LỜI GIỚI THIỆUBệnh viện Đa khoa Tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập từ năm 1950, trong suốt quá trình xây dựng và phát triển, các hoạt về chuyên môn luôn đi kèm các hoạt động nghiên cứu khoa h
Trang 1BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH VĨNH PHÚC
HỘI NGHỊ KHOA HỌC
NĂM 2017
BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH
SỞ Y TẾ VĨNH PHÚC
Trang 3BAN BIÊN TẬP HỘI NGHỊ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM 2017
Chịu trách nhiệm xuất bản:
ThS Lê Hồng Trung - Giám đốc Bệnh viện
Trưởng ban Biên tập: BS.CKII Đỗ Trọng Cán
ThS Lê Văn TịnhThS Tô Quang Hưng
ThS Phạm Việt Hưng
ThS Nguyễn Văn Công
BS CKI Đỗ Duy Cương
CN Đinh Thị Ngọc Thủy
CN Trần Ngọc Hải
Trang 4LỜI GIỚI THIỆU
Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập từ năm 1950, trong suốt quá trình xây dựng và phát triển, các hoạt về chuyên môn luôn đi kèm các hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm mục đích không ngừng cải tiến, nâng cao kỹ thuật, tìm ra những phương pháp điều trị mới tốt nhất cho người bệnh Đặc biệt trong những năm gần đây, được sự quan tâm, ủng hộ của Ban Giám đốc, Ban Chấp hàng Đảng ủy Bệnh viện đã tạo động lực mạnh mẽ cho tập thể cán bộ tích cực tham gia vào các hoạt động nghiên cứu khoa học
Nhân Kỷ niệm 62 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam 27/2/1955 - 27/2/2017, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức hội nghị khoa học năm 2017 và biên tập cuốn sách “HỘI NGHỊ KHOA HỌC NĂM 2017” Hội nghị là buổi tổng kết cáo các đề tài, các phát minh, sáng kiến cải tiến kỹ thuật đồng thời chia sẻ với thầy
cô, các bạn đồng nghiệp trong tỉnh và các tỉnh bạn Hội nghị cũng là buổi trao đổi, giao lưu và đóng góp ý kiến nhằm mục đích thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học ngày càng phát triển
Trong quá trình nghiên cứu và biên tập chúng tôi đã nhận được rất nhiều ý kiến đóng góp từ quý thầy cô, đồng nghiệp và các khoa, phòng Tuy nhiên, không thể tránh khỏi những sai sót do còn hạn chế về khả năng và điều kiện thực tế Chúng tôi rất mong quý thầy cô, đồng nghiệp tiếp tục tham gia đóng góp ý kiến để Ban biên tập chỉnh lý, bổ sung cho lần hội nghị sau được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
BAN BIÊN TẬP
Trang 61 Nghiên cứu áp dụng phương pháp tiêu huyết khối đường tĩnh mạch
bằng thuốc Alteplase ở bệnh nhân nhồi máu não đến sớm tại Bệnh viện
Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc
2 Nghiên cứu thể tích và chức năng tâm thu thất trái bằng siêu âm doppler
tim ở bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim
3 Nhiễm khuẩn bệnh viện và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đa
khoa tỉnh Vĩnh Phúc 2016
4 Kết quả bước đầu phẫu thuật chấn thương sọ não bằng máy khoa - mài
cắt sọ chạy khí nén tự chế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc
5 Nhận xét hiệu quả điều trị ngộ độc Paraquat bằng quả lọc Resin Ha 230
tại khoa Hồi sức tích cực và Chống độc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh
Phúc năm 2015-2016
6 Đánh giá kết quả phẫu thuật tán nhuyễn thể thủy tinh bằng siêu âm đặt
thể thủy tinh nhân tạo tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2016
7 Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật nội soi tái tạo dây chằng chéo trước
khớp gối tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc
8 Nhân một trường hợp phẫu thuật thay khớp háng bán phần không
cement trên bệnh nhân gãy liên mấu chuyển xương đùi tại Bệnh viện
Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc
9 Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi tán sỏi niệu quản 1/3 dưới bằng
Holmium Laser tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc
10 Đặc điểm tổn thương động mạch vành qua kết quả chụp MSCT ở
bệnh nhân đau thắt ngực điều trị tại khoa Nội A Bệnh viện Đa khoa
tỉnh Vĩnh Phúc
11 Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh Thalassemia tại
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc
12 Tình trạng dinh dưỡng và tập tính ăn uống của bệnh nhân đái tháo
đường typ 2 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2016
13 Khảo sát tình trạng xét nghiệm đông cầm máu ở phụ nữ đẻ thường tại
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2016
14 Đánh giá kết quả điều trị vàng da tăng bilirubin tự do ở trẻ sơ sinh bằng
7162331
374450
5762
72829098
MỤC LỤC
Trang 7110117125133139146153
161168175
182
189198203
liệu pháp ánh sáng tại khoa sơ sinh Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc
15 Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của viêm mũi xoang
trẻ em từ năm 2010 đến năm 2015 tại khoa tai mũi họng Bệnh viện Đa
khoa tỉnh Vĩnh Phúc
16 Thực trạng và giải pháp về quản lý hạch toán thu chi viện phí tại Bệnh
viện Đa khoa tỉnh 2015-2016
17 Đánh giá hiệu quả lọc máu chu kỳ tại khoa thận nhân tạo Bệnh viện Đa
khoa tỉnh Vĩnh Phúc
18 Đánh giá nhóm thuốc điều trị trong danh mục thuốc sử dụng năm 2015
tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc
19 Khảo sát thời gian chờ khám bệnh tại khoa khám bệnh - Bệnh viện Đa
khoa tỉnh Vĩnh Phúc 2016
20 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng trong chấn thương gan điều trị bảo
tồn tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2012 đến năm 2016
21 Nghiên cứu tình hình viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ có thai
ba tháng cuối tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc 2015
22 Nghiên cứu đặc điểm cân nặng, chiều cao và giới tính của trẻ sơ sinh
đẻ ra sống tại khoa sản Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2015
23 Nghiên cứu sự thay đổi các chỉ số hóa sinh máu ở một số bệnh lý của gan
24 Đánh giá mô hình bệnh ung thư tại khoa ung bướu Bệnh viện Đa khoa
tỉnh Vĩnh Phúc trong 5 năm từ 2012-2016
25 Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng hạ đường huyết ở bệnh nhân
đái tháo đường typ2 điều trị tại khoa nội tiết Bệnh viện Đa khoa tỉnh
Vĩnh Phúc
26 Thực trạng lâm sàng và điều trị dọa đẻ non tại khoa phụ sản Bệnh viện
Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2015 - 2016
27 Nghiên cứu thực trạng nhân lực y tế của bệnh viện năm 2014 - 2016
28 So sánh tác dụng điều trị bí đái cơ năng của hai phương pháp điện châm
và xoa bóp bấm huyệt tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2015
Trang 8NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP TIÊU HUYẾT KHỐI
ĐƯỜNG TĨNH MẠCH BẰNG THUỐC ALTEPLASE
Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO ĐẾN SỚM TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH VĨNH PHÚC
ThS.Bs Lê Hồng Trung, ThS.Bs Nguyễn Văn Huy
TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả điều trị đột quỵ nhồi máu não cấp trong vòng 4,5 giờ bằng thuốc tiêu huyết khối đường tĩnh mạch Alteplase Phương pháp nghiên cứu: Mô tả can thiệp vừa tiến cứu vừa hồi cứu, không có nhóm chứng Kết quả: Tuổi trung bình 68,9 ± 12,06, trung bình thời gian khởi phát
dùng thuốc 169,4 ± 43,78, NIHSS trung bình 14,5 ± 4,68, tại thời điểm 1 giờ sau khi điều trị có 43,5% bệnh nhân NIHSS giảm được từ 4 điểm trở lên, tại thời điểm
24 giờ có 56,6% bệnh nhân NIHSS giảm từ 4 điểm trở lên, 83,9% bệnh nhân có tái thông sau điều trị, 10,7% có biến chứng xuất huyết chuyển dạng, tuy nhiên chỉ
có 4% là có triệu chứng, giới nữ, tiền sử suy tim, NIHSS cao > 14, vị trí tắc mạch
là các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị Kết luận: Điều trị đột quỵ nhồi máu não cấp trong vòng 4,5 giờ bằng thuốc tiêu huyết khối đường tĩnh mạch Alteplase
là an toàn và hiệu quả.
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Đột quỵ thiếu máu não cục bộ là một cấp cứu thần kinh thường gặp nhất, và
do điều trị hiệu quả hiện có thể áp dụng cho bệnh nhân phải được khởi động ngay trong vòng vài phút, vì vậy hầu hết các biểu hiện thần kinh cấp tính gặp ở một bệnh nhân đến cấp cứu cần được giả định là đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp tính cho đến khi khai thác tiền sử, khám lâm sàng và thăm dò hình ảnh học chứng minh được các biểu hiện này không liên quan đến đột quỵ thiếu máu não cục bộ
Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đã tiến hành điều trị thuốc tiêu huyết khối Alteplase đường tĩnh mạch ở bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp tính trong vòng 3 giờ đầu với hai mức liều khác nhau Các quốc gia ở Châu Âu
và Châu Mỹ xem liều 0,9 mg/kg như là liều chuẩn, còn các quốc gia ở Châu Á lại có khuynh hướng sử dụng liều thấp 0,6 mg/kg nhưng vẫn cho kết quả phục hồi chức năng tốt sau ba tháng tương tự liều 0,9 mg/kg và biến chứng chảy máu
Trang 9trong sọ có triệu chứng thấp hơn nhiều so với những bệnh nhân được điều trị liều 0,9 mg/kg
Tại Việt Nam việc ứng dụng điều trị thuốc tiêu huyết khối Alteplase đường tĩnh mạch trong điều trị thiếu máu não cục bộ cấp tính đã được thực hiện tại Bệnh viện 115 Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2007 và tại khoa Cấp cứu Bệnh viện Bạch Mai từ năm 2009, tuy nhiên vẫn chưa có nghiên cứu chính thức nào về điều trị tiêu huyết khối ở nhóm thiếu máu não cục bộ cấp tính tại địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Từ trước năm 2015 các bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp tính được điều trị tại các bệnh viện trong địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc cũng chưa được áp dụng phương pháp này Vì vậy kết cục của bệnh nhân thường không tốt, có nhiều
di chứng nặng nề về thần kinh, gây tốn kém cho gia đình và xã hội, kinh phí điều trị tốn kém và gánh nặng về y tế rất nặng nề Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu sau:
1 Nhận xét các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não cấp đến sớm trong vòng 4,5 giờ
2 Đánh giá hiệu quả điều trị đột quỵ nhồi máu não cấp trong vòng 4,5 giờ bằng thuốc tiêu huyết khối đường tĩnh mạch Alteplase
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu: 75 bệnh nhân được chẩn đoán đột quỵ thiếu máu
não cục bộ cấp tính đến sớm trong vòng 4,5 giờ được điều trị bằng thuốc Alteplase
từ tháng 3 năm 2015 đến tháng 11 năm 2016 tại khoa Cấp cứu Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc
2.2 Phương pháp nghiên cứu: Mô tả can thiệp vừa tiến cứu vừa hồi cứu,
không có nhóm chứng
2.3 Quy trình nghiên cứu: Với bệnh nhân hồi cứu: xem xét hồ sơ bệnh án
các bệnh nhân đã được điều trị và trên cơ sở đó thu thập các số liệu theo mục tiêu nghiên cứu Các bệnh nhân tiến cứu được tiến hành theo trình tự, bệnh nhân thỏa mãn các tiêu chuẩn lựa trọn và loại trừ, được tiến hành điều trị thuốc tiêu huyết khối đường tĩnh mạch Alteplase và đánh giá theo mục tiêu đề tài với bệnh án mẫu được thiết kế sẵn
Trang 103 KẾT QUẢ
3.1 Đặc điểm tuổi và giới
Bảng 1 Tuổi theo giới và tuổi trung bình.
Nhận xét: Tuổi trung bình của các bệnh nhân nghiên cứu là 66,63.
3.2 Thời gian khởi phát đột quỵ đến lúc nhập viện và thời gian khởi phát đột quỵ đến lúc dùng thuốc
Bảng 2.Thời gian khởi phát nhập viện và khởi phát dùng thuốc
Khởi phát - nhập viện (phút) 45 104,83 ± 52,535 220Khởi phát - dùng thuốc (phút) 80 169,44 ± 43,784 269
Nhận xét: Trung bình thời gian khởi phát đột quỵ đến lúc được dùng thuốc
tiêu sợi huyết Alteplase trung bình là 169,13 ± 43,784 phút
3.3 Điểm NIHSS khi vào viện
Bảng 3 Điểm NIHSS của bệnh nhân khi đến viện
Trang 113.4 Các dấu hiệu sớm trên phim chụp CT sọ não trước khi điều trị tPA
Bảng 4 Các biểu hiện tổn thương sớm trên phim chụp cắt lớp vi tính sọ não
Dấu hiệu tổn thương sớm trên phim chụp
cắt lớp vi tính sọ não
Số bệnh nhân
Dấu hiệu điểm tăng tỷ trọng hình chấm 17 22,7
Nhận xét:
Dấu hiệu vùng giảm đậm độ dưới vỏ: có 21/75 bệnh nhân, chiếm 27,2%
3.5 Thay đổi điểm NIHSS ở thời điểm 1 giờ sau khi bắt đầu điều trị Alteplase
Biểu đồ 1 Thay đổi điểm NIHSS ở thời điểm 1 giờ sau khi bắt đầu điều trị
Nhận xét:
- Có 43,5% bệnh nhân giảm điểm NIHSS từ 4 điểm trở lên
- Số lượng bệnh nhân giảm điểm NIHSS từ 1 đến 3 điểm là 28,25%
Tỷ lệ %
0 10
20
30
40
50
Điểm NIHSS giảm
≥ 4 điểm Điểm NIHSS giảm từ 1 đến 3 điểm không đổi hoặc Điểm NIHSS
tăng lên
43.5
Tỷ lệ
Trang 123.6 Thay đổi điểm NIHSS ở thời điểm 24 giờ sau điều trị Alteplase
Biểu đồ 2 Thay đổi điểm NIHSS ở thời điểm 24 giờ sau khi bắt đầu điều trị
Nhận xét:
56,6% bệnh nhân giảm điểm NIHSS từ 4 điểm ở thời điểm 24 giờ sau điều trị
3.7 Đánh giá hiệu quả tái thông mạch não bằng thang điểm MORI Bảng 5 Đánh giá hiệu quả tái thông bằng thang điểm MORI.
Điểm NIHSS giảm
tăng lên
56.6
13
30.4
Trang 133.8 Đánh giá về biến chứng xuất huyết chuyển dạng
Biểu đồ 3 Biến chứng xuất huyết chuyển dạng sau điều trị Alteplase
Nhận xét: Tỷ lệ có biến chứng xuất huyết chuyển dạng là 10,7%.
Bảng 6 Các thể xuất huyết chuyển dạng
Chảy máu chấm nhỏ vùng rìa ổ nhồi máu (HI1) 2 2,7
Chảy máu dạng chấm trong ổ nhồi máu (HI2) 3 4
Thời gian trung bình từ khi khởi phát đến khi bệnh nhân được điều trị thuốc tiêu huyết khối Alteplase đường tĩnh mạch là 169,44 ± 43,784 phút Sớm nhất là
80 phút, muộn nhất là 269 phút Trung bình điểm NIHSS trước điều trị là 14,54
10,7%
89,3%
Có xuất huyết chuyển dạng Không xuất huyết chuyển dạng
Trang 14± 4,68, thấp nhất là 5 điểm, cao nhất là 23 điểm Kết quả này cũng tương tự như nghiên cứu của Mostafa: NIHSS trung bình là 14 [3] và nghiên cứu của Yamaguchi: NIHSS trung bình trước khi điều trị tiêu sợi huyết là 15 [4].
Kết quả của chúng tôi cho thấy ở thời điểm một giờ sau điều trị Alteplase
có 43,5% bệnh nhân giảm NIHSS từ 4 điểm trở lên, 28,25% bệnh nhân có điểm NIHSS giảm từ 1 đến 3 điểm và 28,25% bệnh nhân NIHSS không giảm hoặc tăng lên Kết quả này của chúng tôi cao hơn nghiên cứu của Mostafa với 16,2% bệnh nhân có NIHSS không thay đổi hoặc tăng lên [3] Nhiều nghiên cứu đã cho thấy điểm NIHSS sau một giờ điều trị Alteplase nếu không cải thiện hoặc tăng lên cần tiếp tục được đánh giá để lụa trọn các biện pháp điều trị khác như tiêu huyết khối đường động mạch hoặc lấy huyết khối bằng dụng cụ can thiệp nội mạch nếu bệnh nhân vẫn còn trong cửa sổ điều trị Kết quả cho thấy, ở thời điểm 24 giờ sau điều trị Alteplase có 56,6% bệnh nhân có điểm NIHSS giảm từ 4 điểm trở lên, 13% bệnh nhân có NIHSS giảm từ 1 đến 3 điểm và 30,4% bệnh nhân có NIHSS không giảm hoặc tăng lên Như vậy, ở thời điểm 24 giờ số lượng bệnh nhân có NIHSS giảm từ
4 điểm trở lên và NIHSS không giảm hoặc tăng lên cũng đều cao hơn ở thời điểm một giờ Ở những bệnh nhân có NIHSS giảm sẽ cải thiện dần về lâm sàng do phục hồi thần kinh Các bệnh nhân có điểm NIHSS không cải thiện hoặc tăng lên ở thời điểm một giờ đều nằm trong nhóm các bệnh nhân có điểm NIHSS không cải thiện hoặc tăng lên ở thời điểm 24 giờ Điều này một lần nữa khẳng định, điểm NIHSS sau một giờ điều trị Alteplase nếu không cải thiện hoặc tăng lên cần tiếp tục được đánh giá để lụa chọn các biện pháp điều trị khác như tiêu huyết khối đường động mạch hoặc lấy huyết khối bằng dụng cụ can thiệp nội mạch nếu bệnh nhân vẫn còn trong cửa sổ điều trị
Từ kết quả phân tích ở chúng tôi thấy có 89,9% bệnh nhân có tái thông ở các mức
độ khác nhau, trong đó có 61,3% tái thông hoàn toàn Có 5 bệnh nhân (chiếm 16,1%) không có tái thông, trong đó có 3 bệnh nhân tắc động mạch cảnh trong và 2 bệnh nhân do tắc động mạch não giữa đoạn M1 Theo nghiên cứu của Kimura [5], có 41,2% bệnh nhân
có tái thông sau điều trị Alteplase Tỷ lệ này thấp hơn nghiên cứu của chúng tôi, lý do là Kimura đánh giá tái thông ở thời điểm một giờ sau điều trị Alteplase Còn theo nghiên cứu của Mai Duy Tôn [66], tỷ lệ tái thông sau 24 giờ là 57,2% Tỷ lệ này cũng thấp hơn trong nghiên cứu của chúng tôi Nghiên cứu của Mori [7], nghiên cứu hiệu quả tái thông
ở bệnh nhân tắc động mạch não giữa được điều trị bằng Alteplase có tỷ lệ tái thông sau
24 giờ đạt 69% Kết quả này thấp hơn trong nghiên cứu của chúng tôi với tỷ lệ tái thông đạt 83,3% ở bệnh nhân tắc động mạch não giữa đoạn M1, có thể có sự khác nhau này là
do tuổi hoặc thời gian khởi phát điều trị khác nhau
Trang 15Biến chứng chảy máu là biến chứng đáng ngại nhất trong điều trị tiêu sợi huyết, trong nghiên cứu của chúng tôi có 8 bệnh nhân có biến chứng chảy máu trong sọ, chiếm 10,4% Trong đó có 3 bệnh nhân có biến chứng xuất huyết chuyển dạng có triệu chứng, tương ứng với PH1 theo phân loại của ECASS 1 [8], chiếm 4% toàn bộ bệnh nhân nghiên cứu Kết quả này của chúng tôi tương tự của Mostafa [3] Kết quả nghiên cứu của Hans và cộng sự, tỷ lệ biến chứng xuất huyết chuyển dạng có triệu chứng là 7% ở bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cục bộ [9 Kết quả này cao hơn trong nghiên cứu của chúng tôi Các biến chứng khác chảy máu hệ thống, đái máu rất ít gặp Chúng tôi chi gặp một bệnh nhân đái máu đại thể và chảy máu tại nơi tiêm truyền chiếm 2,2% và 6 bệnh nhân đái máu vi thể chiếm 13% Không gặp bệnh nhân nào có biến chứng chảy máu tiêu hóa, dị ứng, sốc phản vệ.
Khi đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến thay đổi điểm NIHSS sau điều trị chúng tôi thấy giới nữ, huyết áp tâm thu > 160 mmHg, huyết áp tâm trương < 70 mmHg là các yếu tố ảnh hưởng đến kết cục tồi của bệnh nhân NIHSS cao, vị trí tắc mạch là các yếu tố ảnh hưởng đến tái thông mạch sau điều trị thuốc tiêu huyết khối Alteplase
5 KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 75 bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não cấp đến sớm trong vòng 4,5 giờ được điều trị bằng thuốc Alteplase tại khoa Cấp cứu Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc, chúng tôi đưa ra kết luận:
Tuổi trung bình của các bệnh nhân 68,90 ± 12,06 Trung bình NIHSS trước khi điều trị là 14,54 ± 4,68 Trên hình ảnh CLVT sọ não: các dấu hiệu rất đa dạng và không giống nhau ở các bệnh nhân, có 36,2% có hình ảnh bình thường bình thườngĐiều trị thuốc Alteplase là an toàn và hiệu quả đối với các bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp tính, tỷ lệ biến chứng thấp, làm tăng khả năng hồi phục
về thần kinh của bệnh nhân Kỹ thuật có thể triển khai được tại các cơ sở y tế được trang bị máy chụp cắt lớp vi tính sọ não và có đủ điều kiện để xử trí các biến chứng nếu có
6 KIẾN NGHỊ
- Tăng cường đào tạo cho cán bộ các tuyến cơ sở về cấp cứu đột quỵ, cần nhận biết sớm bệnh nhân đột quỵ và vận chuyển bệnh nhân đến cơ sở y tế có khả năng điều trị tái tưới máu Tốt nhất là trong vòng 3 giờ đầu Cần tuyên truyền cho người dân nhận biết về các dấu hiệu đột quỵ não Khi có dấu hiệu đột quỵ cần phải đến ngay cơ sở y tế để được tư vấn điều trị hợp lý
- Có một lượng bệnh nhân đáng kể không có tái thông mạch trong khi tái thông mạch máu là điều tiên quyết cho việc thành công của kỹ thuật Trên thực
tế, thế giới đã áp dụng điều trị tiếp nối, hay còn gọi là điều trị bắc cầu, nếu bệnh
Trang 16nhân sau khi điều trị thuốc tiêu huyết khối đường tĩnh mạch không tái thông hoặc tái thông mức độ thấp sẽ tiếp tục được lấy huyết khối bằng dụng cụ cơ học là biện pháp tái thông chắc chắn Như vậy cần đầu tư hệ thống trang thiết bị cho can thiệp nội mạch sẽ giúp giải quyết triệt để được điểm yếu của phương pháp tiêu huyết khối đường tĩnh mạch.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Benedikt F, Rachael F, Christian W, Ashafaq S, Kennedy R.L (2012) Impact
of atrial fibrillation on outcome in thrombolyzed patients with stroke: Evidence from
the Virtual International Stroke Trials Archive (VISTA) Stroke, 43, 1872 - 1877.
2 Gustavo S, David G, Roula R, Limei Zh, Robert G.H (2013) Atrial fibrillation
in stroke: Predicting response to thrombolysis and clinical outcome Stroke, 44, 99 - 104.
3 Mostafa A, Niall M.D, Celestine S, Evelyn T, Tracey B, Keith W.M (2010) Early recurrent ischemic stroke complicating intravenous thrombolysis for stroke:
incidence and association with atrial fibrillation Stroke, 41, 1990 -1995.
4 Yamaguchi T, Mori E, Minematsu K, Nakagawara J, Hashi K, Saito I, et al (2006) Alteplase at 0.6 mg/kg for Acute Ischemic Stroke Within 3 Hours of Onset
: Japan Alteplase Clinical Trial (J-ACT) Stroke, 37, 1810-1815.
5 Kimura K,Iguchi Y, Shibazaki K, Aoki J, Watanabe M, Matsumoto N, Yamashita S (2010) Early stroke treatment with IV t-PA associated with early
recanalization Journal of the Neurological Sciences, 295, 53-57.
6 Mai Duy Tôn (2012) Đánh giá hiệu quả điều trị đột quỵ nhồi máu não cấp trong vòng 3 giờ đầu bằng thuốc tiêu huyết khối đường tĩnh mạch Ateplase liều thấp, Luận án tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội.
7 Etsuro Mori, Kazuo Minematsu, Jyoji Nakagawara, Takenori Yamaguchi, Makoto Sasaki, Teruyuki Hirano, for the J-ACT II Group (2010) Effects of 0.6 mg/kg Intravenous Alteplase on Vascular and Clinical Outcomes in Middle cerebral Artery
Occlusion Stroke, 41, 461-465.
8 Hacke W, Kaste M, Fieschi C, et al (1995) Intravenous thrombolysis with recombinant tissue plasminogen activator for acute hemispheric stroke The European
Cooperative Acute Stroke Study (ECASS) JAMA, 274, pp 1017-1025.
9 Hans T H T, Bruce C V C, Soren C (2013) Worse stroke outcome in atrial fibrillation is explained by more severe hypoperfusion, infarct growth, and
hemorrhagic transformation World stroke organization, 1-7.
Trang 17NGHIÊN CỨU THỂ TÍCH VÀ CHỨC NĂNG TÂM THU THẤT TRÁI BẰNG SIÊU ÂM DOPPLER TIM
Ở BỆNH NHÂN SAU NHỒI MÁU CƠ TIM
Ths Nguyễn Văn Công, Ths Nguyễn Thành Lê, Ths Khổng Đình Kỷ, ĐD Nguyễn Đức Liên
TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá thể tích và chức năng tâm thu thất trái
bằng siêu âm doppler tim ở những bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim Khảo sát một
số chỉ số cận lâm sàng và lâm sàng ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang với 19 bệnh nhân được chẩn đoán xác định nhồi máu cơ tim và được siêu âm tim tại BVĐK tỉnh Vĩnh Phúc Kết quả:
Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 70.68 ± 12.4, tỷ lệ nam chiếm nhiều hơn:
>84% Có 94% bệnh nhân có ít nhất 1 yếu tố nguy cơ tim mạch, 100% bệnh nhân
có triệu chứng đau ngực, khó thở Có 94,7% số bệnh nhân có rối loạn vận động
thành tim các mức độ Phân số tống máu thất trái (EF) trung bình: 49.1 ± 14.0 Kết luận: Siêu âm tim trong đánh giá thể tích và chức năng tâm thu thất trái ở bệnh
nhân nhồi máu cơ tim: Thể tích thất trái tăng, chức năng tâm thu thất trái giảm, 94.7% bệnh nhân có rối loạn vận động vùng 100% bệnh nhân có khó thở và đau ngực khi vào viện, 100% bệnh nhân có tăng men tim.
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhồi máu cơ tim (NMCT) là tình trạng hoại tử cơ tim do hậu quả của thiếu máu cục bộ cơ tim mà nguyên nhân chủ yếu do mảng xơ vữa và huyết khối xuất phát từ mảng xơ vữa đó gây bít tắc lòng động mạch vành NMCT là một cấp cứu nội khoa với nhiều biến chứng nguy hiểm, tỷ lệ tử vong cao như sốc tim, rối loạn nhịp tim, suy tim Tại Việt Nam, theo thông kê tại Viện Tim Mạch Việt Nam thì tỷ
lệ bệnh nhân nội trú bị NMCT năm 1991 là 3,0%, năm 1996 là 6,1% và năm 1999
là 9,5% [5], [1] Năm 2003, tỷ lệ bệnh nhân vào viện vì nhồi máu cơ tim cấp là 4,2% đến năm 2007 con số này là 9,1%thời gian gần đây tỷ lệ bị NMCT cũng đang
có chiều hướng gia tăng Mặc dù hiện nay đã có rất nhiều tiến bộ trong chẩn đoán cũng như điều trị bệnh NMCT, tuy nhiên tỷ lệ biến chứng và tử vong do NMCT vẫn còn khá cao
Trong NMCT, việc chẩn đoán xác định giữ vai trò đặc biệt quan trọng để
từ đó đưa ra hướng điều trị cũng như tiên lượng bệnh Trước đây để chẩn đoán
Trang 18NMCT chúng ta vẫn thường áp dụng tiêu chuẩn của TCYTTG; Chẩn đoán xác định NMCT khi có 2 trong 3 tiêu chuẩn là: Đau ngực, biến đổi điện tim và tăng các men tim Siêu âm tim từ lâu đã là một phương pháp được áp dụng rộng rãi tại các bệnh viện tuyến trung ương và một số địa phương trong việc chẩn đoán, tiên lượng cũng như theo dõi sau điều trị nhồi máu cơ tim dựa trên đánh giá thể tích và chức năng tâm thu thất trái Tại Vĩnh Phúc, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên
cứu nào về vấn đề này, vì vậy chúng tôi tiến hành với 2 mục tiêu sau: Đánh giá thể tích và chức năng tâm thu thất trái bằng siêu âm doppler tim ở những bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim 2.Khảo sát một số chỉ số cận lâm sàng và lâm sàng
ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim.
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Gồm các bệnh nhân được chẩn đoán NMCT và được làm siêu âm tim tại phòng siêu âm tim của Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc từ 5/2015 – 5/2016.Các bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn được lấy vào mẫu nghiên cứu ngẫu nhiên theo thời gian, không phân biệt tuổi, giới, thời gian bị nhồi máu
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
Các bệnh nhân được chẩn đoán NMCT dựa theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y
tế Thế giới (TCYTTG) năm 1971, chẩn đoán xác định NMCT khi có 2 trong 3 tiêu chuẩn sau:
1 Đau ngực điển hình, dùng các thuốc giãn mạch không đỡ
2 Điện tâm đồ có các biến đổi đặc hiệu: ST chênh lên ≥1mm ở ít nhất 2 chuyển đạo ngoại biên , hoặc ≥ 2mm ở ít nhất 2 chuyển đạo trước tim liên tiếp
3 Men tim tăng cao: CPK hoặc CK-MB tăng lên ít nhất gấp 2 lần giới hạn trên của bình thường
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1.Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, lấy mẫu thuận tiện 2.2.2 Địa điểm nghiên cứu
Phòng siêu âm tim - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc
2.2.3 Các bước tiến hành
- Tất cả các bệnh nhân vào viện đều được khám lâm sàng, hỏi tiền sử, bệnh sử
kỹ lưỡng, làm các thăm dò cần thiết: Điện tâm đồ (ĐTĐ) thường quy 12 chuyển đạo, xét nghiệm cơ bản, định lượng các men tim đặc hiệu: CK, CK- MB, GOT, GPT
Trang 19- Chọn bệnh nhân vào nghiên cứu và làm bệnh án nghiên cứu theo mẫu riêng.
- Làm siêu âm tim cho các bệnh nhân theo yêu cầu nghiên cứu, gồm các bước siêu âm cơ bản và đánh giá thể tích, chức năng thất trái toàn bộ và từng vùng trên siêu âm 2D và TM
- Xử lý số liệu theo thuật toán thống kê Y học
2.2.4.Các thông số nghiên cứu
Siêu âm TM:
Các thông số đo đạc và tính toán trên siêu âm TM theo hướng dẫn của Hội
siêu âm Hoa kỳ [5], bao gồm:
- Bề dày vách liên thất cuối tâm trương và cuối tâm thu
- Đường kính thất trái cuối tâm trương (Dd) và cuối tâm thu (Ds)
- Bề dày thành sau thất trái cuối tâm trương và cuối tâm thu
- Phân số tống máu (EF) đo ở mặt cắt 4 buồng
- Điểm vận động của 16 vùng
Trang 203.1 Đặc điểm chung của các bệnh nhân nghiên cứu:
Về giới: Nam chiếm 84,2%, nữ chiếm 15.8%
Bảng 3.1 Một số đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu
HA tâm thu lúc vào viện (mmHg) 113.6 ± 35.1
HA tâm trương lúc vào viện(mmHg) 68.9 ± 18.5
3.1.2 Đặc điểm về siêu âm tim ở các bệnh nhân nghiên cứu
3.1.2.1 Trên siêu âm TM
Bảng 3.4 Các thông số về kích thước và chức năng tâm thu thất trái
trên siêu âm TM chung cho các bệnh nhân
Trang 213.1.2.2 Trên siêu âm 2D
Bảng 3.5 Các thông số về thể tích, phân số tống máu thất trái và số vùng
Bảng 3.7 So sánh giữa thể tích và phân số tống máu trên TM và trên 2D
4 BÀN LUẬN
4.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu
4.1.1 Đặc điểm chung về lâm sàng và cận lâm sàng
4.1.1.1 Về tuổi và giới
Bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu là nam (chiếm 84%), phù hợp với nhiều nghiên cứu trước đây là tỷ lệ bệnh mạch vành ở nam nhiều hơn nữ
Trang 224.1.1.2 Về đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng khi nhập viện
100% bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi đều có triệu chứng khó thở, đau ngực và tăng các men tim ở các mức độ khác nhau
Về mức độ suy tim:
Có 52.6% bệnh nhân của chúng tôi khi vào viện có mức độ suy tim Killip III, điều này không phù hợp với một số nghiên cứu khác khi bệnh nhân vào viện chủ yếu là suy tim Killip I Tuy nhiên số lượng bệnh nhân của chúng tôi không cao nên
có thể chưa đánh giá được chính xác
Về vị trí NMCT:
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 14 đối tượng (74%) là NMCT thành trước
và 5 đối tượng (26%) là NMCT thành sau, điều này cũng phù hợp với nhiều nghiên cứu trước đây cho thấy NMCT chủ yếu xảy ra ở thành trước
4.1.2 Về kích thước và chức năng tâm thu thất trái ở bn NMCT (đo trên
SA TM và 2D )
Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ số chức năng tâm thu thất trái (EF): 49.1 ± 14.0, đều giảm hơn so với bình thường, tuy nhiên, đường kính thất trái không giãn, điều này có thể do đa số BN đến trong thời kỳ cấp tính, sự tái cấu trúc chưa diễn ra
5 KẾT LUẬN
Siêu âm tim trong đánh giá thể tích và chức năng tâm thu thất trái ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim:
- Thể tích thất trái tăng
- Chức năng tâm thu thất trái giảm
- 94.7% bệnh nhân có rối loạn vận động vùng
Các dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng:
- 100% bệnh nhân có khó thở và đau ngực khi vào viện
- 100% bệnh nhân có tăng men tim
6 KIẾN NGHỊ
Qua những kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi xin có một số khuyến nghị sau:
Ở những bệnh nhân NMCT nên làm thêm siêu âm tim để đánh giá kích thước và chức năng tâm thu thất trái một cách toàn diện và chính xác hơn, giúp cho vấn đề chẩn đoán, điều trị cũng như tiên lượng bệnh được hiệu quả hơn
Trang 23TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đỗ Kim Bảng (2002) “Nghiên cứu khả năng dự đoán vị trí tổn thương
động mạch vành bằng điện tâm đồ ở bệnh nhân bị NMCT cấp” Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ nội trú Bệnh viện, Đại học Y hà Nội
2 Tưởng Thị Hồng Hạnh (2002) “Vai trò của siêu âm doppler tim trong
đánh giá những biến đổi về hình thái và chức năng của thất trái trên những bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp” Luận án Tiến sỹ y học, Học viện quân y
(1995), “Bước đầu nghiên cứu các thông số siêu âm tim ở người bình thường”, Kỷ
yếu công trình nghiên cứu khoa học, Đại học Y Hà Nội, tập I, tr 77 – 82.
hình ảnh chụp động mạch vành chọn lọc trong chẩn đoán các bệnh tim thiếu máu cục bộ” Luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú bệnh viện, Đại học Y hà Nội
5 Nguyễn Thị Bạch Yến (2004) “Nghiên cứu rối loạn vận động vùng và
chức năng tâm thu thất trái sau NMCT bằng siêu âm tim (có đối chiếu với chụp buồng tim)” Luận án Tiến sỹ Y học, Đại học Y Hà Nội
6 Arai, K., T Hozumi, et al (2004) “Accuracy of measurement of left
ventricular volume and ejection fraction by new real-time three-dimensional echocardiography in patients with wall motion abnormalities secondary to myocardial infarction.” Am J Cardiol 94(5): 552-558.
7 Hung, C L., S L Tien, et al (2011) “The incremental value of regional
dyssynchrony in determining functional mitral regurgitation beyond left ventricular geometry after narrow QRS anterior myocardial infarction: a real time three-dimensional echocardiography study.” Echocardiography 28(6): 665-675.
Trang 24NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH VĨNH PHÚC 2016
Ths-Bs.CKII Đỗ Trọng Cán, Ths.Bs Đinh Thị Thanh Huyền
TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện, một số yếu tố
liên quan đến nhiễm khuẩn bệnh viện tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Phương pháp mô tả cắt ngang, lấy
mẫu thuận lợi, với các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm trùng bệnh viện tại BVĐK Tỉnh Vĩnh Phúc từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2016.
Kết quả: Kết quả của nhóm nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh
viện là 2,7 % (trong 7469 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nghiên cứu có 200 bệnh nhân nhiễm khuẩn bệnh viện) Tỷ lệ các loại NKBV của nhóm nghiên cứu cao nhất là viêm phổi (42,0%), tiếp đến là nhiễm khuẩn vết mổ (31,5%), nhiễm khuẩn huyết là 15,0%, nhiễm khuẩn tiết niệu có tỷ lệ chiếm 11,5%.Tỷ lệ NKBV tại khu vực HSTC
là 26,3%.
Một số yếu tố nguy cơ liên quan đến NKBV như việc can thiệp bởi các thủ thuật (đặt catheter, thông tiểu, đặt nội khí quản, lọc máu) với p≤ 0.05, thời gian nằm viện với p≤ 0.05, tuổi, giới và nơi điều trị với p≤ 0.05.
Căn nguyên gây nhiễm khuẩn bệnh viện phân lập được là 24,3% Klebsiella, 18,9 % Acinetobacter, 16,8 % P aeruginosa, 10,8% E.coli, 10,3% Enterococcus, 9,2% nấm cancidas, 6,5% Staph aureus.
Tỷ lệ sử dụng kháng sinh là 93,5%, trong số bệnh nhân được sử dụng kháng sinh, có 24,6% bệnh nhân sử dụng 1 loại kháng sinh, 33,2% bệnh nhân được sử dụng
2 loại kháng sinh phối hợp, tới 42,2% bệnh nhân đã phải dùng >2 loại kháng sinh.
Kết luận: Tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện là 2,7 %, tỷ lệ NKBV cao nhất là viêm
phổi (42,0%) Một số yếu tố nguy cơ liên quan đến NKBV như việc can thiệp bởi các thủ thuật (đặt catheter, thông tiểu, đặt nội khí quản, lọc máu), thời gian nằm viện, tuổi, giới và nơi điều trị có ý nghĩa thống kê với p≤ 0.05.
Căn nguyên gây nhiễm khuẩn bệnh viện phân lập được là 24,3% Klebsiella, 18,9 % Acinetobacter, 16,8 % P aeruginosa, 10,8% E.coli, 10,3% Enterococcus, 9,2% nấm cancidas, 6,5% Staph aureus.
Tỷ lệ sử dụng kháng sinh là 93,5%, trong đó có 24,6% bệnh nhân sử dụng 1 loại kháng sinh, 33,2% bệnh nhân được sử dụng 2 loại kháng sinh phối hợp, tới 42,2% bệnh nhân đã phải dùng >2 loại kháng sinh.
Trang 251 ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn bệnh viện là một vấn đề được y học quan tâm từ lâu, là một trong những thách thức và mối quan tâm hàng đầu không những ở các nước đang phát triển mà còn ở hầu hết các nước trên toàn thế giới NKBV là một trong những chỉ tiêu đánh giá chất lượng bệnh viện Cùng với sự xuất hiện một số bệnh gây ra bởi những vi khuẩn kháng thuốc, hoặc bởi những tác nhân gây bệnh mới, NKBV vẫn còn là vấn đề nan giải ngay cả ở các nước phát triển, với tỉ lệ nhiễm khuẩn chung khá cao Theo thống kê, tại các nước đã phát triển, khoảng 5- 10% bệnh nhân nhập viện bị mắc thêm NKBV [5,7,9,10]
Nhiễm khuẩn bệnh viện (Nosocomial infection) là “những nhiễm khuẩn người bệnh mắc phải trong thời gian điều trị tại bệnh viện mà thời điểm nhập viện không thấy có yếu tố nhiễm khuẩn hay ủ bệnh nào NKBV thường xuất hiện sau
48 giờ kể từ khi người bệnh nhập viện”
NKBV theo thống kê trên thế giới cũng như ở Việt Nam là các viêm phổi bệnh viện, nhiễm trùng vết mổ, nhiễm trùng tiết niệu và nhiễm khuẩn huyết Tỉ lệ các nhiễm khuẩn này có khác nhau tại mỗi thời điểm ở mỗi quốc gia, nhưng đều
đưa đến những hậu quả nghiêm trọng làm tăng thêm thời gian cũng như chi phí điều trị, tăng tình trạng kháng thuốc kháng sinh trong cộng đồng
Trên cơ sở những kết quả về NKBV trên thế giới và ở Việt Nam, những hậu quả của NKBV, việc kiểm soát NKBV trong những năm gần đây đã được quan tâm hơn Tuy nhiên, ở Việt Nam cũng chỉ mới tập trung ở những bệnh viện trung ương như Bạch Mai, Bệnh viện Bệnh nhiệt đới, Bệnh viện Việt Đức, Bệnh viện Chợ rẫy thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh viện Trung ương Huế
Tại tỉnh Vĩnh Phúc, việc đánh giá thực trạng NKBV chưa đầy đủ do còn nhiều hạn chế Vì vậy, đánh giá thực trạng và giám sát nhiễm khuẩn thường xuyên để đảm bảo vô khuẩn, an toàn trong chăm sóc và điều trị bệnh nhân, giảm mức thấp nhất các NKBV, đặc biệt là đưa ra các giải pháp thiết thực giúp kiểm soát nhiễm khuẩn hiệu quả là thật sự cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc và điều trị của Bệnh viện
Trang 26Thực tế hiện nay không phải tất cả các nhân viên y tế (NVYT) đều ý thức được việc thực hiện kiểm soát NKBV, nhất là phòng ngừa sự lây nhiễm chéo Bệnh viện
đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc là bệnh viện tuyến tỉnh, hạng I, là bệnh viện tuyến cao nhất trong địa bàn tỉnh, là cơ sở khám chữa bệnh cũng như đào tạo Bệnh viện có nhiệm vụ thu dung, khám và điều trị các bệnh nhân trong địa bàn tỉnh và các bệnh nhân của một số tỉnh lân cận như Phú Thọ, Tuyên Quang Bệnh viện có quy mô
750 giường bệnh nhưng luôn trong tình trạng quá tải, lưu lượng người hàng ngày qua lại rất đông bao gồm các bệnh nhân nội trú, ngoại trú, người nhà bệnh nhân, cán bộ y tế, học viên và sinh viên thực tập Những yếu tố này tác động không nhỏ tới tình trạng nhiễm khuẩn trong bệnh viện Công tác kiểm soát NKBV tại đây có ý nghĩa hết sức quan trọng, nếu làm tốt công tác này sẽ nâng cao chất lượng điều trị, tiết kiệm được chi phí điều trị, giảm thời gian phải nằm viện cho người bệnh từ đó giảm gánh nặng cho gia đình người bệnh và bệnh viện, góp phần giảm tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn, xuất phát từ thực tế đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với 2 mục tiêu:
1 Xác định tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện viện tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc.
2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến nhiễm khuẩn bệnh viện tại Bệnh viện
đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc.
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trên những bệnh nhân
nhập viện từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2016 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc
- Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân: Tất cả bệnh nhân nằm điều trị nội trú nhập viện trên 48 giờ
- Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân: Tất cả bệnh nhân ngoại trú và nhập viện dưới
48 giờ, những bệnh nhân có nhiễm khuẩn trong 48 giờ đầu kể từ khi nhập viện
2.2 Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, lấy mẫu thuận lợi 2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: Từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2016
tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc
2.4 Các biến số của nghiên cứu:
- Tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện:
+ Tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện chung
+ Tỷ lệ NKBV theo phương diện giải phẫu: Nhiễm khuẩn hô hấp (viêm phổi), nhiễm khuẩn vết mổ, nhiễm khuẩn tiết niệu, nhiễm khuẩn huyết…
Trang 27+ NKBV theo khu vực điều trị.
- Một số yếu tố liên quan đến NKBV: Tuổi, giới, thời gian nằm viện, sử dụng kháng sinh, can thiệp khi vào viện…
- Tác nhân vi khuẩn gây NKBV phân lập được, mức độ đề kháng với kháng sinh của các vi khuẩn phân lập được
2.5 Xử lý số liệu: Các số liệu được thu thập vào mẫu phiếu thu thập thông
tin, nhập vào phần mềm Epidata 3.1, phân tích bằng phấm mềm SPSS 16.0
Nhận xét: Tổng số bệnh nhân đủ tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu là 7469 bệnh
nhân, trong đó có 200 trường hợp xác định là nhiễm khuẩn bệnh viện, tỷ lệ 2,7 %
Bảng 3.2.Tỷ lệ các loại NKBV theo vị trí giải phẫu
Nhận xét: Tỉ lệ các loại NKBV gặp là: Viêm phổi bệnh viện 42%, Nhiễm
khuẩn vết mổ 31,5%, Nhiễm khuẩn huyết 15%, Nhiễm khuẩn tiết niệu 11,5%
Bảng 3.3.Phân bố NKBV theo khu vực điều trị
Nhận xét: Tỉ lệ NKBV ở khu vực điều trị tích cực là 26,3 %, khối Ngoại –
Sản là 1,8%, khối Nội – Nhi là 0,9%
Trang 283.2 Một số yếu tố liên quan đến NKBV
Một số yếu tố như: tuổi, giới, nơi điều trị, thời gian nằm viện, thủ thuật can thiệp, lý do vào viện có liên quan đến NKBV Tuổi gặp ở bệnh nhân NKBV cao nhất là > 60 tuổi (44,5%), giới nam (55,5%) gặp NKBV nhiều hơn nữ (44,5%) Khoa HSTC gặp tỉ lệ NKBV (26,3%) cao hơn so với khoa thường ( Ngoại - Sản là 1,8%, Nội - Nhi là 0,9%) Bệnh nhân NKBV có thời gian nằm viện trên 7 ngày là 86,5%, nằm viện dưới 7 ngày là 13,5% Các thủ thuật can thiệp và các bệnh nhiễm trùng đều có liên quan đến NKBV, có ý nghĩa thống kê với p<0.05
Số ngày nằm viện của bệnh nhân NKBV là 22 ngày, trong khi đó số ngày nằm viện trung bình của bệnh nhân không mắc NKBV là 7 ngày
Bệnh nhân NKBV đa số có sử dụng kháng sinh trước đó (93,5%), tỉ lệ nhỏ bệnh nhân không sử dụng kháng sinh trước khi có NKBV (6,5%)
Trong số bệnh nhân được sử dụng kháng sinh, có 24,6% bệnh nhân sử dụng
1 loại kháng sinh, 33,2% bệnh nhân được sử dụng 2 loại kháng sinh phối hợp, tới 42,2% bệnh nhân đã phải dùng >2 loại kháng sinh
Căn nguyên gây nhiễm khuẩn bệnh viện phân lập được
Căn nguyên gây nhiễm khuẩn bệnh viện gặp là 24,3% Klebsiella, 18,9 % Acinetobacter, 16,8 % P aeruginosa, 10,8% E.coli, 10,3% Enterococcus, 9,2% nấm cancidas, 6,5% Staph aureus.
Biểu đồ 3.1: Tỉ lệ Vi khuẩn Gram gây NKBV
Kết quả cho thấy vi khuẩn Gram âm gây NKBV là 74%, vi khuẩn Gram dương gây NKBV là 17%, 9% gây NKBV do nấm
17%
74%
Vi khuẩn Gr âm Nấm
Trang 29Tính nhạy cảm với kháng sinh của vi khuẩn gây NKBV phân lập được
Tỉ lệ đề kháng với kháng sinh của các vi khuẩn họ đường ruột rất cao, hầu hết các kháng sinh đã bị đề kháng, với dòng cephalosporin thế hệ 2, 3 tỉ lệ kháng
là 97.8% (44/45), tỉ lệ còn nhạy cảm với kháng sinh Ertapenem cao nhất là còn 34/45, tiếp đến là Imipenem 27/45, các kháng sinh khác tỉ lệ nhạy cảm thấp hơn.Kết quả mức độ nhạy cảm với kháng sinh của vi khuẩn Gram âm ngoài
đường ruột như Acinetobacter, Pseudomonas, Burkholderia gây NKBV cũng đề
kháng khá nhiều với các kháng sinh, với nhóm cephalosporin thế hệ 2, 3 tỉ lệ kháng là94.3% (33/35), chỉ còn tỉ lệ nhạy cảm cao hơn ở nhóm Carbapenem như Ertapenem cao nhất là còn 30/35, tiếp đến là Imipenem 25/31, còn lại có tỉ lệ nhậy cảm thấp hơn đối với các kháng sinh khác
Các vi khuẩn Gram dương như Staph aureus, Enterococcus, tỉ lệ đề kháng
kháng sinh cũng tương đối cao ở các bệnh nhân NKBV, tỉ lệ tụ cầu vàng kháng Vancomycin là 41.7% (5/12), không có trường hợp nào kháng hết các thuốc kháng sinh khi làm kháng sinh đồ, nhưng vẫn phải chọn kháng sinh nhạy cảm
4 BÀN LUẬN
4.1 Tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện
Trong nghiên cứu này của chúng tôi, tỷ lệ NKBV chung là 2,7%, có thấp hơn so với các nghiên cứu trong và ngoài nước khác Tỷ lệ này thấp hơn nghiên cứu năm 2005 của Bộ Y Tế tại 19 bệnh viện là 5,7% Thấp hơn nghiên cứu tại bệnh viện của London năm 1995 Đây có thể đánh giá sơ bộ về công tác kiểm soát NKBV đã được bệnh viện quan tâm, cũng chưa loại trừ chúng tôi còn hạn chế chưa nghiên cứu được hết các bệnh nhân vào nhập viện
Tỷ lệ các loại NKBV gặp trong nghiên cứu này cao nhất là viêm phổi bệnh viện (42,0 %), tiếp đến là nhiễm khuẩn vết mổ (31,5%), nhiễm khuẩn huyết có tỷ
lệ 15,0%, nhiễm khuẩn tiết niệu là 11,5% Kết quả này tương tự các kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước [4,5,7,9,10] Tỷ lệ này gặp cao vì bệnh nhân NKBV trong nghiên cứu này chủ yếu từ khoa Hồi sức tích cực (HSTC), bệnh nhân nằm lâu, thở máy, bệnh nhân già yếu, suy kiệt nên viêm phổi thường mắc phải Tỷ lệ nhiễm khuẩn tiết niệu cũng vậy, các bệnh nhân nặng nằm HSTC đa phần phải nằm lâu, có đặt sonde tiểu, các bệnh nhân khối ngoại có đặt sonde tiểu thì việc NKTN có nguy cơ cao, khó tránh
Trong số vi khuẩn gây NKBV phân lập được có 17% vi khuẩn Gram dương,
9% nấm candida, còn lại đến 74% là vi khuẩn Gram âm Kết quả này tương tự kết
Trang 30quả nghiên cứu của một số tác giả bệnh viện Trung ương Huế (11,3% Gram dương, 16,6% candidas, 72% vi khuẩn Gram âm) Tương tự kết quả nghiên cứu của một số nước đang phát triển (23,8% Gram dương, 21,4% nấm, 54,8% Gram âm) Nhưng trái ngược với mô hình tại các nước phát triển Theo nghiên cứu thực hiện tai 35 khoa điều trị tích cực tại Mỹ thì có đến 46,6% vi khuẩn gây NKBV là Gram dương, chỉ có 36,1 Gram âm [2,3,4,5,6,7,8,9].
Trong số căn nguyên vi khuẩn Gram âm gây bệnh gặp nhiều là vi khuẩn họ
đường ruột, trong đó tỷ lệ Klebsiella pneumonia (24,3%) là cao nhất Tiếp đến
là Acinetobacter (18,9%), Pseudomonas aeruginosa (16,8%), E coli (10,8%), Enterococcus (10,3%), nấm (9,2%), Staphylococcus aureus (6,5%), Seratia (1,6%), Burkholderia (1,6%) Kết quả này tương tự kết quả nghiên cứu của Đoàn
Mai Phương trong 3 năm (2008-2009-2010) tại Bệnh viện Bạch Mai, tỷ lệ phân lập
vi khuẩn trong số 14548 chủng gây nhiễm khuẩn bệnh viện, tỷ lệ vi khuẩn Gram
âm là 74,0%, tỷ lệ vi khuẩn Gram dương là 26,0% [3] Kết quả của Trần Thị Hà
Phương, Klebsiella là 30%, P aeruginosa là 10%, E coli là 10% [4].
4.2.Một số yếu tố liên quan
Một số yếu tố liên quan đến NKBV như tuổi, giới, khoa điều trị, số ngày nằm điều trị, các thủ thuật can thiệp và lý do vào viện có liên quan đến NKBV trong nghiên cứu của chúng tôi Kết quả này phù hợp với các kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước [2,3,4,5,6, 7,8,9,10] Và cũng phù hợp với tình hình thực tế, nhất là các thủ thuật can thiệp có ảnh hưởng rất rõ rệt
5 KẾT LUẬN
Tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện là 2,7 %
Tỷ lệ các loại NKBV của nhóm nghiên cứu cao nhất là viêm phổi (42,0 %), tiếp đến là nhiễm khuẩn vết mổ (31,5%), nhiễm khuẩn huyết có tỷ lệ là 15,0%, nhiễm khuẩn tiết niệu là 11,5%
Trong số vi khuẩn gây NKBV phân lập được có 17% vi khuẩn Gram dương,
9% nấm candida, còn lại đến 74% là vi khuẩn Gram âm Trong số căn nguyên
vi khuẩn Gram âm gây bệnh gặp nhiều là vi khuẩn họ đường ruột, trong đó tỷ lệ
Klebsiella pneumonia (24,3%) là cao nhất Tiếp đến là Acinetobacter (18,9%), Pseudomonas aeruginosa (16,8%), E coli (10,8%), Enterococcus (10,3%), nấm (9,2%), Staphylococcus aureus (6,5%), Seratia (1,6%), Burkholderia (1,6%).
Tuổi, giới, khoa điều trị, số ngày nằm điều trị, các thủ thuật can thiệp và lý do vào viện có liên quan đến NKBV với p<0.05
Trang 31KIẾN NGHỊ
Sở Y tế, các ban ngành có chính sách quan tâm để nâng cao giáo dục trong nhân viên y tế và cộng đồng về NKBV, các nguy cơ và các biện pháp kiểm soát NKBV Khuyến khích các nghiên cứu về thực trạng NKBV, các biện pháp kiểm soát NKBV phù hợp với từng đơn vị y tế
Đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất, đảm bảo môi trường bệnh viện giúp kiểm soát được NKBV, nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân Bệnh viện tăng cường các biện pháp giám sát chặt chẽ, can thiệp kịp thời nhằm giảm tỷ lệ NKBV để nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh (giám sát rửa tay, giám sát tuân thủ quy trình kỹ thuật khi tiến hành thủ thuật, vệ sinh môi trường buồng bệnh, buồng cách ly…) Tăng các phương tiện, trang thiết bị thuận tiện cho việc vệ sinh tay khi tiến hành thăm khám và làm thủ thuật
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Y tế (2003), “Định nghĩa về tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm khuẩn bệnh viện”, Tài liệu hướng dẫn quy trình chống nhiễm khuẩn bệnh viện, NXB Y học, Hà
Nội, Tập 1, chương I, IV, tr 33-45, tr 57-70
2 Phạm Đức Mục và cộng sự (2001), “Giám sát NKBV tại 11 BV”, Tạp chí
Y học thực hành, 2005
3 Đoàn Mai Phương (2010), “Đánh giá mức độ đề kháng kháng sinh của các
vi khuẩn gây bệnh phân lập được tại Bệnh viện Bạch mai trong 3 năm 2010” Tạp chí Y học lâm sàng – Bệnh viện Bạch Mai, tr:192-199
2008-2009-4 Trần Thị Hà Phương và cộng sự (2015), “Nghiên cứu tình hình nhiễm khuẩn bệnh viện và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện đa khoa Đồng Nai năm 2014” Tạp chí Y học thực hành, 2015, tr: 61-72.
5 Trương Anh Thư (2008), “Tỉ lệ hiện mắc nhiễm khuẩn bệnh viện và sử dụng kháng sinh tại một số bệnh viện phía bắc Việt Nam”, tạp chí y học lâm sàng
9 Kollef MH, Ward S, Sherman G, et al Inadequate treatment of nosocomial
infections is associated with certain empiric antibiotic choices Crit Care Med 2000;28: 3456–64
Trang 32KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU PHẪU THUẬT CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO BẰNG MÁY KHOAN - MÀI CẮT SỌ CHẠY KHÍ NÉN TỰ CHẾ
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH VĨNH PHÚC
BS.CKII Hồ Nguyên Hải, ThS Nguyễn Thanh Nam và cộng sự
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá kết quả bước đầu phẫu thuật cấp cứu chấn thương sọ
não bằng máy khoan - mài cắt sọ chạy khí nén tự chế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc Đánh giá hiệu quả của máy khoan - mài cắt sọ chạy khí nén tự chế so
với các thiết bị mở sọ cổ điển Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên
cứu mô tả 158 bệnh nhân được phẫu thuật sọ não có sử dụng máy khoan - mài cắt
sọ chạy khí nén tự chế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc từ tháng 01/2016 -
02/2017 Kết quả: Đa số chấn thương sọ não thường gặp ở độ tuổi 21- 50 chiếm
78,3% chủ yếu do tai nạn giao thông, nam chiếm nhiều hơn nữ Đa số tử vong gặp
ở bệnh nhân Glasgow dưới 8 điểm, có suy hô hấpchiếm tỉ lệ 7% Kết luận: Đa số
chấn thương sọ não gặp ở nam giới và độ tuổi thường gặp từ 21 đến 50, chủ yếu do tai nạn giao thông Kết quả mổ sẽ tốt hơn nếu bệnh nhân đến sớm, không có suy hô hấp và được hồi sức tốt Việc sử dụng máy khoan - mài cắt sọ chạy khí nén tự chế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc đem lại kết quả rõ ràng, góp phần rút ngắn thời gian mổ, giảm mất máu trong phẫu thuật giúp bệnh nhân hồi phục tốt hơn.
đã trở thành thường quy Tuy nhiên trong các phẫu thuật sọ não chúng tôi vẫn sử dụng khoan điện và cưa dây cổ điển để mở sọ
Với thực tế trên chúng tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu và chết tạo máy khoan - mài cắt sọ chạy bằng khí nén áp dụng trong các phẫu thuật mở sọ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc với các mục tiêu sau:
Trang 331 Đánh giá kết quả bước đầu phẫu thuật cấp cứu chấn thương sọ não bằng máy khoan - mài cắt sọ chạy khí nén tự chế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc
2 Đánh giá hiệu quả của máy khoan - mài cắt sọ chạy khí nén tự chế so với các thiết bị mở sọ cổ điển.
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Là tất cả các bệnh nhân được phẫu thuật sọ não có sử dụng máy khoan - mài
cắt sọ chạy khí nén tự chế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc
2.2 Thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu
- Thời gian: Bắt đầu từ tháng 1 năm 2016 đến tháng 12 năm 2016
- Địa điểm: Khoa Ngoại Thần Kinh Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc
- Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả
- Thiết kế nghiên cứu: Các thông số nghiên cứu được tập hợp theo biểu mẫu chung
- Mẫu nghiên cứu, cỡ mẫu và cách chọn mẫu :
+ 156 mẫu nghiên cứu
+ Cách chọn mẫu tất cả những bệnh nhân phẫu thuật sọ não có sử dụng máy khoan - mài cắt sọ chạy khí nén tự chế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc
- Nội dung nghiên cứu/Các biến số và chỉ số trong nghiên cứu: Các bệnh nhân được nghiên cứu theo các chỉ số sau:
+ Tuổi, giới
+ Tình trạng tri giác lúc vào viện và sau phẫu thuật theo thang điểm Glasgow.+ Hình thái tổn thương dựa trên phim chụp cắt lớp vi tính sọ não của bệnh nhân+ Đánh giá kết quả điều trị, theo điểm Glasgow
+ Đánh giá thời gian phẫu thuật của các vùng bằng khoan - mài cắt sọ chạy khí nén tự chế.
2.3 Quy trình nghiên cứu
- Các bệnh nhân được phẫu thuật cấp cứu chấn thương sọ não tại khoa Gây
mê hồi sức
- Bộ công cụ nghiên cứu và kĩ thuật thu thập số liệu bao gồm:
+ Lập bảng kiểm
+ Lập mẫu bệnh án nghiên cứu
+ Phân tích và xử lý số liệu: Số liệu nghiên cứu được xử lý bằng phần mềm SPSS 12.0
Trang 343 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Tuổi, giới
Đa số chấn thương sọ não thường gặp ở độ tuổi 21- 50 chiếm 78,3% chủ yếu
do tai nạn giao thông, nam chiếm nhiều hơn nữ
Nhận xét: Đa số bệnh nhân chúng tôi gặp là máu tụ dưới màng cứng có chỉ
định mổ lấy máu tụ giảm áp sọ não
Trang 35Nhận xét:
- Việc sử dụng khoan cắt sọ tự chế mang lại hiệu quả rõ rệt rút ngắn thời gian mổ
- Việc dùng khoan - mài cắt sọ cải tiến đem lại nhiều lợi ích và vẫn đảm bảo
vô khuẩn theo quy định của Bộ Y tế
+ Mũi khoan cắt được ngâm trong dung dịch khử khuẩn chuyên dùng cho dụng cụ nội soi theo quy trình của Bộ Y tế
+ Khoan được khử khuẩn bằng hơi phoocmon trong hộp kín theo quy trình của Bộ Y tế, khi sử dụng khoan được bọc săng vô khuẩn, đầu khoan được sát khuẩn bằng cồn trước khi lắp mũi khoan
- Sử dụng khoan bằng máy giúp rút ngắn thời gian mổ nhất là trong trường hợp phải phẫu thuật cấp cứu mở sọ giảm áp diện rộng, diện tích tối thiểu theo yêu cầu giảm áp là phải mở sọ từ 7 x 10cm, tối thiểu chúng tôi cần khoan 6 - 8 lỗ, nay chỉ cần khoan 3 - 4 lỗ, giúp giảm được lượng máu mất trong mổ so với khoan tay Rút ngắn thời gian gây mê thông qua đó giảm lượng thuốc mê dùng cho bệnh nhân giúp tránh độc hại cho gan, thận của bệnh nhân Rút ngắn thời gian gây mê, cũng
là giảm thời gian chạy máy gây mê làm tăng tuổi thọ của máy mê
- Việc khoan bằng khoan mài - cắt sọ chạy khí nén cải tiến mở violet sọ dễ hơn, giữ lại xương sọ cho tất cả các trường hợp tối cấp cứu mà trước đây chúng tôi phải gặm bỏ xương để giải phóng chèn ép não cấp
- Với giá thành của hệ thống khoan sọ đồng bộ các hãng nước ngoài cung cấp giá dao động từ 1.500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng tùy từng hãng phân phối (trong nước chưa sản xuất được), riêng mũi khoa có giá từ 3.000.000 đồng đến 3.500.000 đồng là vật tư tiêu hao Khoan hơi chúng Tôi sử dụng chỉ có giá từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng
- Sử dụng khoan sọ cải tiến giúp các Bác sỹ trong khoa Ngoại Thần kinh có một công cụ hữu ích sử dụng với giá cả hợp lý phục vụ bệnh nhân trong khi chờ mua hệ thống khoan đồng bộ hoàn chỉnh
(Dây cưa sọ cổ điển) (Hệ thống khoan mài - cắt sọ tự chế)
Trang 364 KẾT LUẬN
- Đa số chấn thương sọ não gặp ở nam giới và độ tuổi thường gặp từ 21 đến
50, chủ yếu do tai nạm giao thông
- Kết quả mổ sẽ tốt hơn nếu bệnh nhân đến sớm, không có suy hô hấp và được hồi sức tốt
- Việc sử dụng máy khoan - mài cắt sọ chạy khí nén tự chế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc đem lại kết quả rõ ràng, góp phần rút ngắn thời gian mổ, giảm mất máu trong phẫu thuật giúp bệnh nhân hồi phục tốt hơn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đỗ Văn Dũng, Bùi Ngọc Tiến (2009), “ Đánh giá kết quả điều trị máu
tụ dưới màng cứng cấp tính tại bệnh viện 198” Tạp chí y học thực hành Hội nghị
phẫu thuật Thần kinh lần thứ X Hội phẫu thuật Thần kinh Việt Nam tháng 12/2009 trang 417 - 423
2 Ngô Đình Dương (2009), “Đánh giá kết quả phẫu thuật chấn thương sọ não
tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Kom Tum” Tạp chí y học thực hành Hội nghị phẫu thuật
Thần kinh lần thứ X Hội phẫu thuật Thần kinh Việt Nam tháng 12/2009 trang 471-479
3 Nguyễn Kim Liên (2009) , “Nghiên cứu một số yếu tố tiên lượng nguy cơ
tử vong sớm của bệnh nhân chấn thương sọ não tại bệnh viện Việt Đức” Tạp chí y
học thực hành Hội nghị phẫu thuật Thần kinh lần thứ X Hội phẫu thuật Thần kinh Việt Nam tháng 12/2009 trang 585 - 591
4 Nguyễn Đình Hùng, Nguyễn Công Tô, Dương Trung Kiên, Dương
Đình Tuấn, Lương Minh Quang (2012), “Kỹ thuật giải phóng chèn ép não trong
chấn thương sọ não nặng” Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh Hội nghị phẫu
thuật Thần kinh thường niên lần thứ XIII tháng 12/2012 trang 109 - 112
5 Trần Thị Phương Nga, Trần Quang Vinh (2009), “ Tổn thương sợi trục
lan tỏa trong chấn thương sọ não lâm sàng, hình ảnh học và kết quả điều trị” Tạp
chí y học thực hành Hội nghị phẫu thuật Thần kinh lần thứ X Hội phẫu thuật Thần kinh Việt Nam tháng 12/2009 trang 471- 479
Trang 376 Đồng Quang Sơn, Trần Chiến, Nguyễn Công Bằng (2009), “ Nhận xét
tình hình phẫu thuật chấn thương sọ não tại bệnh viện Đa khoa Trung Ương Thái Nguyên từ tháng 1/2009 đến tháng 6/2009” Tạp chí y học thực hành Hội nghị
phẫu thuật Thần kinh lần thứ X Hội phẫu thuật Thần kinh Việt Nam tháng 12/2009 trang 511- 514
7.Trần Văn Thiết (2009), “ Điều trị 17.856 bệnh nhân sọ não tại bệnh viện
Đa khoa Thanh Hóa từ tháng 7/2004 đến tháng 7/2009” Tạp chí y học thực hành
Hội nghị phẫu thuật Thần kinh lần thứ X Hội phẫu thuật Thần kinh Việt Nam tháng 12/2009 trang 372 - 376
8 Bùi Ngọc Tiến (2012), “Phẫu thuật giải phóng chèn ép não trên bệnh
nhân sọ não nặng” Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh Hội nghị phẫu thuật
Thần kinh thường niên lần thứ XIII tháng 12/2012 trang 212 - 214
Trang 38NHẬN XÉT HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ NGỘ ĐỘC PARAQUAT BẰNG QUẢ LỌC RESIN HA 230 TẠI KHOA HSTC-CĐ
BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH VĨNH PHÚC NĂM 2015-2016
ThS Ngô Mạnh Hà, BS Nguyễn Kim Hiệp, BS Vũ Văn Hiệp,
BS Nguyễn Đức Quỳnh, ĐD Nguyễn Kim Tiến,
ĐD Nguyễn Thị Lan Hương, ĐD Trần Thị Huệ
TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu: Đặc điểm triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng ở
bệnh nhân (BN) ngộ độc paraquat Nhận xét hiệu quả điều trị ngộ dộc Paraquat bằng quả lọc Resin HA 230 tại khoa Hồi sức tích cực và chống độc (HSTC-CĐ)
bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh phúc năm 2015-2016 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Trong thời gian từ tháng 1/2013 – 31/12/16, Bệnh viện đa khoa tỉnh
Vĩnh phúc tiếp nhận 32 ca ngộ độc Paraquat (PQ) do tự tử trong đó có 12 ca được lọc máu hấp phụ, đa số đến viện trước 2 giờ (50%) Tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh phúc bệnh nhân được hồi sức cơ bản, lọc máu hấp phụ, cyclophosphamide, methylprednisolon,…:12 bệnh nhân được lọc máu hấp phụ từ 3- 5 lần chiếm tỷ lệ
83.3%, từ 1-3 lần chiếm tỷ lệ 8.3% và trên 5 lần chiếm tỷ lệ 8.3% Kết quả: 05 bệnh nhân tử vong, 02 bệnh nhân sống và 05 bệnh nhân có di chứng Kết luận: Lọc máu
hấp phụ làm giảm chưa nhiều tỷ lệ tử vong do ngộ độc cấp paraquat.
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Paraquat (viết tắt của paraquaternary bipyridyl) là một thuốc diệt cỏ hiệu quả
lại phân hủy nhanh khi tiếp xúc với đất nên giảm được mức độ ảnh hưởng tới môi trường Một chất hóa học vô cùng độc hại cho con người nếu vô tình hay cố ý nuốt phải dù chỉ với lượng nhỏ Tỉ lệ tử vong do ngộ độc PQ rất cao, thường khoảng 70-80% theo nhiều thống kê của các tác giả nước ngoài Tại Trung tâm chống độc (TTCĐ) Bệnh viện Bạch Mai, tỉ lệ tử vong năm 2007 theo nghiên cứu của Đặng Thị Xuân, Nguyễn Thị Dụ là 72,5%, năm 2009 theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Khắc là 52,8%, tại Bệnh viện Chợ Rẫy năm 1997 là 85% Chưa có thuốc giải độc đặc hiệu, chưa có phác đồ hiệu quả Hầu hết các bệnh nhân tử vong do suy hô hấp, suy đa tạng Để phối hợp các biện pháp điều trị bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh phúc đã áp dụng lọc máu hấp phụ từ tháng 01/2015 Từ những vấn đề trên chúng tôi mạnh dạn đặt vấn đề nghiên cứu “Nhận xét hiệu quả điều trị ngộ độc Paraquat bằng quả lọc Resin HA 230 tại khoa Hồi sức tích cực và chống độc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc” nhằm 2 mục tiêu:
Trang 391 Đặc điểm triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng ở BN ngộ độc paraquat.
2 Nhận xét hiệu quả điều trị ngộ dộc Paraquat bằng quả lọc Resin HA 230 tại khoa HSTC-CĐ bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh phúc năm 2015-2016.
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Tất cả các bệnh nhân ngộ độc paraquat điều trị tại khoa Hồi sức tích cực - chống độc bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh phúc trong năm 2015-2016 được lọc máu hấp phụ
- Tiêu chuẩn chẩn đoán:
+ Tiền sử tiếp xúc với hóa chất diệt cỏ
+ Có các triệu chứng lâm sàng ngộ độc paraquat
+ Xét nghiệm độc chất trong nước tiểu có paraquat
- Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Bệnh nhân có các bệnh tim mạch, hô hấp và thận
+ Bệnh nhân không được lọc máu hấp phụ
2.2 Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu
2.3 Qui trình nghiên cứu
- Bệnh nhân vào viện được khám lâm sàng, đánh giá thu thập thông tin theo bệnh án mẫu:
+ Các dấu hiệu lâm sàng: nôn ,loét miệng họng…
+ Các xét nghiệm cận lâm sàng, độc chất trong nước tiểu, dịch dạ dày
- Cách xét nghiệm paraquat trong nước tiểu: lấy 10ml nước tiểu của bệnh nhân khi vào viện, kiềm hóa nước tiêu bằng NH3 sau đó cho Natri dithionite nếu
có paraquat nước tiểu chuyển sang màu xanh lam
- Kết quả đánh giá kết quả điều trị tại thời điểm ra viện: Bệnh nhân sống , di chứng và tử vong
2.3 Phương pháp xử lý số liệu:
- Số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0 tính trung bình, độ lệch chuẩn, so sánh trung bình bằng t-test, so sánh tỷ lệ bằng test χ2
Trang 403 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc diểm chung của nhóm nghiên cứu: 12 bệnh nhân (BN)
3.1.1 Phân bố theo tuổi: tuổi thấp nhất là 16 tuổi, tuổi cao nhất là 46 tuổi,
trung bình là 24.9±10.1 tuổi
3.1.2 Phân bố theo giới: 10 nam (83.3%) và 02 nữ (16.7%).
3.1.3 Phân bố bệnh nhân theo nghề nghiệp: làm ruộng 41.7%, học sinh,
sinh viên 33.3%
3.1.4 Hoàn cảnh xảy ra ngộ độc: tự tử 100%.
3.1.5 Thời gian đến cơ sở y tế đầu tiên sau khi ngộ độc
Bảng 3.1 Thời gian đến cơ sở y tế đầu tiên sau khi ngộ độc
- Đa số BN vào y tế cơ sở trước 2 giờ (06 BN)
3.2 Lâm sàng, cận lâm sàng khi nhập viện
3.2.1 Lâm sàng
Bảng 3.2 Đặc điểm lâm sàng
Nhận xét: kết quả xét nghiệm cho thấy có tới 41,5% BN có suy thận, 50%
BN có tổn thương gan, có 41.6% BN có tổn thương phổi rối lọan tăng thông khí