1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đề tài vận dụng nguyên tắc toàn diện của phép biện chứng duy vật trong hoạt động kinh tế đối ngoại

18 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 187,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, bằng góc nhìn toàn diện và khoa học, trên nền tảng chủ nghĩa triết học Mác Lê-nin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của mình, em lựa chọn đề tài “Vận dụng nguyên

Trang 1

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 2

B NỘI DUNG 3

I NGUYÊN TẮC TOÀN DIỆN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT 3

1 Phép biện chứng duy vật 3

a) Khái niệm 3

b) Mối liên hệ phổ biến 3

c) Nguyên tắc toàn diện 4

2 Biện chứng duy vật trong hoạt động kinh tế đối ngoại 4

II VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC TOÀN DIỆN CỦA PHÉP BCDV TRONG HOẠT ĐỘNG KTĐN 5

1 Những khái niệm cơ bản liên quan đến hoạt động kinh tế đối ngoại 5

a) Khái niệm về kinh tế đối ngoại 5

b) Cơ sở của kinh tế đối ngoại 5

c) Vai trò kinh tế đối ngoại 7

d) Chính sách kinh tế đối ngoại 8

2 Thực tiễn vấn đề kinh tế đối ngoại ở Việt Nam 9

a) Thực trang tình hình kinh tế đối ngoại ở Việt Nam hiện nay 9

b) Những vấn đề cần giải quyết 11

c) Chính sách & Cách giải quyết các vấn đề 12

C KẾT LUẬN 16

Trang 2

A MỞ ĐẦU

Từ xưa đến nay, triết học vốn là một nền tảng quan trọng và tất yếu của con người

về thế giới, về bản thân con người và vị trí của con người trong thế giới đó Có rất nhiều quan điểm triết học đa dạng và phong phú liên quan đến vấn đề vật chất và ý thức, nhưng chỉ có quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê-nin là đúng và đầy đủ nhất, đó là vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất quyết định ý thức và đồng thời ý thức tác động trở lại vật chất

Bên cạnh đó, ngày nay, vấn đề hội nhập kinh tế với các nước trên thế giới cũng đóng góp một phần ý nghĩa hết sức quan trọng, thậm chí là ý nghĩa chìa khóa giúp quyết định sự tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia Trong thời đại nền kinh tế mở và cạnh tranh như hiện nay, mỗi quốc gia cần phải nghiên cứu và tự tìm ra hướng đi đúng đắn cho nền kinh tế, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước, phù hợp với đeièu kiện thế giới và thời đại

Do vậy, bằng góc nhìn toàn diện và khoa học, trên nền tảng chủ nghĩa triết học Mác Lê-nin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của mình, em lựa chọn đề tài “Vận dụng nguyên tắc toàn diện của phép biện chứng duy vật trong hoạt động kinh tế đối ngoại” để phân tích và nghiên cứu về những thành tựu, hạn chế cũng như các giải pháp cho hoạt động kinh tế đối ngoại ở nước ta hiện nay

Bài tiểu luận này có thể còn những hạn chế và sai sót về mặt nội dung cũng như hình thức, kính mong các thầy cô giáo sửa chữa và góp ý để tiểu luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn !

Trang 3

B NỘI DUNG

I NGUYÊN TẮC TOÀN DIỆN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

1 Phép biện chứng duy vật

a) Khái niệm

Triết học duy vật biện chứng là một loại học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của tự nhiên, xã hội và tư duy thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học

Nó là sự thống nhất hữu cơ giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng, trong đó phép biện chứng đã được nhà triết học Hê-ghen trình bày một cách hệ thống và tương đối hoàn chỉnh Nhưng ở Hê-ghen phép biện chứng là duy tâm, cho đến sau này Mác và Ăng-ghen đã cải tạo phép biện chứng đó và sáng lập ra phép biện chúng duy vật

- Nội dung và đặc trưng cơ bản:

Phép biện chứng khẳng định rằng các sự vật hiện tưởng trên thế giới đều vận động

và có liên hệ với nhau, thông qua hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng: nguyên lý

về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển Nó coi một sự vật hay một hiện tượng trong trạng thái luôn phát triển và xem xét nó trong mối quan hệ với các sự vật

và hiện tượng khác

Bên cạnh đó, phép biện chứng duy vật cũng được xây dựng trên cơ sở lý thuyết với

6 cặp phạm trù cơ bản (cái riêng – cái chung, nguyên nhân – kết quả, tất nhiên – ngẫu nhiên, nội dung – hình thức, bản chất – hiện tượng, khả năng – hiện thực) và 3 quy luật phổ biến (quy luật lượng – chất, quy luật phủ định của phủ định, quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập)

b) Mối liên hệ phổ biến

Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng thế giới tồn tại như một thể thống nhất, các

sự vật hiện tượng cấu thành thế giới đó vừa tồn tại tách biệt với nhau, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau Cơ sở của sự liên hệ đó chính là tính thống nhất của thế giới vật chất

Mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng là khách quan, là vốn có của sự vật, hiện tượng Đồng thời mối liên hệ còn mang tính phổ biến bởi bất cứ sự vật hiện tượng nào cũng đều nằm trong các mối liên hệ với những sự vật, hiện tượng khác

Nhờ có mối liên hệ này, ta không chỉ có thể khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của sự liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng, các quá trình mà còn khẳng định được tính đa dạng của sự liên hệ qua lại: chúng có mối liên hệ bên trong và bên ngoài, có

mối liên hệ chung bao quát toàn bộ thế giới và bao quát một số lĩnh vực của thế giới,

có mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp mà trong đó sự tác động qua lại được thể hiện thông qua một hay một vài khâu trung gian, có mối liên hệ bản chất và liên hệ ngẫu

Trang 4

của sự vât Trong các mối quan hệ đó, nói chung, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ tất nhiên, mối liên hệ chủ yếu… giữ vai trò quyết định, tùy thuộc vào quan hệ hiện thực xác định

c) Nguyên tắc toàn diện

Từ việc nghiên cứu quan điểm biện chứng về mối liên hệ phổ biến của sự vật hiện tượng, ta rút ra ý nghĩa của phương pháp luận về quan điểm toàn diện trong nhận thức

Vì bất cứ sự vật, hiện tượng nào trên thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ với các

sự vật, hiện tượng khác và mối liên hệ rất đa dạng, phong phú, do đó khi nhận thức về

sự vật, hiện tượng, chúng ta phải có quan điểm toàn diện, tránh quan điểm phiến diện chỉ xét sự vật, hiện tượng ở một mối liên hệ đã vội vàng kết luận về bản chất hay về

tính quy luật của nó Cần phải xem xét hết các mặt, các yếu cấu thành nên sự vật, hiện tượng đó dù là mối liên hệ trực tiếp hay gián tiếp, bởi vì có trên cơ sở như vậy ta

mới có thể nhận thức đúng đắn về sự vật

Quan điểm toàn diện đòi hỏi để có được nhận thức đúng đắn về sự vật, hiện tượng, bên cạnh việc xem xét nó trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các

thuộc tính khác nhau của chính sự vật, hiện tượng đó, chúng ta phải đặt nó trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác Lênin đã từng viết “Muốn thực sự hiểu được

sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, các mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp của sự vật đó”

Đồng thời quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt từng mối liên

hệ, phải biết chú ý tới mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên… để hiểu rõ bản chất của sự vật và có phương pháp tác

động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của bản thân Đương nhiên, trong nhận thức và hành động, chúng ta cũng cần lưu ý tới sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các mối liên hệ ở những điều kiện nhất định

Hơn thế nữa, quan điểm toàn diện đòi hỏi, để nhận thức được sự vật cần phải xem

xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người Ta thấy được rằng bản thân các mối liên hệ không đứng yên trong điều kiện con người, thời đại và hoàn cảnh lịch sử nhất định, nó bao giờ cũng chỉ phản ánh được một số lượng hữu hạn

những mối liên hệ Bởi vậy, tri thức đạt được về sự vật cũng chỉ là tương đối, không đầy đủ trọn vẹn Ý thức được điều này, chúng ta mới tránh được việc tuyệt đối hóa những tri thức đã có về sự vật và tránh xem nó là những chân lí bất biến, tuyệt đối không thể bổ sung, không thể phát triển Để nhận thức được sự vật, cần phải nghiên cứu tất cả các mối liên hệ, cần thiết phải xem xét tất cả mọi mặt để đề phòng cho chúng

ta khỏi phạm sai lầm và sự cứng nhắc

Trang 5

2 Biện chứng duy vật trong hoạt động kinh tế đối ngoại

Kinh tế đối ngoại vốn là một bộ phận quan trọng, nắm giữ tổng thể các quan hệ kinh tế, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của một quốc gia với quốc gia hoặc tổ chức kinh

tế quốc khác, được thực hiện dưới nhiều hình thức, hình thành và cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế Chúng có tầm ảnh hưởng vô cùng to lớn trong việc liên kết các hoạt động ở mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội của các nước trên toàn cầu

Và trong tình hình thế giới ngày nay, vẫn luôn có rất nhiều vấn đề lý luận và thực tế phức tập và mới mẻ cần được giải quyết Nên việc nắm vững phép biện chứng duy vật

và vận dụng nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật giúp nhận thức được tính biện chứng của thế giới, tính tất yếu của công cuộc đổi mới và nhu cầu cấp bách phát triển kinh tế hiện nay Thực tiễn cho thấy là theo con đường với nền tảng của chủ nghĩa Mác Lê-nin, các nguyên tắc và phương pháp luận cơ bản của phép biện chứng duy vật nói riêng của Đảng Cộng sản Việt Nam đều rất thành công và có kết quả tốt đẹp

II.VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC TOÀN DIỆN CỦA PHÉP BCDV TRONG HOẠT ĐỘNG KTĐN

1 Những khái niệm cơ bản liên quan đến hoạt động kinh tế đối ngoại

a) Khái niệm về kinh tế đối ngoại

Kinh tế đối ngoại là tổng thể các hoạt động, các quan hệ kinh tế, tài chính, khoa học

kỹ thuật và công nghệ của một nước với bên ngoài; qua đó một nước tham gia vào phân công lao động quốc tế và trao đổi mậu dịch quốc tế

Lĩnh vực kinh tế đối ngoại được hình thành trên cơ sở sự phát triển của các mối quan hệ kinh tế quốc tế Các mối quan hệ kinh tế quốc tế thể hiện nội dung bên trong

và quyết định hình thức tồn tại cụ thể của các hoạt động kinh tế đối ngoại, chúng đan kết với nhay hình thành lĩnh vực kinh tế đối ngoại

Kinh tế đối ngoại có bốn hình thức cụ thể:

+ Ngoại thương

+ Đầu tư nước ngoài

+ Hợp tác và chuyển giao công nghệ

+ Một số dịch vụ thu ngoại tệ

Trong đó, ngoại thương có vị trí trung tâm và mang tính phổ biến nhất ở tất cả quốc gia Trong bài nghiên cứu này chúng ta cũng sẽ đi nghiên cứu sâu vào ảnh hưởng lên vấn đề ngoại thương của hoạt động kinh tế đối ngoại

Trang 6

b) Cơ sở của kinh tế đối ngoại

Hoạt động kinh tế đối ngoại xuất hiện và phát triển dựa trên các cơ sở sau:

Một là, sự hình thành và phát triển của thị trường quốc tế Hoạt động kinh tế là cơ

sở của sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội loài người Trong quá trình phát triển của mình, nhu cầu của con người ngày càng nảy sinh Để thỏa mãn nhu cầu của mình, lao động sản xuất của con người cũng ngày càng phát triển và sản phẩm lao động làm ra cũng ngày càng dồi dào hơn và dư thừa hơn Con người bắt đầu trao đổi sản phẩm cho nhau, kinh tế hàng hóa ra đời và ngày càng phát triển, thị trường cũng xyất hiện và ngày càng mở rộng Sự ra đời các quốc gia độc lập dẫn đến hình thành các thị trường độc lập thống nhất Do sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, sự phát triển của sản xuất ở các quốc gia khác nhau nên nhu cầu của thị trường một quốc gia không được thỏa mãn bởi sản xuấy trong nước đó Điều này dẫn đến các quốc gia phải có mối quan

hệ với nhau mới có thể có đủ các điều kiện thỏa mãn nhu cầu của quốc gia mình Các quan hệ kinh tế quốc bắt đầu hình thành

Hai là, phân công lao động quốc tế là cơ sở của sự phát triển các mối quan hệ kinh

tế quốc tế Phân công lao động quốc tế là quá trình tập trung việc sản xuất và cung cấp một hoặc một số loại sản phẩm và dịch vụ vào một quốc gia nhất định dựa trên những

ưu thế của quốc gia đó về điều kiện tự nhiên, kinh tế, khoa học, công nghê và xã hội để đáp ứng nhu cầu của quốc gia khác thông qua trao đổi quốc tế

Việc phân công lao động quốc tế dẫn đến việc chuyên môn hóa và hợp tác hóa quốc tế trong từng quốc gia và giữa các quốc gia với nhau Việc chuyên môn hóa diễn

ra theo các hướng chuyên môn khác nhau: giữa các ngành, theo từng sản phẩm và theo dây chuyền công nghệ

Trong lịch sử phân công lao động xã hội có các giai đoạn phát triển sau:

Đại phân công lao động lần thứ nhất diễn ra khi chăn nuôi tách khỏi trồng trọt Đây cũng là mầm mống cho sự xuất hiện của trao đổi hàng hóa và kinh tế hàng hóa

Đại phân công lao động lần thứ hai diễn ra khi thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp trở thành một ngành độc lập Thủ công nghiệp là mầm mống của công nghiệp sau này Với sự phân công này, trình độ chuyên môn hóa sản xuất đã trở nên sâu sắc hơn cùng với sự xuất hiện của tiền tệ đã làm thúc đẩy trao đổi hàng hóa và nền kinh tế hàng hóa phát triển hơn nữa

Đại phân công lao động lần thứ ba đánh dấu bởi sự xuất hiện của thương nghiệp Với sự hoạt động của thương nhân đã làm cho việc trao đổi hàng hóa phát triển mạn và vượt biên giới quốc gia Mậu dịch quốc tế ra đời và ngày càng phát triển mạnh mẽ

Sự ra đời và phát triển của công nghệ thông tin và internet làm cho các hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội mang tính toàn câu Điều này làm cho quan hệ kinh tế

Trang 7

giữa các quốc gia ngày càng gắn kết với nhau và ảnh hưởng lẫn nhau hơn như một chỉnh thể thống nhất Đây là giai đoạn toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới

c) Vai trò kinh tế đối ngoại

Để hội nhập kinh tế quốc tế thì đặc biệt phải phát triển kinh tế đối ngoại, điều này đúng cho mọi nước Vai trò của việc phát triển kinh tế đối ngoại là rất to lớn nó không những ảnh hưởng tới sự phát triển của nền kinh tế quốc daan mà còn ảnh hưởng tới lĩnh vực đời sống xã hội Sau đây là những vai trò của kinh tế đối ngoại

+ Thứ nhất: Phát triển kinh tế đối ngoại sẽ góp phần nối liền sản xuất và trao đổi trong nước với sản xuất và trao đổi quốc tế, nối liền thị trường trong nước với sản xuất và trao đổi quốc tế, nối liền thị trường trong nước với thị trường thế giới và khu vực Hoạt động kinh tế đối ngoại thúc đẩy qúa trình mở cửa và hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với thế giới, nó là một trong những phương thức đưa hàng hoá sản xuất tại Việt Nam xâm nhập thị trường nước ngoài thông qua thực hiện dự án đầu tư đã trở thành "cầu nối" là điều kiện tốt để Việt Nam nhanh chóng tiếp cận và tiến hành hợp tác được với nhiều quốc gia, nhiều tổ chức quốc tế, cũng như những trung tâm kinh tế, kỹ thuật, công nghệ cạnh tranh của thế giới Đầu tư nước ngoài nói riêng

và hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung tác động làm tăng tốc độ kim ngạch xuất khẩu, kim ngạch nhập khẩu Nó đưa hàng hoá nước ta xâm nhập thị trường thế giới, từ

đó kích thích sản xuất trong nước phát triển để đáp ứng được những yêu cầu của thị trường thế giới như về giá, chất lượng mẫu mã,

+ Thứ hai: Hoạt động kinh tế đối ngoại góp phần thu hút vốn đầu tư trực tiếp (FDI)

và vốn viện trợ chính thức từ các chính phủ và tổ chức tiền tệ quốc tế (ODA), thu hút khoa học kỹ thuật, công nghệ, khai thác và ứng dụng những kinh nghiệm xây dựng và quản lý nền kinh tế hiện đại vào nước ta Kể từ khi mở cửa, do hoạt động kinh tế đối ngoại được thúc đẩy phát triển nên số vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và vốn viện trợ chính thức từ các chính phủ và tổ chức tiền tệ quốc tế (ODA) vào nước ta tăng qua các năm Nguyên nhân là do chính phủ ta đã có những sửa đổi về luật pháp, chính sách đầu tư, nhằm tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài

Về vấn đề công nghệ, nguyên nhân do các nhà đầu tư nước ngoài bao giờ cũng đặt lợi nhuận và thời gian thu hồi vốn làm mục tiêu hàng đầu Do đó họ sẽ đưa những thiết

bị, công nghệ tương đối hiện đại phù hợp với trình độ và phát huy được hiệu quả ở Việt Nam Thực tế, những thiết bị, công nghệ của nước ngoài chuyển vào thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam lâu nay chưa phải là những loại thuộc thế hệ hiện đại nhất của thế giới nhưng phần lớn là hiện đại hơn những thiết bị có trước đây tại Việt Nam Những chế độ quản lý, tổ chức kinh doanh hiện đại được thực hiện ở Việt Nam Như vậy hoạt động kinh tế đối ngoại góp phần thu hút khoa học, kỹ thuật, công nghệ, trình độ quản lý nền kinh tế hiện đại, vào nước ta

Trang 8

+ Thứ ba: Góp phần tích luỹ vốn phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu lên hiện đại Đó là những nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và nguồn vốn viện trợ chính thức từ chính phủ, từ tổ chức tiền tệ quốc tế (ODA) Nó là nguồn vốn bổ sung quan trọng giúp Việt Nam phát triển một nền kinh tế cân đối bền vững theo yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá Vốn đầu tư xây dựng cơ bản của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn chiếm hơn 26,51% Đối với một nền kinh tế có quy mô như nước ta thì đây là một luợng vốn đầu tư không nhỏ, nó thực sự là nguồn vốn góp phần tạo ra sự chuyển biến không chỉ về quy mô đầu tư mà điều quan trọng hơn là nguồn vốn này có vai trò như "chất xúc tác - điều kiện" để việc đầu tư của ta đạt được hiệu quả nhất định

Tóm lại, hoạt động kinh tế đối ngoại đã góp phần chuyển biến nền kinh tế Việt Nam theo hướng của một nền kinh tế công nghiệp hoá Nó góp phần thu hút vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại ở nước ta Từ đó tạo ra công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, cải thiện đời sống nhân dân, đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới Tuy nhiên, để mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại có hiệu quả cần quán triệt các nguyên tắc: bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của mỗi quốc gia; và giữ vững độc lập, chủ quyền dân tộc và củng

cố định hướng xã hội chủ nghĩa đã chọn Các nguyên tắc này có mối quan hệ mật thiết với nhau và đều có tác dụng chi phối hoạt động kinh tế đối ngoại giữa các nước trong đó có nước ta Vì vậy, không được xem nhẹ nguyên tắc nào khi thiết lập, duy trì

và mở rộng kinh tế đối ngoại

d) Chính sách kinh tế đối ngoại

Chính sách kinh tế đối ngoại (hay còn được gọi là chính sách ngoại giao) là chiến lược do Nhà nước đưa ra nhằm bảo vệ lợi ích của quốc gia cùng với việc đạt được mục tiêu trên môi trường quan hệ quốc tế Những người nghiên cứu đưa ra các chính sách kinh tế đối ngoại sẽ là những nhà phân tích chính sách đối ngoại Do mức độ toàn cầu hóa theo xu hướng những năm gần đây nên các hoạt động xuyên quốc gia ngày càng được mở rộng và có nhiều tương tác với các chủ thể phi quốc gia Sự tương tác này cũng đánh giá cũng như giám sát những nỗ lực tối đa hóa lợi ích của ngoại giao kinh tế

đa phương Với mục tiêu là lợi ích quốc gia là tối quan trọng thì những chuyên gia quản lý Nhà nước về kinh tế đối ngoại cũng sẽ có các chính sách đối ngoại

Nhờ có các chính sách kinh tế đối ngoại, các quốc gia có thể có những điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp để mở rộng thị trường ra nước ngoài, tham gia chủ động, mạnh mẽ vào phân công lao động quốc tế và mậu dịch quốc tế, khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế trong nước, thu hút ngày càng nhiều nguồn lực từ bên ngoài như vốn, công nghê, trình độ và quản lý tiên tiến

Ví dụ là, các quốc gia thường thực hiện việc xúc tiến xuất khẩu như hỗ trợ việc nghiên cứu thị trường, cung cấp các thông tin tạo điều kiện cho việc tham gia các hội

Trang 9

chợ triển lãm quốc tế hoặc hỗ trợ việc đổi mới công nghệ để đẩy mạnh xuất khẩu Hỗ trợ lãi suất, vốn từ ngân sách cho hoạt động xuất nhập khẩu Chính sách thu hút đầu tư quốc tế như thông qua chính sách đầu tư hỗ trợ thuế sử dụng tài nguyên, chính phủ hỗ trợ vốn để doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài tăng cường hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tăng nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia

Ngoài ra nó cũng có chức năng bảo hộ, các chính sách sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước có khả năng đứng vững và vươn lên trong các hoạt động kinh doanh quốc tế, tăng cường sức cạnh tranh với các hàng hóa dịch vụ từ bên ngoài vào, tạo thêm việc làm và đạt tới quy mô tối ưu đối với các ngành kinh tế đáp ứng cho yêu cầu tăng cường lợi ích quốc gia

Ví dụ như trong các chính sách thương mại quốc tế có sử dụng công cụ hạn ngạch, các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật nhằm hạn chế lượng hàng hóa nhập khẩu, bảo vệ doanh nghiệp sản xuất hàng hóa thay thế nhập khẩu hoặc các ngành công nghiệp con trẻ trong nước

2 Thực tiễn vấn đề kinh tế đối ngoại ở Việt Nam

a) Thực trang tình hình kinh tế đối ngoại ở Việt Nam hiện nay

◦ Thành tựu

Những bước phát triển, hoàn thiện nhận thức và tư duy mới về đối ngoại trong quá trình đổi mới đã trở thành tiền đề để Đảng ta đã xây dựng và ngày càng hoàn chỉnh đường lối và chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới, chỉ đạo quá trình triển khai để từ đó thu được những thành tựu quan trọng về đối ngoại Các thành tựu chính bao gồm:

Một là, công tác đối ngoại đã góp phần tiếp tục duy trì, củng cố môi trường hòa bình ổn định, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ

XHCN Điều này được thể hiện rõ trên các phương diện sau:

(i) Chúng ta đã xử lý tốt và không ngừng đưa các mối quan hệ với các đối tác hàng đầu như Trung Quốc, Mỹ, Nga, Liên minh châu Âu (nhất là Đức), Nhật Bản… đi vào chiều sâu và ngày càng thực chất

(ii) Mặc dù thời gian qua, có nước đã tiến hành cải tạo đảo/đá trái phép ở biển Đông, đã tiến hành quân sự hóa ồ ạt các đảo nhân tạo đã chiếm đóng trái phép, đã có nhiều hành động chèn ép, vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của nước ta, nhưng chúng ta đã khéo léo, kiên trì, kiên quyết đấu tranh bằng nhiều hình thức, biện pháp phù hợp, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, vừa bảo vệ được độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, vừa giữ vững được môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước Chúng ta cũng đang cùng ASEAN và Trung Quốc tích cực tham gia đàm phán về COC, đẩy mạnh trao đổi về phân định vùng đặc quyền kinh tế với

Trang 10

Indonesia, tiếp tục duy trì các cơ chế đàm phán với Trung Quốc ở khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và tích cực nghiên cứu các khả năng hợp tác cùng phát triển

(iii) Mặc dù các nước lớn thời gian qua ra sức vận động, lôi kéo Việt Nam tham gia các tập hợp lực lượng mới, chúng ta đã khẳng định được đường lối đối ngoại độc lập,

tự chủ, xử lý tương đối cân bằng quan hệ với các nước lớn…

(iv) Chúng ta cũng đã xử lý tốt quan hệ với các nước láng giềng Trong thời gian từ

2013 – 2018, mặc dù tình hình ở Campuchia có nhiều biến động chính trị phức tạp, chúng ta vẫn kiên trì hòa hiếu, duy trì môi trường hòa bình, hữu nghị Việt Nam cũng đang tích cực tham gia và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong ASEAN, nhất là trong việc xây dựng ba cộng đồng, duy trì đoàn kết nội khối, duy trì vai trò trung tâm của ASEAN, duy trì và củng cố quan hệ của ASEAN với các đối tác bên ngoài

Hai là, công tác đối ngoại đã đẩy mạnh triển khai chủ trương tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, đưa quan hệ với các đối tác ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, phục vụ thiết thực cho sự phát triển của đất nước.Trong hơn hai năm (từ

2016 – nay), Việt Nam đã nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược với Nhật Bản, Australia; đối tác toàn diện với Myanmar, Canada, Hungary và New Zealand Đến nay Việt Nam

đã có 16 đối tác chiến lược, 12 đối tác toàn diện Chúng ta cũng đã tham gia 16 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có 10 hiệp định đã hoàn tất và đã có hiệu lực, 1 hiệp định chuẩn bị có hiệu lực, 1 hiệp định đã được ký kết và đang trong quá trình hoàn tất thủ tục để thông qua và 4 hiệp định đang trong quá trình đàm phán; thị trường cho hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam ngày càng mở rộng Đến nay đã có 71 nước công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường

Chúng ta tiếp tục tranh thủ được nhiều nguồn lực to lớn phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Từ sau Đại hội XII đến nay, chúng ta đã ký kết

và đi vào triển khai hàng trăm thỏa thuận hợp tác quốc tế ở các cấp từ trung ương tới địa phương Công tác thông tin, tư vấn tới nhiều địa phương, doanh nghiệp về tình hình kinh tế thế giới, chính sách kinh tế, thương mại của các nước, các đối tác đã được tăng cường, kịp thời và được các địa phương, doanh nghiệp đánh giá cao Các nguồn lực to lớn cho phát triển như đầu tư nước ngoài, viện trợ phát triển, hỗ trợ kỹ thuật tiếp tục được thu hút và duy trì Số lượng du khách tới Việt Nam không ngừng gia tăng Hợp tác quốc tế và hội nhập về y tế, giáo dục đào tạo, chuyển giao công nghệ, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu tiếp tục được thúc đẩy

Ba là, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao Bám sát tinh thần của Nghị quyết Đại hội XII về việc “Việt Nam là một thành

viên có trách nhiệm” và chủ động “nâng tầm ngoại giao đa phương”, Việt Nam đã tích cực, chủ động trong các hoạt động ngoại giao đa phương, đặc biệt là trong các vấn đề

có lợi ích sát sườn với Việt Nam Chúng ta không chỉ tham gia các hoạt động đa

Ngày đăng: 29/09/2021, 21:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bài viết “Tình hình Kinh tế đối ngoại ở nước ta hiện nay” của web Luật Minh Khuê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình Kinh tế đối ngoại ở nước ta hiện nay
4. Bài viết “Thực trạng công tác đối ngoại thời gian qua và những vấn đề đặt ra” của Hội đồng Lý luận Trung Ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng công tác đối ngoại thời gian qua và những vấn đề đặtra
5. Bài viết “Đối ngoại Việt Nam 2020” trên web Báo Chính Phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối ngoại Việt Nam 2020
6. Số liệu từ bài viết “Kết quả hoạt động thông tin đối ngoại và kế hoạch thực hiện năm 2021 của Việt Nam” trên web Báo Chính Phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả hoạt động thông tin đối ngoại và kế hoạchthực hiện năm 2021 của Việt Nam
1. Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin - NXB Giáo dục Khác
2. Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa - NXB Chính trị quốc gia Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w