Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng xây dựng từ nền tảng hôn nhân tiến bộ, tự nguyện, nam nữ bình đẳng nhằm xóa bỏ chế độ đa thê trong hôn nhân phong kiến.[2] Nội dung của nguyên tắc hô
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI NGÀNH LUẬT CHẤT LƯỢNG CAO
BÀI TẬP NHÓM MÔN: LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Đề bài số 01:
Nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng được đảm bảo như thế nào
trong pháp luật Việt Nam
Nhóm : 01
Hà Nội, tháng 9 năm 2021
Trang 2BẢNG ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG NHÓM
Nhóm: 01
Lớp: CLC.CB12-1-21 (N06.TL3)
Đề bài: 01
Phân chia công việc và đánh giá thành viên:
Hà Nội, ngày 10 tháng 9 năm 2021
Nhóm trưởng
Nguyễn Thị Mai Anh
1 Có ba mức xếp loại: A: Tốt; B: Khá; C: Trung bình
S
T
T
hiện
Tiến độ thực hiện (đúng hạn)
Kết luận Xếp loại 1
tốt
Trung Bình
gia đầy đủ
Tích cực sôi nổi
1 Nguyễn Thị
Mai Anh-
450647
Phần I, tổng hợp bài word, kết luận
2 Hà Ngọc
Anh- 451414
3 Võ Minh
Trang-
453401
Phần II, phần
V, thuyết trình
4 Nguyễn Thục
Anh- 453402
Phần II, phần
V, thuyết trình
5 Dương Thị
Phương Anh-
453403
Phần IV, đặt vấn đề, làm powpoint
Trang 3Mục lục
Đặt vấn đề 1
Nội dung 1
I Những lí luận cơ bản về nguyên tắc hôn nhân vợ chồng 1
1 Khái niệm hôn nhân một vợ một trồng 1
2 Khái niệm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng 1
3 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiến của luật hôn nhân và gia đình 1
3.1 Cơ sở lý luận 1
3.2 Cơ sở thực tiễn 2
4 Quá trình hình thành và phát triển 2
4.1 Pháp luật Việt Nam trước cách mạng tháng 8 năm 1945 2
4.2 Pháp luật nước ta từ sau cách mạng tháng 8 tới nay 2
II Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trong pháp luật Việt Nam hiện hành 1 Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trong việc kết hôn 3
2 Cách trường hợp vi phạm và những trường hợp ngoại lệ 4
2.1 Trường hợp 1: Người đang có vợ, chồng mà có kết hôn với người khác và ngược lại 4
2.2 Trường hợp 2: Người đang có vơ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác và ngược lại 4
3 Xử lý vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng 5
3.1 Xử lý theo pháp luật Hôn nhân & Gia đình 6
3.2 Xử lý theo pháp luật Hành chính 7
3.3 Xử lý theo pháp luật Hình sự 7
III Thực tiễn áp dụng nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng 8
IV Thực tiễn giải quyết các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng 9
1 Những kết quả đạt được 9
1.1 Thực tiễn giải quyết 9
2 Một số nguyên nhân và bất cập trong thực tiễn giải quyết 10
Trang 42.1 Một số bất cập trong thực tiễn giải quyết 10
2.2 Một số nguyên nhân 11
V Giải pháp khắc phục vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng ở
nước ta 11
1 Các giải pháp nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật 11
2 Các giải pháp nâng cao nhận thức của người dân trong việc tuân thủ
pháp luật 12
Kết luận 12
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Hôn nhân và gia đình là hiện tượng xã hội phát sinh trong quá trình phát triển của xã hội loài người Nhận thức được vai trò của hôn nhân và gia đình trong công cuộc xây dựng CNXH, Nhà nước ta đã thiết lập chế độ hôn nhân gia đình tiến bộ mới thay thế cho chế độ
cũ lạc hậu Trong đó, nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng là một trong những định hướng của Đảng và Nhà nước ta nhằm đảm bảo việc thực hiện quan hệ hôn nhân và gia đình
tiến bộ Do đó, nhóm 01 chúng em xin chọn đề bài số 01: “Nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng được đảm bảo như thế nào trong pháp luật Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu
NỘI DUNG
I Những lí luận cơ bản về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
1 Khái niệm hôn nhân một vợ một chồng
C.Mác và Ăng-ghen đã chứng minh rằng giữa chế độ KT – XH và tổ chức gia đình có mối liên quan chặt chẽ, gắn với mỗi chế độ KT – XH sẽ có một chế độ hôn nhân gia đình và hình thái gia đình khác nhau Từ hình thái gia đình huyết tộc, đến Punaluan, đến hôn nhân đối ngẫu và cuối cùng là hôn nhân một vợ một chồng Hôn nhân một vợ một chồng ở mỗi giai đoạn khác nhau sẽ có những quan điểm khác nhau Theo quan điểm ở Việt Nam, tại
Khoản 1 Điều 3 LHN&GĐ quy định: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau
khi kết hôn.” [1]
2 Khái niệm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là nguyên tắc quan trọng gắn liền với sự phát triển của gia đình, được cụ thể hóa trong các văn bản LHN&GĐ các năm 1959, 1986, 2000,
2014 và ghi nhận trong Hiến pháp Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng xây dựng từ nền tảng hôn nhân tiến bộ, tự nguyện, nam nữ bình đẳng nhằm xóa bỏ chế độ đa thê trong hôn nhân phong kiến.[2] Nội dung của nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng cấm người đang
có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác và ngược lại
Kết luận: Như vậy, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là nguyên lý, tư tưởng chỉ
đạo quán triệt toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật hôn nhân gia đình, đồng thời thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc giải quyết các trường hợp vi phạm chế độ này
3 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của luật hôn nhân và gia đình
3.1 Cơ sở lý luận:
Trang 6Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước”, Mác -
Ăngghen đã phân tích: Lịch sử gia đình là lịch sử của quá trình xuất hiện chế độ một vợ một chồng, là quá trình không ngừng hoàn thiện hình thức gia đình trên cơ sở sự phát triển của các điều kiện sinh hoạt vật chất của con người Chế độ một vợ một chồng ở thời kỳ này thể hiện công khai quyền gia trưởng của người chồng, người cha trong gia đình Về vấn đề này,
Ăngghen đã khẳng định: “Chế độ đó chẳng những sẽ không biến đi mà cuối cùng lại còn
trở thành hiện thực, ngay cả đối với đàn ông nữa” Lúc này, hôn nhân mới có điều kiện thể
hiện đúng bản chất là hôn nhân một vợ một chồng đích thực nhằm xây dựng gia đình để cùng nhau thỏa mãn nhu cầu về tinh thần và vật chất [3]
3.2 Cơ sở thực tiễn:
Trong bối cảnh hội nhập, Đảng ta coi quan hệ hôn nhân một vợ một chồng bền vững sẽ
tạo nên kết cấu gia đình tốt đẹp Ở các giai đoạn khác nhau, Đảng và nhà nước có những chủ trương, chính sách về hôn nhân và gia đình phù hợp, nhằm tập trung thực hiện những nhiệm
vụ và mục tiêu đề ra thông qua LHN&GĐ Tuy nhiên trong thực tế vẫn còn xảy ra những vi phạmkéo theo nhiều hệ quả tiêu cực nên cần có những biện pháp xử lí các hành vi vi phạm
trên cở sở nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
4 Quá trình hình thành và phát triển
4.1 Pháp luật Việt Nam trước cách mạng tháng 8 năm 1945
Chế độ hôn nhân gia đình ở nước ta bị ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng phong kiến lạc
hậu tồn tại từ nhiều thế kỷ trước Pháp luật Việt Nam trước 1945 công nhận chế độ đa thê, cho người đàn ông được quyền lấy nhiều vợ, thể hiện sự kỳ thị rõ ràng với người phụ nữ [4]
4.2 Pháp luật nước ta từ sau Cách mạng Tháng 8 tới nay
a Trước khi có Luật hôn nhân và gia đình năm 1959
Để điều chỉnh những quan hệ hôn nhân và gia đình, Nhà nước dựa vào các quy định
trong các văn bản pháp luật của chế độ cũ còn phù hợp với quan điểm của Đảng và quy định của Hiến pháp 1946 Đến 1950, những nguyên tắc của pháp luật hôn nhân và gia đình được thể hiện rõ trong Sắc lệnh số 97-SL và Sắc lệnh số 159-SL Thời kỳ này, luật hôn nhân và gia đình vẫn còn trong giai đoạn sơ khai và chưa đề cập đến nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng nhưng đã bao hàm được tư tưởng dân chủ tiến bộ của chế độ mới do Đảng và Nhà nước xây dựng
Trang 7b Pháp luật nước ta sau khi có Luật hôn nhân và gia đình năm 1959
Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 1959: Năm 1954, Mỹ xâm lược, nước ta bị chia
cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội Ở miền Bắc công cuộc xây dựng XHCN
đã tạo điều kiện cho hôn nhân và gia đình, nhưng ở miền Nam vẫn còn nhiều tư tưởng lạc hậu do vẫn còn chiến tranh Do đó, LHN&GĐ cần phải thực hiện mục đích là xây dựng gia đình dân chủ hòa thuận, xóa bỏ những tàn tích của chế độ cũ LHN&GĐ 1959 đã được xây
dựng trên bốn nguyên tắc sau: “Nguyên tắc hôn nhân tự do và tiến bộ; Nguyên tắc hôn nhân
một vợ một chồng; Nguyên tắc nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong gia đình; Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con cái” và đã quy định nguyên tắc mới: “nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng” đã bảo đảm cho hạnh phúc gia đình bền vững, đồng thời phù
hợp với đạo đức xã hội chủ nghĩa
Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 1986: Khi xây dựng LHN&GĐ 1986, nhà lập
pháp đã có phân định nhóm: những quy định chung và các quy định chuyên biệt Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được quy định ở Chương I trong LHN&GĐ 1986 được kế thừa và phát triển nguyên tắc này của LHN&GĐ năm 1959
Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000: LHN&GĐ 2000 tiếp tục thực hiện những
nguyên tắc của Luật cũ còn phù hợp nhưng có sự sắp xếp khoa học hơn, đồng thời bổ sung một số nội dung làm cơ sở cho việc thực hiện, bảo vệ các quan hệ hôn nhân và gia đình Đây
là quá trình hoàn thiện những nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân và gia đình, trong đó có nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ của ngành luật
hôn nhân và gia đình trong những giai đoạn mới của đất nước
Theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014: Không có sự khác biệt quá nhiều so với
LHN&GD của những thời kỳ trước LHN&GĐ 2014 kế thừa và phát triển nguyên tắc một
vợ một chồng Quy định tại Điều 2 LHN&GĐ: “Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một
chồng…”
II Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trong pháp luật Việt Nam hiện hành
1 Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trong việc kết hôn
Khái niệm: Theo Khoản 5 Điều 3 LHN&GĐ 2014: “Kết hôn là việc nam,nữ xác lập
quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết
hôn.”
Trang 8Căn cứ pháp lý: tại Khoản 1 Điều 36 Hiến pháp 2013 ghi nhận: “Nam, nữ có quyền kết
hôn, ly hôn Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, vột vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.” Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được cụ thể hóa trong
LHN&GĐ 2014 tại Khoản 1, Điều 2: “Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ
chồng bình đẳng.” Thể hiện ở các khía cạnh sau:
Thứ nhất, điều kiện kết hôn: quy định tại Điều 8 LHN&GĐ năm 2014, bao gồm các
điều kiện về độ tuổi, sự tự nguyện, năng lực hành vi dân sự, các trường hợp cấm kết hôn, hôn nhân đồng tính Trong đó, điều kiện các trường hợp cấm kết hôn phải không thuộc
trường hợp tại Điểm c Khoản 2 Điều 5 quy định cấm hành vi: “Người đang có vợ, có chồng
mà kết hôn với người đang có chồng, có vợ.”
Thứ hai, thủ tục đăng ký kết hôn: Việc kết hôn phải được đăng ký và do các cơ quan
có thẩm quyền tiến hành theo đúng quy định của pháp luật Đăng ký kết hôn là cơ sở xác lập hôn nhân Nam, nữ sống với nhau mà không đăng ký kết hôn thì không được Nhà nước công nhận là vợ chồng Vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn
2 Các trường hợp vi phạm và những trường hợp ngoại lệ
Khái niệm: Vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là hành vi trái pháp luật,
do chủ thể thực hiện một cách cố ý xâm hại đến quan hệ hôn nhân một vợ một chồng đang
tồn tại được pháp luật thừa nhận và bảo vệ
Căn cứ pháp lý: Tại Điểm c Khoản 2 Điều 5 LHN&GĐ năm 2014 có quy định các hành
vi bị cấm:“Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn … hoặc chung sống như vợ chồng với
người đang có chồng, có vợ.”Theo đó, hai trường hợp cơ bản vi phạm nguyên tắc này là:
2.1 Trường hợp 1: Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác và ngược lại Khái niệm: Khoản 5 Điều 3 LHN&GĐ 2014 quy định: “Kết hôn là việc nam và nữ xác
lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký
kết hôn.”
* Các trường hợp ngoại lệ:
Thứ nhất, trường hợp cán bộ, bộ đội đã có vợ, có chồng ở miền Nam tập kết ra Bắc lấy
vợ hoặc lấy chồng khác ở miền Bắc Đây là trường hợp ngoại lệ theo Thông tư số 60/DS
ngày 22/02/1978 của TANDTC, do hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, do đất nước bị chia cắt
Trang 9Thứ hai, trường hợp nam nữ sống chung như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 Căn cứ tại
Điều 131 LHN&GĐ năm 2014 thì các trường hợp nam nữ sống chung với người khác như
vợ chồng trước ngày 03/01/1987 được áp dụng pháp luật tại thời điểm xác lập Theo hướng dẫn tại Khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 và Khoản 2 TTLT 01/2001 thì các trường hợp sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì được khuyến khích kết hôn
Do đó, dù có hay không đăng ký kết hôn thì quan hệ vợ chồng của họ vẫn được pháp luật công nhận hợp pháp kể từ ngày xác lập
2.2 Trường hợp 2: Người đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác và ngược lại
Khái niệm: tại Khoản 7 Điều 3 LHN&GĐ năm 2014 quy định:”Chung sống như vợ
chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau như vợ chồng.”Việc chung sống
như vợ chồng với người khác được giải thích tại Khoản 3.1 Điều 3 TTLT số
01/2001/TTLT-TANDTC-VSKNDTC
Hậu quả: Người đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác và
ngược lại sẽ làm ảnh hưởng tới quyền và việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của vợ chồng trong quan hệ hôn nhân hợp pháp Đồng thời, việc chung sống như vợ chồng là hành vi vi phạm đạo đức, ảnh hưởng đến thuần phong mĩ tục của dân tộc, tác động
tiêu cực tới quan hệ gia đình được Nhà nước bảo vệ
Các trường hợp vi phạm: Giữa hai bên nam, nữ chung sống với nhau đều là người đang
có vợ, chồng với nhau; Giữa người đang có vợ, chồng chung sống với người chưa có vợ, chồng; Giữa người đang có vợ hoặc đang có chồng chung sống với người cùng giới tính với
mình (tại Khoản 2 Điều 8 LHN&GĐ năm 2014 đã bỏ quy định cấm kết hôn giữa những
người cùng giới tính, thay vào đó là quy định không thừa nhân hôn nhân giữa những người cùng giới tính Như vậy, khi những người cùng giới tính tổ chức đám cưới và chung sống với nhau như vợ chồng, Nhà nước không can thiệp hoặc xử phạt nhưng cũng không công
nhận họ là vợ chồng.)
Các lưu ý khi xem xét các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng:
Thứ nhất, trường hợp hai bên nam, nữ chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 và
vẫn đang chung sống với nhau mà một trong hai bên lại chung sống như vợ chồng với người khác Mặc dù trong quan hệ hôn nhân đầu tiên, hai bên nam, nữ chung sống với nhau như
vợ chồng không đăng ký kết hôn, nhưng nó thỏa mãn yếu tố của một cuộc hôn nhân được
Trang 10pháp luật công nhận và bảo vệ, bởi vậy họ phải tuân thủ nguyên tắc hôn nhân một vợ, một
chồng
Thứ hai, trường hợp hai bên nam, nữ chung sống như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến nay
mà không đăng ký kết hôn mà một trong các bên chung sống như vợ chồng với người khác
Kết luận: Nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng là một quy phạm pháp luật có tính
bắt buộc chung, mang tính phổ biến với các chủ thể tham gia quan hệ hôn nhân Mọi hành
vi xâm phạm tới nguyên tắc này đều bị xử lý theo quy định của pháp luật
3 Xử lý vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
3.1 Xử lý theo pháp luật Hôn nhân & Gia đình
Để bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ một chồng, tại Khoản 3 Điều 5 LHN&GĐ năm 2014
quy định: “Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm
minh, đúng pháp luật về hôn nhân và gia đình.” Trong đó:
Việc xử lí kết hôn trái pháp luật: được Tòa án thực hiện theo quy định của BLTTDS
Hủy kết hôn trái pháp luật là chế tài xử lý của LHN&GĐ với các trường hợp vi phạm nguyên
tắc hôn nhân một vợ một chồng LHN&GĐ đã quy định cụ thể về quyền yêu cầu, xử lý, hậu
quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật như sau:
Thứ nhất, về chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án hủy kết hôn trái pháp luật ( tại Điều 10
LHN&GĐ năm 2014 ) bao gồm: Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn - Cá nhân,
cơ quan, tổ chức như: Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác;
cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái
pháp luật; Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
Thứ hai, về việc xử lý hủy hôn trái pháp luật ( quy định tại Điều 11 LHN&GĐ năm 2014 và
theo BLTTDS năm 2015 ): lưu ý các trường hợp: trường hợp lấy nhiều vợ, nhiều chồng trước
ngày 13/01/1960 ở miền Bắc - trước ngày 25/03/1997 ở miền Nam và trường hợp cán bộ, bộ
đội miền Nam tập kết ra Bắc đã có vợ, có chồng mà tiếp tục lấy vợ, lấy chồng khác
Thứ ba, về hậu quả pháp lý của việc hủy hôn trái pháp luật( tại Điều 12 LHN&GĐ 2014):
Quan hệ nhân thân: tại Khoản 1 Điều 12 LHN&GĐ năm 2014 quy định: “Khi việc kết hôn
trái pháp luật bị hủy thì hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.” Hai bên
trong trường hợp kết hôn trái pháp luật, vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng thì
không được coi như vợ chồng Tuy nhiên, khi Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật thì hai