Chuyến tham quan, học tập tại đất nước chùa tháp Campuchia là một cơ hội tuyệt vời để Học viên trước tiên có thêm kiến thức khoa học, tạo điều kiện nghiên cứu và tìm hiểu nhiều hơn về một nền văn hóa của một dân tộc mới đầy thú vị, sau đó là có hiện trường thực địa để đối chiếu, xem xét cách vận dụng vào thực tế những kiến thức, những nguyên tắc của công tác bảo tồn trùng tu, nguyên lí chung của các Hiến chương và Văn kiện không chỉ riêng của Bộ môn Bảo tồn và trùng tu di sản kiến trúc mà còn của Bộ môn lịch sử kiến trúc phương Đông. Quả thật di sản kiến trúc kỳ vĩ ấy có sức hút cực kỳ to lớn, ẩn chứa trong mình những giá trị làm thay đổi nhận thức của mỗi người làm nghiên cứu khoa học. Sau chuyến đi Học viện nhận thức rõ hơn rằng giữa bảo tồn và phát triển luôn có mối quan hệ khăng khí, là hai mặt của một vấn đề, con người khi muốn phát triển thì luôn cần có cơ sở, nền tảng vững chắc, biết điều gì là đúng hay là sai, là nên hay không nên trong hoạt động xây dựng, làm nghề của bản thân khi đụng chạm đến di tích, di sản. Hiểu rằng ngày nay khi kiến trúc mang tính quốc tế làm cho ở đâu kiến trúc cũng giống nhau, thiếu bản sắc văn hóa dân tộc, vì vậy cần phải gìn giữ các giá trị đặc trưng mà không thể nào tạo dựng lại được khi chỉ cần một lần xóa bỏ đi các di tích – di sản. Bài thu hoạch là tổng hợp, chắt lọc kiến thức nghiên cứu về công tác bảo tồn trùng tu hiện nay tại khu vực Angkor, sau đó đi trực tiếp vào một vài công trình đã được tham quan để nhận định các giá trị quan trọng của di tích, phát hiện, gọi tên, phân tích và đánh giá các phương pháp bảo tồn và trung tu đang được áp dụng tại đây so với những lý luận đã được học.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC TP.HỒ CHÍ MINH
BÀI THU HOẠCH
BỘ MÔN BẢO TỒN VÀ TRUNG TU CÁC DI TÍCH KIẾN TRÚC
(THAM QUAN QUẦN THỂ DI TÍCH KIẾN TRÚC
ANGKOR – CAMPUCHIA)
GVHD: PGS.TS.KTS NGUYỄN KHỞI HVTH: NGUYỄN HỮU THÁI AN
LỚP: CAO HỌC K22
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 08/2016
Trang 2A LỜI NÓI ĐẦU
Chuyến tham quan, học tập tại đất nước chùa tháp Campuchia là một cơ hội tuyệt
vời để Học viên trước tiên có thêm kiến thức khoa học, tạo điều kiện nghiên cứu và
tìm hiểu nhiều hơn về một nền văn hóa của một dân tộc mới đầy thú vị, sau đó là có
hiện trường thực địa để đối chiếu, xem xét cách vận dụng vào thực tế những kiến thức,
những nguyên tắc của công tác bảo tồn trùng tu, nguyên lí chung của các Hiến chương
và Văn kiện không chỉ riêng của Bộ môn Bảo tồn và trùng tu di sản kiến trúc mà còn
của Bộ môn lịch sử kiến trúc phương Đông
Quả thật di sản kiến trúc kỳ vĩ ấy có sức hút cực kỳ to lớn, ẩn chứa trong mình
những giá trị làm thay đổi nhận thức của mỗi người làm nghiên cứu khoa học Sau
chuyến đi Học viện nhận thức rõ hơn rằng giữa bảo tồn và phát triển luôn có mối quan
hệ khăng khí, là hai mặt của một vấn đề, con người khi muốn phát triển thì luôn cần
có cơ sở, nền tảng vững chắc, biết điều gì là đúng hay là sai, là nên hay không nên
trong hoạt động xây dựng, làm nghề của bản thân khi đụng chạm đến di tích, di sản
Hiểu rằng ngày nay khi kiến trúc mang tính quốc tế làm cho ở đâu kiến trúc cũng
giống nhau, thiếu bản sắc văn hóa dân tộc, vì vậy cần phải gìn giữ các giá trị đặc trưng
mà không thể nào tạo dựng lại được khi chỉ cần một lần xóa bỏ đi các di tích – di sản
Bài thu hoạch là tổng hợp, chắt lọc kiến thức nghiên cứu về công tác bảo tồn trùng
tu hiện nay tại khu vực Angkor, sau đó đi trực tiếp vào một vài công trình đã được
tham quan để nhận định các giá trị quan trọng của di tích, phát hiện, gọi tên, phân tích
và đánh giá các phương pháp bảo tồn và trung tu đang được áp dụng tại đây so với
những lý luận đã được học
Cao học kiến trúc khóa 22 tại đất nước chùa tháp Campuchia – Nguồn hình: Học viên
Trang 3B NGHIÊN CỨU CHUNG VỀ CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ TRÙNG TU DI
TÍCH KIẾN TRÚC - QUẦN THỂ ANGKOR
Angkor đã từng là kinh đô của Đế quốc Khmer và đã phát triển rực rỡ vào khoảng
thế kỷ IX đến thế kỷ XV Thời kỳ Angkor có thể được định nghĩa là thời kỳ từ năm
802 đến năm 1431 SCN Quần thể đền Angkor nằm giữa rừng và vùng đồng bằng
canh tác nông nghiệp về phía bắc của Biển Hồ (Tonle Sap) và phía nam của đồi
Kulen, gần thành phố Siem Reap ngày nay - là một di sản thế giới được UNESCO
công nhận vào năm 1992 Các ngôi đền của khu vực Angkor có số lượng trên 1000
công trình với kích cỡ và hình dáng khác nhau mang đậm phong cách kiến trúc
Nó đại diện cho một thành tựu nghệ thuật độc đáo, một kiệt tác về tài năng
sáng tạo của con người
Nó đã ảnh hưởng mạnh mẽ trong một khoảng thời gian dài và trong phạm vi
một vùng văn hoá của thế giới, về sự phát triển trong kiến trúc, nghệ thuật xây
dựng đền đài, và cảnh quan
Trang 4 Nó mang một bằng chứng độc đáo cho một nền văn minh đã biến mất
Nó là một ví dụ nổi bật của một quần thể kiến trúc minh họa một giai đoạn
quan trọng, có ý nghĩa trong lịch sử nhân loại
Toàn cảnh quần thể di tích Angkor – Nguồn hình: Học viên
Khi xét trên góc độ khoa học bảo tồn trùng tu, quần thể Angkor vừa là những di tích
khảo cổ, vừa là những di tích kiến trúc Đặc trưng của một di tích kiến trúc nói chung
ngoài ý nghĩa lịch sử còn thể hiện ở ý nghĩa văn hóa - xã hội của nó Nó là sản phẩm
của lịch sử văn hóa vật chất mang tính nhân văn Quần thể Angkor từng có một chức
năng xã hội riêng biệt, tạo ra một môi trường nhân tạo có tổ chức, là một phạm vi sinh
hoạt lao động và văn hoá Vì vậy, nó vừa có giá trị nhận thức lịch sử, vừa có giá trị
kiến trúc – nghệ thuật thẩm mỹ Các giá trị này cần được gìn giữ, xem như là tải sản
vô giá không chỉ của riêng đất nước con người Campuchia mà còn là của cả nhân loại
Từ năm 1907 đến 1970 công việc nghiên cứu, bảo tồn và trùng tu Angkor do cơ quan
Ecole Française d'Extrme-Orient (EFEO) – Pháp tổ chức thực hiện việc nghiên cứu,
bảo tồn, kỹ thuật trùng tu, quản lý di sản Đến năm 1965, sau khi trường Đại Học Mỹ
Thuật được thành lập ở Phnom Penh, công tác huấn luyện trong lĩnh vực trùng tu cho
người Khmer mới được thực hiện Ban bảo tồn được thành lập để đảm bảo thực hiện
chuyển giao việc quản lý và nghiên cứu di sản văn hoá cho người Khmer Tuy nhiên
Trang 5tổ chức vừa mới thành lập này đã bị ngưng hoạt động và công việc trùng tu Angkor đã
bị tạm ngưng do chiến tranh và những biến động về chính trị Sau khi hoà bình được
lập lại, đặc biệt là sau khi Angkor được công nhận là di sản văn hoá thế giới năm
1992, hoạt động bảo tồn và trùng tu đã được thực hiện trở lại với sự giúp đỡ của nhiều
quốc gia trên thế giới Nhờ hoạt động bảo tồn và trùng tu được thực hiện tốt với các
chiến dịch bảo tồn được phối hợp thành công giữa chính quyền và các tổ chức quốc tế
dưới sự giám sát của tổ chức UNESCO, đến tháng 4/2004 Angkor đã được đưa ra
khỏi danh sách các di sản đang bị đe doạ
Công tác bảo tồn và trùng tu di tích tại đây không chỉ là bảo tồn, trùng tu các đền đài
riêng lẻ mà bao gồm cả quần thể kiến trúc, môi trường thiên nhiên và kiến trúc bao
quanh nó Đúng theo tinh thần của Hiến chương Athen, Hiến chương Washington
công tác bảo tồn, trùng tu không chỉ quan tâm đến việc trùng tu các đền đài và khu
vực bảo vệ trực tiếp chung quanh quần thể kiến trúc mà còn nghiên cứu cả khu vực
thành phố trong giới hạn tầm nhìn rõ của quần thể, quan tâm đến các yếu tố hình thành
hình dáng nghệ thuật độc đáo riêng biệt cho thành phố, khu vực đô thị lịch sử Tháng
5/1994, sắc lệnh xác định ranh giới khu vực bảo vệ di sản văn hoá trong vùng
Siemriep được công bố, bao gồm 5 khu vực bảo vệ :
Khu vực 1: khu vực các đền đài, đây là khu vực cần được bảo vệ ở cấp độ cao
nhất bao gồm 3 nhóm quần thể đền đài chính là Angkor, Banteay Srei,
Roulous Mỗi nhóm quần thể bao gồm các đền đài nổi tiếng với hệ thống các
hồ, kênh đào, đập nước
Khu vực 2: khu vực bảo vệ bao quanh các đền đài chính Đây cũng là khu vực
có giá trị về mặt khảo cổ, đã và đang tiếp tục được nghiên cứu Khu vực này
còn bao gồm cả khu dân cư địa phương Cả khu vực 1 và 2 đòi hỏi phải được
quản lý chặt chẽ Lớn nhất là khu vực quần thể đền Angkor gồm khu vực đất
dự trữ xung quanh nó rộng khoảng 400km2 Khu vực dự trữ này còn đóng vai
trò là vùng đệm giữa Angkor và Siemriep, nó rất cần thiết cho việc bảo tồn
nguyên vẹn Angkor, góp phần thu hút khách du lịch và ngăn ngừa sự phát triển
làm ảnh hưởng tới việc bảo vệ di sản văn hoá
Khu vực 3: cảnh quan văn hoá, là khu vực có những đặc trưng cảnh quan đặc
biệt cần được bảo vệ trên các mặt: đặc trưng truyền thống, môi trường sống của
dân cư, những công trình lịch sử,… những thứ tạo nên những giá trị văn hoá,
phản ánh lối sống truyền thống của dân tộc Đó là cảnh quan lưu vực các dòng
sông được đào từ xa xưa là Siemriep và Roulous chảy từ Phnom Kulen về biển
Hồ, những con đường cổ từ Angkor theo hướng tây bắc về phía Banteay Srei
Khu vực 4: khu vực có giá trị cho việc nghiên cứu về lịch sử, nhân chủng học,
khảo cổ học Bao gồm tất cả vị trí khảo cổ quan trọng khác nhưng ít ý nghĩa
hơn quần thể Angkor Những khu vực này cũng cần phải được bảo vệ cho việc
nghiên cứu, giáo dục, và làm du lịch Một số vị trí khảo cổ quan trọng được xác
Trang 6định trong vùng Siemriep như: Phnom Krom, Wat Athvea and Chau Srei
Vibol
Khu vực 5: khu vực phát triển văn hoá, kinh tế, xã hội của toàn vùng Siemriep,
bao gồm toàn bộ tỉnh Siemriep Toàn khu vực này rộng khoảng 10.000km2 bao
gồm Phnom Kulen, bờ hồ Tonle và vùng Angkor Trong vùng này còn có các
khu vực thiên nhiên quan trọng cần được bảo vệ và phát triển cho phù hợp
Vùng này sẽ được quản lý theo hướng nhấn mạnh sự phát triển kinh tế và xã
hội theo du lịch Những hoạt động phát triển có thể làm hại đến khảo cổ, thiên
nhiên, di sản phải được điều chỉnh bởi những chính sách phối hợp toàn diện
Những sự đánh giá tác động môi trường và khảo cổ phải được thực hiện trước
bất kỳ dự án nào được thực hiện trong vùng Những yêu cầu này không phải để
kìm hãm phát triển nhưng sự phát triển phải phù hợp với vị trí và định hướng
chung, và đáp ứng yêu cầu của bảo tồn di sản
Các phân khu với mức độ yêu cầu bảo tồn khác nhau – Nguồn hình: Cuốn Angkor
Tourism Management Plan compressed của UNESCO
Hiện nay, tại khu vực 1 nói chung và khu vực Angkor nói riêng, các dự án trùng tu
hầu hết đều do các nhóm trùng tu quốc tế đảm nhận Trong đó:
Các thành viên của Trường Đại học Khoa học ở Cologne (Đức) từ năm 1995 đã
tham gia công tác bảo tồn (nghiên cứu và trùng tu) 1.850 bức tượng chạm khắc
ở đền Angkor Wat;
Nhóm người Ấn Độ thực hiện trùng tu ở Ta Prohm;
Nhóm người Mỹ ở đền Preah Khan và Ta Som;
Trang 7 Nhóm Trung Quốc ở Chao Say Tevoda;
Nhóm người Pháp ở quảng trường Voi, quãng trường Vua và Bapuon;
Nhóm người Indonesia ở cung điện hoàng gia Angkor Thom;
Nhóm người Ý ở Preup và hào nước xung quanh Angkor Wat Italy đã gởi các
kỹ sư xây dựng trong đó có chuyên gia Vittorio Gallinaro để tìm cách ngăn
ngừa sự sụp đổ của các tháp Pre Rup được xây dựng vào thế kỷ 10…
Nhóm người Nhật Bản trùng tu ở Bayon, Prasat Suor Prat, thư viện phía Bắc
Angkor Wat Ngoài ra, đường dẫn vào phiá Tây Angkor Wat, Banteay Kdei do
Đại Học Sophia của Nhật Bản thực hiện
Việc có nhiều nhóm khoa học cùng thực hiện công tác bảo tồn trung tu sẽ vận dụng
được nhiều chất xám cũng như các phương pháp, kỹ thuật tiên tiến khác nhau nhằm
lưu giữ những giá trị gốc một cách tốt nhất, tránh được tư duy chủ quan, duy ý gây
thiệt hại hàng loạt một khi mắc sai lầm, dễ so sánh, lựa chọn, nhận định phương pháp
tốt nhất xong sự phong phú trong giải pháp bảo tồn trung tu dễ gây thiếu đồng bộ
trong cả quần thể di tích, đôi khi làm các di tích bị sai lệch tương quan với nhau Vậy
nên các dự án đều phải được nghiên cứu trên cơ sở khoa học và được thông qua bởi
hội đồng chuyên môn Các nhóm trùng tu này thường xuyên tổ chức các hội thảo khoa
học, báo cáo về các hoạt động trùng tu đã thực hiện được, lấy ý kiến đóng góp của
các chuyên gia khắp nơi trên thế giới, từ đó bổ sung, điều chỉnh dự án hợp lý và kịp
thời Tất cả nỗ lực đều nhằm bảo vệ di tích với hình dáng của nó tồn tại đến ngày hôm
nay, không phạm đến tính chất nguyên gốc, không đe dọa và xóa bỏ bất cứu một giá
trị nào khi chưa được làm sáng tỏ - Đây cũng chính là mục đích của phương pháp bảo
quản, một phương pháp bao trùm và vận dụng chủ yếu ở quần thể di tích kiến trúc
Angkor Chi tiết hơn có phương pháp gia cố, tái định vị là sử dụng nhiều nhất, bên
cạnh đó còn có phương pháp bổ khuyết và phục hồi
Hiện này còn có Cơ quan Apsara là Cơ quan bảo vệ, quản lý Angkor tại Siem Reap
được chính phủ Campuchia lập ra, mục đích phụ trách bảo vệ, nghiên cứu và bảo tồn
các di sản văn hóa, cũng như các đô thị và phát triển du lịch của Siemriep nói riêng và
Campuchia nói chung Apsara, phối hợp với các cơ quan khác của chính phủ, chịu các
trách nhiệm chính: Bảo vệ, duy trì, bảo tồn và nâng cao giá trị của quần thể khảo cổ
học, văn hóa, môi trường và lịch sử của khu vực Angkor; Điều chỉnh và áp dụng quy
hoạch tổng thể phát triển du lịch theo 5 khu vực quy định bảo tồn và hành động chống
lại nạn phá rừng, chiếm đóng lãnh thổ bất hợp pháp ở Siemreap-Angkor; Tìm nguồn
tài chính và đầu tư Cơ quan Apsara có nhiều ban khác nhau, nhưng Ban Di tích và
Khảo cổ 1 là bộ phận chịu trách nhiệm trực tiếp trong bảo tồn và trung tu di tích trong
quần thể Angkor Ban có nhiều chuyên gia trong nước như các nhà khảo cổ học, kiến
trúc sư và kỹ sư, và những ngành chuyên nghiệp khác được hỗ trợ theo thể chế của
FSP (chương trình chính phủ Pháp), với các chuyên gia tư vấn làm việc trong các lĩnh
vực khảo cổ học, kiến trúc và kiến trúc cảnh quan Ban Di tích và Khảo cổ 1 được trao
trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
Trang 8 Lập kế hoạch và thực hiện quản lý các di tích bao gồm cả bảo trì trong quần thể
Angkor và tại các điểm nông thôn với văn hóa truyền thống
Thiết lập một chương trình bảo tồn quần thể Angkor, về giá trị sinh thái và lịch
sử của nó, bao gồm cả dữ liệu về tình trạng của các di tích và những rủi ro đe
dọa chúng
Bảo vệ các khu vực trong danh sách Di sản Thế giới, bao gồm cả vùng đệm
Lập kế hoạch khảo sát, khai quật khảo cổ học và khảo cổ học với tất cả các
biện pháp phòng ngừa và bảo vệ cần thiết Hợp tác với các nhóm quốc tế làm
việc trong khu vực Angkor và đảm bảo rằng họ thực hiện theo các hướng dẫn
khảo cổ học cho khu vực Angkor
Sơ đồ toàn cảnh thể hiện môi liên hệ giữa hoạt động nghiên cứu bảo tồn, chính sách
Nhà nước và hệ thống môi trường ở quần thể di tích Angkor – Nguồn hình: Internet
Trang 9C CÁC DI TÍCH KIẾN TRÚC
1 Angkor Wat
Angkor Wat cổ kính soi mình trên mặt nước - Nguồn hình: Học viên
Khi đến tham quan Angkor Wat, giá trị đầu tiên dễ dàng nhận định được của quần
thể di tích này chính là giá trị lịch sử Thiết kế và xây dựng được tiến hành vào nửa
đầu Thế kỷ XII dưới thời vua Suryavarman II (trị vì từ năm 1113 – 1150 SCN),
Angkor Wat được biết đến là một khu di tích bằng đá lớn nhất thế giới và cũng là
công trình tôn giáo lớn nhất từng được xây dựng nên, với chức năng ban đầu là là một
đền thờ Ấn Độ giáo của Đế quốc Khmer, rồi dần chuyển thành đền thờ Phật giáo vào
cuối thế kỷ XII đến mãi cho đến thế kỷ XVII Không như các đền thờ khác bị lãng
quên, Angkor Wat vẫn còn một số dấu tích cho thấy người hành hương Phật giáo có
thành lập những khu định cư nhỏ ở đây Năm 1859, Quần thể Angkor được nhà thực
vật học – nhà thám hiểm người Pháp Henri Mouhot phát hiện khi đi xuyên qua cánh
rừng nhiệt đới ở Campuchia để tìm kiếm một thành phố vĩ đại bị mất tích Hàng dãy
các ngôi đền trải khắp cả một cùng Angkor, trải rộng trên 100 m2 là hàng ngàn di tích,
một nền văn minh cổ đã dây dựng trung tâm tôn giáo của mình, trong đó Angkor Wat
là một ngôi đền trung tâm và còn tồn tại tốt nhất, nơi đây có những tàn tích của một
nền văn hóa cổ tồn tại với kiến trúc tuyệt vời, xây dựng với một số lượng lớn nhân
công Sau đó, khu quần thể Angkor cũng như Angkor Wat trải qua các thời kỳ bảo
tồn, trùng tu, thời kỳ Pháp thuộc, thời kỳ nội chiến, thời kỳ Khmer đỏ và cho đến ngày
nay Giá trị lịch sử được tăng lên qua thời gian, trải qua rất nhiều thời kỳ và biến cố
Trang 10lích sử của đất nước, nó như một nhân chứng sống lưu giữ những giá trị văn hóa, lịch
sử của dân tộc Campuchia
Ngôi đền được ngưỡng mộ bởi vẻ hùng vĩ và hài hòa của kiến trúc, sự phong phú
của nghệ thuật điêu khắc và số lượng lớn các vị thần được trang hoàng trên những bức
tường đá Để có thể hiểu được lý do xuất hiện một công trình mà khi nói về số lượng
đá được dùng nó sánh ngang với kim tự tháp Ai cập, về độ chính xác trong thiên văn
thì không hề thua kém những di tích của nền văn minh Maya, về độ sáng chói trong
nghệ thuật nó thách thức công viên khủng long ở Châu Âu, chưa kể vẫn còn có nhiều
dấu ấn trong lòng đất và gần như nguyên vẹn chưa được khai phá, ta cần tìm hiểu về
người đã xây dựng nên nó Vua Suryavarman đệ nhị được biết đến là một vị vua
quyền lực hùng mạnh nhất, dù nắm quyền tối cao nhưng động lực để ông xây dựng
Angkor Wat có lẽ là do sự bất an Lí do nằm ở cách thức mà Suryavarman lên năm
quyền Vào năm 1113 SCN, 14 tuối Suryavarman chưa lên ngôi mà hiện là ông chú
đang tại vị, tuy không phải thái tử nhưng ông tin mình phải là vua, theo truyền thuyết
một nhóm thanh niên trẻ đã phục kích vua khi vi hành, Suryavarman tách riêng leo lên
mình voi giết chú chiếm ngôi, lấy tên mới là Suryavarman nghĩa là tấm khiên mặt trời
Chiếm được ngôi vua theo cách như thế nên để củng cố ngôi vị, tránh kẻ chống đối
soán ngôi ông phải biến mình thành vị vua thần thánh trong mắt dân chúng Việc này
rất phổ biến trên thế giới khi mà một vị vua có lí lịch không tốt sẽ tự đề cao thông qua
kiến trúc và nghệ thuật đó là lí do Angkor ra đời
Mang trong mình Giá trị kiến trúc – nghệ thuật đặc sắc Angkor Wat là sự kết hợp
của hai nét cơ bản của kiến trúc Khmer: kiến trúc đền-núi cùng với những dãy hành
lang dài và nhỏ hẹp Kiến trúc này tượng trưng cho Núi Meru, quê hương của các vị
thần trong truyền thuyết Ấn Độ giáo Angkor Wat có chu vi gần 6km và diện tích
khoảng 200ha, nơi cao nhất là đỉnh tháp của ngôi đền chính, có độ cao 65m Đền
Angkor Wat có 398 gian phòng, nối liền nhau bởi 1.500m hành lang Bên trên, 5 toà
tháp liên hoàn nhau bằng 3 tầng kiến trúc, trong đó toà tháp cao nhất lên tới 65m, 4
tháp phụ cao 40m Con đường dẫn tới chính môn của Angkor Wat cũng làm bằng đá
tảng dài 230m, rộng gần l0m và có độ cao 5m so với mặt nước hồ ở hai bên đền Khu
đền chính gồm 398 gian được gắn kết với nhau một cách chặt chẽ Toàn khu đền tồn
tại nhiều hình ảnh nghệ thuật chạm khắc đá như các tấm phù điêu khổng lồ, các cột,
cửa, trần, tường, hành lang, lan can, mái , tất cả toát lên sức mạnh phi thường và bàn
tay điêu luyện của người Khmer cổ đại Trong khoảng 3cm đá là các bức phù điêu có
thể diễn tả lẫn tiền cảnh, hậu cảnh cũng như thần thái của cá bức điêu khắc, còn một
vài dấu hiệu cho thấy các phù điêu của vua và đội quân có dát vàng, chúng phát sáng
lên khi có ánh sáng mặt trời chiếu vào Đền Angkor thực sự là một thành tựu kiến trúc
huy hoàng, nó thể hiện một trình độ sâu sắc về thể tích, không gian và sự tổ hợp kỷ hà
Thời bấy giờ, kỹ thuật phong cách kiến trúc còn hết sức giới hạn - việc sử dụng đá lại
có tính chất như sử dụng gỗ, những kết cấu có hình bán nguyệt và nóc vòm, là những
kỹ thuật mà ta chưa biết - những hiệu quả toàn diện của nó làm cho mọi người phải
ngạc nhiên Không giống những ngôi đền theo phong cách Angkor khác, Angkor Wat
Trang 11quay mặt về phía Tây, để giải thích cho điều này ta phải hiểu vua Suryavarman chọn
thần Vishnu là thần bảo trợ cho mình, là thần được các vị vua viện đến khi có chiến
tranh, mà hướng Tây chính là hướng của Vị thần này Mặt khác vua Suryavarman
muốn xây dựng Angkor Wat là đền thờ thần nhưng cũng được dùng để đè cao danh
xưng của vua nên có khác biệt về hướng như vậy
Mô hình tổng thể Đền Angkor Wat – Nguồn hình: Sách Cambodia, John R Mullaney
Giá trị kiến trúc nghệ thuật của đền Angkor wat còn thể hiện ở kỹ thuật xây dựng
Vươn lên từ đồng bằng Campuchia lớn hơn bất kỳ thánh đường trung cổ nào, trong
khi đội kĩ sư của vua chỉ mất chưa đến một đời người để hoàn thành, đây là một trong
những công trình đá có phương pháp thi công bí ẩn Vì tính chất thiêng liêng của ngôi
đền Angkor Wat phải được xây dựng trên một nền đất thuần khiết nhất, đội thợ phải
đào sâu xuống vài mét đất, sau đó đổ các lớp cát dày lên trên, sau đó đến một lớp đá,
và cuối cùng là một lớp cát để san phẳng nền - cấu trúc như móng ngày nay Nằm ở
trung tâm đền là các lễ vật: đá Saphia trắng biểu tượng của mặt trăng, còn các lá vàng
biểu tượng của mặt trời, họ chôn lễ vật xuống đất Từ vị trí trung tâm này họ sẽ xâu
đường thông nối từ hầm chôn lên gian phong thiêng trung tâm rồi các núi đền xây
dựng theo trục đối xứng, có mặt bằng hình vuông chính xác 4 phương 8 hướng Với
thiết kế phần nền theo dạng bậc thang núi đền nhìn như 3 khuôn cát khổng lồ chồng
lên nhau, tầng hai và tầng ba cao gấp đôi tầng thứ nhất trên cùng là năm ngọn tháp
tượng trưng cho đỉnh núi Meru và các ngọn núi xung quanh, toàn bộ công trình nặng
Trang 12đến hàng ngìn tấn Ở Campuchia có hai mùa rõ rệt 6 tháng mùa mưa với nguồn nước
dồi dào, nhưng 6 tháng mùa khô tiếp theo lại không đủ lượng nước Họ phải nghĩ cách
dự trữ nước vào mùa mưa để chống trọi khi vào mùa khô, giải pháp của họ không hề
đơn giản, người Khmer đã tạo nên một hệ thống thủy lợi rộng khắp, một mạng lưới
hàng trăm kênh đào, lạch nước, bể chứa nước trải rộng khắp một khu vực rộng gần
1500 m2 – nó như một Venice mở rộng, cung cấp cho đô thị khoảng một triệu người
khi đó Có thể nói Angkor là thành phố lớn nhất thế giới trước cuộc cách mạng công
nghiệp Vấn đề là mặc dù nền móng công trình vững trên nền đất ướt nhưng mùa mưa
đến kéo theo lũ lụt cũng có thể đánh chìm mọi thứ và phá hủy bất cứ công trình nào
tại đây, trong lòng đất khoảng trống giữa các hạt đất sẽ chứa đầy nước khi mực nước
dâng lên theo mùa mưa điều này phần móng hư hại nghiêm trọng, vào mùa khô nước
rút đi, đất khô và mất độ xốp co thể kéo đổ tường và nền móng Thay vì phải nghĩ
cách xậy dựng một công trình đứng vững ,chịu đựng mực nước lên và xuống trong cả
mùa mưa lẫn màu khô, thì họ lợi dụng khả năng của nước Angkor Wat được xậy
dựng theo kiểu một còn thuyền nổi trên đại dương của các mạch nước ngầm Vậy đến
mùa khô nước ở đâu để nâng cho còn tàu đá này không chìm xuống, để giữ đền ổn
định phải một bể chưa nước gần đó và giữ nước đầy quanh năm đó chính là những hào
nước cực rộng bao quanh Angkor Wat, chiều dài lên tới 5km, bề ngang rộng 200m
mùa mưa thu nước để kiểm soát mực nước lên, mùa khô nước ngấm qua hào cũng giữ
cho mực nước trong nền móng ổn định, móng cũng chính là mặt nước nên công trình
không bị lún chìm vào bùn lầy Đậy thực sự là một phát kiến đầy sáng tạo và tài ba
Nhìn từ không ảnh, Angkor Wat như một con thuyền đá nổi lên trên đại dương của
những mạch nước ngầm – Nguồn hình: Internet
Việc đào hào thu được một khối lượng đất bùn rất lớn và dùng số cát đó để xây các
bức tường bào quanh đền, nhưng làm sao để giữ được lớp đất cát không ổn định này?,
họ dung tới vật liệu là đá ong - đá dễ cắt, dễ tạo hình, cứng như đá tảng mà lại rất bền,
nằm khuất trong vùng đồng bằng, nhiệt độ cao và mưa xối xả là điều kiện lý tưởng để
Trang 13hình thành đá ong, nước thấm xuống bề mặt đá hòa tan một số chất bên trong để lại
một cấu trúc làm từ nhôm, sắt và thạch anh Phải xử lí nhanh khi đá còn mềm và một
đội khác sẽ ghép chúng lại với nhau cứ như thế một kiến trúc thiêng liêng, đồ sộ được
hình thành Tuy nhiên bề mặt của đá ong thiếu thẩm mỹ nhiều lỗ nhỏ li ti và khó tạo
những chi tiết phức tạp xứng với vị vua thần thánh, họ trang trí mặt tiền bằng cách
phủ bên ngoài đá ong là lớp sa thạch phản chiếu lấp lánh trong ánh sáng mặt trời
Phương pháp này ảnh hưởng từ văn hóa Ấn Độ - họ lấy những tảng đá lớn đẽo gọt
thành đền thờ, nhưng ở đây người Khmer cổ đẽo gọt các tảng đá và ghép chúng lại với
nhau rồi mới tạo hình thể hiện, điều này thể hiện văn hóa riêng của người Khmer Để
tìm kiếm đá sach thạch cho Angkor Wat các kĩ sư của vua đã ngược lên phương Bắc –
Đồi Kulen, là núi đá tập trung những ngôi đền Khmer cổ xưa nhất nơi tổ tiên sinh
sống, để biết ơn họ đã tạc nên những biểu tượng linga trong lòng sông để ban phúc
cho nguồn nước, cho nó sức mạch và quyền lực trong suốt hành trình để đổ về vương
quốc ở hạ nguồn Hành trình này dài ít nhất 30km Việc khai thác đá được nghiên cứu
là dùng đục để đập vụn đá, sau đó chèn nêm gỗ, khi đỗ nước vào, nêm gỗ dãn nở và
cắt đôi tảng đá, sau đó vận chuyển đá về bằng cách làm bè tre nứa có thể chịu được đá
2-12 tấn và cả 1 đội quân, rồi nương theo một trong những dòng kênh đổ về đền, sau
đó họ dùng bò, voi hoặc trâu để kéo, mùa khô thì chặn những dòng phụ tạo khóa điều
chỉnh cho lực nước ổn định để vận chuyển Còn vấn đề vận chuyển đá trong công
trình một lần nữa lại nhờ ích lợi của hào nước, nó như một bến cảng, thả trôi các khối
đá quanh hào , đá có thể chuyển trực tiếp đến bất cứ đâu trong công trường Riêng trên
các tảng đá là các lỗ để luồn thanh gỗ qua, cho gỗ ngấm nước dãn nở để có thể dễ
dang buộc dây để vận chuyển ở cả 2 mặt đá và dể thao tác lắp ghép hơn cột bằng dây
thừng Các nhà khoa học cho ràng công nhân dùng giàn giáo và ròng rọc thô sơ để
nâng đá vào vị trí Các khối đá tiếp xúc hoàn hảo với nhau ở tất cả các mặt, để đặt đến
độ găn khít tuyệt vời này họ đã dùng phương pháp kỹ thuật mài mòn, sa thạch có bề
mặt thô ráp tự nhiên khi mài mòn và thêm nước có thể làm phẳng tự nhiên cả 2 mặt,
việc không dùng hồ vữa sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc chạm trổ điêu khắc trên
phù điêu, đá không bị gián đoạn
Minh họa không khí công trường, công việc xây dựng cũng được ghi chép lại trên các
bức phù điêu của Đền – Nguồn hình: Internet
Trang 14Mái vòm là một thiết kế tuyệt vời rất hiệu quả và sử dụng ở rất nhiều công trình
trên thế giới, tuy nhiên nó gây ra nhiều khó khắn mà khó khăn lớn nhất là mái vòm
phải thắng được sức hút trọng lực Ở Angkor để khắc phục vấn đề này mái vòm tạo
dựng là bằng chứng kỹ thuật vòm tay đỡ (đặt viện đá chồng lên nhau không thẳng
hàng và hơi so le đến khí tạo thành hình vòm cung) nhưng mái vòm ở Angkor Wat
chuộng hành lang hẹp và phòng họp nhỏ rất phù hợp với kỹ thuật này Các vòm lên
cao sẽ tạo ra lực đẩy mạnh về 2 bên, dễ đổ tường người Khmer đã xây dựng gia cố
thêm cho các bức tường bằng các bậc thang cực dốc đi lên với lan can đá ở cả hai bên
của một bức tường để ép đứng lại – dung lực cân bằng lại Hiệu quả giống như những
cuốn bay của các nhà thờ Gothic Trước khi được chiêm ngưỡng núi đền lừng lẫy,
phải vượt qua hào nước cũng không kém phần nổi tiếng, xây dựng được nó cũng tốn
kém không thua gì ngôi đền bên trong để chống được áp lực nước Tất cả những phân
tích trên đều cho thấy một kỹ thuật xậy dựng cao và điêu luyện thời bấy giờ
Cấu trúc vòm tay đỡ - Nguồn hình: Học viên
Thể hiện những giá trị văn hóa của người Khmer cổ, Angkor Wat cho thấy nhận
thức và tư tưởng của những con người xây dựng nên di tích Nghiên cứu những bức
phù điêu thì lịch sử campuchia cũng được khai phá, dân tộc Khmer có thế lực khoảng
802 SCN, vị vua Suzzavaman đệ nhị – là vị vua quyền lực nhất, ông được tôn là đấng
sinh thành của vũ trụ, mỗi một vị vua khi lên ngôi đều phải xây dựng cho mình một
ngôi đền thờ riêng, đây là ảnh hưởng văn hóa Hindu giáo Angkor Wat mô phòng thế
giới thần linh ở thiên đàng trên mặt đất Họ quan niệm sự vĩnh hằng tồn tại ở thiên
đường trên đỉnh núi Meru – Phía Bắc Hymalaya, giống như các kim tự tháp, ngôi đền
phải được hoàn thành trước khi vua qua đời thì mới giúp nhà vua mở một cánh cổng
đến thế giới vĩnh hằng Xây dựng trong 35-37 năm, một khoảng thời gian thật ngắn
so với quy mô công trình trong khi các công trình thánh đường nổi tiếng khác trên thế
giới mất đến 200-300 năm xây dựng nhưng quy mô lạ nhỏ hơn Angkor Wat rất nhiều
Bên cạnh đó một nhà sử học Elena Monika còn phát hiện công trình là một cuốn lịch
bằng thiên văn rất phức tạp: kích thước khu đền rất chính xác, các hành lang có kích
thước bằng nhau đến từng cm, đặc biệt vào ngày 21-6, ngày hạ chí bình minh lên ngay
Trang 15tại chính giữa cổng phía bắc, ngay chính giữa lối lên, đến ngày 21-12, ngày đông chí,
nhìn về phía nam sẽ thấy mặt trời mọc ở ngày chính giữa cổng phía nam, chính xác
đến hoàn hảo như một chiếc đồng hồ Thụy Sĩ Các bức phù điêu cũng thể hiện không
chỉ là để trang trí mà như những cuốn lịch: thế giới của người Khmer ở trung tâm của
vũ trụ, số lượng thần thể hiện số ngày trong năm, các ngày đặc biệt thì thần được
chạm trổ kích thước lớn và đặc biệt hơn, ta có thể thấy khi mà Châu Âu mải mê khám
phá mặt đất thì nền văn minh cổ này đã có kiến thức về thiên văn, khám phá bí mật và
mối liên hệ với vũ trụ
Hiện nay Angkor Wat còn mang giá trị biểu tượng của đất nước Campuchia, xuất
hiện trên quốc kỳ và là điểm thu hút du khách hàng đầu đất nước Ngôi đền là một
biểu tượng mạnh mẽ của Campuchia và là niềm tự hào tổ quốc to lớn đã có ảnh hưởng
đến mối quan hệ ngoại giao của Campuchia với Pháp, Hoa Kỳ và người láng giềng
Thái Lan Đây chính là giá trị tinh thần – một giá trị phi vật thể đầy tự hào của con
người Campuchia, một giá trị mang lại ý nghĩa xã hội của công trình – đúng như tinh
thần của Văn kiện Nara Hình ảnh Angkor Wat đã xuất hiện trên quốc kỳ
Campuchia ngay từ khi nó mới được ra mắt vào năm 1863 Tuy nhiên, từ một góc độ
lịch sử và văn hóa lớn hơn, trong quá khứ Angkor Wat không phải chỉ là một biểu
tượng quốc gia độc đáo và đã xuất hiện trong quá trình hình thành nên di sản thuộc
Pháp về văn hóa - chính trị Ngôi đền được giới thiệu tại triển lãm thuộc địa Pháp và
thế giới tại Paris và Marseilles vào giữa những năm 1889 và 1937 Vẻ đẹp của Angkor
Wat cũng xuất hiện trong bảo tàng thạch cao của Louis Delaporte với tên gọi bảo tàng
Đông Dương (musée Indo-chinois) từng nằm trong Cung điện Trocadéro tại Paris từ
năm 1880 cho đến giữa thập niên 1920
Vẻ đẹp huy hoàng trong kiến trúc của Đền Angkor Wat – Nguồn hình: The Khmer
Empire Cambodia s‟ Medieval Splendor
Trang 16Quần thể Angkor nói chung và Angkor Wat nói riêng còn mang trong mình Giá trị
kinh tế to lớn – đây là di tích sống, nó vẫn còn được sử dụng điều này rất đúng với
tinh thần của Hiến chương Athen Từ những năm 1990, Angkor Wat đã trở thành một
địa điểm du lịch lớn Năm 1993, chỉ có 7,650 du khách đến đây; đến năm 2004, số
liệu chính phủ đã cho thấy đã có 561,000 du khách nước ngoài đến tỉnh Xiêm Riệp,
chiếm xấp xỉ 50% lượng du khách nước ngoài đến Campuchia Đến năm 2007 con số
này là trên một triệu, và trên hai triệu vào năm 2012 Phần lớn mọi người đến thăm
Angkor Wat với trên 2 triệu du khách nước ngoài năm 2013 Khu di tích được quản lý
bởi tập đoàn tư nhân SOKIMEX, tổ chức đã thuê lại Angkor Wat từ Chính phủ
Campuchia Du lịch cũng mang về một nguồn thu khác cho công tác bảo trì, cho đến
năm 2000, khoảng 28% nguồn thu từ bán vé tại khu vực Angkor được sử dụng cho
ngôi đền, cho dù phần lớn công việc được tiến hành bởi các đội được tài trợ bởi các
chính phủ nước ngoài chứ không phải các nhà chức trách Campuchia
di tích
Trong suốt thế kỷ XX các nhà khảo cổ học đã cố gắng bảo vệ ngôi đền Angkor
Wat khỏi sự xâm chiếm của rừng già và cố tìm hiểu xem ai là người đã xây dựng lên
nó Không chỉ riêng đền Angkor Wat mà cả quần thể Angkor bị tàn phá bởi rừng
nguyên sinh, bởi chính người dân Angkor, bởi chiến tranh Năm 1972 các nhà khoa
học Pháp dời đi vì nội chiến, đến 1991 họ cũng là những nhà khoa học đầu tiên quay
lại và tiếp tục đam mê bị bỏ ngỏ, sau khi quan sát kĩ lưỡng, vẽ ghi họ đánh số và dỡ
dần các tảng đá ra, họ xây tường bê tông ở phía trong để gia cố rồi đặt lại các phiến đá
về vị trí cũ, việc sử dụng bê tông cũng gây tranh cãi Xong cách thức này là đúng theo
nguyên tắc của phương pháp bảo quản: tác động kỹ thuật chứ không tác động đến mỹ
thuật, khi bổ sung kết cấu chịu lực thì phải giấu đi, yếu tố mỹ thuật phải cố gắng thể
hiện lại Năm 1986, các nhà khoa học Ấn Độ được phép đến đây nghiên cứu, sau đó là
người phương Tây đã quay lại, tình trạng của khu di tích là mối lo chung nhưng họ
chưa bao giờ nhất trí với nhau về cách thức bảo vệ, phục hồi tốt nhất đối với ngôi đền,
thách thức lớn nhất là ngăn không cho thực vật lấn sâu vào đền
Đặc biệt, những lần trùng tu trước đó người ta đã cố gắng áp dụng các kĩ thuật xây
dựng của phương Tây vào một công trình đậm chất phương Đông và đã gây nguy
hiểm cho ngôi đền Ở những năm 1980 sau một cuộc đại trùng tu các viên đá được
dựng trở lại và trám xi măng để chống mưa thật không may giải pháp đó khiến các
loại hóa chất ăn mòn trong xi măng thấm vào đền ảnh hưởng lên cách bức phù điêu
nổi tiếng, trong đó quan trọng nhất là bức phù điêu minh họa cho câu chuyện – Biển
sữa trường sinh (một bên là các thần, một bên là ác quỷ tranh giành sự trường sinh, họ
kéo đầu và đuôi rắn thần Naga đang quấn quanh một trục trụ trời tựa ngọn núi Meru,
vị trí trung tâm là thân Vishnu - thần hộ mệnh, qua một ngàn năm giằng co, họ làm
xoay trục trung tâm làm khuấy động biển sữa từ đây sự sống hình thành, tạo ra các vị
thần, tạo ra còn người và các sinh vật từ đáy biển sữa) Các bức phù điêu tuyệt tác này
Trang 17bị phá hủy là do nước mưa dột từ mái mang theo muối cộng thêm sự phát triển của
nấm mốc Theo thiết kế nguyên bản để bảo vệ các bức phù điêu thực chất đã có một
hệ thống thoát nước mưa từ mái do người Khmer cổ tạo ra theo nguyên tắc nước thoát
theo các khe hở mối tiếp xúc, các mối tiếp xúc này đều hở, nước không ngấm thẳng
vào bên trong mà theo các rãnh này thoát ra ngoài trong khi đó các nhà bảo tồn lại
trám, che lấp các khe và rãnh hẹp này bằng xi măng, những người làm công tác trung
tu đang gặp rắc rối lớn vì đã không nghiên cứu kĩ lưỡng, nên sau đó một cuộc trung tu
khác được thực hiện, mái đền đá được đánh số đánh dấu vị trí, sau đó dỡ ra, ta thấy
rất nhiều phiến đá bị bong tróc bởi muối, họ hạ xuống và loại bỏ sạch, vệ sinh cẩn
thận, lớp vữa cạo sạch để lấy lại rãnh thoát nước, sau đó chúng được nhúng qua một
dung dịch tạo lớp vỏ để tránh tác động của môi trường và rồi được tái định vị lại chỗ
cũ Một lần nữa lại minh chứng cho sự xuất sắc trong kỹ thuật xây dựng của người
Khmer mà nếu không làm sai các nhà khoa học cũng khó nhận thấy sự tỉ mỉ, cẩn trọng
ấy
Một lần sai lầm trong phương pháp bảo tồn đã gây ra hậu quả các bức phù điêu bị ăn
mòn, loang lỗ, làm giảm tính thẩm mỹ vốn có của di tích – Nguồn hình: Học viên
Tổ chức Dự án Bảo tồn Apsara Đức đang làm công tác bảo vệ các hoa văn và họa tiết
điêu khắc đá khỏi hư hại Khảo sát của công ty cho thấy khoảng 20 phần trăm các họa
tiết đang trong tình trạng tồi tệ, chủ yếu bởi sự xói mòn tự nhiên và sư xuống cấp của
đá, nhưng một phần cũng do các cố gắng phục dựng trước đó Các công việc khác bao
gồm sửa chữa các phần bị sụp đổ của cấu trúc, và đề phòng sự sụp đổ thêm: mặt phía
tây của tầng trên đã được củng cố thêm bằng giàn giáo từ năm 2002, trong khi một đội
Trang 18từ Nhật Bản đã hoàn thiện việc phục dựng thư viện phía bắc của khoảng đất phía
ngoài năm 2005 Quỹ Di tích Thế giới (World Monuments Fund) bắt đầu công việc
phục dựng hành lang có bức phù điêu miêu tả câu chuyện Biển sữa trường sinh năm
2008 sau một vài năm nghiên cứu tình trạng Dự án khôi phục hệ thống mái truyền
thống của người Khmer và loại bỏ xi măng được dùng trong các lần phục dựng trước
khiến muối thấm vào sau các bức điêu khắc đá, làm phai màu và gây hư hại các bề
mặt điêu khắc Sự mất nước và vi khuẩn lam dạng sợi chống bức xạ có thể sản xuất
các axit hữu cơ phân hủy đá Một loại nấm dạng sợi, tảo đã được tìm thấy trong các
mẫu vật trong và ngoài đền Các bản sao cũng đã được thực hiện để thay thế và dự
phòng cho một số các điêu khắc bị mất hoặc hư hỏng
Dự án bảo tồn chia làm hai giai đoạn: khảo sát và trùng tu Ở giai đoạn đầu tiên
các kiến trúc sư và các nhà khảo cổ khảo sát công trình để đánh giá toàn bộ về câú
trúc và tác động có hại của môi trường lên công trình Tiếp theo là phân tích so sánh
theo nhiều cấp độ khác nhau để làm rõ những hạng mục cần trùng tu Sau đó tiến hành
lập chương trình trùng tu thích hợp Việc bảo tồn và trùng tu Angkor Wat có một ý
nghĩa quan trọng trong việc: Bảo vệ cho ngôi đền không bị hư hỏng thêm, tôn tạo ngôi
đền ở tình trạng thật của nó, mở rộng khu vực bảo tồn và xây dựng đường giao thông,
tạo điều kiện cho khách tham quan
Trang 19Bên cạnh việc bảo tồn, trùng tu di tích dưới tác động phá hủy của thiên nhiên thì việc
bảo quản công trình để nó tồn tại được sau khi được phục dựng lại cũng vô cùng quan
trọng nhất là khi lượng khách du lịch đến với Angkor nói chung và Angkor Wat nói
riêng ngày càng nhiều Những đoàn du khách đó cũng là một trong những nguyên
nhân làm xói mòn các bức tường và con đường trải đá của Angkor Wat - ngôi đền lớn
nhất và nổi tiếng nhất của di sản này, bởi ý thích và nguyên vọng là leo lên di tích Vì
vậy trong quá trình bảo tồn và trùng tu di sản này các nhà quản lý Angkor đã tiến hành
xây dựng một cầu thang sắt có tay vịn và bục gỗ phụ vụ làm lối giao thông đi lại và
nhằm che chắn các phiến đá, bảo vệ công trình di tích
Các phương pháp bảo tồn sử dụng trong dự án trùng tu Angkor Wat
Các nhà bảo tồn trước đây đều tiên hành theo phương pháp hiện đại, sử dụng chủ yếu
phân biệt với đá tổ ong và sa thạch, không làm giả di tích
Bên cạnh đó còn có phương pháp tái định vị bằng cách đánh số và sắp xếp vào đúng
không làm thay đổi những gì vốn có của di tích
Gia cố những vị trí có nguy cơ bị sụp hoặc hư hại Có thể gia cố bằng hệ khung gỗ
hoặc vữa xi măng, hoặc bổ sung trụ bê tông đỡ với vật liệu khác hẳn với chất liệu
giữ vững lại những gì còn tồn tại của di tích
phần làm phát lộ hoặc phục dựng lại một số vị trí bị khuyết của công trình dựa trên
những cứ liệu có cấu trúc tương đồng trong công trình, xong phần bổ khuyết vẫn phải
dễ dàng phân biệt được với các yếu tố gốc, chân xác
Vậy, phương pháp trùng tu được thực hiện tại Angkor Wat được thực hiện theo đúng 5
hình thức của “trùng tu khảo cổ học” đối với kiến trúc gạch – đá
Hiện tại, Angkor Wat đang được bảo tồn và trùng tu với nhiều đơn vị từ các quốc
gia khác nhau trên thế giới với 4 dự án chính, bao gồm:
Dự án bảo tồn Angkor của Đức: trùng tu phù điêu (bas-relief) của Angkor Wat
Dự án trùng tu đường dẫn phía Tây giai đoạn 2 (Đại học Sophia – Nhật Bản)
Dự án trùng tu thành phần Angkor Wat của Viện kết cấu và địa kỹ thuật Ý
Dự án bảo tồn phù điêu Khuấy động Biển Sữa của Quỹ di tích thế giới (WMF)
Dự án trùng tu đoạn đê phía Tây lối vào Angkor Wat do trường Đại học
Sophia, Nhật Bản thực hiện trùng tu Công tác trùng tu được thực hiện theo
trình tự: Tháo dỡ đoạn bị sập sau khi lập hồ sơ hiện trang Lắp dựng tường
chắn đá ong sau khi kiểm soát mực nước và gia cố nền móng Đầm nén đất
(gồm lớp sét và cát) Lát lại lối đi bằng nền đá ong
Trang 20Một số vị trí gia cố bằng trụ hoặc đúc bê tông vừa bổ khuyết vừa gia cố phần nền –
Nguồn hình: Học viên
Một số vị trí gia cố bằng hệ khung gỗ - Nguồn hình: Học viên
Trang 21Rất nhiều cột phải gia cố bằng đai thép – Nguồn hình: Học viên
Các phần cấu kiện chờ tái định vị sau gia cố kết cấu, tập trung ở sân trên của đền –
Nguồn hình: Học viên
Để tổ chức một cách tiếp cận chặt chẽ và áp dụng cho việc bảo tồn ngôi đền rộng
lớn này, một bản đồ đánh giá nguy cơ hư hại của di tích được chuẩn bị theo thứ tự ưu
tiên các vấn đề khác nhau và cho phép các kỹ thuật để ứng phó với mỗi phần bị hư hại
của ngôi đền theo một cách hợp lý và có hệ thống Dự án toàn diện bao gồm tất cả các
phù điêu, bắt đầu với các hàng lang Tây Nam và sau đó chuyển đến góc Tây Bắc Rất
cẩn trọng với di tích Điều 9 của Hiến chương Venice có quy định: “Tiến trình
trùng tu là một thao tác có tính chuyên môn cao Mục đích của trùng tu là bảo tồn và
làm lộ ra giá trị thẩm mỹ và lịch sử của di tích, và phải dựa trên cơ sở tôn trọng vật
liệu gốc và các cứ liệu xác thực Trùng tu phải ngừng lại ngay khi bắt đầu có sự phỏng
đoán, hơn nữa trong trường hợp đó, nếu xét thấy nhất thiết phải làm thêm một cái gì
đó vì lý do thẩm mỹ hoặc kỹ thuật thì bộ phận làm thêm đó phải phân biệt được với bố
cục kiến trúc và phải ghi rõ dấu ấn niên đại lúc thực hiện Bất kỳ trong trường hợp
nào, trước và sau khi trùng tu phải có nghiên cứu di tích về mặt khảo cổ và lịch sử”
Như vậy, có thể thấy, sau những sai lầm bước đầu khi mà các chuyên gia Ấn Độ đã
phủ hết cái gọi là “lớp bụi thời gian” – dấu vết của lịch sử, thì ngày nay, quá trình
Trang 22trùng tu Angkor Wat đã đảm bảo được nguyên tắc quan trọng nhất của bảo tồn và
trùng tu là bảo vệ tính xác thực của di tích
Dự án trùng tu đoạn đê phía Tây lối vào Angkor Wat là một ví dụ cụ thể Trong dự án
này, các chuyên gia Nhật Bản đã cố gắng sử dụng phương pháp xây dựng ngày xưa
mà người ta đã sử dụng để xây dựng di tích, đồng thời cố gắng giữ lại tối đa chất liệu
gốc, sắp xếp những bộ phận bị sụp đổ trở lại vị trí ban đầu của chúng Họ đã sử dụng
chất liệu là đá sa thạch, giống như chất liệu gốc để thay thế những bộ phận đã bị mất
nhưng được gia công bề mặt đơn giản hơn chứ không mô phỏng bắt chước hoàn toàn
cái cũ Đúng tinh thần nguyên tắc không làm giả di tích
Đoạn đê được trùng tu vào năm 2000 -2007 – Nguồn hình: Internet
Hiện tại các đoạn đê, đường dẫn khác cũng đang bị hư hại Sử dụng phương pháp
đắp kè chắn áp lực nước và gia cố, bổ khuyết bằng vật liệu bê tông với các chi tiêt
thành lan can – Nguồn hình: Học viên + Cao Tâm K22
Trang 23Phương pháp bảo quản được sử dụng cho mảng tường đá điêu khắc chạy dọc theo
hành lang mà GACP đã thực hiện Sau một thời gian để cho người tham quan tự do
dùng tay chạm vào và làm bóng lên những chi tiết, nay nó đã được cách ly bằng hàng
rào vì mồ hôi tay cũng có thể làm hư hại những kiệt tác nghệ thuật này Đồng thời,
phương pháp bổ khuyết cũng được sử dụng ở một vài vị trí Việc làm rõ phần cũ –
mới để không gây hiểu nhầm là đúng, nhưng về mặt chất liệu, màu sắc…lại không
gần giống với bản gốc, gây ra cảm giác loang lổ, gây phản cảm với người tham quan
là điều nên tránh Bên cạnh đó, giải pháp gia cố cũng được thực hiện đúng với điều 10
của Hiến chương: “Ở đâu mà kỹ thuật truyền thống tỏ ra bất cập thì để đảm bảo việc
gia cố di tích ở chỗ đó, có thể dùng mọi kỹ thuật hiện đại về bảo tồn và xây dựng
Tính hiệu quả của thao tác này phải được chứng minh bằng cứ liệu khoa học và được
kinh nghiệm bảo đảm” Đây là giải pháp được sử dụng phổ biến trong phương pháp
bảo quản Điều này giúp tăng khả năng chịu lực cho kết cấu mà vẫn giữ được hình
dáng sơ khai của công trình
Các hoạt động bảo tồn và trùng tu lại các bức phù điêu của các nhà khoa học –
Nguồn hình: Sách Conservation of the Reliefs on the Temple of Angkor
Sự giúp đỡ của các công cụ kỹ thuật hiện đại cho thấy bao quát các công tác bảo tồn
trùng tu ở Thư viện phía Bắc Angkor Wat Nguồn hình: Học viên
Đền Angkor Wat là ngôi đền gần như còn nguyên vẹn, ít bị hư hỏng nhất qua thời
gian và thời kỳ chiến tranh Bên cạnh những hư hại của cấu trúc ngôi đền, những tác
Trang 24động của thiên nhiên và con người lên từng khối đá, còn một khó khăn nữa của việc
trùng tu di tích đó là việc tìm kiếm tư liệu về quá trình xây dựng và bí ẩn của các công
trình này luôn gặp khó khăn Với sự giúp đỡ của công nghệ tin học, hình khối của
công trình được chia thành từng bộ phận nhỏ hơn và dựng lại trên máy tính để có một
cái nhìn bao quát hơn trong việc sắp xếp lại các viên đá, đảm bảo công trình xây dựng
đúng với hình khối của nó trước đây.Đã từng xảy ra tai nạn đối với du khách nên các
nhà quản lý Angkor phải xây dựng một cầu thang sắt có tay vịn và bục gỗ che chắn
nhằm bảo vệ khách tham quan lẫn di tích Bốn mặt của tháp đã được xây dựng một
tháp có cầu thang sắt đi lên Để leo lên được tháp, yêu cầu du khách không được mặc
váy ngắn, đội mũ để thể hiện lòng tôn kính với các vị thần
Lan can, cầu thang sắt bục gỗ là giải pháp bảo quản di tích khỏi tác động của khách
du lich – Nguồn hình: Học viên
Một sự nỗ lực với các hợp tác quốc tế đã khôi phục lại giá trị chân xác của di tích
kiến trúc Angkor Wat, cũng như ngăn chặn việc bị phá hủy do cấu trúc công trình
không ổn định Cho tới nay, khu di tích này đã và đang được 16 quốc gia, 28 tổ chức
quốc tế đầu tư tôn tạo.Trong vòng 10 năm qua, có 250 triệu USD được sử dụng để sửa
chữa và bảo tồn các ngôi đền cổ trong quần thể Angkor Mặc dù Angkor Wat phải đối
mặt với rất nhiều khó khăn, nhưng sức sống của di sản với mô hình quản lý và bảo tồn
mới, vẫn thu hút hàng triệu du khách từ khắp nơi trên thế giới đến tham quan, tìm
hiểu, nghiên cứu
Trang 252 Đền Bayon - Angkor Thom
Đền Bayon nằm trong quần thể di tích Angkor Thom - Nguồn hình: Học viên
Xây dựng sau Angkor Wat gần 100 năm, mang trong mình giá trị lịch sử to lớn,
Angkor Thom cũng có sức hấp dẫn huyền bí không kém Angkor Wat Vào cuối thế kỷ
thứ XII đầu thế kỷ XIII: Vua Jayavarman VII cho xây dựng khu kinh thành lớn đó là
Angkor Thom cũng là kinh đô cuối cùng của đế chế Khmer Bên trong có nhiều đền
thờ từ các thời kỳ trước cũng như các đền thời được Jayavarman và những người nối
nghiệp ông xây dựng Đền Bayon nằm giữa trung tâm Angkor Thom Vua Jayavaman
VII đã cho xây ngôi đền Bayon với 54 tháp lớn nhỏ, mỗi tháp đều có điêu khắc 4
gương mặt của thần Lokesvara về 4 hướng, tổng cộng có 216 gương mặt trên tất cả
các tòa tháp vì vua theo Phật Giáo Đại thừa, khác biệt hẳn với tín ngưỡng của các vị
vua trước Giữa thế kỷ XIII: sau khi Vua Jayavarman VII mất ngôi đền cũng bị thay
đổi bởi các vị vua sau này, ngôi đền Bayon Phật Giáo được thay đổi để phù hợp
với Ấn Độ Giáo, bởi những vị vua sau này theo đạo Ấn Độ Giáo nên đã thay đổi tất cả
để phù hợp với đạo giáo Angkor không còn nguyên vẹn do các vị vua có sự đấu tranh
về tôn giáo gay gắt, sự thay đổi tôn giáo của các vị vua làm cho các đền đài tại
Angkor luôn thay đổi theo tín ngưỡng tôn giáo của vị vua đó, dẫn đến Angkor không
còn nguyên thủy Xong đó lại là sự thay đổi do lịch sử của từng thời kỳ tạo ra, mang
tính chất tư liệu nghiên cứu cũng có giá trị riêng Ngôi đền Bayon rất may là không bị
đập phá nhờ những gương mặt cười làm Ấn Độ Giáo nhằm tưởng là gương mặt của
thần Shiba nên giữ lại không cho đập phá
Trang 26Quẩn thể di tích Angkor Thom – Nguồn hình: Internet
Angkor Thom nằm trên bờ hồ Tonle Sap, cách hồ khoảng 1/4 dặm Các bức tường
thành (cao 8 m, dài 3 km, bên ngoài là hào nước) bao quanh một khu vực rộng 9 km²
Tường thành được xây bằng đá ong với bờ công sự trên đỉnh Tại mỗi hướng Đông,
Tây, Nam, Bắc, có một cổng thành Các con đường dẫn từ các cổng thành thẳng đến
đền Bayon tại trung tâm thành phố Do bản thân Bayon không có tường hay hào của
riêng mình, các nhà khảo cổ học giải thích rằng các tường và hào của thành phố đại
diện cho núi và biển bao quanh Núi Meru của Bayon Trước mặt mỗi cổng thành có
một bờ đường đắp ngang qua hào nước, dọc theo mỗi bên đường có một hàng
các Deva, mỗi hàng nâng mình rắn thần Naga trong tư thế kéo co Có vẻ đây là một
hình tượng về truyền thuyết khuấy Biển Sữa và Đền núi Bayon có thể là cái trục của
sự kiện khuấy biển Từ cách thiết kế đô thị lớn đến đền trung tâm Bayon đến những
chi tiết nhỏ trong công trình, người Khmer luôn diễn tả nhận thức tư tưởng, tín
ngưỡng và văn hóa của mình Angkor Thom với đỉnh cao của nghệ thuật là đền
Bayon, là một sự kết hợp tuyệt vời giữa kiến trúc và văn hóa, những khuôn mặt và nụ
vười Bayon gần như là mặt của vua trong tư thế cầu kinh đôi mắt khép hờ và nét mặt
suy tư, các vị vua trước chọn kể với thế giới những chiến công của mình thì vua này
chọn kể lại những cuộc sống đời thường của người dân trên những bức tường phù điêu
cả những trận đánh mà ông thua trận, rất thú vị Phải chăng sự lạc quan, vô ưu tĩnh tại
ấy là căn nguyên của tính cách con người Campuchia ngày nay
Trang 27Bayon ngôi đền trung tâm của Kinh đô Angkor Thom – Nguồn hình: Học viên
Giá trị lịch sử của di tích thể hiện hoàn cảnh xây dựng công trình: Sau khi
vua Suryavarman II là người xây dựng Angkor Wat băng hà vào khoảng năm 1150,
Campuchia rơi vào tình trạng rối ren, vô chính phủ Quân Chiêm Thành nhiều lần tấn
công và cuối cùng cưỡng chiếm Angkor Wat Jayavarman VII lúc sinh thời vốn là một
người thích sống ẩn dật, chọn lối sống thanh bần, ông thờ ơ với mọi biến động trong
đời sống Đến 50 tuổi, thấy đất nước quá tang thương vì loạn lạc và bị ngoại xâm dày
xéo, ông thấy không còn con đường nào khác hơn là theo con đường kiếm cung mới
mong cứu được đất nước qua cơn nguy khốn Năm 1181, ông dấy binh khởi nghĩa, sau
ròng rã bốn năm chiến đấu, ông đánh đuổi được Chiêm Thành ra khỏi đất nước mình,
khôi phục lại thanh bình và xây dựng nên một đất nước hùng mạnh Để thực hiện sự
nghiệp giải phóng đất nước, trước khi lên ngôi Jayavarman VII bắt đầu xây dựng lại
quân đội, rồi tiến hành nhiều cuộc phản công, trong đó có một trận hải chiến oanh liệu
miêu tả trên bức tường đá chạm nổi ở các đền Bayon Sau khi hoà bình được lập lại
Jayavarman VII lên ngôi, lúc này ông khoảng 50 tuổi Ông liền bắt tay vào việc khôi
phục lại kinh đô và cho xây dựng ở đây một khu thành mới gọi là thành Yaxôdarapura
– một phần là Angkor Thom và đền núi Bayon ngày nay Cố nhiên những công trình
vĩ đại được xây dựng vào thời gian này đã làm cho nhân lực và vật lực trong nước bị
khánh kiệt, thuế má và sưu dịch ngày càng đè nặng lên đầu nhân dân, làm cho quần
chúng lao động vô cùng cơ cực và oán than Nhiều cuộc bạo động và khởi nghĩa của
quần chúng đã nổ ra, nhưng ngoài một số phong trào đấu tranh được ghi chép lại một
cách vắn tắt và mơ hồ trong một số rất ít ỏi tài liệu văn bia, chúng ta không có thêm
Trang 28nguồn tài liệu nào khác nữa Dẫu sao thì những công trình kiến trúc đồ sộ và vô cùng
tốn kém đó cũng nói lên được sức sáng tạo của những người Khmer thời cổ
Về giá trị kiến trúc và nghệ thuật có thể nói Bayon là khu đền súc tích với những
trang trí chạm khắc bằng đá đẹp đẽ nhất Tất cả các đền đài trong quần thể Angkor
Thom đều được xây bằng đá ong và sa thạch Mỗi viên đá có kích thước 20 x 12 x 4
cm đến 30 x 15 x 9 cm, tức lớn và nặng Rất khó tưởng tượng được bằng cách nào mà
người Khmer có thể tải những tảng đá khổng lồ như thế về đây và xây nên một thành
quách kì vĩ như thế Câu trả lời có lẽ cũng giống phương pháp vận chuyển đá và xây
dựng Angkor Wat đã trình bày ở trên Đền được xây dựng hướng Đông, đền không có
tường thành hay hào gì cả Cấu trúc ngôi đền gồm có 3 tầng, hai tầng dưới được thiết
kế bằng hình vuông và có những bức phù điêu trên tường, còn tầng trên cùng được đặt
những tháp đá lớn nhỏ có hình mặt cười Trên mỗi tháp đều có những khuôn mặt
khổng lồ tạc vào đá nhìn ra bốn hướng Những gương mặt mang nụ cười bí ẩn đã
khiến cho Bayon trở thành một trong những đền tháp ấn tượng nhất và nhiều cảm xúc
nhất của Angkor
Hình ảnh 3D mô phỏng lại kiến trúc đền Bayon – Nguồn hình: Internet
Ngay hành lang tường tầng dưới có 11 bức phù điêu được khắc trên đá trải dài 1200m
đây quả là một kho tàng đầy nghệ thuật miêu tả cảnh diễn hành của vua và hoàng gia,
những trận đánh của vua Jayavarman VII với Chiêm Thành bằng cả thủy lẫn bộ chiến,
ngoài ra còn miêu tả đời sống văn hóa, xã hội của một nền văn minh đã bị lãng quên
từ bao thế kỷ Tại đây người ta phát hiện một số bức tranh đang được phát họa chưa
được điêu khắc chắc là do công trình còn đang làm dở dang của Vua Jayavarman
VII khi ông mất
Trang 29Bức phù điêu mô tả một trận thủy chiến – Nguồn hình: Học viên
Tầng trên cùng là sân thượng nơi được đặt những tháp đá lớn nhỏ, những tháp đá này
đều có 4 gương mặt cười, người Khmer cho rằng ngôi gồm có 54 tháp lớn nhỏ tất cả
tượng trưng cho 54 tỉnh lúc bấy giờ và thấy có 216 gương mặt cười khủng lồ được
điêu khắc nhìn về khắp mọi hướng của các tỉnh để quan sát, phổ độ chúng sinh, một
nụ với bí ẩn như hiểu hết vẽ vô thường của cõi tạm Nhưng trên thực tế các nhà khảo
cổ tìm kiếm dữ liệu chứng minh là có 49 tháp, hiện tại chỉ còn 37 tháp có khoảng 200
khuôn mặt Đây cũng là một ẩn bí mà các nhà khảo cổ đang đấu tranh tìm kiếm sự thật
về ngôi đền có bao nhiêu tháp, hiện tại ngôi đền đã đổ nát trầm trọng chỉ còn lại một
phần nên cũng rất khó xác định chính xác Tại trung tâm ngôi đền có tượng Đức
Phật như bị phá hủy bởi khi Vua Jayavarman VII mất, vua kế tiếp theo đạo Ấn Độ
Giáo nên đã cho phá hủy bức tượng Phật, sau này các nhà khảo cổ đã tìm thấy các
mãnh vở ở dưới giếng nước và đem lên phục hồi lại bức tượng, hiện tại bức tượng
Phật được trưng bày ngay trung tâm của đền
Hình ảnh nổi bật nhất của Bayon vẫn là những ngọn tháp cao vút ở trung tâm bằng đá
tảng, chạm khắc thành 4 khuôn mặt nhìn bốn hướng Kiến trúc của Bayon được xem
như có phong cách của trường phái baroque, trong khi Angkor thuộc phái cổ điển Sự
tương đồng của vô số khuôn mặt khổng lồ ở trên các tháp của đền Bayon với các bức
tượng khác của vua Jayavarman VII khiến nhiều học giả đi đến kết luận đây chính là
khuôn mặt của nhà vua Người khác thì cho là của Quán Âm Bồ Tát (Avalokitesvara
hay Lokesvara) Nhà học giả chuyên về Angkor học Coedes thì lý luận rằng
Jayavarman VII theo truyền thống của các vua Khmer tự cho mình là vua thần
(devaraja), khác với các vua trước theo Ấn Độ giáo tự cho mình là hình ảnh của
Trang 30thần Shiva, trong khi Jayavarman VII là một Phật tử nên cho hình ảnh Phật và Bồ
tát là chính mình Có tất cả 37 tháp đền đá tạc hình nhiều khuôn mặt nhìn xuống và
nhìn đi bốn hướng như thể quan sát chúng sanh và che chở cho đất nước Bên trong
đền có hai dãy hành lang đồng tâm ở tầng dưới, và một dãy ở tầng trên Tất cả nằm
dồn lại với nhau trong một không gian hạn hẹp bề 140 m và bề 160 m, trong khi phần
chính của ngôi đền nằm ở tầng trên lại còn hẹp hơn với kích thước 70 m × 80 m; khác
với Angkor Wat, người ta phải trầm trồ với quy mô to lớn và thoáng rộng của nó Từ
xa nhìn vào Bayon rải dài theo chiều ngang như một đống đá lổn chổn muốn vươn lên
trời cao Các tháp có kích cỡ cao thấp khác nhau, có tháp thật thấp khiến khuôn mặt
như nhìn thẳng vào mắt của du khách Đi theo những lối đi quanh co, người ta có cảm
giác như đi lạc vào một mê trận Bất cứ rẽ vào lối nào du khách cũng trực diện với
những đôi mắt đang chăm chú nhìn mình
Nụ cười Bayon bí ẩn – Nguồn hình: Học viên
Trang 31Những tượng đá bốn mặt này làm cả thế giới phải ngưỡng phục về nghệ thuật chạm
khắc Có tất cả 54 x 4 = 216 gương mặt Tại sao 216? Một số giả thiết giải thích rằng
ba chữ của 216 cộng lại là con số 9, và đây là con số thiêng mà văn hóa người Khmer
thời đó sùng bái Ngay cả từ cổng vào đã có dấu ấn của con số 9 Cổng vào hai bên là
hai con rắn 7 đầu, được 54 vị thần ôm chặt, 27 vị thần ác và 27 vị thần thiện Những
chữ số 54, 27 đều cộng lại thành con số 9 Sự độc đáo ở đây là trong số 216 gương
mặt, không có gương mặt nào giống gương mặt nào! Mỗi gương mặt là đặc thù Mỗi
gương mặt có một nụ cười kì bí làm cho người xem tự hỏi đó là nụ cười gì Rất vô
thường Tất cả đều được khắc chạm rất tinh vi Có thể xem đây là những tác phẩm
nghệ thuật trên đá thể hiện rõ tính cách, kĩ thuật, tín ngưỡng và văn hóa người Khmer
Trong đền Bayon, hầu như bất cứ phiến đá nào cũng được chạm khắc phù điêu hay
hoa văn Nét khắc cực kì tinh tế Phù điêu ở đây mô tả một kinh đô sầm uất, thịnh
vượng Dĩ nhiên, không thể thiếu những nữ thần Apsara xuất hiện khắp nơi, với ngực
trần nở nang, eo thon, hông rộng trong nhiều dáng vẻ khác nhau Nghe nói có hơn
1000 hình nữ thần Apsara ở đây Mỗi hình là đặc thù, không hình nào giống hình nào
Nếu nhìn kĩ những nét vẻ này, người ta cũng có thể lĩnh hội một vài bài học cơ thể
học rất tốt Từ cơ bắp của đàn ông đến những eo phụ nữ đều được khắc vẽ cực kì tinh
vi, không có vết nứt Khó thể nào tưởng tượng nổi các nghệ nhân phải tốn bao nhiêu
thời gian để hoàn tất tác phẩm vĩ đại này
Hầu như các phiến đá ở Bayon đều được chạm khắc phu điêu hoặc hoa văn –
Nguồn hình: Cao Tâm K22
Người Khmer ít để lại sử sách, nhưng cổ sử của họ lại được tạc trên đá Các bức phù
điêu ở đền Bayon hình như được khắc khác thời điểm Các bức phù điêu ở phía trong
có lẽ được chạm khắc trước các bức phù điêu phía ngoài tường Có 8 phần phù điêu
trên tường ngoài, mỗi bức dài đến 35 m và cao 3 m Những bức phù điêu này mô tả
những trận đánh với lính Chămpa, nhưng cũng có phù điêu tả cảnh sinh hoạt hàng
ngày như cảnh chợ búa và người đi chợ đang cân hàng, phụ nữ đùa với trẻ em, cảnh
người bắt cá sấu, bắt rùa, cảnh người Tàu đang nấu nướng và cảnh đá gà Nói chung
những bức phù điêu này cho chúng ta một số ý niệm về sinh hoạt và chiến đấu của
người Khmer thời thế kỉ XII-XIII rất có giá trị