Câu 1: Khái quát chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ Quản lý giáo dục Mục đích bồi dưỡng nghiệp vụ Quản lý giáo dụcNgày 2682014, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 282014TTBGDĐT quy định về bồi dưỡng và cấp chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý giáo dục. Thông tư này quy định về việc bồi dưỡng và cấp chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý giáo dục (sau đây gọi tắt là bồi dưỡng), bao gồm: điều kiện, thẩm quyền, hồ sơ, trình tự, thủ tục giao nhiệm vụ bồi dưỡng; tổ chức bồi dưỡng, kiểm tra, xếp loại, cấp chứng chỉ bồi dưỡng.Theo đó, mục đích bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý giáo dục là một trong những nội dung trọng tâm và được quy định tại Điều 2 Thông tư 282014TTBGDĐT. Cụ thể như sau:1. Bồi dưỡng những kiến thức về nghiệp vụ quản lý, phương pháp, kỹ năng quản lý ban đầu, bắt buộc, tối thiểu đối với cán bộ quản lý đáp ứng tiêu chuẩn bổ nhiệm chức danh cán bộ quản lý giáo dục.2. Cập nhật kiến thức về chính trị, kinh tế xã hội, chuyên môn, nghiệp vụ; bồi dưỡng, củng cố về kỹ năng, phương pháp lãnh đạo và quản lý giáo dục nhằm nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, chất lượng, hiệu quả công tác quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục. Đối tượng bồi dưỡng nghiệp vụ Quản lý giáo dụcCác trường sư phạm, các cơ sở giáo dục đại học có khoa, ngành quản lý giáo dục và cơ sở giáo dục được giao nhiệm vụ bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý giáo dục.Cán bộ quản lý ở các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên, trung cấp chuyên nghiệp; cán bộ quản lý khoa, phòng cơ sở giáo dục đại học; cán bộ quản lý sở giáo dục và đào tạo, phòng giáo dục và đào tạo; công chức, viên chức dự nguồn đã được quy hoạch cho các chức danh quản lý trên (sau đây gọi tắt là cán bộ quản lý) và tổ chức, cá nhân liên quan. Nội dung bồi dưỡng nghiệp vụ Quản lý giáo dục
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÀI ĐÁNH GIÁ HẾT HỌC PHẦN
Chương trình bồi dưỡng Nghiệp vụ Quản lý giáo dục
Họ và tên:……….
Ngày sinh:……….,
Nơi sinh:
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Nam Hồng
Câu hỏi:
Câu 1: Khái quát chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ Quản lý giáo dục
Câu 2: Trình bày những chuyên đề mà anh/chị tâm đắc nhất trong chương trình bồi dưỡng Nghiệp vụ Quản lý giáo dục Anh/ chị hãy lý giải vì sao chọn các chuyên đề đó?
Hà Nội - 2021
Trang 2Câu 1: Khái quát chương trình bồi dưỡng nghiệp
vụ Quản lý giáo dục
- Mục đích bồi dưỡng nghiệp vụ Quản lý giáo dục
Ngày 26/8/2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 28/2014/TT-BGDĐT quy định về bồi dưỡng và cấp chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý giáo dục Thông tư này quy định về việc bồi dưỡng và cấp chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý giáo dục (sau đây gọi tắt là bồi dưỡng), bao gồm: điều kiện, thẩm quyền, hồ sơ, trình tự, thủ tục giao nhiệm vụ bồi dưỡng; tổ chức bồi dưỡng, kiểm tra, xếp loại, cấp chứng chỉ bồi dưỡng
Theo đó, mục đích bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý giáo dục là một trong những nội dung trọng tâm và được quy định tại Điều 2 Thông tư 28/2014/TT-BGDĐT Cụ thể như sau:
1 Bồi dưỡng những kiến thức về nghiệp vụ quản lý, phương pháp, kỹ năng quản lý ban đầu, bắt buộc, tối thiểu đối với cán bộ quản lý đáp ứng tiêu chuẩn bổ nhiệm chức danh cán bộ quản lý giáo dục
2 Cập nhật kiến thức về chính trị, kinh tế - xã hội, chuyên môn, nghiệp vụ; bồi dưỡng, củng cố về kỹ năng, phương pháp lãnh đạo và quản lý giáo dục nhằm nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, chất lượng, hiệu quả công tác quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục
- Đối tượng bồi dưỡng nghiệp vụ Quản lý giáo dục
Các trường sư phạm, các cơ sở giáo dục đại học có khoa, ngành quản lý giáo dục và cơ sở giáo dục được giao nhiệm vụ bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý giáo dục
Cán bộ quản lý ở các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên, trung cấp chuyên nghiệp; cán bộ quản lý khoa, phòng cơ sở giáo dục đại học; cán bộ quản lý sở giáo dục và đào tạo, phòng giáo dục và đào tạo; công chức, viên chức dự nguồn đã được quy hoạch cho các chức danh quản lý trên (sau đây gọi tắt là cán bộ quản lý) và tổ chức, cá nhân liên quan
- Nội dung bồi dưỡng nghiệp vụ Quản lý giáo dục
Trang 3Module 1: Quản lý sự thay đổi và Phong cách lãnh đạo + hướng dẫn bài tập Module 2: Đường lối phát triển GD & ĐT và Lập kế hoạch phát triển trường phổ thông/ mầm non
Module 3: Tổng quan về khoa học quản lý và Quản lý Nhà nước về GD&ĐT+ Hướng dẫn bài tập
Module 4: Thanh tra, kiểm tra và kiểm định chất lượng giáo dục phổ thông/ mầm non
Module 5: Quản lý nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ trong trường mầm non / Quản lý HĐDH, GD trong trường phổ thông
Module 6: Xây dựng và phát triển nhà trường
Module 7: Quản lý hoạt động NCKH SP và Ứng dụng CNTT trong trường phổ thông/ mầm non
Module 8: Quản lý nguồn lực trong trường phổ thông/ mầm non
Module 9: Kĩ năng hỗ trợ quản lý trường phổ thông/ mầm non
Thời lượng: 360 tiết
- Hình thức tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ Quản lý giáo dục
Căn cứ vào điều kiện thực tế của cơ sở giáo dục làm nhiệm vụ bồi dưỡng (sau đây gọi tắt là cơ sở bồi dưỡng) và nhu cầu của học viên, cơ sở bồi dưỡng được quyền chủ động lựa chọn một trong 2 hình thức:
1 Bồi dưỡng tập trung: học tập trung tại cơ sở bồi dưỡng trong 8 tuần (315 tiết); 4 tuần còn lại (45 tiết) thực hiện các công việc: đi thực tế và viết tiểu luận tại địa phương; đánh giá tiểu luận và tổng kết khóa học tại cơ sở bồi dưỡng
2 Bồi dưỡng bán tập trung (vừa làm vừa học): học viên đảm bảo đủ các nội dung và thời lượng thực học như hình thức học tập trung, nhưng tổng thời gian bồi dưỡng không quá 20 tuần
- Kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng nghiệp vụ Quản lý giáo dục
Trang 41 Kết thúc mỗi module của chương trình bồi dưỡng, học viên phải thực hiện một bài kiểm tra viết trong thời gian tối thiểu 60 phút Bài kiểm tra được chấm theo thang điểm 10
2 Học viên tham gia tối thiểu 80% thời lượng chương trình bồi dưỡng quy định cho mỗi module thì được tham gia kiểm tra kết thúc module đó Học viên có tất cả các bài kiểm tra kết thúc module đạt từ 5 điểm trở lên thì được viết tiểu luận cuối khóa
3 Bài tiểu luận cuối khóa phải áp dụng kiến thức đã học vào giải quyết vấn đề thực tiễn tại nơi đang công tác (có ý kiến nhận xét của cơ quan quản lý trực tiếp học viên) Bài tiểu luận cuối khóa được đánh giá theo thang điểm 10
- Xếp loại kết quả bồi dưỡng nghiệp vụ Quản lý giáo dục
1 Điểm xếp loại kết quả bồi dưỡng là điểm trung bình cộng của điểm các module và điểm tiểu luận cuối khóa, làm tròn đến một chữ số sau phần thập phân
Ví dụ: Học viên A có điểm 5 module lần lượt là: 5,0; 6,0; 6,5; 8,0; 9,0 và điểm tiểu luận cuối khóa là 9,5 thì điểm xếp loại kết quả bồi dưỡng là: (5,0 + 6,0 + 6,5 + 8,0 + 9,0 + 9,5) : 6 = 44 : 6 = 7,33 làm tròn thành 7,3
2 Xếp loại kết quả bồi dưỡng
a) Loại trung bình: điểm xếp loại đạt từ 5 điểm đến dưới 7 điểm;
b) Loại khá: điểm xếp loại đạt từ 7 điểm đến dưới 9 điểm (không có điểm dưới 6);
c) Loại giỏi: điểm xếp loại đạt từ 9 điểm đến 10 điểm (không có điểm dưới 7)
3 Học viên không được công nhận hoàn thành chương trình bồi dưỡng khi điểm xếp loại đạt dưới 5 điểm hoặc chưa đủ số điểm các module và tiểu luận theo quy định
- Cấp chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ Quản lý giáo dục
1 Người học được cấp chứng chỉ bồi dưỡng sau khi hoàn thành chương trình và có điểm xếp loại kết quả bồi dưỡng quy định tại khoản 1, Điều 10 đạt từ
5 điểm trở lên
Trang 52 Các cơ sở bồi dưỡng cấp chứng chỉ cho học viên đạt các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này
3 Việc quản lý và cấp chứng chỉ bồi dưỡng thực hiện theo Quyết định số 33/2007/QĐ-BGDĐT ngày 20/6/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân và Quyết định số 34/2008/QĐ-BGDĐT ngày 10/7/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành mẫu chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân
- Kinh phí bồi dưỡng nghiệp vụ Quản lý giáo dục
1 Kinh phí bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý giáo dục bao gồm:
a) Ngân sách nhà nước dành cho đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên của ngành, địa phương;
b) Kinh phí của các đơn vị cử người đi bồi dưỡng;
c) Kinh phí từ các nguồn hỗ trợ hợp pháp khác
2 Hàng năm, cơ sở bồi dưỡng phải báo cáo quyết toán kinh phí theo quy định hiện hành
Trang 6Câu 2: Trình bày những chuyên đề mà anh/chị tâm đắc nhất trong chương trình bồi dưỡng Nghiệp vụ Quản lý giáo dục Anh/ chị hãy lý giải vì sao chọn các chuyên đề đó?
Chuyên đề mà em tâm đắc nhất là “MODULE 1 ĐƯỜNG LỐI PHÁT TRIỂN GD-ĐT VIỆT NAM” và “MODULE 2: LÃNH ĐẠO VÀ QUẢN LÝ” Lý
do e chọn chuyên đề này vì:
1 Chuyên đề “MODULE 1: ĐƯỜNG LỐI PHÁT TRIỂN GD-ĐT VIỆT NAM”
Nghiên cứu chuyên đề “Đường lối phát triển giáo dục - đào tạo Việt Nam” có ý nghĩa quan trọng đối với học viên Qua chủ đề giúp học viên nhận thức được:
Về vai trò của giáo dục, đào tạo đối với việc phát triển nguồn nhân lực Qua
đó tích cực học tập, nâng cao trình độ để đap sứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Ngày nay, trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, tỷ lệ lao động cơ bắp ngày một giảm, lao động trí tuệ ngày càng gia tăng, lợi thế so sánh dựa trên số lượng lao động và giá nhân công rẻ cũng ngày một giảm và đang chuyển dần về phía những quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao Do đó, chất lượng nguồn nhân lực đang trở thành yếu tố quyết định nhất đối với việc tăng lợi thế cạnh tranh cũng như sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia Ở Việt Nam, Đảng ta cũng nhất quán quan điểm khẳng định: “Nguồn lực con người
là quý báu, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta, khi nguồn lực tài chính
và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp Tuy nhiên, để phát triển nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chúng ta phải cần đến một hệ thống giải pháp đồng bộ về giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất lượng dân số, cải thiện môi trường sống, tạo việc làm, tổ chức khai thác lực lượng lao động, phát triển văn hóa tạo ra động lực kích thích tính tích cực ở con người” [2, tr.153]
Không chỉ trong điều kiện hiện nay, mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin lúc đương thời đã đặt giáo dục, đào tạo ở vị trí trung tâm trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong tác phẩm “Bàn về chế độ hợp tác”,
Trang 7V.I Lênin viết: “Sự thay đổi căn bản đó là ở chỗ: trước đây chúng ta đã đặt và không thể không đặt trọng tâm công tác của chúng ta vào cuộc đấu tranh chính trị, vào cách mạng, vào việc giành lấy chính quyền thì trọng tâm công tác của chúng ta hiện nay quả thật là xoáy vào hoạt động giáo dục” [4, tr.189] Người cũng giải thích rõ tại sao giáo dục, đào tạo lại có tầm quan trọng đặc biệt như vậy Đó là vì cơ sở vật chất duy nhất của chủ nghĩa xã hội chỉ có thể là nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp và để có được cơ sở đó, không có cách nào khác là nước Nga phải tiến hành điện khí hóa toàn quốc Nhưng công việc điện khí hóa toàn quốc lại “không thể do những người mù chữ
mà thực hiện được, mà chỉ biết chữ thôi thì cũng không đủ Công việc tiến hành điện khí hóa toàn quốc chỉ có thể thực hiện trên cơ sở một nền học vấn hiện đại, nền học vấn mà thiếu nó thì chủ nghĩa cộng sản vẫn chỉ là một nguyện vọng mà thôi” [4, tr.190] Và để có được nền học vấn đó thì cũng chỉ có một cách duy nhất là tập trung vào phát triển giáo dục, đào tạo
Từ những chỉ dẫn của các nhà kinh điển và yêu cầu của thực tiễn, Đảng ta
đã coi giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu Bởi lẽ, “Giáo dục và đào tạo có
sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam” [3, tr.120] Đồng thời, Đảng xác định ba mục tiêu mà sự nghiệp giáo dục, đào tạo phải đạt tới là nâng cao dân trí, phát triển nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, trong đó phát triển nhân lực là mục tiêu có ý nghĩa quan trọng và được ưu tiên hơn Nói đến nguồn nhân lực là nói đến tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực,
kỹ năng lao động, thái độ và phong cách làm việc, kinh nghiệm sống, đạo đức,
lý tưởng, chất lượng văn hóa, năng lực chuyên môn, tính năng động trong công việc mà bản thân con người và xã hội có thể huy động vào cuộc sống lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ của xã hội Phát triển nguồn nhân lực có thể hiểu là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm tạo
ra sự tăng trưởng về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực; đồng thời, nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng để nguồn lực này đáp ứng ngày càng tốt hơn sự phát triển bền vững của đất nước
Trang 8Từ nội dung của phát triển nguồn nhân lực như vậy, chúng ta có thể thấy vai trò của giáo dục, đào tạo đối với phát triển nguồn nhân lực thực chất là làm gia tăng về chất lượng của nguồn nhân lực và đảm bảo cơ cấu về số lượng lao động một cách hợp lý trong từng ngành, lĩnh vực Vai trò của giáo dục, đào tạo
Sở dĩ giáo dục, đào tạo có vai trò quan trọng đối với phát triển nguồn nhân lực là
vì, đối tượng hướng đến của giáo dục là con người và mục tiêu của nó là trang bị những năng lực cần thiết cho con người tham gia vào đời sống xã hội Giáo dục tác động vào chính con người với tư cách là chủ thể của hoạt động xã hội nhằm biến đổi chủ thể đó thành con người nhân cách, tăng sức mạnh thể chất và tinh thần của con người, tăng khả năng tham gia vào các hoạt động xã hội của con người Giáo dục, đào tạo góp phần nâng cao trình độ văn hóa, trình độ học vấn, trình độ khoa học - kỹ thuật, xử lý công nghệ, tổ chức quản lý và năng lực hoạt động thực tiễn của người lao động, ảnh hưởng đến thể lực, trí lực, đức dục của con người Như vậy, giáo dục tái sản xuất ra năng lực hoạt động của con người, thúc đẩy xã hội phát triển Giáo dục, đào tạo không chỉ là phương thức chủ yếu
để giữ gìn, phổ biến, giao lưu, phát triển văn hóa, khoa học, mà còn tạo ra nguồn nhân lực cho việc tái sản xuất ra sức lao động Chính vì vậy, ngày nay, người ta quan niệm giáo dục không chỉ là một phúc lợi xã hội, nâng cao đời sống tinh thần, là một bộ phận của cách mạng văn hóa - tư tưởng, của kiến trúc thượng tầng mà còn là yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng, giữ vị trí nền tảng, vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Qua nghiên cứu “Đường lối phát triển giáo dục - đào tạo Việt Nam” giúp cho bản thân tôi nhận thức được thực trạng giáo dục, đào tạo ở Việt Nam trong những năm qua Từ thực trạng chung đó, bản thân tôi nhận thức sâu sắc để chủ động đề ra các giải pháp khắc phục trên các cương vị công tác khác nhau trong ngành giáo dục.
Giáo dục, đào tạo ở nước ta trong những năm qua đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để cung cấp cho các ngành, lĩnh vực kinh tế của đất nước Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, thể lực của người lao động Việt Nam đã từng bước được nâng lên Tỉ lệ lao động
Trang 9qua đào tạo năm 2020 đạt 40% tổng số lao động đang làm việc Giáo dục, đào tạo đã tạo ra nguồn nhân lực có kỹ năng, nghiệp vụ trong nhiều ngành nghề của nền kinh tế, cả những ngành, nghề mới xuất hiện ở Việt Nam
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu kể trên thì vẫn phải thừa nhận rằng, giáo dục, đào tạo ở Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển nguồn nhân lực cả trong hiện tại lẫn tương lai Đảng ta đã nhìn nhận những yếu kém của ngành giáo dục, đó là: “Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế; chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng số lượng, quy mô với nâng cao chất lượng, giữa dạy chữ và dạy người Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học lạc hậu, chậm đổi mới; cơ cấu giáo dục không hợp lý giữa các lĩnh vực, ngành nghề đào tạo”
Hầu như mọi người đều không hài lòng về thực trạng của nền giáo dục của nước ta, từ giáo dục mầm non, tiểu học cho đến bậc cao đẳng đại học, từ đào tạo dạy nghề đến giáo dục phổ thông, cả giáo dục sau đại học Trong mấy chục năm qua, đã có bao lần chúng ta cải cách giáo dục, nhưng hình như kết quả không có gì tiến triển Hàng năm, cứ đến mùa thi cử, mùa ra trường của sinh viên hay mùa khai giảng lại có hàng loạt bài báo ta thán, nêu nào đề thi lại sai, nào sinh viên tốt nghiệp ra trường khó có việc làm vì trình độ và nội dung học không phù hợp hay không theo kịp yêu cầu của xã hội Trong khi đó, phụ huynh học sinh lại kêu chương trình học quá nặng nề, việc học thêm dạy thêm bổ sung cho thời gian học tại lớp tràn lan ở mọi cấp lớp, làm ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý của học sinh ở lứa tuổi trưởng thành
Một số chính sách về giáo dục, đào tạo đang thực hiện đã bộc lộ những bất cập, mang tính giải quyết tình thế, chưa đáp ứng yêu cầu hình thành chiến lược lâu dài hướng tới tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao theo yêu cầu và bảo đảm tính đồng đều giữa các vùng miền trên phạm vi cả nước Trong chính sách
“Xây dựng và phát triển hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú, tạo nguồn”, thì về quy mô các trường và giữa các vùng, miền rất không đồng đều Các dự án xây dựng vừa gây lãng phí, vừa bất cập lại chồng chéo với quy mô
Trang 10huy động số học sinh theo mật độ dân cư và khả năng kinh tế Sự phối hợp giữa chính quyền các cấp với Bộ Giáo dục và Đào tạo thiếu chặt chẽ, dẫn đến cơ cấu ngành nghề được đào tạo cử tuyển chưa phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế
-xã hội của địa phương Nhiều nơi nảy sinh các sai sót trong việc cử tuyển, “lách luật” để giành chỉ tiêu đào tạo như: thay đổi địa chỉ nơi cư trú, thành phần dân tộc để được xét cử tuyển Tình trạng một bộ phận sinh viên diện cử tuyển đã phá
bỏ cam kết để tìm kiếm việc làm ở thành phố; ngược lại, có địa phương cử học sinh đi học khi trở về lại không nhận vào các cơ quan làm việc Số cán bộ được đào tạo không được sử dụng hết dẫn đến sự lãng phí rất lớn
Chất lượng giáo dục, đào tạo nhìn chung còn chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội, do đó chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta còn thấp Mặc dù ngành giáo dục trong những năm đổi mới có nhiều bước phát triển, nhưng chúng ta còn quá tập trung vào việc tăng số lượng, quy mô đào tạo mà chưa thật sự chú ý đến chất lượng Chương trình, nội dung và phương pháp dạy học là yếu tố quyết định nhất đến chất lượng của nguồn nhân lực Tuy nhiên, cả chương trình, nội dung lẫn phương pháp dạy học vẫn còn lạc hậu Chúng ta quá chú trọng đến dạy kiến thức mà không quan tâm nhiều đến việc dạy kỹ năng, tác phong, văn hóa, đạo đức cho người lao động Dạy kiến thức thì chủ yếu thiên về lý thuyết; dạy thực hành rất ít, thường chỉ trong mấy tháng cuối khóa học Mặc dù chúng ta cũng có nhiều nỗ lực để đổi mới phương pháp dạy học, khuyến khích sử dụng phương pháp dạy học tích cực, lấy người học làm trung tâm, nhưng vì nhiều lí
do mà phương pháp truyền thống vẫn chiếm ưu thế, phương pháp mới chưa tạo
ra sự chuyển biến Tất cả những hạn chế đó của ngành giáo dục, đào tạo thể hiện
rõ nét trên sản phẩm của nó, đó chính là chất lượng của nguồn nhân lực còn thấp Người lao động còn thiếu tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động, một
bộ phận chậm thích nghi với cơ chế thị trường, tính tổ chức và kỷ luật chưa tốt, trình độ vận dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ kém
Qua nghiên cứu “Đường lối phát triển giáo dục - đào tạo Việt Nam” giúp cho bản thân tôi nhận thức được vai trò quan trọng giáo dục và đào tạo trong
sự phát triển của đất nước.