1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

ĐIỀU TRA ổ DỊCH tả lợn CHÂU PHI và đưa RA BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG

21 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 87,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP – PHÂN HIỆU ĐỒNG NAI TIỂU LUẬN HỌC PHẦN DỊCH TỄ HỌC THÚ Y Tên đề tài: ĐIỀU TRA Ổ DỊCH TẢ LỢN CHÂU PHI VÀ ĐƯA RA BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG Ngành: Thú Y Lớp: K63B_ THÚ Y Khoa: Nông học Đồng Nai – Năm 2021 MỤC LỤC PHẦN I: MỞ ĐẦU. 1 PHẦN II: NỘI DUNG. 2 2.1. Lý thuyết chung. 2 2.1.1. Một số khái niệm dịch tễ học cơ bản. 2 2.1.2. Phương pháp thực hiện điều tra dịch tễ học. 2 2.1.3. Nội dung điều tra trong dịch tễ học. 3 2.2. Thực trạng Dịch tả heo Châu Phi. 4 2.2.1. Những nghiên cứu về bệnh dịch tả lợn châu phi. 4 2.2.2. Mô tả dịch tả lợn châu phi. 6 2.2.3. Phương pháp thực hiện điều tra ổ dịch Dịch tả heo Châu Phi. 9 2.2.4. Biện pháp phòng chống. 11 PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 13 3.1. Kết luận. 13 3.2. Đề nghị 13 TÀI LIỆU THAM KHẢO 14 PHẦN I: MỞ ĐẦU. Nông dân việt nam ở một số vùng, sản suất nông nghiệp vẫn chủ yếu là trồng lúa và chăn nuôi lợn. Những năm của thập kỷ 90, thời kỳ đổi mới, do các chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa và áp dụng các tiếnbooj kỹ thuật công nghệ sinh học về giống, phân bón, thức ăn, và các biện pháp phòng chống dịch nên sản lượng lúa và thịt đều tăng, trở thành hàng hóa tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Tuy vậy, do nhiều lý do, chăn nuôi lợn vẫn chịu những thiệt hại vì dịch bệnh và một trong những bệnh gây thiêt hại nhiều nhất là bệnh Dịch tả lợn. Dịch tả lợn châu Phi là một bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm do vi rút DNA sợi đôi thuộc họ Asfarviridae, giống Asfivirus gây ra, bệnh có đặc điểm lây lan nhanh trên loài lợn, bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi và mọi loại lợn, tỉ lệ chết cao, lên đến 100%. Chỉ thị số 04CTTTg, ngày 20022019 của Thủ tướng chính phủ về việc triển khai đồng bộ các giải pháp cấp bách khống chế bệnh dịch tả lợn châu Phi cho thấy, dịch bệnh tả lợn châu Phi đã xâm nhiễm vào Việt Nam và được phát hiện đầu tiên tại 02 hộ chăn nuôi tại 02 xã của tỉnh Hưng Yên và 06 hộ chăn nuôi tại 01 xã của tỉnh Thái Bình, bệnh có diễn biến rất phức tạp và lây lan nhanh. Trước những diễn biến phức tạp và nguy hiểm của dịch tả lợn châu Phi và khả năng lây lan rộng của bệnh gây thiệt hại về kinh tế của Việt Nam. Việc nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh lý của bệnh dịch tả lợn châu Phi nhằm đưa ra cách phòng chống, dập tắt dịch bệnh là hết sức cần thiết. Xuất phát từ tình hình và yêu cầu thực tế đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài: Điều tra ổ Dịch tả lợn châu Phi và đề xuất biện pháp phòng chống PHẦN II: NỘI DUNG. 2.1. Lý thuyết chung. 2.1.1. Một số khái niệm dịch tễ học cơ bản. Nguyễn Lương (1978): “Dịch tễ học là khoa học nghiên cứu về tần số xuất hiện của các bệnh trong các quần thể động vật, theo dõi diễn biến của các bệnh đó, đề xuất ra các giả thuyết về nguyên nhân bệnh học và phòng chống bệnh đó”. Martin (1987): “Dịch tễ học là khoa học nghiên cứu về tính thường xuyên, sự phân bố cùng các yếu tố quyết định đến sức khỏe và bệnh tật trong một quần thể động vật”. Định nghĩa dịch tễ học gần đây được chú ý nhất là của Dương Đình Thiện (1997): “Dịch tễ học là khoa học nghiên cứu sự phân bố tần số mắc hoặc tần số chết đối với các bệnh trạng cùng với những yếu tố quy định sự phân bố của các yếu tố đó”. Trong các định nghĩa trên đều có 2 thành phần liên quan chặt chẽ với nhau: Sự phân bố tần số mắc bệnh hoặc chết đối với một bệnh trạng nhất định được nhìn dưới 3 góc độ của dịch tễ học (Cơ thể động vật Không gian Thời gian), để có thể giải đáp một bệnh trạng nào đó: Phân bố như thế nào? Có mắc hay không? Mắc nhiều hay ít? Xảy ra trên loại động vật như thế nào: loài, giống, lứa tuổi, tính biệt…? Mắc ở vùng nào? Thời gian cụ thể ra sao? Các yếu tố quy định sự phân bố các bệnh trạng: Mọi yếu tố nội, ngoại sinh thuộc nhiều lĩnh vực, bản chất khác nhau có ảnh hưởng tới sự mất cân bằng sinh học đối với một cơ thể, khiến cơ thể đó không duy trì được tình trạng sức khỏe bình thường. Chúng ta phải tiến hành nghiên cứu các yếu tố quy định sự phân bố để từ đó giải thích các nguyên nhân, các yếu tố nghi ngờ và đưa ra biện pháp phòng ngừa đối với từng bệnh. Qua đây ta thấy cả hai thành phần của định nghĩa về dịch tễ học đều có liên quan chặt chẽ tới tần số mắc và tần số chết. Do đó phải định lượng các hiện tượng sức khoẻ của quần thể đó dưới các dạng số tuyệt đối bằng đo đếm chính xác và dưới các dạng tỷ số để có thể đem so sánh được. Nhìn chung định nghĩa về dịch tễ học có 2 nội dung chính đó là điều tra về nguyên nhân gây bệnh và có biện pháp, có hành động hiệu quả để chặn đứng sự lây lan của bệnh. Nên khi nghiên cứu dịch tễ học thì cần nắm vững 2 thành phần liên quan chặt chẽ trong dịch tễ học để tiến hành bước tiếp theo là lập luận dịch tễ học. 2.1.2. Phương pháp thực hiện điều tra dịch tễ học. Thông thường chúng ta thường sử dụng các phương pháp nghiên cứu dịch tễ học sau:  Dịch tễ học mô tả: Là phương pháp nghiên cứu mô tả bệnh và sự phân bố tần số của chúng dưới 3 góc độ Cơ thể động vật Không gian Thời gian trong mối quan hệ tương tác thường xuyên của cơ thể đó cùng các yếu tố nội, ngoại sinh để làm bộc lộ ra những yếu tố mang tính căn nguyên của các bệnh trong quần thể từ đó phác thảo, hình thành nên những giả thuyết giữa yếu tố nguy cơ và bệnh.  Dịch tễ học phân tích: Là phương pháp nghiên cứu phân tích các dữ liệu thu thập được từ dịch tễ học mô tả, đồng thời tìm cách giải thích những yếu tố căn nguyên của bệnh và tiến hành các phân tích, thống kê những thông tin thu được để xác định căn nguyên đặc thù. Nói một cách khác là kiểm định những giả thuyết được hình thành từ dịch tễ học mô tả, từ đó đề ra những biện pháp thích hợp để hạn chế ngăn ngừa bệnh.  Dịch tễ học can thiệp: Là các phương pháp nghiên cứu can thiệp được đặt ra với các biện pháp tác động vào yếu tố nguy cơ nhằm làm giảm khả năng mắc hoặc chết với bệnh đó.  Dịch tễ học thực nghiệm: Là các phương pháp nghiên cứu thử nghiệm được tiến hành để lập lại mô hình tương tác giữa bệnh và căn nguyên của chúng để đối chiếu, so sánh, kiểm định lại một cách chắc chắn và xác nhận tính đúng đắn của giả thuyết đã hình thành.  Kinh tế dịch tễ học: Là phương pháp nghiên cứu những thiệt hại do bệnh gây nên, nghiên cứu những phương pháp tác động sao cho với những chi phí tốn kém ít nhất, nhưng lại có hiệu quả nhất cho việc phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm để khôi phục và phát triển chăn nuôi.  Dịch tễ học lý thuyết khái quát: Là phương pháp nghiên cứu xây dựng các mô hình lý thuyết của bệnh đã được nghiên cứu, trên cơ sở đó khái quát sự phân bố của bệnh cùng với những mối tương tác có căn nguyên của chúng, giúp cho việc hạn chế, ngăn ngừa khả năng phát triển, xu hướng gia tăng và sự phân bố rộng rãi của bệnh trong những quần thể tương tự khác. Các định nghĩa tổng quát trên là những phương hướng chiến lược của dịch tễ học, chúng quy định những phương pháp của dịch tễ học tương ứng mà chúng ta sẽ tiếp tục nghiên cứu với những nội dung cụ thể của nó trong các phương pháp điều tra, quan sát, mô tả, phân tích, thực nghiệm. 2.1.3. Nội dung điều tra trong dịch tễ học. Với những quan niệm và định nghĩa của Dịch tễ học đã nêu, dịch tễ học có mục tiêu khái quát là đề xuất được những biện pháp can thiệp hữu hiệu nhất để phòng ngừa, kiểm soát, hạn chế và thanh toán những tình trạng không có lợi cho sức khoẻ của động vật. Có mục tiêu chính sau: Nghiên cứu các quy luật phân bố của các bệnh, xác định căn nguyên của các hiện tượng bệnh lý xảy ra trên mỗi cơ thể và quần thể động vật. Tìm ra những yếu tố nguy cơ đặc thù cùng với những yếu tố nguy cơ nghi ngờ chi phối sự phát sinh và diến biến của bệnh trong những điều kiện nhất định theo không gian, thời gian. Đề xuất ra các biện pháp đúng đắn, hữu hiệu nhằm hạn chế, thu hẹp dần sự phân bố tần số của các bệnh, tiến tới thanh toán các bệnh đó trong quần thể động vật . Tuy nhiên để thực hiện các nhiệm vụ của dịch tễ học ta cần tiến hành các công việc sau: Giám sát dịch tễ học: Bằng cách thu thập các thông tin một cách liên tục, thường xuyên, nhanh chóng và có hệ thống. Sử dụng các thông tin đó để dự báo sự xuất hiện của một vấn đề nào đó liên quan đến dịch bệnh hoặc xác định các yếu tố có liên quan đến sự tiến triển của vấn đề đó. Điều tra dịch tễ học: Nhiệm vụ này bổ sung cho nhiệm vụ thứ nhất bằng cách thực hiện các cuộc điều tra dịch tễ học nhằm nghiên cứu thực tế các hoàn cảnh xuất hiện của một vấn đề có liên quan tới sức khỏe và dịch bệnh đồng thời phân tích các yếu tố quyết định vấn đề đó từ đó rút ra các kết luận và đưa ra các khuyến nghị nhằm kiểm soát và dự phòng vấn đề đặt ra. Đánh giá dịch tễ học: Sử dụng các phương tiện kỹ thuật tham gia vào việc đánh giá các chương trình dự phòng dịch bệnh cũng như các chiến lược phòng chống dịch bệnh và mọi sự can thiệp nhằm giảm bớt bệnh và tỷ lệ ốm, tỷ lệ chết. 2.2. Thực trạng Dịch tả heo Châu Phi. 2.2.1. Những nghiên cứu về bệnh dịch tả lợn châu phi. 2.2.1.1. Nguồn gốc. Năm 1921, bệnh dịch tả heo châu Phi lần đầu tiên xuất hiện tại Kenya, châu Phi và sau đó lây lan nhanh chóng, trở thành dịch bệnh địa phương tại nhiều nước châu Phi. Năm 1957, lần đầu tiên bệnh dịch tả lợn châu Phi được phát hiện và báo cáo tại châu Âu. Đến nay, dịch bệnh này đã xuất hiện ở nhiều nước châu Âu, trong đó có Armenia báo cáo bệnh xuất hiện vào năm 2007 và Azerbaijan vào năm 2008; loại bệnh nguy hiểm này cũng đã được báo cáo ở các nước châu Mỹ. Năm 2007, bệnh dịch tả heo châu Phi được báo cáo xảy ra ở dãy núi Caucasus giữa châu Âu và châu Á tại quốc gia Georgia. Đến nay, bệnh dịch tả lợn châu Phi là bệnh địa phương ở nhiều nước trên thế giới. Từ cuối năm 2017 đến nay, có 12 quốc gia (bao gồm: Trung Quốc, Liên bang Nga, Tiệp Khắc, Hunggari, Latvia, Moldova, Phần Lan, Rumani, Nam Phi, Ukraina và Zambia) báo cáo có Dịch tả lợn châu Phi. Trong năm 2018, nhiều nước thuộc châu Phi, châu Âu và châu Á đã ghi nhận các vụ dịch bệnh tả lợn châu Phi ở các đàn lợn. 2.2.1.2. Những nghiên cứu tại Việt Nam. Theo báo cáo về tình hình và công tác phòng, chống bệnh dịch tả châu Phi phục vụ Hội nghị trực tuyến triển khai các giải pháp cấp bách khống chế bệnh dịch tả lợn châu Phi, ngày 0432019 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, từ ngày 012 0332019, bệnh DTLCP xảy ra tại 202 hộ, 64 thôn, 33 xã, 14 huyện của 7 tỉnh, thành phố (Hưng Yên, Thái Bình, Hải Phòng, Thanh Hóa, Hà Nội, Hà Nam và Hải Dương); tổng số lợn bị mắc bệnh và tiêu hủy là 4.231 con, với tổng trọng lượng tiêu hủy hơn 297 tấn. Cụ thể tình hình dịch bệnh tại các địa phương như sau: Tại tỉnh Hưng Yên: Từ ngày 0102 0332019, bệnh DTLCP xảy ra tại 57 hộ, 12 thôn, 8 xã, 5 huyện. Toàn bộ 2.323 con lợn dương tính với bệnh đã được xử lý tiêu hủy bằng phương pháp chôn. Tại tỉnh Thái Bình: Từ ngày 1302 0332019, bệnh DTLCP xảy ra tại 101 hộ, 33 thôn của 15 xã, 3 huyện. Toàn bộ 1.118 con lợn dương tính với bệnh đã được xử lý tiêu hủy bằng phương pháp chôn. Tại thành phố Hải Phòng: Từ ngày 1802 0332019, bệnh DTLCP xảy ra tại 38 hộ, 15 thôn, 6 xã, 2 huyện. Toàn bộ 424 con lợn dương tính với bệnh đã được xử lý tiêu hủy bằng phương pháp chôn. Tại tỉnh Thanh Hóa: Từ ngày 2202 0332019, bệnh DTLCP xảy ra ở 01 hộ chăn nuôi tại xã Định Long, huyện Yên Định. Toàn bộ 226 con lợn dương tính với bệnh đã được xử lý tiêu hủy bằng phương pháp chôn. Tại thành phố Hà Nội: Từ ngày 2202 0232019, bệnh DTLCP đã được phát hiện tại 01 hộ chăn nuôi lợn rừng tại khu Đầm Lấm, phường Ngọc Thụy, Long Biên. Toàn bộ 25 con lợn rừng nuôi dương tính với bệnh đã được xử lý tiêu hủy bằng phương pháp chôn. Tại tỉnh Hà Nam: Từ ngày 2702 0232019, bệnh DTLCP đã được phát hiện tại 01 hộ chăn nuôi lợn rừng tại xã Văn Xã, huyện Kim Bảng. Toàn bộ 15 con lợn dương tính với bệnh đã được xử lý tiêu hủy bằng phương pháp chôn. Tại tỉnh Hải Dương: Từ ngày 013 0232019, bệnh DTLCP đã được phát hiện tại 03 hộ chăn nuôi lợn tại xã Hiến Thành, huyện Kim Môn. Toàn bộ 107 con lợn dương tính với bệnh đã được xử lý tiêu hủy bằng phương pháp chôn. Từ ngày 0102 2732019, đã có 476 xã của 91 huyện, thuộc 23 tỉnh, thành phố (Hưng Yên, Thái Bình, Hải Phòng, Thanh Hóa, Hà Nội, Hải Dương, Hà Nam, Hòa Bình, Điện Biên, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Ninh Bình, Nam Định, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Sơn La, Nghệ An, Bắc Ninh, Thừa Thiên Huế, Lai Châu, Bắc Giang, Quảng Trị, Vĩnh Phúc) xuất hiện dịch tả lợn châu Phi, làm 73.000 con lợn bị nhiễm bệnh và phải tiêu hủy (Theo báo cáo nhanh tình hình bệnh dịch tả lợn châu Phi trên đàn lợn của Sở Nông nghệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh). Theo Cục Thú y từ đầu tháng 22019 đến ngày 1122020, bệnh DTLCP đã xảy ra tại 8.548 xã thuộc 667 huyện của 63 tỉnh, thành phố với tổng số lợn tiêu hủy là 5.988.697 con; với tổng trọng lượng là 342.091 tấn (chiếm khoảng 9% tổng trọng lượng của cả nước). Trong đó, tháng 122019 đã buộc tiêu hủy 38.172 con, giảm 97% so với tháng 52019 (tháng cao điểm buộc phải tiêu hủy hơn 1,27 triệu con lợn); tháng 12020 buộc tiêu hủy 12.037 con (giảm 99% so với tháng 52019); tháng 22020 (đến ngày 1122020) buộc phải tiêu hủy 6.209 con. Do bệnh chưa có vắc xin phòng bệnh nên tỷ lệ chết 100%, vì vậy cần phải có công tác phòng chống bệnh tốt. Những thông tin về dịch tễ bệnh vẫn thường xuyên được các cơ quan có chức năng báo cáo, điều này càng khẳng định thêm về tình hình diễn biến của bệnh DTLCP ở nước ta vẫn còn rất phức tạp và đang là vấn đề cần quan tâm, nó gây thiệt hại đáng kể cho chăn nuôi lợn trên diện rộng. 2.2.2. Mô tả dịch tả lợn châu phi. 2.2.2.1. Dịch tả lợn Châu Phi là gì? Dịch tả lợn Châu Phi là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do virus African swine fever virus (ASFV) gây ra. Bệnh có đặc điểm lây lan nhanh trên loài lợn, ở tất cả các loại lợn với tỷ lệ chết cao, lên đến 100%. Bệnh lây truyền qua các đàn lợn thông qua việc tiếp xúc với máu, dịch nhầy của lợn bệnh. 2.2.2.2. Virus Dịch tả lợn châu Phi: Là virus có gen di truyền dạng ADN, có sức đề kháng cao, có thể tồn tại lâu trong chất tiết, dịch tiết, trong xác động vật, trong thịt lợn và các chế phẩm từ thịt lợn như xúc xích, giăm bông, salami đây là đặc điểm khiến cho virus này trở nên nguy hiểm đối với lợn. Virus có khả năng chịu được nhiệt độ thấp trong thời gian dài 3 – 6 tháng, đặc biệt là trong các sản phẩm thịt lợn sống hoặc nấu ở nhiệt độ không cao, virus có thể bị tiêu diệt ở nhiệt độ 56oC trong 70 phút hoặc ở 600C trong 20 phút. Virus sống trong máu đã phân hủy được 15 tuần; trong máu khô 70 ngày; trong phân ở nhiệt độ phòng 11 ngày, trong máu lợn ở nhiệt độ 4oC 18 tháng; trong thịt dính xương ở nhiệt độ 39oC 150 ngày; trong giăm bông 140 ngày. Vi rút dịch tả heo Châu Phi có trong máu, cơ quan, dịch bài tiết từ heo nhiễm bệnh dịch tả heo Châu Phi; lây nhiễm qua đường hô hấp và tiêu hóa, thông qua sự tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với các vật thể nhiễm vi rút như: chuồng trại, phương tiện vận chuyển, dụng cụ, đồ dùng, quần áo… nhiễm vi rút. Vi rút dịch tả heo Châu Phi có sức đề kháng cao, tồn tại dai dẳng trong cơ thể heo, thịt heo, sản phẩm của heo, đặc biệt là thịt heo đông lạnh. Bệnh dịch tả heo Châu Phi có thời gian ủ bệnh từ 315 ngày, ở thể cấp tính thời gian ủ bệnh chỉ từ 34 ngày. Tỷ lệ chết cao đến 100%. Heo nhiễm vi rút thể mãn tính thường không có triệu chứng, nhưng chúng sẽ là vật chủ mang vi rút dịch tả heo Châu Phi trong suốt cuộc đời. 2.2.2.3. Dịch tễ học dịch tả heo Châu Phi. Trong điều kiện tự nhiên chỉ có lợn nhà và lợn rừng mẫn cảm với vi rút gây bệnh. Lợn rừng có sức đề kháng tốt và qua chọn lọc từ nhiên, chúng ít ốm và chết vì bệnh, nhưng lại là nguồn bệnh nguy hiểm cho lợn nhà. Những loài lợn hoang dã này đóng vai trò là vật chủ chứa ASFV ở châu Phi. Lợn nhà, đặc biệt là lợn thả rông rất dễ bị nhiễm bệnh thông qua tiếp xúc trực tiếp hoặc từ phân, nước tiểu của lợn rừng hoặc từ chó, mèo, các vật dụng, kể cả con người bằng cách này hay cách khác đã tiếp xúc với mầm bệnh, mang và phát tán mầm bệnh. Các động vật thí nghiệm như chuột, thỏ,… không bị bệnh dịch tả lợn châu Phi. Các loại côn trùng như ruồi, muỗi, ký sinh trùng đều là vật mang trùng và lây nhiễm cho lợn nhà. Bệnh có thể xảy ra quanh năm. Lợn nhà ở mọi lứa tuổi đều dễ dàng bị bệnh. Quá trình gây lệnh và lây lan virus Dịch tả lợn châu Phi Vi rút DTLCP xâm nhập vào cơ thể theo nhiều con đường khác nhau. Qua đường hô hấp và tiêu hóa. Lây trực tiếp do nhốt chung con bệnh và con khỏe. Lây gián tiếp qua nước tiểu, đất, nước, thức ăn có nhiễm mầm bệnh, thức ăn dư thừa, thú sản, các dụng cụ chăn nuôi, dụng cụ thú y, người chăn nuôi, phương tiện chuyên chở ... Bằng gây bệnh thực nghiệm, các nhà khoa học đã chứng minh: chỉ 24h sau khi gây nhiễm đã có thể tái phân lập vi rút ở hạch lâm ba vùng cổ, họng, … 48h ở gan, lách, phổi và sau 3 7 ngày có thể phân lập vi rút ở mọi nơi trong cơ thể lợn. Điều đó nói lên rằng ngay sau khi thâm nhập vào cơ thể lợn, vi rút đã tự nhân lên rất nhanh chóng, lùa vào đường huyết và gây nhiễm trùng huyết rất nặng lợn sốt cao tới 42 độ C. Vi rút di trú đến tất cả các cơ quan, tổ chức của cơ thể. Tại đó chúng gây ra các ổ viêm xuất huyết, hoại tử. Vì thế, khi xét nghiệm, chúng ta thấy các thành mạch máu bị thoái hóa, xung quanh có rất nhiều bạch cầu đơn nhân tập trung. Các tổ chức của hạch lâm ba, gan, lách, thận, phổi thay đổi nhanh chóng, các biểu hiện đều thuộc về viêm xuất huyết, hoại tử. Điểm nổi bật và đặc trưng của bệnh dịch tả lợn châu Phi là hiện tượng tan rã nhân bạch cầu, giảm lượng bạch cầu tổng số và bạch cầu ái toan đồng thời gây tụ huyết nặng làm tắc nghẽn mạch máu ngoại vi gây thâm tím da phần lớn cơ thể. 2.2.2.4. Triệu chứng. Lợn bị nhiễm bệnh DTLCP có nhiều triệu chứng, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh. Lợn bệnh biểu hiện các triệu chứng không khác biệt với triệu chứng của bệnh dịch tả lợn cổ điển. Do đó, việc chẩn đoán bệnh DTLCP khó có thể xác định và phân biệt được bằng các triệu chứng lâm sàng, cần lấy mẫu gửi phòng thí nghiệm để xét nghiệm phát hiện vi rút DTLCP. Thể quá cấp tính (Peracute) là do vi rút có độc lực cao, lợn sẽ chết nhanh, không biểu hiện triệu chứng hoặc lợn sẽ nằm và sốt cao trước khi chết. Thể cấp tính (Acute): là do vi rút có độc lực cao gây ra, lợn sốt cao (40,5 420C. Trong 2 3 ngày đầu tiên, giảm bạch cầu và giảm tiểu cầu. Lợn không ăn, lười vận động, ủ rũ, nằm chồng đống, lợn thích nằm chỗ có bóng râm hoặc gần nước. Lợn có biểu hiện đau vùng bụng, lưng cong, di chuyển bất thường, một số vùng da trắng chuyển sang màu đỏ, đặc biệt là ở vành tai, đuôi, cẳng chân, da phần dưới vùng ngực và bụng, có thể có màu sẫm xanh tím. Trong 1 2 ngày trước khi con vật chết, có triệu chứng thần kinh, di chuyển không vững, nhịp tim nhanh, thở gấp, khó thở hoặc có bọt lẫn máu ở mũi, viêm mắt, nôn mửa, tiêu chảy đôi khi có lẫn máu hoặc có thể táo bón, phân cứng đóng viên có kích thước nhỏ, có chất nhầy và máu. Lợn sẽ chết trong vòng 6 13 hoặc 20 ngày. Lợn mang thai có thể sảy thai ở mọi giai đoạn. Tỷ lệ chết cao lên tới 100%. Lợn khỏi bệnh hoặc nhiễm vi rút thể mạn tính thường không có triệu chứng, nhưng chúng sẽ là vật chủ mang vi rút dịch tả lợn châu Phi trong suốt cuộc đời. Thể á cấp tính (Subacute) gây ra bởi vi rút có độc tính trung bình. Chủ yếu được tìm thấy ở châu Âu, lợn biểu hiện triệu chứng không nghiêm trọng. Lợn sốt nhẹ hoặc sốt lúc tăng lúc giảm, giảm ăn, sụt cân, ủ rũ, viêm toàn bộ phổi nên khó thở, ho có đờm, phổi có thể bội nhiễm vi khuẩn kế phát, viêm khớp, vận động khó khăn. Bệnh kéo dài 5 30 ngày, nếu máu ứ trong tim (cấp tính hoặc suy tim) thì lợn có thể chết, lợn mang thai sẽ sảy thai, lợn chết trong vòng 15 45 ngày tỷ lệ chết khoảng 30 70%. Lợn có thể khỏi hoặc bị bệnh mạn tính. 2.2.2.5. Bệnh tích. Thể cấp tính: Xuất huyết nhiều ở các hạch lympho, dạ dày, gan và thận. Thận có xuất huyết điểm, lá lách to có nhồi huyết. Da có màu tối và phù nề, da vùng bụng và chân có xuất huyết. Có nhiều nước xung quanh tim và trong xoang ngực hoặc bụng, có các điểm xuất huyết trên nắp thanh quản, bàng quang và bề mặt các cơ quan bên trong; phù nề trong cấu trúc hạch lâm ba của đại tràng và phần tiếp giáp với túi mật, túi mật sưng. Thể mạn tính: Có thể gặp sơ cứng phổi hoặc có các ổ hoại tử hạch, hạch phổi sưng, viêm dính màng phổi. 2.2.3. Phương pháp thực hiện điều tra ổ dịch Dịch tả heo Châu Phi. 2.2.3.1. Phương pháp xét nghiệm mẫu. Để xác định vi rút DTLCP: dùng huyết thanh và mẫu bệnh phẩm (hạch lâm ba, phủ tạng như lách, thận...) của lợn nghi mắc bệnh DTLCP. a. Phương pháp lấy mẫu. Phương pháp lấy mẫu huyết thanh: Dùng bơm tiêm loại 10 ml đã được tráng chất chống đông EDTA 0,5% hoặc Heparin hút 3 ml máu từ tĩnh mạch cổ lợn đang ốm, sốt, sau đó hút pittong ra đến 5 ml, bẻ gập đầu kim và đậy nắp kim lại. Mẫu được bảo quản ở nhiệt độ 4oC Phương pháp lấy mẫu bệnh phẩm: Thu thập mẫu bệnh phẩm ở những con lợn chết theo hướng dẫn của Cục Thú y tại công văn số 687TYDT ngày 1942019 và tuân thủ các quy tắc an toàn sinh học theo hướng dẫn của OIE để tiến hành xét nghiệm vi rút. Loại mẫu bệnh phẩm là các hạch lâm ba (lympho) bẹn, hạch dưới hàm hoặc phủ tạng như lách, thận. Mẫu được bảo quản trong túi nilon hoặc lọ đựng bệnh phẩm vô trùng, tất cả được đặt trong thùng bảo ôn và vận chuyển trong điều kiện lạnh từ 20 độ C đến 80 độ C. Mẫu bệnh phẩm gửi đến phòng thí nghiệm trong vòng 24 giờ sau khi lấy, kèm theo phiếu gửi bệnh phẩm, nếu quá thời gian đó, bệnh phẩm phải được bảo quản ở nhiệt độ đông băng. Huyết thanh bảo quản ở nhiệt độ từ 40oC đến 80oC tối đa trong 7 ngày. Lưu mẫu bệnh phẩm ở nhiệt độ 20oC đến 80oC. b. Phương pháp xét nghiệm. Để phát hiện bệnh DTLCP chủ yếu dùng phương pháp realtime PCR Phương pháp realtime PCR phát hiện vi rút DTLCP theo khuyến cáo của OIE (2016). Các bước thực hiện sử dụng nồng độ như sau: + Mồi sử dụng ở nồng độ 20 µM + Đoạn dò sử dụng ở nồng độ 5 µM Tiến hành phản ứng realtime PCR + Sử dụng cặp mồi đã chuẩn bị trên và bộ kít thương mại, pha hỗn hợp phản ứng (Master mix) và cài đặt chu trình nhiệt theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Có thể áp dụng kít Master mix Platinum® Quantitative PCR SuperMix – UDG, Cat. No.: 11730017 của hãng Invitrogen (nếu áp dụng kít khác có thể thay đổi công thức master mix). + Lượng hỗn hợp nhân gen dùng cho 1 phản ứng. + Sau khi chuẩn bị xong nguyên liệu Master mix tiến hành: + Cho 20 µl hỗn hợp Master mix vào ống PCR 0,2 ml. + Cho 5 µl DNA dương chuẩn của vi rút ASF có giá trị Ct đã biết trước vào ống PCR đối chứng dương + Cho 5 µl nước tinh khiết, không có nuclease vào ống PCR đối chứng âm + Cho 5 µl DNA của mẫu vừa tách chiết vào ống PCR + Đặt ống PCR vào máy realtime PCR. Lưu ý: Phản ứng realtime PCR phải bao gồm: mẫu kiểm tra, mẫu đối chứng dương và mẫu đối chứng âm. + Chu trình nhiệt chạy phản ứng theo kít Platinum® Quantitative PCR SuperMix– UDG, Cat. No.: 11730017. Chú thích: Mẫu và nguyên liệu cho phản ứng realtime PCR cần đặt trong khay đá lạnh trong suốt quá trình chuẩn bị hỗn hợp phản ứng. Đọc kết quả: + Kết quả của phản ứng realtime PCR được xác định dựa vào chu kỳ ngưỡng (Cycle threshold: Ct). + Phản ứng được công nhận khi: mẫu đối chứng dương tính (được chuẩn độ trước) phải có giá trị Ct tương đương giá trị Ct đã biết (± 2 Ct), mẫu đối chứng âm không có Ct. + Với điều kiện phản ứng: • Mẫu dương tính khi giá trị Ct < 40 • Mẫu âm tính khi không có giá trị Ct • Mẫu nghi ngờ khi giá trị 40 ≤ Ct ≤ 45. Đánh giá kết quả: Mẫu có vi rút gây bệnh dịch tả lợn châu Phi khi kết quả realtime PCR dương tính. Với những mẫu nghi ngờ cần được thực hiện lại xét nghiệm hoặc sử dụng phương pháp xét nghiệm khác để khẳng định kết quả. 2.2.3.2. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm bệnh lý của bệnh. Kiểm tra biểu hiện lâm sàng: Chúng tôi sử dụng phương pháp chẩn đoán cơ bản là quan sát những biểu hiện của lợn như: đo nhiệt độ, biểu hiện một số vùng da dưới ngực và bụng có màu khác thường, di chuyển không vững, tiêu chảy ... Phương pháp xét nghiệm máu để xác định một số chỉ số huyết học của lợn bị bệnh DTCP và lợn khỏe: Số lượng hồng cầu, bạch cầu, hàm lượng huyết sắc tố và công thức bạch cầu của lợn bệnh và lợn khỏe được xác định bằng máy PCE 210 và XP 100 tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) tỉnh Quảng Ninh. Phương pháp xác định bệnh tích đại thể, vi thể + Phương pháp xác định bệnh tích đại thể: Mổ khám lợn bị bệnh DTLCP (có biểu hiện lâm sàng của bệnh DTLCP), quan sát bằng mắt thường bệnh tích tại các cơ quan nội tạng có biểu hiện đặc trưng như: lá lách, ruột, tim, hạch..., chụp ảnh những vùng có bệnh tích điển hình. + Nghiên cứu biến đổi bệnh lý vi thể bằng phương pháp làm tiêu bản tổ chức học theo quy trình tẩm đúc parafin, nhuộm Hematoxilin eosin, đọc kết quả dưới kính hiển vi quang học Labophot 2 và chụp ảnh bằng máy ảnh gắn trên kính hiển vi. Phương pháp làm tiêu bản vi thể các mẫu bệnh phẩm có bệnh tích đại thể theo thứ tự các bước sau: + Lấy bệnh phẩm: lá lách, hạch màng treo ruột, thận có biểu hiện bệnh. + Cố định bằng dung dịch Formol 10%. + Sau khi cố định, rửa tổ chức dưới vòi nước chảy nhẹ từ 12 24 giờ để loại bỏ Formol có trong tổ chức. + Khử nước: Dùng cồn tuyệt đối để rút nước trong bệnh phẩm ra. + Làm trong tiêu bản: Ngâm bệnh phẩm qua hệ thống Xylen. + Tẩm parafin: Ngâm bệnh phẩm đã làm trong vào các cốc đã đựng parafin nóng chảy, để ở tủ ấm nhiệt độ 560C. + Đổ Block: Rót parafin nóng chảy vào khuôn giấy rồi đặt miếng tổ chức (bệnh phẩm) đã tẩm parafin vào. Khi parafin đông đặc hoàn toàn thì bóc khuôn. Sửa lại Block cho vuông vắn. + Cắt và dán mảnh: Cắt bệnh phẩm trên máy cắt microtocom, độ dày mảnh cắt 3 4 µm. Dán mảnh cắt lên phiến kính bằng dung dịch Mayer (lòng trắng trứng gà 1 phần, glyxeril 1 phần; 1 ml hỗn hợp trên pha trong 19 ml nước cất). + Nhuộm tiêu bản bằng phương pháp Hematoxilin eosin. Phương pháp như sau: Tẩy nến bằng Xylen, sau đó ngâm tiêu bản tổ chức vào cồn Ethanol 96% trong 5 phút. Tiêu bản tổ chức được rửa dưới dòng nước chảy nhẹ trong 5 phút và nhuộm Hematoxilin trong 5 phút, sau đó lại rửa nước trong 15 phút và nhuộm Eosin trong 1 2 phút. Rửa dưới dòng nước chảy nhẹ, làm khô tiêu bản trong dung dịch cồn có nồng độ tăng dần 96% đến 100% với thời gian giảm dần từ 5 phút đến 2 phút. + Gắn lamen bằng Baume Canada, dán nhãn và đọc kết quả dưới kính hiển vi quang học. 2.2.4. Biện pháp phòng chống. 2.2.4.1. Biện pháp vô hiệu hóa vi rút. Nhiệt độ: nhiệt độ có thể vô hiệu hóa vi rút là trên 60 độ C trong 30 phút. Độ pH: PH< 3,9 hoặc >11,5 có thể vô hiệu hóa vi rút không có huyết thanh. Huyết thanh tăng độ đề kháng của vi rút, ví dụ ở mức pH 13,5 vi rút có thể chống chọi trong 21 giờ không có huyết thanh và tới 7 ngày có huyết thanh. Hóa chất thuốc sát trùng: vi rút mẫn cảm đối với ê te, clor. Vi rút bị vô hiệu hóa bởi Natri hydroxid (xut) 81000, hypochlorite 2.3% clorin (30 phút) và formalin 31000 (30’), ortophenyphenol 3% (30’), hỗn hợp i ốt. Virkon S được khuyến cáo như thuốc sát trùng thương mại ngăn vi rút ASF. 2.2.4.2. Những biện pháp ngăn ngừa ASF. Cho tới nay chưa có thuốc hoặc vắc xin ngừa ASF. Vì thế để đánh giá việc ngăn ngừa bệnh này cần thực hiện theo quy trình ngăn ngừa, kiểm soát dịch bệnh như sau: Giám sát chính xác tình hình dịch tễ. Hướng dẫn một cách hệ thống về điều tra dịch tễ trong trường hợp có dịch xảy ra với nguồn gốc truy xuất từ trên xuống và có thể từ dưới lên của việc lây nhiễm. Áp dụng những biện pháp an toàn sinh học nghiêm ngặt để kiểm tra sự thích ứng đối với những nhóm mục tiêu đặc biệt (như nhà máy thức ăn, trại heo, người săn bắn, tài xế xe tải, v.v.) Kiểm soát nghiêm ngặt hệ thống cung cấp và tập trung vào kiểm tra ngăn ngừa để tránh nhiễm từ nguyên liệu nhiễm và khâu xử lý nhiệt. Tránh để đàn heo nuôi tiếp xúc trực tiếp với heo rừng, với bọ và các động vật hoang dã khác: nên có hàng rào trong khu trại, nhà máy, cơ sở và phải kiểm soát thú nuôi. Ngừng vận chuyển và kiểm soát tinh, phôi để tránh việc phát tán, lây truyền bệnh. Xây dựng khu kiểm soát xung quanh cơ sở nhiễm bệnh và giám sát việc vận chuyển heo trong khu vực. Xử lý loại bỏ heo bệnh trong trại. Chú ý cần tránh những heo từ việc săn bắn hoặc heo rừng vì chúng có nguy cơ gây nhiễm bệnh cao hơn. Thịt heo và xác gia súc phải được hủy bằng cách đốt, chôn và cơ sở nhiễm bệnh phải xử lý sát trùng toàn diện, đầy đủ các loại thuốc sát trùng. 2.2.4.3. Những biện pháp an toàn sinh học cần thực hiện tại trại. Tránh tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp giữa heo và heo rừng, heo hoang dã từ những cơ sở khác nhau Kiểm soát việc sắp xếp vận chuyển heo và gia súc mới đến vào trại Chimgà hoang dã, côn trùng và súc vật khác nên nuôi nhốt tránh xa những trang trại, tránh xa nguồn nước và nơi ăn của heo nuôi Chỉ sử dụng trang phục lao động và ủng dành riêng cho công việc tại trại Thay đồ và giày dép khi ra vào trại Không cho mượn, dùng chung dụng cụ dùng tại trại giữa các trại hoặc khu vực làng xóm với nhau. Nếu cần thiết thì phải thực hiện kỹ việc vệ sinh và khử trùng dụng cụ Xây dựng riêng khu vực sạch, khu nhiễm bẩn cho nhân viên trại Tránh tiếp xúc với những con heo khác và tham gia các hoạt động săn bắn trong vòng 48 giờ trước khi tiếp xúc với heo trại Những người và phương tiện không phận sự không được vào cơ sở chăn nuôi heo Mọi phương tiện vào trại cần được làm sát trùng ưu tiên và không được thăm trại khác trước đó Công tác sát trùng cần được thực hiện ở khu vực cổng và tại chuồng, sử dụng các loại thuốc sát trùng được EPA phê duyệt. Tại những khu vực có vấn đề, tránh sử dụng nông sản, cỏ rơm thu hoạch trong vùng trừ khi chúng được xử lý vô hoạt hóa vi rút ASF. Đảm bảo rằng điều kiện lưu trữ (không để tiếp xúc với heo rừng), trong một khoảng thời gian nhất định. Nếu có nghi ngờ về các nguyên liệu thô này, liên hệ Ban Chỉ đạo về Sức khỏe và An toàn Thực phẩm của Liên minh Châu Âu. Tránh tiếp xúc (trực tiếp hoặc gián tiếp) với phụ phẩm gia súc hoặc sản phẩm phế thải Dự trữ, nuôi trong nhà, hàng rào chuồng ổn định và cơ sở nơi dự trữ thức ăn Không được chuyển heo từ chợ bán gia súc về lại trại. Tuy nhiên, nếu cần đưa về trại thì heo cần phải được cách ly 14 ngày trước khi nhập đàn. PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 3.1. Kết luận. Lợn mắc bệnh dịch tả lợn châu Phi đều có triệu chứng lâm sàng: sốt cao trên 40oC; phân táo và tím tai; bỏ ăn; hậu môn có máu; ở lợn nái sảy thai. Lợn bị bệnh dịch tả lợn châu Phi có số lượng hồng cầu và hàm lượng huyết sắc tố giảm; số lượng bạch cầu tăng rõ rệt trong công thức bạch cầu. Lợn mắc bệnh dịch tả lợn châu Phi có biểu hiện tổn thương đại thể và vi thể đặc trưng tại một số cơ quan như: sung huyết, xuất huyết ở hạch lympho, phổi, ruột, lách, thận, gan; hiện tượng hoại tử tế bào, thoái hóa tế bào, thâm nhiễm tế bào xuất hiện tại hạch lympho, lách, thận. Ngoài ra, phổi có biểu hiện viêm phổi thùy, viêm phế quản phổi; tim nhão, xuất huyết, thoái hóa; túi mật sưng to, xuất huyết ở lớp màng thanh dịch. Để ngăn chặn, khống chế dập tắt dịch cần thực hiện tổng hợp, đồng bộ các giải pháp, huy động cả hệ thống chính trị tham gia; Đối với chăn nuôi, phải tuân thủ nghiêm ngặt các biện pháp an toàn sinh học có bổ sung chế phẩm vi sinh trong thức ăn để nâng cao sức đề kháng cho đàn lợn. 3.2. Đề nghị. Để ngăn chặn, tiến tới khống chế, dập tắt bệnh dịch tả lợn châu Phi trên địa bàn tỉnh chúng tôi có khuyến nghị sau: Áp dụng kết quả nghiên cứu của luận văn để phòng, chống bệnh dịch tả lợn châu Phi đạt hiệu quả cao, tăng thu nhập cho người chăn nuôi. Cần tiếp tục nghiên cứu bệnh dịch tả lợn châu Phi để có đủ cơ sở xây dựng chương trình phòng, chống bệnh thích hợp. Xây dựng vùng chăn nuôi an toàn, xa khu dân cư qua việc chăn nuôi theo hướng thâm canh, an toàn sinh học có bổ sung chế phẩm vi sinh, thường xuyên mở các lớp tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ chăn nuôi thú y thôn bản, chủ trang trại chăn nuôi. TÀI LIỆU THAM KHẢO Tài liệu tiếng việt. 1. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2019), Báo cáo tình hình và công tác phòng, chống bệnh dịch tả châu Phi (Hội nghị trực tuyến triển khai các giải pháp cấp bách khống chế bệnh Dịch tả lợn châu Phi, ngày 0432019), Hà Nội 2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2019), Công văn số 5319BNNTY ngày 1182020 về việc tổ chức triển khai phòng, chống Dịch tả lợn châu Phi, giai đoạn 2020 – 2025, Hà Nội 3. Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Quảng Ninh (2019), Công văn số 291BC CCCNTY ngày 0262019 về việc Báo cáo tình hình bệnh dịch tả lợn châu Phi trên địa bàn tỉnh, Quảng Ninh. 4. Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Quảng Ninh (2019), Công văn số 695BC CCCNTY ngày 02122019 về việc Báo cáo tình hình bệnh dịch tả lợn châu Phi trên địa bàn tỉnh, Quảng Ninh. 5. Chi cục Thú y vùng VI (2019), TCVN 840041:2019 (2019) Bệnh động vật Quy trình chẩn đoánPhần 41: bệnh dịch tả lợn châu Phi, Hà Nội. 6. Cục Thú y (2019), Công văn số 687TYDT ngày 1942019 về việc điều chỉnh hướng dẫn lấy mẫu xét nghiệm bệnh Dịch tả lợn châu Phi, Quảng Ninh. Tài liệu tiếng anh. 1. Alí Alejo, Tania Matamoros, Milagros Fuerra, Germán Andrés (2018), “A proteomic Atlas of the African Awine Fever virus Particle, Journal of Virology”, American Society for Microbiology, Dec, 2018 Volume 92, Issue 23 e01293 – 18. 2. Alonso C., Borca M., Dixon L., Revilla Y., Rodriguez F., Escribano J.M., and ICTV Report Consortium. (2018), “ICTV Virus Taxonomy Profilr: Asfarviridea”, Journal of General Virology, 99:613614; 3. Anonymous. (2012), “About a meeting of the Collegium of the Federal Service for Veterinary and Phytosanitary Surveillance (in Russian)” (available at http:www.fsvps.rufsvpsnews5123.html). 4. Agüero M, Fernández J, Romero L, Sánchez Mascaraque C, Arias M, Sánchez Vizcaíno JM. (2003). “Highly sensitive PCR assay for routine diagnosis of African swine fever virus in clinical samples”, J Clin Microbiol. 2003 Sep;41(9):44314434. 5. BeltránAlcrudo D., Arias M., Gallardo C., Kramer S. Penrith M.L. (2017), “African swine fever: detection and diagnosis A manual for veterinarians”, FAO Animal Production and Health Manual No. 19. Rome. Food and Agriculture Organization of the United Nations (FAO).

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP – PHÂN HIỆU ĐỒNG NAI

TIỂU LUẬN HỌC PHẦN DỊCH TỄ HỌC THÚ Y

Tên đề tài:

ĐIỀU TRA Ổ DỊCH TẢ LỢN CHÂU PHI

VÀ ĐƯA RA BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG

Ngành: Thú YLớp: K63B_ THÚ Y Khoa: Nông học

Đồng Nai – Năm 2021

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

PHẦN II: NỘI DUNG 2

2.1.Lý thuyết chung 2

2.1.1.Một số khái niệm dịch tễ học cơ bản 2

2.1.2 Phương pháp thực hiện điều tra dịch tễ học 2

2.1.3.Nội dung điều tra trong dịch tễ học 3

2.2.Thực trạng Dịch tả heo Châu Phi 4

2.2.1.Những nghiên cứu về bệnh dịch tả lợn châu phi 4

2.2.2.Mô tả dịch tả lợn châu phi 6

2.2.3.Phương pháp thực hiện điều tra ổ dịch Dịch tả heo Châu Phi 9

2.2.4.Biện pháp phòng chống 11

PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 13

3.1.Kết luận 13

3.2.Đề nghị 13

TÀI LIỆU THAM KHẢO 14

Trang 3

PHẦN I: MỞ ĐẦU.

Nông dân việt nam ở một số vùng, sản suất nông nghiệp vẫn chủ yếu là trồnglúa và chăn nuôi lợn Những năm của thập kỷ 90, thời kỳ đổi mới, do các chính sáchkhuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa và áp dụng các tiếnbooj kỹthuật công nghệ sinh học về giống, phân bón, thức ăn, và các biện pháp phòng chốngdịch nên sản lượng lúa và thịt đều tăng, trở thành hàng hóa tiêu thụ trong nước và xuấtkhẩu Tuy vậy, do nhiều lý do, chăn nuôi lợn vẫn chịu những thiệt hại vì dịch bệnh vàmột trong những bệnh gây thiêt hại nhiều nhất là bệnh Dịch tả lợn

Dịch tả lợn châu Phi là một bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm do vi rút

DNA sợi đôi thuộc họ Asfarviridae, giống Asfivirus gây ra, bệnh có đặc điểm lây lan

nhanh trên loài lợn, bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi và mọi loại lợn, tỉ lệ chết cao, lên đến100% Chỉ thị số 04/CT-TTg, ngày 20/02/2019 của Thủ tướng chính phủ về việc triểnkhai đồng bộ các giải pháp cấp bách khống chế bệnh dịch tả lợn châu Phi cho thấy,dịch bệnh tả lợn châu Phi đã xâm nhiễm vào Việt Nam và được phát hiện đầu tiên tại

02 hộ chăn nuôi tại 02 xã của tỉnh Hưng Yên và 06 hộ chăn nuôi tại 01 xã của tỉnhThái Bình, bệnh có diễn biến rất phức tạp và lây lan nhanh

Trước những diễn biến phức tạp và nguy hiểm của dịch tả lợn châu Phi và khảnăng lây lan rộng của bệnh gây thiệt hại về kinh tế của Việt Nam Việc nghiên cứu đặcđiểm dịch tễ bệnh lý của bệnh dịch tả lợn châu Phi nhằm đưa ra cách phòng chống,dập tắt dịch bệnh là hết sức cần thiết Xuất phát từ tình hình và yêu cầu thực tế đó, tôi

tiến hành thực hiện đề tài: "Điều tra ổ Dịch tả lợn châu Phi và đề xuất biện pháp phòng chống"

Trang 4

PHẦN II: NỘI DUNG.

2.1 Lý thuyết chung.

2.1.1 Một số khái niệm dịch tễ học cơ bản.

Nguyễn Lương (1978): “Dịch tễ học là khoa học nghiên cứu về tần số xuất

hiện của các bệnh trong các quần thể động vật, theo dõi diễn biến của các bệnh đó, đềxuất ra các giả thuyết về nguyên nhân bệnh học và phòng chống bệnh đó”

Martin (1987): “Dịch tễ học là khoa học nghiên cứu về tính thường xuyên, sự

phân bố cùng các yếu tố quyết định đến sức khỏe và bệnh tật trong một quần thể độngvật”

Định nghĩa dịch tễ học gần đây được chú ý nhất là của Dương Đình Thiện (1997): “Dịch tễ học là khoa học nghiên cứu sự phân bố tần số mắc hoặc tần số chết

đối với các bệnh trạng cùng với những yếu tố quy định sự phân bố của các yếu tố đó”

Trong các định nghĩa trên đều có 2 thành phần liên quan chặt chẽ với nhau:

- Sự phân bố tần số mắc bệnh hoặc chết đối với một bệnh trạng nhất định đượcnhìn dưới 3 góc độ của dịch tễ học (Cơ thể động vật - Không gian - Thời gian),

để có thể giải đáp một bệnh trạng nào đó: Phân bố như thế nào? Có mắc haykhông? Mắc nhiều hay ít? Xảy ra trên loại động vật như thế nào: loài, giống, lứatuổi, tính biệt…? Mắc ở vùng nào? Thời gian cụ thể ra sao?

- Các yếu tố quy định sự phân bố các bệnh trạng:

Mọi yếu tố nội, ngoại sinh thuộc nhiều lĩnh vực, bản chất khác nhau có ảnh hưởng tới

sự mất cân bằng sinh học đối với một cơ thể, khiến cơ thể đó không duy trì được tìnhtrạng sức khỏe bình thường Chúng ta phải tiến hành nghiên cứu các yếu tố quy định

sự phân bố để từ đó giải thích các nguyên nhân, các yếu tố nghi ngờ và đưa ra biệnpháp phòng ngừa đối với từng bệnh Qua đây ta thấy cả hai thành phần của địnhnghĩa về dịch tễ học đều có liên quan chặt chẽ tới tần số mắc và tần số chết

Do đó phải định lượng các hiện tượng sức khoẻ của quần thể đó dưới các dạng

số tuyệt đối bằng đo đếm chính xác và dưới các dạng tỷ số để có thể đem so sánhđược Nhìn chung định nghĩa về dịch tễ học có 2 nội dung chính đó là điều tra vềnguyên nhân gây bệnh và có biện pháp, có hành động hiệu quả để chặn đứng sự lây lancủa bệnh Nên khi nghiên cứu dịch tễ học thì cần nắm vững 2 thành phần liên quan

chặtchẽ trong dịch tễ học để tiến hành bước tiếp theo là lập luận dịch tễ học

2.1.2 Phương pháp thực hiện điều tra dịch tễ học.

Thông thường chúng ta thường sử dụng các phương pháp nghiên cứu dịch tễ họcsau:

Dịch tễ học mô tả:

Trang 5

Là phương pháp nghiên cứu mô tả bệnh và sự phân bố tần số của chúng dưới 3 góc độ

Cơ thể động vật - Không gian - Thời gian trong mối quan hệ tương tác thường xuyên

Trang 6

của cơ thể đó cùng các yếu tố nội, ngoại sinh để làm bộc lộ ra những yếu tố mang tínhcăn nguyên của các bệnh trong quần thể từ đó phác thảo, hình thành nên những giảthuyết giữa yếu tố nguy cơ và bệnh.

Dịch tễ học phân tích:

Là phương pháp nghiên cứu phân tích các dữ liệu thu thập được từ dịch tễ học mô tả,đồng thời tìm cách giải thích những yếu tố căn nguyên của bệnh và tiến hành các phântích, thống kê những thông tin thu được để xác định căn nguyên đặc thù Nói một cáchkhác là kiểm định những giả thuyết được hình thành từ dịch tễ học mô tả, từ đó đề ranhững biện pháp thích hợp để hạn chế ngăn ngừa bệnh

Kinh tế dịch tễ học:

Là phương pháp nghiên cứu những thiệt hại do bệnh gây nên, nghiên cứu nhữngphương pháp tác động sao cho với những chi phí tốn kém ít nhất, nhưng lại có hiệuquả nhất cho việc phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm để khôi phục và phát triểnchăn nuôi

Dịch tễ học lý thuyết khái quát:

Là phương pháp nghiên cứu xây dựng các mô hình lý thuyết của bệnh đã được nghiêncứu, trên cơ sở đó khái quát sự phân bố của bệnh cùng với những mối tương tác có cănnguyên của chúng, giúp cho việc hạn chế, ngăn ngừa khả năng phát triển, xu hướnggia tăng và sự phân bố rộng rãi của bệnh trong những quần thể tương tự khác Cácđịnh nghĩa tổng quát trên là những phương hướng chiến lược của dịch tễ học, chúngquy định những phương pháp của dịch tễ học tương ứng mà chúng ta sẽ tiếp tụcnghiên cứu với những nội dung cụ thể của nó trong các phương pháp điều tra, quansát, mô tả, phân tích, thực nghiệm

2.1.3 Nội dung điều tra trong dịch tễ học.

Với những quan niệm và định nghĩa của Dịch tễ học đã nêu, dịch tễ học có mụctiêu khái quát là đề xuất được những biện pháp can thiệp hữu hiệu nhất để phòng ngừa,kiểm soát, hạn chế và thanh toán những tình trạng không có lợi cho sức khoẻ của độngvật Có mục tiêu chính sau:

- Nghiên cứu các quy luật phân bố của các bệnh, xác định căn nguyên của cáchiện tượng bệnh lý xảy ra trên mỗi cơ thể và quần thể động vật

Trang 7

- Tìm ra những yếu tố nguy cơ đặc thù cùng với những yếu tố nguy cơ nghi ngờchi phối sự phát sinh và diến biến của bệnh trong những điều kiện nhất địnhtheo không gian, thời gian.

- Đề xuất ra các biện pháp đúng đắn, hữu hiệu nhằm hạn chế, thu hẹp dần sựphân bố tần số của các bệnh, tiến tới thanh toán các bệnh đó trong quần thểđộng vật

Tuy nhiên để thực hiện các nhiệm vụ của dịch tễ học ta cần tiến hành các côngviệc sau:

Giám sát dịch tễ học: Bằng cách thu thập các thông tin một cách liên tục,

thường xuyên, nhanh chóng và có hệ thống Sử dụng các thông tin đó để dự báo sựxuất hiện của một vấn đề nào đó liên quan đến dịch bệnh hoặc xác định các yếu

tố có liên quan đến sự tiến triển của vấn đề đó

Điều tra dịch tễ học: Nhiệm vụ này bổ sung cho nhiệm vụ thứ nhất bằng cách

thực hiện các cuộc điều tra dịch tễ học nhằm nghiên cứu thực tế các hoàn cảnh xuấthiện của một vấn đề có liên quan tới sức khỏe và dịch bệnh đồng thời phân tích cácyếu tố quyết định vấn đề đó từ đó rút ra các kết luận và đưa ra các khuyến nghị nhằmkiểm soát và dự phòng vấn đề đặt ra

Đánh giá dịch tễ học: Sử dụng các phương tiện kỹ thuật tham gia vào việc

đánh giá các chương trình dự phòng dịch bệnh cũng như các chiến lược phòng chống dịch bệnh và mọi sự can thiệp nhằm giảm bớt bệnh và tỷ lệ ốm, tỷ lệ chết.

2.2 Thực trạng Dịch tả heo Châu Phi.

2.2.1 Những nghiên cứu về bệnh dịch tả lợn châu phi.

2.2.1.1 Nguồn gốc.

Năm 1921, bệnh dịch tả heo châu Phi lần đầu tiên xuất hiện tại Kenya, châu Phi

và sau đó lây lan nhanh chóng, trở thành dịch bệnh địa phương tại nhiều nước châuPhi Năm 1957, lần đầu tiên bệnh dịch tả lợn châu Phi được phát hiện và báo cáo tạichâu Âu Đến nay, dịch bệnh này đã xuất hiện ở nhiều nước châu Âu, trong đó cóArmenia báo cáo bệnh xuất hiện vào năm 2007 và Azerbaijan vào năm 2008; loại bệnhnguy hiểm này cũng đã được báo cáo ở các nước châu Mỹ Năm 2007, bệnh dịch tảheo châu Phi được báo cáo xảy ra ở dãy núi Caucasus giữa châu Âu và châu Á tại quốcgia Georgia Đến nay, bệnh dịch tả lợn châu Phi là bệnh địa phương ở nhiều nước trênthế giới Từ cuối năm 2017 đến nay, có 12 quốc gia (bao gồm: Trung Quốc, Liên bangNga, Tiệp Khắc, Hunggari, Latvia, Moldova, Phần Lan, Rumani, Nam Phi, Ukraina vàZambia) báo cáo có Dịch tả lợn châu Phi

Trong năm 2018, nhiều nước thuộc châu Phi, châu Âu và châu Á đã ghi nhận các

vụ dịch bệnh tả lợn châu Phi ở các đàn lợn

Trang 8

2.2.1.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam.

Theo báo cáo về tình hình và công tác phòng, chống bệnh dịch tả châu Phi phục

vụ Hội nghị trực tuyến triển khai các giải pháp cấp bách khống chế bệnh dịch tả lợnchâu Phi, ngày 04/3/2019 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, từ ngày 01/2 -03/3/2019, bệnh DTLCP xảy ra tại 202 hộ, 64 thôn, 33 xã, 14 huyện của 7 tỉnh, thànhphố (Hưng Yên, Thái Bình, Hải Phòng, Thanh Hóa, Hà Nội, Hà Nam và Hải Dương);tổng số lợn bị mắc bệnh và tiêu hủy là 4.231 con, với tổng trọng lượng tiêu hủy hơn

297 tấn Cụ thể tình hình dịch bệnh tại các địa phương như sau:

Tại tỉnh Hưng Yên: Từ ngày 01/02 - 03/3/2019, bệnh DTLCP xảy ra tại 57 hộ,

12 thôn, 8 xã, 5 huyện Toàn bộ 2.323 con lợn dương tính với bệnh đã được xử lý tiêuhủy bằng phương pháp chôn

Tại tỉnh Thái Bình: Từ ngày 13/02 - 03/3/2019, bệnh DTLCP xảy ra tại 101 hộ,

33 thôn của 15 xã, 3 huyện Toàn bộ 1.118 con lợn dương tính với bệnh đã được xử lýtiêu hủy bằng phương pháp chôn

Tại thành phố Hải Phòng: Từ ngày 18/02 - 03/3/2019, bệnh DTLCP xảy ra tại

38 hộ, 15 thôn, 6 xã, 2 huyện Toàn bộ 424 con lợn dương tính với bệnh đã được xử lýtiêu hủy bằng phương pháp chôn

Tại tỉnh Thanh Hóa: Từ ngày 22/02 - 03/3/2019, bệnh DTLCP xảy ra ở 01 hộchăn nuôi tại xã Định Long, huyện Yên Định Toàn bộ 226 con lợn dương tính vớibệnh đã được xử lý tiêu hủy bằng phương pháp chôn

Tại thành phố Hà Nội: Từ ngày 22/02 - 02/3/2019, bệnh DTLCP đã được pháthiện tại 01 hộ chăn nuôi lợn rừng tại khu Đầm Lấm, phường Ngọc Thụy, Long Biên.Toàn bộ 25 con lợn rừng nuôi dương tính với bệnh đã được xử lý tiêu hủy bằngphương pháp chôn

Tại tỉnh Hà Nam: Từ ngày 27/02 - 02/3/2019, bệnh DTLCP đã được phát hiệntại 01 hộ chăn nuôi lợn rừng tại xã Văn Xã, huyện Kim Bảng Toàn bộ 15 con lợndương tính với bệnh đã được xử lý tiêu hủy bằng phương pháp chôn

Tại tỉnh Hải Dương: Từ ngày 01/3 - 02/3/2019, bệnh DTLCP đã được phát hiệntại 03 hộ chăn nuôi lợn tại xã Hiến Thành, huyện Kim Môn Toàn bộ 107 con lợndương tính với bệnh đã được xử lý tiêu hủy bằng phương pháp chôn

Từ ngày 01/02 - 27/3/2019, đã có 476 xã của 91 huyện, thuộc 23 tỉnh, thànhphố (Hưng Yên, Thái Bình, Hải Phòng, Thanh Hóa, Hà Nội, Hải Dương, Hà Nam,Hòa Bình, Điện Biên, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Ninh Bình, Nam Định, Lạng Sơn,Bắc Kạn, Sơn La, Nghệ An, Bắc Ninh, Thừa Thiên Huế, Lai Châu, Bắc Giang, QuảngTrị, Vĩnh Phúc) xuất hiện dịch tả lợn châu Phi, làm 73.000 con lợn bị nhiễm bệnh vàphải tiêu hủy (Theo báo cáo nhanh tình hình bệnh dịch tả lợn châu Phi trên đàn lợn của

Sở Nông nghệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh)

Trang 9

Theo Cục Thú y từ đầu tháng 2/2019 đến ngày 11/2/2020, bệnh DTLCP đã xảy

ra tại 8.548 xã thuộc 667 huyện của 63 tỉnh, thành phố với tổng số lợn tiêu hủy là5.988.697 con; với tổng trọng lượng là 342.091 tấn (chiếm khoảng 9% tổng trọnglượng của cả nước)

Trong đó, tháng 12/2019 đã buộc tiêu hủy 38.172 con, giảm 97% so với tháng5/2019 (tháng cao điểm buộc phải tiêu hủy hơn 1,27 triệu con lợn); tháng 1/2020 buộctiêu hủy 12.037 con (giảm 99% so với tháng 5/2019); tháng 2/2020 (đến ngày11/2/2020) buộc phải tiêu hủy 6.209 con

Do bệnh chưa có vắc xin phòng bệnh nên tỷ lệ chết 100%, vì vậy cần phải cócông tác phòng chống bệnh tốt Những thông tin về dịch tễ bệnh vẫn thường xuyênđược các cơ quan có chức năng báo cáo, điều này càng khẳng định thêm về tình hìnhdiễn biến của bệnh DTLCP ở nước ta vẫn còn rất phức tạp và đang là vấn đề cần quantâm, nó gây thiệt hại đáng kể cho chăn nuôi lợn trên diện rộng

2.2.2 Mô tả dịch tả lợn châu phi.

2.2.2.1 Dịch tả lợn Châu Phi là gì?

Dịch tả lợn Châu Phi là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do virus African swine

fever virus (ASFV) gây ra Bệnh có đặc điểm lây lan nhanh trên loài lợn, ở tất cả các

loại lợn với tỷ lệ chết cao, lên đến 100% Bệnh lây truyền qua các đàn lợn thông quaviệc tiếp xúc với máu, dịch nhầy của lợn bệnh

2.2.2.2 Virus Dịch tả lợn châu Phi:

Là virus có gen di truyền dạng ADN, có sức đề kháng cao, có thể tồn tại lâutrong chất tiết, dịch tiết, trong xác động vật, trong thịt lợn và các chế phẩm từ thịt lợnnhư xúc xích, giăm bông, salami đây là đặc điểm khiến cho virus này trở nên nguyhiểm đối với lợn

Virus có khả năng chịu được nhiệt độ thấp trong thời gian dài 3 – 6 tháng, đặcbiệt là trong các sản phẩm thịt lợn sống hoặc nấu ở nhiệt độ không cao, virus có thể bịtiêu diệt ở nhiệt độ 56oC trong 70 phút hoặc ở 600C trong 20 phút

Virus sống trong máu đã phân hủy được 15 tuần; trong máu khô 70 ngày; trongphân ở nhiệt độ phòng 11 ngày, trong máu lợn ở nhiệt độ 4oC 18 tháng; trong thịt dínhxương ở nhiệt độ 39oC 150 ngày; trong giăm bông 140 ngày

Vi rút dịch tả heo Châu Phi có trong máu, cơ quan, dịch bài tiết từ heo nhiễmbệnh dịch tả heo Châu Phi; lây nhiễm qua đường hô hấp và tiêu hóa, thông qua sự tiếpxúc trực tiếp hoặc gián tiếp với các vật thể nhiễm vi rút như: chuồng trại, phương tiệnvận chuyển, dụng cụ, đồ dùng, quần áo… nhiễm vi rút

Vi rút dịch tả heo Châu Phi có sức đề kháng cao, tồn tại dai dẳng trong cơ thểheo, thịt heo, sản phẩm của heo, đặc biệt là thịt heo đông lạnh

Trang 10

Bệnh dịch tả heo Châu Phi có thời gian ủ bệnh từ 3-15 ngày, ở thể cấp tính thời gian ủbệnh chỉ từ 3-4 ngày Tỷ lệ chết cao đến 100% Heo nhiễm vi rút thể mãn tính thườngkhông có triệu chứng, nhưng chúng sẽ là vật chủ mang vi rút dịch tả heo Châu Phitrong suốt cuộc đời.

2.2.2.3 Dịch tễ học dịch tả heo Châu Phi.

Trong điều kiện tự nhiên chỉ có lợn nhà và lợn rừng mẫn cảm với vi rút gâybệnh Lợn rừng có sức đề kháng tốt và qua chọn lọc từ nhiên, chúng ít ốm và chết vìbệnh, nhưng lại là nguồn bệnh nguy hiểm cho lợn nhà Những loài lợn hoang dã nàyđóng vai trò là vật chủ chứa ASFV ở châu Phi

Lợn nhà, đặc biệt là lợn thả rông rất dễ bị nhiễm bệnh thông qua tiếp xúc trựctiếp hoặc từ phân, nước tiểu của lợn rừng hoặc từ chó, mèo, các vật dụng, kể cả conngười bằng cách này hay cách khác đã tiếp xúc với mầm bệnh, mang và phát tán mầmbệnh

Các động vật thí nghiệm như chuột, thỏ,… không bị bệnh dịch tả lợn châu Phi.Các loại côn trùng như ruồi, muỗi, ký sinh trùng đều là vật mang trùng và lây nhiễmcho lợn nhà Bệnh có thể xảy ra quanh năm Lợn nhà ở mọi lứa tuổi đều dễ dàng bịbệnh

Quá trình gây lệnh và lây lan virus Dịch tả lợn châu Phi

Vi rút DTLCP xâm nhập vào cơ thể theo nhiều con đường khác nhau Quađường hô hấp và tiêu hóa

Lây trực tiếp do nhốt chung con bệnh và con khỏe

Lây gián tiếp qua nước tiểu, đất, nước, thức ăn có nhiễm mầm bệnh, thức ăn dưthừa, thú sản, các dụng cụ chăn nuôi, dụng cụ thú y, người chăn nuôi, phương tiệnchuyên chở

Bằng gây bệnh thực nghiệm, các nhà khoa học đã chứng minh: chỉ 24h sau khigây nhiễm đã có thể tái phân lập vi rút ở hạch lâm ba vùng cổ, họng, … 48h ở gan,lách, phổi và sau 3 - 7 ngày có thể phân lập vi rút ở mọi nơi trong cơ thể lợn Điều đónói lên rằng ngay sau khi thâm nhập vào cơ thể lợn, vi rút đã tự nhân lên rất nhanhchóng, lùa vào đường huyết và gây nhiễm trùng huyết rất nặng - lợn sốt cao tới 42 độ

C Vi rút di trú đến tất cả các cơ quan, tổ chức của cơ thể Tại đó chúng gây ra các ổviêm xuất huyết, hoại tử Vì thế, khi xét nghiệm, chúng ta thấy các thành mạch máu bịthoái hóa, xung quanh có rất nhiều bạch cầu đơn nhân tập trung Các tổ chức của hạchlâm ba, gan, lách, thận, phổi thay đổi nhanh chóng, các biểu hiện đều thuộc về viêmxuất huyết, hoại tử

Điểm nổi bật và đặc trưng của bệnh dịch tả lợn châu Phi là hiện tượng tan rãnhân bạch cầu, giảm lượng bạch cầu tổng số và bạch cầu ái toan đồng thời gây tụhuyết nặng làm tắc nghẽn mạch máu ngoại vi gây thâm tím da phần lớn cơ thể

Ngày đăng: 29/09/2021, 20:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w