gọi là 2019-nCoV, cótrình tự gen giống với SARS-CoV trước đây với mức tương đồng lên tới 79,5%.[1]Tính đến nay, Covid đã có mặt gần như mọi quốc gia trên thế giới, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, kinh tế, chính trị, xã hội, với từng quốc gia và toàn thế giới
Trường hợp nhiễm bệnh đầu tiên tại Việt Nam vào ngày 23 tháng 1 năm 2020.[2] Việc cách ly, theo dõi và hạn chế người từ vùng dịch, đóng cửa biên giới, triển khai việc khai báo y tế đã diễn ra Các hoạt động "tập trung đông người", đi lại, buôn bán tại các địa phương bị hạn chế Một số nơi thực hiện đo thân nhiệt, trang bị chất sát khuẩn, phát khẩu trang miễn phí và siết chặt kiểm soát Kinh tế, xãhội bị ảnh hưởng lớn bởi đại dịch Trải qua 3 làn sóng đại dịch, hiện Việt Nam đang đối mặt với làn sóng Covid-19 thứ tư, với biến chủng Delta có tốc độ lây lan
Trang 4Phần II: Tổng quan
2.1 Tình hình đại dịch Covid 19 trên thế giới:
Các ca nghi nhiễm đầu tiên ở Vũ Hán được báo cáo vào ngày 31 tháng 12 năm 2019 Trường hợp tử vong do SARS-CoV-2 đầu tiên xảy ra ở Vũ Hán vào ngày 9 tháng 1 năm 2020.[3] Các ca nhiễm virus đầu tiên được xác nhận bên ngoàiTrung Quốc bao gồm hai người phụ nữ ở Thái Lan và một người đàn ông ở Nhật Bản.[4],[5] Sự lây nhiễm virus từ người sang người đã được xác nhận cùng với tỷ
lệ bùng phát dịch tăng nhanh vào giữa tháng 1 năm 2020.[6] Ngày 23 tháng 1 năm
2020, chính phủ Trung Quốc quyết định phong tỏa Vũ Hán, toàn bộ hệ thống giao thông công cộng và hoạt động xuất - nhập khẩu đều bị tạm ngưng.[7]
Ngày 11 tháng 3 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ra tuyên bố gọi
"COVID-19" là "Đại dịch toàn cầu".[8]
Chính phủ các quốc gia trên thế giới đã tiến hành phản ứng đáp trả nhằm bảo
vệ sức khỏe người dân cũng như các nhóm cộng đồng trên toàn cầu, bao gồm: hạn chế đi lại, phong tỏa kiểm dịch, ban bố tình trạng khẩn cấp, sử dụng lệnh giới nghiêm, tiến hành cách ly xã hội, hủy bỏ các sự kiện đông người, đóng cửa trường học và những cơ sở dịch vụ, kinh doanh ít quan trọng, khuyến khích người dân tự nâng cao ý thức phòng bệnh, đeo khẩu trang, hạn chế ra ngoài khi không cần thiết, đồng thời chuyển đổi mô hình hoạt động kinh doanh, học tập, làm việc từ truyền thống sang trực tuyến Một số ví dụ tiêu biểu có thể kể đến như: phong tỏa để kiểmdịch toàn bộ tại Ý và tỉnh Hồ Bắc của Trung Quốc; các biện pháp giới nghiêm khác nhau ở Trung Quốc và Hàn Quốc; phương pháp sàng lọc tại các sân bay và
Trang 5gia có nguy cơ nhiễm dịch bệnh ở mức cao Ngoài ra, các trường học cũng đã phải đóng cửa trên toàn quốc hoặc ở một số vùng tại hơn 160 quốc gia, ảnh hưởng đến 87% học sinh, sinh viên trên toàn thế giới, tính đến ngày 28 tháng 3 năm 2020.[9] Những ảnh hưởng trên toàn thế giới của đại dịch COVID-19 cho đến nay bao gồm: thiệt hại sinh mạng con người, sự bất ổn về kinh tế và xã hội, tình trạng bài ngoại và phân biệt chủng tộc đối với người gốc Trung Quốc và Đông Á, việc truyền bá thông tin sai lệch trực tuyến và thuyết âm mưu về virus.
Theo số liệu thống kê trên toàn thế giới, tính đến khoảng 8h ngày 26/07/2021(giờ Việt Nam), toàn thế giới ghi nhận 194.796.457 ca nhiễm SARS-CoV-2 gây bệnh COVID-19, trong đó có 4.174.644 triệu ca tử vong Số bệnh nhân được điều trị khỏi bệnh là 176.746.538 người
Trong 24 giờ trước đó, toàn thế giới ghi nhận thêm 420.703 ca nhiễm mới, tậptrung nhiều nhất tại Indonesia (38.679 ca), tiếp theo là Ấn Độ (38.153 ca), Anh (29.173 ca), Iran (27.146 ca), Nga (24.072 ca), Brazil (18.129 ca), Malaysia
(17.045 ca), Mexico (15.823 ca), Thái Lan (15.335 ca), Pháp (15.242 ca) Mỹ - quốc gia có số ca tử vong và nhiễm bệnh lớn nhất thế giới, trong 24 giờ qua ghi nhận 13.818 ca nhiễm mới, nâng tổng số ca nhiễm tại nước này lên 35.199.465 ca, trong đó có 626.762 ca tử vong
Trong 7 ngày, từ 19 đến 26 tháng 7 năm 2021, số ca nhiễm mới trên toàn thế giới đã tăng 3%, trong đó khu vực Bắc Mỹ tăng 34%, châu Âu tăng 6%, châu Á tăng 4%, châu Đại dương tăng 3% Trong khi đó, châu Phi giảm 16%, còn Nam
Mỹ giảm 14% [10]
Tại Đông Nam Á, Indonesia đã vượt Ấn Độ và Brazil, trở thành quốc gia có
số ca mắc theo ngày cao nhất thế giới Đáng chú ý, tỷ lệ tử vong vì COVID-19 ở nước này được cho là cao hơn mức trung bình toàn cầu
Trang 6Những ngày gần đây, Indonesia đang trở thành tâm dịch COVID-19 ở châu
Á và nhiều chuyên gia cảnh báo rằng tình hình này đang tạo ra những điều kiện cho sự xuất hiện của một biến thể virus SARS-COV-2 còn nguy hiểm hơn Delta Dicky Budiman, chuyên gia dịch tễ hàng đầu người Indonesia, nhận định: "Các biến thể mới luôn xuất hiện ở những khu vực hay quốc gia không thể kiểm soát được dịch Theo đánh giá của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), nếu 5% số xét nghiệmcho kết quả dương tính thì nghĩa là dịch đã vượt tầm kiểm soát Tại Indonesia, con
số này cao hơn 10% trong khoảng 16 tháng ở giai đoạn đầu của dịch và hiện giờ là trên 30% Vì thế rất có khả năng xuất hiện một biến thể mới hoặc siêu biến thể"
Trung Quốc, châu Âu, Bắc vs Nam Mỹ đã từng là tâm dịch của thế giới, hiện nay là Ấn Độ, cho tới Đông Nam Á, chúng ta đang sống trong chính khu vực điểm nóng của Covid ở thời điểm hiện tại
Covid 19 gần như đã có mặt ở mọi quốc gia trên thế giới Bên cạnh đó, có 5 quốc gia vẫn chưa ghi nhận xuất hiện Covid 19, tính đến 26/07/2021, đó là: Triều Tiên, Turkmenistan, Tonga , Tuvalu, Nauru [11]
2.2 Tình hình Covid-19 tại Việt Nam:
Trường hợp nhiễm bệnh đầu tiên tại Việt Nam vào ngày 23 tháng 1 năm
2020, cho đến nay, trải qua 18 tháng, tính đến 26/07/2021, theo thống kê của bộ y
tế, chúng ta có 106.347 case mắc, đứng thứ 98 thế giới về số case mắc, có 524 case
tử vong
Trang 7Chúng ta đã trải qua 3 làn sóng dịch COVID-19 Theo các thống kê từ bộ y tế, từ 23/1/2020–16/4/2020, làn sóng đầu tiên với chủng virus nguyên phát từ Vũ Hán (Trung Quốc), có một số bệnh nhân nặng nhưng chưa có tử vong.
Từ 25/7/2020–01/12/2020, làn sóng thứ 2 ở Đà Nẵng vẫn với chủng virus đó nhưng bùng phát trong bênh viện gây 35 ca tử vong ở những bệnh nhân rất nặng và
có nhiều bệnh nền
Từ 28/1/2021–25/3/2021, làn sóng thứ 3 bùng phát tại Hải Dương, bắt đầu từ một người xuất khẩu lao động được phát hiện dương tính khi nhập cảnh Nhật Bản, cũng chưa rõ nguồn lây Đợt dịch này chủ yếu tại ổ dịch Hải Dương (726 ca, chiếmgần 80% tổng số ca bệnh) Với biến chủng Anh là chủ yếu, mặc dù số người mắc khá lớn nhưng hầu hết ở những người trẻ, số ca nặng không nhiều và không có ca
tử vong
Hiện chúng ta đang đối mặt với làn sóng dịch COVID-19 thứ 4, từ 27/4/2021–nay, bắt đầu với biến chủng Ấn Độ gây ra, có quy mô và tính phức tạp cao hơn các vụ dịch trước vì nó bùng phát cả ở trong những bệnh viện, nơi có nhiều người bệnh nặng, nhiều bệnh lý nền, cả ở trong cộng đồng nhiều địa phương, cả ở trong các khu công nghiệp lớn Đợt dịch đang diễn ra, lây lan ở nhiều tỉnh thành, với tốc độ mạnh hơn, phạm vi rộng hơn, đỉnh dịch có vẻ dài hơn và tấn công nhiều BV hơn, chủng vi rút lây lan nhanh hơn Điểm nóng của đại dịch hiện tại đang ở thành phố
Hồ Chí Minh, với biến chủng Delta Ấn Độ có tốc độ lây lan nhanh, có hàng ngàn
ca mắc mới mỗi ngày Riêng trong ngày 26 tháng 7 năm 2021, cả nước có 7.882 camắc mới, trong đó 23 ca nhập cảnh và 7.859 ca ghi nhận trong nước
Trang 82.3 Dịch tễ Covid-19:
2.3.1: Nguồn gốc và nguồn lây truyền:
Phát sinh: Động vật được bán để làm thức ăn bị nghi ngờ là nơi chứa hoặc trung gian cho virus vì nhiều người nhiễm bệnh đầu tiên được xác định là công nhân tại Chợ bán buôn hải sản Hoa Nam, họ tiếp xúc nhiều hơn với động vật, ăn uống các thực phẩm từ động vật hoang dã Một chợ bán động vật sống để làm thức
ăn cũng bị đổ lỗi trong Dịch SARS vào năm 2003; những nơi như vậy được coi là một "vườn ươm" hoàn hảo cho mầm bệnh mới Nhưng đó chỉ là giả thuyết của chính phủ Trung Quốc Hiện giờ các nhà khoa học đang tiếp tục tìm kiếm [12]
Truyền nhiễm: Sự lây truyền từ người sang người đã được xác nhận.[13] Có báo cáo đã cho rằng virus lây nhiễm ngay cả trong thời gian ủ bệnh Tuy nhiên, cácquan chức tại Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) tuyên
bố rằng họ "không có bất kỳ bằng chứng nào về việc bệnh nhân bị lây nhiễm virus trước khi khởi phát triệu chứng".[14]
Một nhóm nghiên cứu đã ước tính hệ số sinh sản cơ bản (cũng được gọi là
hệ số lây nhiễm cơ bản) của virus nằm trong khoảng từ 5 đến 10.[15] Điều này có nghĩa là một người bị nhiễm virus có thể lây nhiễm cho 5 đến 10 người khác Các nhóm nghiên cứu khác đã ước tính chỉ số sinh sản cơ bản có thể là từ 2 đến 4,5.[16] Người ta đã xác định rằng virus có thể lây truyền dọc theo một chuỗi gồm ít nhất năm người.[17]
Hiện nay, có 4 chủng virus Corona mới được phát hiện lần đầu tiên tại Anh, Nam Phi, Brazil và Ấn Độ WHO đã giới thống nhất gọi 4 biến chủng mới này theo các ký hiệu bao gồm Alpha, Beta, Gamma và Delta Theo đó, biến thể Delta (còn được gọi là B.1.617.2) là tên của biến thể virus Corona chủng mới được phát hiện lần đầu tiên tại Ấn Độ
Trang 9Biến chủng Delta được coi là biến thể nguy hiểm nhất trong số 4 biến thể virus Corona mới được phát hiện Hiện đã có hơn 80 quốc gia ghi nhận sự xuất hiện của biến chủng này và nó đang lây lan với tốc độ vượt ngoài dự đoán của nhiều chuyên gia dịch tễ [18]
2.3.2 Đường lây truyền:
COVID-19 lây lan khi người nhiễm bệnh thở ra các giọt bắn và các hạt rất nhỏ có chứa vi-rút Những giọt bắn và hạt này có thể bị người khác hít vào hoặc rơivào mắt, mũi hoặc miệng của họ Trong một số trường hợp, họ có thể gây ô nhiễm các bề mặt họ chạm vào Những người ở gần hơn 6 feet so với người bị nhiễm bệnh có nhiều khả năng bị nhiễm bệnh nhất
COVID-19 lây lan theo ba cách chính:
- Hít vào không khí khi ở gần người bị nhiễm bệnh đang thở ra những giọt nhỏ và các hạt có chứa vi-rút
- Để những giọt nhỏ và các hạt có chứa vi-rút rơi vào mắt, mũi hoặc miệng, đặc biệt là thông qua sự bắn tóe và tia xịt như ho hoặc hắt hơi
- Chạm vào mắt, mũi hoặc miệng bằng tay có vi-rút trên đó [19]
Trang 10Người cao tuổi có nguy cơ mắc bệnh nghiêm trọng do COVID-19 cao hơn Hơn 80% trường hợp tử vong do COVID-19 xảy ra ở người trên 65 tuổi, và hơn 95% trường hợp tử vong do COVID-19 xảy ra ở người trên 45 tuổi.
Theo thống kê CDC Việt Nam [21], những người có nguy cơ cao mắc bệnh nghiêm trọng từ COVID-19 bao gồm:
• Những người từ 65 tuổi trở lên
• Những người sống trong viện dưỡng lão hoặc cơ sở chăm sóc dài hạnNgười ở mọi lứa tuổi có bệnh nền, đặc biệt nếu không được kiểm soát tốt, bao gồm:
• Những người mắc bệnh phổi mãn tính hoặc mắc bệnh hen suyễn từ mức độtrung bình đến nghiêm trọng
• Những người có bệnh tim nghiêm trọng
• Những người bị suy giảm miễn dịch
- Nhiều tình trạng có thể gây ra suy giảm miễn dịch cho người bệnh, bao gồm điều trị ung thư, hút thuốc, ghép tủy xương hoặc ghép tạng, suy giảm miễn dịch, HIV hoặc AIDS kiểm soát kém và sử dụng corticosteroid kéo dài và các thuốc làm suy yếu miễn dịch khác
• Người mắc bệnh béo phì nghiêm trọng (chỉ số khối cơ thể [BMI] 40 hoặc cao hơn)
• Người mắc bệnh tiểu đường
• Người mắc bệnh thận mãn tính đang được lọc thận
• Người mắc bệnh gan
Trang 11Ngoài ra, 1 số đối tượng đặc biệt khác cần lưu ý:
• Bệnh hồng cầu hình lưỡi liềm hay tan máu bẩm sinh: Các chứng rối loại máu hemoglobin như bệnh hồng cầu hình lưỡi liềm (SCD) hoặc tan máu bẩm sinh có thể làm tăng khả năng mắc bệnh nghiêm trọng do COVID-19
• Đột quỵ hay bệnh mạch máu não, có ảnh hưởng đến lưu lượng máu lên não Tình trạng bệnh mạch máu não, chẳng hạn như đột quỵ, có thể làm tăng khả năng mắc bệnh nghiêm trọng do COVID-19
• Rối loạn sử dụng chất kích thích Việc bị rối loạn sử dụng chất kích thích (như rối loạn sử dụng rượu bia, opioid hoặc cocaine) có thể làm tăng khả năng mắc bệnh nghiêm trọng do COVID-19
• Thai kỳ: Người mang thai và gần đây mang thai (trong ít nhất 42 ngàysau khi kết thúc thai kỳ) có nhiều khả năng mắc bệnh nghiêm trọng vì COVID-19
so với những người không mang thai
• Trẻ Em và Thanh Thiếu Niên: Dù nếu so với người lớn thì trẻ em ít bị ảnh hưởng bởi COVID-19 hơn, song trẻ nhiễm chủng vi-rút gây bệnh COVID-19
và một số trẻ lại phát triển thành bệnh nghiêm trọng Trẻ em có bệnh nền có nguy
cơ mắc bệnh nghiêm trọng cao hơn so với trẻ không có bệnh nền Bằng chứng hiệntại về bệnh nền ở trẻ em và gắn liền với nguy cơ cao hơn vẫn còn hạn chế Bằng chứng hiện tại cho thấy, trẻ em có bệnh trạng phức tạp với các bệnh di truyền, thầnkinh, trao đổi chất hoặc mắc bệnh tim bẩm sinh có thể có nguy cơ mắc bệnh
nghiêm trọng do COVID-19 cao hơn Tương tự như người lớn, trẻ mắc bệnh béo phì, bệnh tiểu đường, bệnh hen hoặc bệnh phổi mãn tính, bệnh hồng cầu hình lưỡi liềm hay suy giảm miễn dịch cũng có thể có nguy cơ mắc bệnh nghiêm trọng do COVID-19 cao hơn Một cách để bảo vệ sức khỏe trẻ em là đảm bảo tất cả người lớn trong hộ gia đình đều được tiêm chủng đầy đủ phòng COVID-19
Trang 122.4 Các triệu chứng và phòng bệnh:
2.4.1 Các triệu chứng bệnh:[22]
a Triệu chứng lâm sàng
- Thời gian ủ bệnh: từ 2-14 ngày, trung bình từ 5-7 ngày
- Khởi phát: Triệu chứng hay gặp là sốt, ho khan, mệt mỏi và đau cơ Có thể
bị đau họng, nghẹt mũi, chảy nước mũi, đau đầu, ho có đờm, nôn và tiêu chảy Một
số trường hợp có biểu hiện rối loạn khứu giác hoặc tê lưỡi
- Diễn biến:
+ Hầu hết người bệnh (khoảng hơn 80%) chỉ sốt nhẹ, ho, mệt mỏi, không bị viêm phổi và thường tự hồi phục sau khoảng một tuần Tuy nhiên, một số trường hợp không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng nào
+ Khoảng gần 20% số bệnh nhân diễn biến nặng, thời gian trung bình từ khi
có triệu chứng ban đầu tới khi diễn biến nặng thường khoảng 5-8 ngày Các biểu hiện nặng bao gồm: viêm phổi, viêm phổi nặng cần nhập viện…Trong đó khoảng 5% cần điều trị tại các đơn vị hồi sức tích cực với các biểu hiện hô hấp cấp (thở nhanh, khó thở, tím tái, …), hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS), rối loạn đông máu, tổn thương vi mạch gây huyết khối và tắc mạch, viêm cơ tim, sốc nhiễmtrùng, suy chức năng các cơ quan bao gồm tổn thương thận và tổn thương cơ tim, dẫn đến tử vong
+ Tử vong xảy ra nhiều hơn ở người cao tuổi, người suy giảm miễn dịch và mắc các bệnh mạn tính kèm theo Ở người lớn, các yếu tố tiên lượng tăng nguy cơ
tử vong là tuổi cao, điểm suy đa tạng SOFA cao khi nhập viện và nồng độ Ddimer
> 1 mg/L