BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNN TRƯỜNG ĐH LÂM NGHIỆP – PHÂN HIỆU ĐỒNG NAI TIỂU LUẬN HỌC PHẦN BỆNH TRUYỀN NHIỄM THÚ Y 2 Tên đề tài: TÌM HIỂU BỆNH CÚM TRÊN HEO VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG BỆNH CHO HỆ THỐNG CHĂN NUÔI HEO Ở ĐỊA PHƯƠNG Ngành: Thú Y Lớp: K9B LTTYCQ Khoa: Nông Học Đồng Nai – Năm 2021 MỤC LỤC PHẦN 2. NỘI DUNG 1 2.1.1. Lịch sử và sự phân bố bệnh 2 2.1.2. Nguyên nhân gây bệnh 3 2.1.2.1. Phân loại 3 2.1.2.2. Hình thái, cấu trúc 3 2.1.2.3. Đặc tính nuôi cấy 6 2.1.2.4. Đặc tính kháng nguyên và sinh miễn dịch 6 2.l.2.2. Sức đề kháng 7 2.1.3. Truyền nhiễm học 7 2.1.3.1. Loài vật mắc bệnh 7 2.1.3.2. Chất chứa căn bệnh 7 2.1.3.3. Đường xâm nhập 8 2.1.3.4. Cơ chế sinh bệnh 8 2.1.3.5. Cách lây lan 9 2.1.4. Triệu chứng 9 2.1.5. Bệnh tích 10 2.1.5.1. Bệnh tích đại thể 10 2.1.5.2. Bệnh tích vi thể 11 2.1.6. Chẩn đoán 11 2.1.6.1. Chẩn đoán lâm sàng 12 2.1.6.2. Chẩn đoán virus học 12 2.1.6.3. Chẩn đoán huyết thanh học 13 2.1.7. Phòng bệnh 13 2.1.7.1. vệ sinh phòng bệnh 13 2.1.7.2. Phòng bằng vaccin 14 2.1.8. Điều trị (nếu có) hoặc biện pháp xử lý khi dịch xảy ra 14 2.2. Thực trạng về bệnh cúm trên heo 14 2.2.1. Trên thế giới 14 2.2.2. Trong nước 16 2.3. Đề xuất biện pháp phòng bệnh tại địa phương 16 2.3.1. Sơ lược về tình hình chăn nuôi heo tại địa phương quy mô, phương thức chăn nuôi 17 2.3.2. Phòng bệnh bằng vệ sinh phòng bệnh 17 2.3.3. Phòng bệnh bằng vaccin 19 PHẦN 3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 20 TÀI LIỆU THAM KHẢO 21 DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2. 1 Tình hình chăn nuôi heo tại địa phương quy mô, phương thức chăn nuôi 17 DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 2. 1 Hình thái của virus cúm qua KHV điện tử 3 Hình 2. 2 Cấu trúc của virus cúm 4 Hình 2. 3 Đàn lợn bệnh thể hiện cảm mạo và khó thở 10 Hình 2. 4 Bệnh tích đại thể ở phổi 11 PHẦN 1. MỞ ĐẦU Cùng với sự phát triển và đi lên của nền kinh tế đất nước về mọi mặt nói chung thì ngành chăn nuôi cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, tổ chức chăn nuôi thì sức khỏe vật nuôi và chất lượng đâu ra là yếu tố quan trọng để đảm bảo tình hình nhập xuất, bảo quản và sử dụng, dữ trữ… Góp phần hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh và đem lại lợi nhuận cao cho người chăn nuôi. Thời tiết thay đổi, môi trường không khí ô nhiễm, thói quen sinh hoạt không điều độ, nguồn thực phẩm cung cấp không đảm bảo chất lượng, áp lực công việc, cạnh tranh hiệu quả chăn nuôi…đều có thể là những tác nhân ảnh hưởng đến sức khỏe đàn vật nuôi gây ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế. Cơ thể vật nuôi là một khối có sự phân hóa giữa các cơ quan, chỉ cần một cơ quan gặp vấn đề thì sẽ kéo theo v các cơ quan khác bị ảnh hưởng. Khi mắc bệnh cúm heo, vật nuôi sẽ có những biểu hiện như thế nào ?, Bệnh cúm heo sẽ tác dộng lên cơ quan nào ?, Làm sao chúng ta có thể phòng và trị bệnh cúm heo ?. Xuất phát từ những câu hỏi trên, em em để tài “Tìm hiểu bệnh cúm trên heo và đề xuất biện pháp phòng bệnh cho hệ thống chăn nuôi heo tại địa phương” cho tiểu luận cho học phần Bện truyền nhiễm thú y 2 này. PHẦN 2. NỘI DUNG 2.1. BỆNH CÚM TRÊN HEO Bệnh cúm lợn (Swine Influenza hay còn có tên gọi khác là Swine flu, Hog flu hay Pig flu) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính đặc trưng trên đường hô hấp của đàn lợn do virus cúm typ A gây ra. Bệnh biểu hiện bằng các dấu hiệu đột ngột: con vật có các triệu chứng ho, sốt, mệt mỏi, bỏ ăn, chảy nước mũi, nhưng có khả năng hồi phục nhanh chóng. Bệnh tích thường tập trung ở đường hô hấp và cũng mất đi nhanh chóng trừ trường hợp con vật bị chết do virus gây viêm phổi cấp. Quá trình diễn biến, bản chất và tính khốc liệt của căn bệnh phụ thuộc vào các chủng virus, tuổi, tình trạng miễn dịch của lợn và sự nhiễm trùng kế phát. Cùng với các vi khuẩn và virus gây bệnh khác, virus cúm đóng vai trò gây bệnh đường hô hấp phức hợp ở lợn (porcine respiratory disease complex PRDC), là một trong các nguyên nhân chính gây thiệt hại nặng nề cho ngành chăn nuôi lợn hiện nay. Nhân loại luôn đứng trước nguy cơ tấn công của virus cúm. Bệnh cúm thường xảy ra vào mùa đông và hầu như mùa đông nào cũng có cúm, đây là bệnh lây lan nhanh hơn bất kỳ bệnh truyền nhiễm nào khác, chúng lan truyền như rắc bột và nguy hiểm như một đám cháy. Đại dịch cúm là sự bộc phát bệnh trên phạm vi toàn cầu khi xuất hiện một chủng virus cúm mới lây lan rất nhanh và tấn công con người, trong khi cơ thể chưa có đáp ứng miễn dịch bảo vệ thích hợp. Trong lịch sử, các đại dịch cúm luôn để lại những hậu quả nặng nề về sinh mạng con người, gây xáo trộn xã hội và ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế toàn cầu. 2.1.1. Lịch sử và sự phân bố bệnh Bệnh cúm lợn được mô tả lần đầu tiên vào năm 1918, khi một bệnh dịch xảy ra trên đàn lợn ở Bắc Trung Mỹ, có các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích tương tự bệnh cúm trên người và trùng với đại dịch cúm ở người năm 1918 (khiến cho 20 50 triệu người chết). Tuy nhiên, ngày tháng và nơi xảy ra dịch cúm lợn đầu tiên không được đề cập đến, trừ một vài quan sát viên đã công bố rằng có một số trận dịch xuất hiện tại một số trang trại lợn ở vùng Tây Illinois vào tháng 81918. Koen (1919) là người đầu tiên phát hiện ra bệnh với sự xuất hiện trùng hợp về các triệu chứng của bệnh cúm trên lợn và người. Ông khẳng định rằng hai bệnh đó giống nhau và ông cũng là người đầu tiên đặt tên “cúm” (flu) cho loại bệnh mới ở lợn này. Dorset và cộng sự (1922) cũng mô tả bệnh tương tự như Koen và gọi bệnh là “Hog flu” và cho rằng đã gặp các ca bệnh tại Iowa (Mỹ) từ trước năm 1918 khoảng 5 6 năm. McBryde (1927) khi tiến hành điều tra bệnh tại vùng Đông bắc Iowa cho rằng chính con người đã lây nhiễm mầm bệnh cho loài lợn, đặc biệt các thú y viên và nông dân là các nhân tố phát tán mầm bệnh. Năm 1931, Shope đã nhận diện và phân lập được virus cúm lợn (SIV) và trong 85 năm sau kể từ khi phát hiện ra virus cúm lợn, đã nghiên cứu khá nhiều về tính miễn dịch, khả năng biến chủng, tính thích nghi của virus cúm trên các loài động vật thí nghiệm, tính kháng nguyên liên quan đến các virus cúm khác và khả năng lưu hành của bệnh trong tự nhiên. Trước năm 1975, bệnh cúm lợn dường như chỉ có duy nhất ở nước Mỹ. Tuy nhiên, kể từ đó tới nay, bệnh cúm lợn trên lâm sàng và các virus cúm typ A khác với kháng thể của chúng đã được xem xét và nghiên cứu ở hầu hết các nước có ngành chăn nuôi lợn trên thế giới. Ở Việt Nam có một số nghiên cứu (CIRAD), kết quả bước đầu đã phát hiện được sự lưu hành của virus cúm ở đàn lợn. 2.1.2. Nguyên nhân gây bệnh 2.1.2.1. Phân loại Bệnh cúm lợn do một loại virus cúm typ A (AH1N1) thuộc họ Orthomyxoviridae gây ra, virus này có đặc điểm cấu trúc cơ bản của nhóm influenza virus. 2.1.2.2. Hình thái, cấu trúc Virion có lớp vỏ bọc lipid, hình cầu, đa hình thái, có đường kính từ 80 120nm, đôi khi có thể thấy dạng hình sợi. Virus có lớp vỏ bọc lipid kép, có nguồn gốc từ màng nguyên sinh chất của tế bào chủ. Nucleocapsid có cấu trúc xoắn, trên bề mặt có các gai lồi, dài 10 12nm bọc quanh lớp vỏ. Hình 2. 1 Hình thái của virus cúm qua KHV điện tử Genome có chứa 8 phân đoạn ARN đơn âm, chịu trách nhiệm mã hóa cho ít nhất là 10 protein, trong đó có 8 protein cấu trúc và 2 loại protein không cấu trúc (là ARN polymerase cần cho quá trình phiên mã). Hình 2. 2 cấu trúc của virus cúm Nucleocapsid được bao bọc bởi một màng protein nền M1 (Matrix) có liên hệ mật thiết với bề mặt trong của lớp vỏ lipid. M1 chiếm tỷ lệ nhiều nhất trong virion, ngoài M1 viron còn chứa phân tử protein M2 đâm xuyên ra khỏi vỏ ngoài tạo các kênh ion, làm cho pH trong endosom của virus thay đổi và được gọi là protein chuyển màng. Bề mặt virus có hai loại gai mọc nhô ra, đó là hai loại glucoprotein khác nhau gồm: Hemagglutinin (HA hay H) có dạng hình que, dài 10nm, gọi là hemagglutinin vì nó gây ngưng kết hồng cầu của một số loài động vật. H gồm 3 tiểu đơn vị glycoprotein giống nhau gộp lại (Trime). Mỗi tiểu đơn vị lại gồm 2 chuỗi polypeptit ký hiệu là HA1 và HA2 gắn với nhau bởi cầu nối disunphua, H có phần kị nước móc vào lớp vỏ lipid của virus. Epitop của kháng nguyên H rất dễ bị biến đổi là do luôn có sự biến đổi trong ARN genome làm thay đổi vị trí và loại axit amin tại một số điểm trên phân tử HA1. Sự thay đổi này nằm ở vị trí gắn H vào receptor của tế bào chủ phân tử axit Neuraminic. HA đóng vai trò gắn kết virus vào các thụ thể của tế bào vật chủ và hoà vào màng tế bào để tiến hành chu trình nhân lên tức là có vai trò trong quá trình lây nhiễm. Hiện tại người ta đã nhận dạng được có 16 phụ nhóm loại HA được xếp theo thứ tự từ H1 H16. Có 3 loại gai H quan trọng ở các virus gây bệnh cho người là H1, H2, H3. Trước đây người ta còn phân ra H0 và Hw (H ở lợn), về sau 2 loại gai này cùng được gọi là H1. Neuramidase (NA hay N) có dạng hình nấm, đầu gai có cấu tạo hình hộp do 4 đơn vị protein gần giống hình cầu nối với nhau mà thành, NA cũng có phần kị nước để móc sâu vào vỏ ngoài virus. NA cắt liên kết glycosid, giải phóng axit neuraminic nên có tác dụng cắt thụ thể dành cho HA trên bề mặt hồng cầu, NA có vai trò giải phóng virus ra khỏi tế bào vật chủ. Hiện tại người ta ghi nhận có 9 phụ nhóm NA khác nhau đánh số từ N¬1 N9. Với 16 phụ nhóm HA và 9 phụ nhóm NA, về mặt lí thuyết có thể có hơn 135 dạng virus có kết hợp HA NA tiềm tàng; tuy nhiên ở lợn hầu như chỉ lưu hành subtyp thuộc H1, H3, N1 và N2. 2.1.2.3. Đặc tính nuôi cấy Virus cúm dễ dàng nuôi cấy trên phôi gà: con đường gây nhiễm có hiệu quả nhất là tiêm vào túi ối hoặc xoang niệu của phôi gà ấp 10 11 ngày. Ngoài ra, môi trường nuôi cấy vào thận bê, tế bào phổi của bào thai lợn, tế bào thận lợn và tế bào xơ phôi gà… cũng được sử dụng. 2.1.2.4. Đặc tính kháng nguyên và sinh miễn dịch Bệnh cúm ở động vật do virus cúm typ A gây ra là nặng nhất và có thể gây ra các đại dịch, đó là do virus cúm typ A có genome phân đoạn, dẫn đến sự thay đổi kháng nguyên liên tục biểu hiện ở hai kiểu: Một là, virus cúm có khả năng lệch kháng nguyên (antigenic drift) do đột biến ngẫu nhiên xảy ra ở các gen mã hóa cho kháng nguyên Hemagglutinin dẫn đến sự thay đổi một số axit amin trong phân tử này, do đó gây ra những thay đổi nhỏ về tính kháng nguyên, tạo ra các dòng virus mới tránh được một phần miễn dịch trong quần thể động vật do các vụ dịch trước đó tạo ra. Hiện tượng lệch kháng nguyên này tăng lên từ mùa này sang mùa khác, đã gây khó khăn cho việc sản xuất vacxin phòng bệnh và là nguyên nhân gây ra các vụ dịch nhỏ phát tán. Hai là, virus cúm có một khả năng khác cực kỳ nguy hiểm, đó là khả năng chuyển đổi kháng nguyên (antigenic shift), là khả năng tái tổ hợp gen với một dòng virus cúm khác đồng nhiễm vào cơ thể để tạo ra một dòng virus hoàn toàn mới, tránh được toàn bộ sức miễn dịch đặc hiệu với các dòng virus cúm khác có trong quần thể động vật. Khả năng chuyển đổi kháng nguyên chính là nguyên nhân gây ra các vụ đại dịch cúm. Trong trường hợp này, lợn được coi là một cái “thùng trộn” lí tưởng của virus cúm và một virus cúm tái tổ hợp mới xuất hiện, đó là virus cúm AH1N1 mang một tổ hợp gen của 4 dòng virus gồm: virus cúm lợn Bắc Mỹ, virus cúm gia cầm Bắc Mỹ, virus cúm lợn chủng châu Á, châu Âu và virus cúm người. Hiện tại, loại virus mới này đang là mối đe doạ của một đại dịch cúm. Cũng là virus AH1N1 nhưng virus mới này khác với virus AH1N1 cổ điển gây cúm ở lợn. Cho đến nay, người ta chưa hề phát hiện thấy trường hợp lợn bị nhiễm loại virus cúm mới này. 2.l.2.2. Sức đề kháng Virus không bền với nhiệt độ, ở 56 600C virus mất độc tính trong vài phút; ở 1000C chết ngay; ở 40C trong nước niệu của phôi gà virus tồn tại 2 tháng; ở 700C khi làm lạnh nhanh, có thể bảo quản virus lâu dài. Các chất sát trùng thông thường như formol, virkon, vôi, cresyl… có thể tiêu diệt virus nhanh chóng. 2.1.3. Truyền nhiễm học 2.1.3.1. Loài vật mắc bệnh Virus cúm typ A tồn tại ở nhiều loài động vật khác nhau trong tự nhiên bao gồm người, động vật có vú và chim. Với virus cúm lợn cổ điển AH1N1 thì lợn là loài vật chủ chính nhưng virus cũng có khả năng lây nhiễm giữa các loại động vật, đặc biệt là vịt, gà tây, người. Lợn có thể nhiễm virus cúm từ gia cầm và người, điều đó là cơ sở để người ta cho rằng lợn đóng vai trò như một “bình trộn” (Mixing Vessel) cho virus từ gia cầm và từ những động vật có vú. Điều này nhấn mạnh sự quan trọng của virus cúm lợn trong việc nghiên cứu mối quan hệ với tất cả các loại virus cúm. 2.1.3.2. Chất chứa căn bệnh Virus cúm typ A có nhiều typ và subtyp, vì thế WHO quy định cách viết dành cho virus cúm bao gồm: typ virus, địa điểm phân lập, năm phân lập, kí hiệu gai kháng nguyên H và N. Ví dụ: ASingapore57H2N2; gây dịch cúm châu Á năm 1957. Nếu virus gây bệnh phân lập được từ động vật thì còn phải ghi loại động vật mắc bệnh. Ví dụ: ASwineNew Jersey76H1N1 hoặc ADuckUkraina63H3N8 2.1.3.3. Đường xâm nhập Đường hô hấp: Đường xâm nhập chính của virus là đường hô hấp, virus vào vùng hầu trong các tế bào của màng nhầy họng rồi lan sang các tế bào lân cận, các hệ thống lưu thông và hệ lâm ba dẫn tới các tế bào, cơ quan khắp cơ thể. Đường tiêu hóa: Khi mầm bệnh theo thức ăn, nước uống xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa, virus nhân lên trong lớp thượng bì của ống tiêu hóa làm thành mụn nước sơ phát, sau đó theo hệ thống máu và lâm ba đến khắp cơ thể. Da: Da nguyên lành không để virus đi qua, khi có vết xây xát gia súc có thể nhiễm virus. Tại những xây xát hoặc vết thương ở da, nhất là vùng vú thường xuất hiện mụn nước sơ phát trong bệnh tự nhiên; vùng da tổn thương cũng là nơi virus xâm nhập vào cơ thể. 2.1.3.4. Cơ chế sinh bệnh Virus cúm sau khi xâm nhập vào cơ thể sẽ nhân lên ở biểu mô niêm mạc đường hô hấp như mũi, hạch amidan, khí quản, phổi và hạch lympho khí phế quản. Virus chỉ gây nhiễm trùng huyết trong một thời gian ngắn. Phổi được coi là cơ quan đích tấn công chủ yếu của virus. Virus cúm có thể phá hủy tế bào là do kháng nguyên NA vàhoặc protein PB1F2; tuy nhiên các cytokine sản sinh bởi vật chủ trong giai đoạn đầu khi bị nhiễm trùng cũng có thể đóng vai trò then chốt trong tiến triển của bệnh. Một số cytokine được nói đến gồm interferon α (IFNα), tumor necrosis factor α (TNFα), interleukin 1 (IL1) và interleukin 6 (IL6). Các cytokine này khiến cho hoạt động của phổi bị ảnh hưởng, gây viêm, sốt, mệt mỏi, bỏ ăn và một số tác động phụ khác. Vì vậy, nếu lượng virus xâm nhập vào càng sâu trong đường hô hấp, lượng cyokine sản sinh càng nhiều sẽ khiến cho bệnh thêm trầm trọng. Tuy nhiên, cũng có một số cytokine có vai trò kháng virus và sinh đáp ứng miễn dịch chống virus cúm; vì vậy cần phải có những nghiên cứu tiếp theo về vai trò của cytokine trong cơ chế gây bệnh của virus cúm. 2.1.3.5. Cách lây lan Virus có nhiều trong dịch đường hô hấp của lợn mắc bệnh, từ đó mầm bệnh có thể lây lan trực tiếp từ lợn bệnh sang lợn khỏe thông qua các dịch tiết, không khí khi lợn bệnh hắt hơi, sổ mũi và ho… Đường truyền lây qua tiếp xúc trực tiếp dễ dàng được chứng minh trong điều kiện thí nghiệm: lợn dễ gây nhiễm trong phòng thí nghiệm bằng cách nhỏ giọt virus vào mũi hoặc phơi nhiễm virus qua phương pháp khí dung. Các vật dụng chăn nuôi và người cũng có thể mang mầm bệnh từ chuồng lợn bệnh sang chuồng lợn khoẻ. Mầm bệnh có thể lưu hành trên đàn lợn trong suốt một năm nhưng thường gây dịch trong các tháng cuối mùa thu và mùa đông, giống như quy luật phát dịch của dịch cúm mùa ở người. Ở những nơi chăn nuôi lợn tập trung, bệnh càng dễ xảy ra. Sự xuất hiện và lây lan của bệnh thường liên quan đến vận chuyển lợn hoặc sản phẩm của lợn chưa qua xử lí thích ứng. 2.1.4. Triệu chứng Cúm lợn cổ điển là bệnh mang tính chất bầy đàn. Thời gian nung bệnh thường từ 1 3 ngày, bệnh phát ra đột ngột và có tốc độ lây lan nhanh nên có thể thấy hầu hết số lợn trong đàn phát bệnh trong cùng một thời điểm. Lợn mẫn cảm có thể đột ngột phát bệnh với các biểu hiện: sốt cao từ 40,5 41,50C. Con vật mệt mỏi, bỏ ăn, nằm co cụm lại một chỗ, lười vận động, thậm chí không đi lại được. Lợn biểu hiện cảm mạo: hắt hơi, ho, sổ mũi, chảy nước mũi rất nhiều. Cơn ho có thể rất dữ dội giống như đàn chó sủa, lợn khó thở, phải há mồm ra để thở, thở thể bụng, một số con có thể bị viêm kết mạc mắt, con vật giảm cân, gầy yếu do biếng ăn và lười vận động. Hình 2. 3 Đàn lợn bệnh thể hiện cảm mạo và khó thở Ở lợn nái có các biểu hiện về rối loạn sinh sản như sảy thai, thai chết non, lợn con sinh ra ít, còi cọc, tỷ lệ tử vong cao. Trong một đàn lợn hầu như 100% số lợn bị nhiễm nhưng tỷ lệ tử vong rất thấp, thường chỉ là 1% nếu không có sự tái nhiễm. Thông thường, con vật có thể hồi phục rất nhanh sau 5 7 ngày kể từ khi biểu hiện bệnh đột ngột, tuy nhiên nếu có mầm bệnh khác kế phát thì lợn mắc bệnh trầm trọng hơn và tỷ lệ chết sẽ tăng lên. 2.1.5. Bệnh tích 2.1.5.1. Bệnh tích đại thể Phần lớn biểu hiện viêm phổi do virus. Sự biến đổi tập trung ở thuỳ đỉnh, thuỳ tim, có những trường hợp hơn một nửa diện tích phổi bị tác động, có thể quan sát được rõ ràng đường ranh giới phân biệt giữa mô lành và mô bị tổn thương. Các tổ chức bị bệnh có màu tím và rắn chắc, bệnh tích phù bên trong mô phổi là rõ ràng. Hạch phổi thường sưng to, hệ thống khí phế quản chứa đầy dịch nhầy, có bọt khí và hầu như đặc kín bởi tơ huyết và dịch rỉ viêm. Khi cắt phế quản, tiểu phế quản và bóp thấy chảy ra một chất dịch đục, dính, màu đỏ hoặc xám. Trong một số trường hợp thấy lợn bị viêm màng phổi tơ huyết. Hình 2. 4 Bệnh tích đại thể ở phổi 2.1.5.2. Bệnh tích vi thể Cũng như bệnh tích đại thể, bệnh tích vi thể không phức tạp, biểu hiện giống như các bệnh viêm phổi do virus khác. Về mặt tổ chức học, có sự thoái hóa lan rộng và hoại tử của biểu mô khí, phế quản. Phế nang được phủ đầy dịch nhầy bao gồm: tế bào bị long tróc, bạch cầu trung tính và một số lượng lớn bạch cầu đơn nhân lớn. Hiện tượng sung huyết với sự giãn nở ở mao mạch và thấm dịch qua vách phế nang với các tế bào lympho, tổ chức bào và tương bào. Trong nhiều trường hợp có thể gặp các bệnh tích xẹp phế nang và viêm phổi kẽ, đồng thời có sự thẩm thấu tế bào trong các mạch máu và xung quanh phế quản nhỏ. 2.1.6. Chẩn đoán Có thể dựa vào triệu chứng lâm sàng, bệnh tích, dịch tễ học, chẩn đoán phân biệt nhưng cần phải khẳng định bằng các phân tích xét nghiệm trong phòng thí nghiệm với các phương pháp như: RTPCR, phân lập virus, hóa miễn dịch tổ chức, phản ứng kháng thể huỳnh quang hay phản ứng ELISA, phản ứng HA và phản ứng HI. 2.1.6.1. Chẩn đoán lâm sàng Bệnh phẩm: đối với lợn còn sống, nghi ngờ mắc cúm, có thể lấy mẫu là dịch mũi (ở lợn lớn) hoặc dịch hầu họng (ở lợn con), bảo quản bệnh phẩm bằng dung dịch bảo quản virus có chứa glycerin và giữ ở nhiệt độ lạnh (40C). Ở lợn bệnh đã chết hoặc lợn buộc phải mổ khám thì lấy tổ chức phổi, bảo quản lạnh rồi chuyển càng nhanh càng tốt tới phòng xét nghiệm. Nếu giữ lâu phải để bệnh phẩm ở 700C hoặc trong nitơ lỏng. Chẩn đoán phân biệt với dịch tả lợn, tụ huyết trùng và suyễn: Ở bệnh dịch tả, lợn thường sốt cao 41 42,50C, kéo dài liên tục 4 5 ngày (trong khi ở bệnh cúm, biểu hiện sốt thất thường và không ổn định), lợn bệnh có các dấu hiệu bệnh lý đặc trưng của dịch tả lợn. Bệnh tụ huyết trùng có triệu chứng và bệnh tích ở đường hô hấp: viêm phổi có vùng gan hoá, sưng và thuỷ thũng hạch hầu, viêm dạ dày và ruột. Bệnh suyễn lợn: viêm phổi nhục hoá, tuỵ tạng hóa nhưng bệnh tích ở phổi thường đối xứng ở các thuỳ đỉnh, thuỳ tim, thuỳ hoành và thường tiến triển từ đáy của thuỳ. Lợn khó thở, thở thể bụng với tần số hô hấp cao từ 80 200 lầnphút, sốt nhẹ. 2.1.6.2. Chẩn đoán virus học Bệnh phẩm được nghiền nhỏ (mô phổi), ngâm trong dung dịch nước muối sinh lý và tiêm vào xoang niệu mô của phôi gà ấp 10 11 ngày tuổi, ấp tiếp ở 350C. Vì virus cúm lợn thường không gây chết phôi nên ta thu nước xoang niệu sau 72 96 giờ ấp rồi kiểm tra bằng phản ứng HA, đây là bằng chứng để chứng minh sự hiện diện của virus cúm. Một số trường hợp cần phải qua 2 lần cấy chuyển mù để khẳng định sự có mặt của virus. Sau đó xác định kháng nguyên H bằng phản ứng HI và kháng nguyên N được xác định bằng phản ứng NI (Neuraminidase inhibition). 2.1.6.3. Chẩn đoán huyết thanh học Biện pháp chẩn đoán huyết thanh học bệnh cúm lợn đòi hỏi các mẫu huyết thanh nghi được lấy trong suốt giai đoạn mắc bệnh cấp tính và từ 2, 3, 4 tuần tiếp theo các giai đoạn tiến triển của bệnh để chứng minh sự gia tăng của hàm lượng kháng thể chống cúm theo thời gian. Phản ứng HI được sử dụng như là một công cụ cơ bản trong trường hợp này. Hiện nay, các phản ứng chẩn đoán cho kết quả nhanh và chính xác như ELISA, kháng thể huỳnh quang, phản ứng trung hòa cũng đang được áp dụng. RTPCR cũng là một kỹ thuật thường dùng để xác định virus. 2.1.7. Phòng bệnh 2.1.7.1. vệ sinh phòng bệnh Do virus cúm lợn có đặc điểm phát tán, lây lan chủ yếu qua đường tiếp xúc trực tiếp, do đó khi nghi ngờ lợn mắc bệnh cần phải cách ly ngay những lợn bệnh để hạn chế lây lan. Đồng thời thực hiện các biện pháp vệ sinh, tiêu độc khử trùng toàn bộ khu chuồng nuôi và các khu vực tiếp giáp xung quanh để tiêu diệt mầm bệnh bằng các chất tiêu độc sát trùng. Tăng cường chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý đàn và áp dụng các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi như: thường xuyên vệ sinh chuồng trại, tiêu độc khử trùng khu vực chăn nuôi và thực hiện tiêm phòng đầy đủ các loại vacxin theo hướng dẫn của cơ quan thú y. Kiểm soát nghiêm ngặt động vật và sản phẩm động vật nhập khẩu, đặc biệt là vận chuyển lợn, sản phẩm của lợn chưa qua chế biến. Tăng cường công tác giám sát dịch bệnh, khi phát hiện có lợn mắc bệnh có triệu chứng của cúm lợn, phải báo ngay cho cán bộ thú y và các cấp chính quyền để xác minh và lấy mẫu xét nghiệm. Lợn mua về nuôi phải biết rõ nguồn gốc, có giấy chứng nhận đã kiểm dịch. 2.1.7.2. Phòng bằng vaccin Hiện nay có vacxin cúm lợn đã được thương mại hóa, thử nghiệm lâm sàng cho thấy có khả năng bảo hộ cho đàn lợn nếu tiêm 2 mũi. Vacxin chế từ các chủng H1N1 và H3N2, chủ yếu dùng cho lợn nái, rất ít khi dùng cho lợn thịt. Ngoài ra, một số loại vacxin tái tổ hợp, vacxin ADN đang được nghiên cứu sản xuất. 2.1.8. Điều trị (nếu có) hoặc biện pháp xử lý khi dịch xảy ra Không có biện pháp cụ thể nào để điều trị bệnh cúm lợn. Có thể dùng thuốc long đờm để điều trị bệnh trong đàn và được cung cấp qua nước uống. Các loại thuốc kháng sinh được bổ sung nhằm chống sự lây nhiễm kế phát của vi khuẩn. Có thể dùng các chất bổ trợ khác để nâng cao sức đề kháng cho lợn. Hiện tại, các thuốc kháng virus cúm như amantadine, tamiflu chỉ có thể được dùng để điều trị cúm trên người. 2.2. Thực trạng về bệnh cúm trên heo 2.2.1. Trên thế giới Trong 3 thế kỉ qua, cứ 30 40 năm thế giới lại chứng kiến một đại dịch cúm. Trước khi có vacxin, mỗi đợt dịch đã giết chết hàng triệu người. Trong thế kỉ 20 đã có 3 đại dịch cúm xảy ra, hoành hành khắp thế giới trong vòng một năm kể từ khi bộc phát. Đại dịch lần thứ nhất: năm 1918 1919, đây là đại dịch cúm nghiêm trọng nhất trong lịch sử thế giới, là đại dịch kinh hoàng nhất trong các loại bệnh dịch, do virus cúm AH1N1, chỉ trong vòng vài tháng đã có trên 1 tỉ người mắc bệnh, trong đó khoảng 20 triệu người bị giết chết. Riêng Tây Ban Nha đã có 8 triệu người chết vì bệnh nên người ta gọi là dịch cúm Tây Ban Nha. Đại dịch lần thứ hai: năm 1957 1958 gọi là dịch cúm châu Á do virus cúm AH2N2, dịch xuất hiện tại Trung Quốc vào cuối tháng 2 năm 1957, sau đó lan tràn khắp thế giới, mặc dù y học đã có nhiều tiến bộ, có vacxin tiêm chủng nhưng thiệt hại về nhân mạng vẫn lên tới 2 triệu người. Đại dịch lần thứ ba: nổ ra năm 1968 1969 do virus cúm AH3N2 cũng lan ra toàn thế giới và giết chết 34.000 người. Ngoài ba đại dịch trên, trong các năm tiếp theo đều có các vụ dịch tản phát tại các quốc gia do virus cúm typ AH1N1 và AH3N2. Năm 1976, tại New Jersey Mỹ, dịch cúm làm chết một người, virus tồn tại chủ yếu ở lợn. Vacxin cúm đã được tiêm cho 14 dân số Mỹ và có 25 người chết do biến chứng vacxin nhưng không ai thiệt mạng vì cúm lợn. Năm 1977, virus cúm AH1N1 gây dịch “cúm đỏ” (Red Flu) ở Nga. Năm 1995 1996, virus AH3N2 xảy ra ở Đức làm 8,5 triệu người mắc và có 28.000 người bị chết. Năm 2003, cúm AH5N1 xuất hiện trên gia cầm ở nhiều quốc gia, gây thiệt hại nặng nề trong nghề chăn nuôi loại động vật này và virus có lây sang người nhưng chưa xuất hiện tình trạng lây lan giữa người và người. Đầu năm 2009, ngày 134 tại thị trấn Perote, bang Vevacruz, Mexico xuất hiện ca cúm đầu tiên do virus cúm typ AH1N1, sau đó dịch lan rộng một cách nhanh chóng ra toàn cầu, chỉ trong vòng 2 tháng, ngày 1162009 WHO đã tuyên bố mức đại dịch toàn cầu (mức 6). Đây là đại dịch toàn cầu đầu tiên kể từ đại dịch cúm trước đó (năm 1968). Mặc dù loại virus cúm mới được ám chỉ đến virus cúm lợn (AH1N1) nhưng đến giờ các nhà nghiên cứu virus học vẫn chưa biết chắc virus cúm AH1N1 có thực sự bắt nguồn từ lợn hay không. Cho đến nay chưa có bằng chứng nào cho thấy lợn bị nhiễm bệnh (ở cả Mexico và Mỹ). Mới đây, Canada công bố đàn lợn đầu tiên ở một trang trại bị nhiễm cúm AH1N1 nhưng là do lây từ một công nhân trong trang trại bị nhiễm bệnh. Khởi thuỷ cho các virus cúm trên thực tế đều từ chim hoang dã, các loài có thể truyền bệnh sang chim nhà, sang người và sang lợn. Theo các chuyên gia, lợn là “chất liệu” đặc biệt để phối trộn về mặt sinh học của virus cúm vì chúng có thể nhiễm cả virus cúm gia cầm, cúm lợn và cúm người, cung cấp môi trường tốt cho virus này biến đổi gen, tạo ra những dòng virus hoàn toàn mới, tránh được toàn bộ sức miễn dịch đang có trong các quần thể sinh vật cảm nhiễm và gây ra đại dịch. Đó là những gì đã xảy ra với virus cúm AH1N1, virus đang gây đại dịch cúm toàn cầu lần đầu tiên trong thiên niên kỷ mới này, virus đã được tái tổ hợp gen (Antigenic Shift) giữa chủng virus cúm lợn, cúm gia cầm và cúm người. Khi có sự tập trung lớn của các trang trại chăn nuôi lợn, chim hoang dã, gia cầm và người thì hiện tượng pha trộn gen của virus cúm sẽ xảy ra, các chuyên gia nghiên cứu về virus cúm đã nhận định: Mexico là điểm nóng có đủ các điều kiện đó. Tuy nhiên, các chuyên gia y tế nói rằng dịch cúm năm 2009 sẽ không nghiêm trọng như năm 1918 do y khoa đã tiến những bước dài trong 90 năm qua, mặc dù số người chết ở Mexico nơi khởi phát dịch cúm rất cao. 2.2.2. Trong nước 2.3. Đề xuất biện pháp phòng bệnh tại địa phương Đối với loại bệnh cúm lợn do virut gây nên, hiện nay vẫn ch¬ưa có thuốc điều trị đặc hiệu do vậy biện pháp phòng bệnh là chủ yếu đó là vệ sinh phòng bệnh và nâng cao sức đề kháng cho lợn Do vi rút cúm lợn th¬ường lây nhiễm qua tiếp súc trực tiếp, nên khi phát hiện lợn bệnh có các triệu chứng như¬ trên cần nhanh chóng cách ly lợn ốm để hạn chế lây lan. Cần phải phun thuốc sát trùng toàn bộ khu vực có lợn ốm và xung quanh chuồng nuôi để ngăn chặn mầm bệnh. Một số loại thuốc sát trùng hiệu quả như: BKA, Han Iod, Vikol, Biocid…. Để đảm bảo thì tốt nhất nên phun theo định kỳ để phòng bệnh cúm lợn cũng như¬ một số dịch bệnh truyền nhiễm khác. Trước khi phun thuốc sát trùng cần làm tốt vệ sinh cơ giới đó là quét dọn sạch sẽ, khơi thông hệ thống cống rãnh, thoát nước để nâng cao hiệu quả của các loại thuốc phun phòng trừ. Khi dùng thuốc phun phòng định kỳ hàng tháng thì nên đổi loại thuốc phòng để hạn chế hiện tượng vi trùng nhờn thuốc sẽ cho hiệu quả phòng bệnh kém. Người chăn nuôi cần phải thực hiện vệ sinh chuồng trại thường xuyên, tốt nhất là tạo một thói quen hàng ngày như vậy sẽ hạn chế tốt nhất được dịch bệnh. Bên cạnh đó cần nâng cao sức đề kháng cho lợn bằng cách chăm sóc nuôi dưỡng tốt, đảm bảo nguồn thức ăn đủ cả lượng và chất, tăng cường bổ sung các loại khoáng chất, vitamin, các loại thuốc bổ trợ giúp lợn sinh trưởng phát triển khỏe mạnh. Lưu ý, cần thực hiện nghiêm việc tiêm phòng đầy đủ các loại vác xin (04 bệnh đỏ, bệnh tại xanh, xuyễn …) để tránh hiện tượng khi lợn mắc bệnh cúm sẽ dễ kế phát các bệnh truyền nhiễm khác 2.3.1. Sơ lược về tình hình chăn nuôi heo tại địa phương quy mô, phương thức chăn nuôi Bảng 2. 1 Tình hình chăn nuôi heo tại địa phương quy mô, phương thức chăn nuôi Heo Quy mô chăn nuôi khoảng 2,6 triệu con Hình thức chăn nuôi Trang trại và hộ gia đình nhỏ lẻ 2.3.2. Phòng bệnh bằng vệ sinh phòng bệnh Nguyên tắc vệ sinh, khử trùng tiêu độc + Người thực hiện khử trùng tiêu độc phải sử dụng bảo hộ lao động phù hợp. + Hóa chất sát trùng ít độc hại đối với người, vật nuôi, môi trường; phải phù hợp với đối tượng khử trùng tiêu độc; có tính sát trùng nhanh, mạnh, kéo dài, hoạt phổ rộng, tiêu diệt được nhiều loại mầm bệnh. + Trước khi phun hóa chất sát trùng phải làm sạch đối tượng khử trùng tiêu độc bằng biện pháp cơ học (quét dọn, cạo, cọ rửa). + Pha chế và sử dụng hóa chất sát trùng theo hướng dẫn của nhà sản xuất, bảo đảm pha đúng nồng độ, phun đúng tỷ lệ trên một đơn vị diện tích. Loại hóa chất sát trùng + Hóa chất sát trùng nằm trong Danh mục thuốc thú y được phép lưu hành tại Việt Nam. + Vôi bột, vôi tôi, nước vôi, xà phòng, nước tẩy rửa. + Loại hóa chất sát trùng khác theo hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương. Tần suất thực hiện vệ sinh, tiêu độc khử trùng + Đối với cơ sở chăn nuôi động vật tập trung: Định kỳ vệ sinh khu vực chăn nuôi, định kỳ thực hiện tiêu độc khử trùng theo lịch của cơ sở và theo các đợt phát động của địa phương. + Hộ gia đình có chăn nuôi động vật: Định kỳ vệ sinh khu vực chăn nuôi và thực hiện tiêu độc khử trùng theo các đợt phát động của địa phương. + Cơ sở giết mổ động vật: Định kỳ vệ sinh, tiêu độc khử trùng sau mỗi ca giết mổ động vật. + Cơ sở sơ chế, chế biến động vật, sản phẩm động vật: Định kỳ vệ sinh, tiêu độc khử trùng sau mỗi ca sản xuất. + Địa điểm thu gom, chợ buôn bán động vật sống và sản phẩm động vật: Vệ sinh, tiêu độc khử trùng khu vực buôn bán động vật, sản phẩm động vật sau mỗi phiên chợ. Nơi cách ly kiểm dịch động vật phải định kỳ thực hiện vệ sinh và tiêu độc khử trùng ít nhất 01 lần trong tuần trong thời gian nuôi cách ly động vật. + Phương tiện vận chuyển động vật và sản phẩm động vật: Định kỳ vệ sinh, tiêu độc khử trùng sau mỗi lần vận chuyển. + Khu vực chôn lấp, xử lý, tiêu hủy động vật mắc bệnh, sản phẩm động vật mang mầm bệnh; khu vực thu gom, xử lý chất thải của động vật: Vệ sinh, tiêu độc khử trùng sau khi hoàn thành việc xử lý, chôn lấp và theo các đợt phát động của địa phương. + Trạm, chốt kiểm dịch động vật: Vệ sinh, tiêu độc khử trùng đối với phương tiện vận chuyển động vật, sản phẩm động vật đi qua trạm kiểm dịch. + Chốt kiểm soát ổ dịch: Vệ sinh, tiêu độc khử trùng hàng ngày đối với phương tiện vận chuyển đi qua chốt trong thời gian có dịch. 2.3.3. Phòng bệnh bằng vaccin Hiện nay có vacxin cúm lợn đã được thương mại hóa, thử nghiệm lâm sàng cho thấy có khả năng bảo hộ cho đàn lợn nếu tiêm 2 mũi. Vacxin chế từ các chủng H1N1 và H3N2, chủ yếu dùng cho lợn nái, rất ít khi dùng cho lợn thịt. Ngoài ra, một số loại vacxin tái tổ hợp, vacxin ADN đang được nghiên cứu sản xuất. PHẦN 3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Virus gây bệnh cúm lợn trên heo là chủ yếu là các chủng H1N1, H1N2, và H3N2. Trong đó, có những biến thể di truyền được tìm thấy rộng rãi trong các vùng khác nhau trên khắp thế giới, thường được gọi là di truyền hay tổ hợp di truyền. Một khi virus gây bệnh cúm lợn thâm nhập được vào tế bào, nó sử dụng bộ máy di truyền của tế bào để nhân lân sau đó gây chết tế bào hoặc gây hoại tử của tế bào. Các tế bào hoại tử bong ra vào trong lòng của đường hô hấp và bị các thực bào tiêu diệt (chủ yếu là bạch cầu trung tính). Trong vòng 24 đến 48 giờ, các tổn thương vi thể và dấu hiệu của mủ viêm tiểu phế quản có thể thấy được. Khuyến cáo tiêm phòng đầy đủ khi nuôi gia cầm, đưa ra lịch tiêm phòng hợp lí, hiệu quả, tăng miễn dịch cho vật nuôi. Tiếp tục nghiên cứu sâu và xác định các chủng virus chính đang lưu hành để tiến hành sản xuất vacxin phòng bệnh cho hiệu quả cao hơn. Có kế hoạch phòng chống bệnh một cách chủ động. Nghiên cứu thêm nhiều phương pháp chẩn đoán đánh chính xác đem lại hiệu quả cao. TÀI LIỆU THAM KHẢO TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 1. Lê Minh, Giáo trình bệnh truyền nhiễm thú y 2. Nguyễn Thị Chuyên, Giáo trình bệnh truyền nhiễm thú y 2 TRANG WEB 1. https:123docz.netdocument3539893benhcumlon.htm 2. https:www.vietdvm.comheobenhtrenheobenhcumtrenheoswineinfluenza.html
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNN
TRƯỜNG ĐH LÂM NGHIỆP – PHÂN HIỆU ĐỒNG NAI
TIỂU LUẬN HỌC PHẦN BỆNH TRUYỀN NHIỄM THÚ Y 2
Tên đề tài:
TÌM HIỂU BỆNH CÚM TRÊN HEO VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG BỆNH
CHO HỆ THỐNG CHĂN NUÔI HEO Ở ĐỊA PHƯƠNG
Trang 2DANH MỤC CÁC BẢNG
2
Trang 3DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang 4PHẦN 1 MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển và đi lên của nền kinh tế đất nước về mọi mặt nóichung thì ngành chăn nuôi cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng Trong quátrình sản xuất kinh doanh, tổ chức chăn nuôi thì sức khỏe vật nuôi và chất lượngđâu ra là yếu tố quan trọng để đảm bảo tình hình nhập xuất, bảo quản và sử dụng,
dữ trữ… Góp phần hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh và đem lại lợinhuận cao cho người chăn nuôi Thời tiết thay đổi, môi trường không khí ônhiễm, thói quen sinh hoạt không điều độ, nguồn thực phẩm cung cấp khôngđảm bảo chất lượng, áp lực công việc, cạnh tranh hiệu quả chăn nuôi…đều cóthể là những tác nhân ảnh hưởng đến sức khỏe đàn vật nuôi gây ảnh hưởng đếnhiệu quả kinh tế Cơ thể vật nuôi là một khối có sự phân hóa giữa các cơ quan,chỉ cần một cơ quan gặp vấn đề thì sẽ kéo theo v các cơ quan khác bị ảnh hưởng.Khi mắc bệnh cúm heo, vật nuôi sẽ có những biểu hiện như thế nào ?, Bệnh cúmheo sẽ tác dộng lên cơ quan nào ?, Làm sao chúng ta có thể phòng và trị bệnh
cúm heo ? Xuất phát từ những câu hỏi trên, em em để tài “Tìm hiểu bệnh cúm trên heo và đề xuất biện pháp phòng bệnh cho hệ thống chăn nuôi heo tại địa phương” cho tiểu luận cho học phần Bện truyền nhiễm thú y 2 này
4
Trang 5PHẦN 2 NỘI DUNG
2.1 BỆNH CÚM TRÊN HEO
Bệnh cúm lợn (Swine Influenza hay còn có tên gọi khác là Swine flu, Hog flu hay
Pig flu) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính đặc trưng trên đường hô hấp của đàn lợn do
virus cúm typ A gây ra Bệnh biểu hiện bằng các dấu hiệu đột ngột: con vật có các triệuchứng ho, sốt, mệt mỏi, bỏ ăn, chảy nước mũi, nhưng có khả năng hồi phục nhanhchóng Bệnh tích thường tập trung ở đường hô hấp và cũng mất đi nhanh chóng trừtrường hợp con vật bị chết do virus gây viêm phổi cấp Quá trình diễn biến, bản chất vàtính khốc liệt của căn bệnh phụ thuộc vào các chủng virus, tuổi, tình trạng miễn dịchcủa lợn và sự nhiễm trùng kế phát Cùng với các vi khuẩn và virus gây bệnh khác,virus cúm đóng vai trò gây bệnh đường hô hấp phức hợp ở lợn (porcine respiratorydisease complex - PRDC), là một trong các nguyên nhân chính gây thiệt hại nặng nềcho ngành chăn nuôi lợn hiện nay
Nhân loại luôn đứng trước nguy cơ tấn công của virus cúm Bệnh cúm thườngxảy ra vào mùa đông và hầu như mùa đông nào cũng có cúm, đây là bệnh lây lannhanh hơn bất kỳ bệnh truyền nhiễm nào khác, chúng lan truyền như rắc bột và nguyhiểm như một đám cháy
Đại dịch cúm là sự bộc phát bệnh trên phạm vi toàn cầu khi xuất hiện một chủngvirus cúm mới lây lan rất nhanh và tấn công con người, trong khi cơ thể chưa có đápứng miễn dịch bảo vệ thích hợp Trong lịch sử, các đại dịch cúm luôn để lại những hậuquả nặng nề về sinh mạng con người, gây xáo trộn xã hội và ảnh hưởng nghiêm trọngđến nền kinh tế toàn cầu
Trang 62.1.1 Lịch sử và sự phân bố bệnh
Bệnh cúm lợn được mô tả lần đầu tiên vào năm 1918, khi một bệnh dịch xảy ratrên đàn lợn ở Bắc Trung Mỹ, có các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích tương tự bệnhcúm trên người và trùng với đại dịch cúm ở người năm 1918 (khiến cho 20 - 50 triệungười chết) Tuy nhiên, ngày tháng và nơi xảy ra dịch cúm lợn đầu tiên không được đềcập đến, trừ một vài quan sát viên đã công bố rằng có một số trận dịch xuất hiện tạimột số trang trại lợn ở vùng Tây Illinois vào tháng 8/1918
Koen (1919) là người đầu tiên phát hiện ra bệnh với sự xuất hiện trùng hợp vềcác triệu chứng của bệnh cúm trên lợn và người Ông khẳng định rằng hai bệnh đógiống nhau và ông cũng là người đầu tiên đặt tên “cúm” (flu) cho loại bệnh mới ở lợnnày Dorset và cộng sự (1922) cũng mô tả bệnh tương tự như Koen và gọi bệnh là
“Hog flu” và cho rằng đã gặp các ca bệnh tại Iowa (Mỹ) từ trước năm 1918 khoảng 5
-6 năm McBryde (1927) khi tiến hành điều tra bệnh tại vùng Đông bắc Iowa cho rằngchính con người đã lây nhiễm mầm bệnh cho loài lợn, đặc biệt các thú y viên và nôngdân là các nhân tố phát tán mầm bệnh
Năm 1931, Shope đã nhận diện và phân lập được virus cúm lợn (SIV) và trong
85 năm sau kể từ khi phát hiện ra virus cúm lợn, đã nghiên cứu khá nhiều về tính miễndịch, khả năng biến chủng, tính thích nghi của virus cúm trên các loài động vật thínghiệm, tính kháng nguyên liên quan đến các virus cúm khác và khả năng lưu hành củabệnh trong tự nhiên
Trước năm 1975, bệnh cúm lợn dường như chỉ có duy nhất ở nước Mỹ Tuynhiên, kể từ đó tới nay, bệnh cúm lợn trên lâm sàng và các virus cúm typ A khác vớikháng thể của chúng đã được xem xét và nghiên cứu ở hầu hết các nước có ngành chănnuôi lợn trên thế giới
Ở Việt Nam có một số nghiên cứu (CIRAD), kết quả bước đầu đã phát hiệnđược sự lưu hành của virus cúm ở đàn lợn
6
Trang 72.1.2 Nguyên nhân gây bệnh
2.1.2.1 Phân loại
Bệnh cúm lợn do một loại virus cúm typ A (A/H1N1) thuộc họ Orthomyxoviridae
gây ra, virus này có đặc điểm cấu trúc cơ bản của nhóm influenza virus
2.1.2.2 Hình thái, cấu trúc
Virion có lớp vỏ bọc lipid, hình cầu, đa hình thái, có đường kính từ 80 - 120nm,đôi khi có thể thấy dạng hình sợi Virus có lớp vỏ bọc lipid kép, có nguồn gốc từ màngnguyên sinh chất của tế bào chủ
Nucleocapsid có cấu trúc xoắn, trên bề mặt có các gai lồi, dài 10 - 12nm bọcquanh lớp vỏ
Hình 2 1 Hình thái của virus cúm qua KHV điện tử
Genome có chứa 8 phân đoạn ARN đơn âm, chịu trách nhiệm mã hóa cho ít nhất
là 10 protein, trong đó có 8 protein cấu trúc và 2 loại protein không cấu trúc (là ARNpolymerase cần cho quá trình phiên mã)
Trang 9Hình 2 2 cấu trúc của virus cúm
Nucleocapsid được bao bọc bởi một màng protein nền M1 (Matrix) có liên hệmật thiết với bề mặt trong của lớp vỏ lipid M1 chiếm tỷ lệ nhiều nhất trong virion,ngoài M1 viron còn chứa phân tử protein M2 đâm xuyên ra khỏi vỏ ngoài tạo các kênhion, làm cho pH trong endosom của virus thay đổi và được gọi là protein chuyển màng
Bề mặt virus có hai loại gai mọc nhô ra, đó là hai loại glucoprotein khác nhau gồm:
- Hemagglutinin (HA hay H) có dạng hình que, dài 10nm, gọi là hemagglutinin vì
nó gây ngưng kết hồng cầu của một số loài động vật H gồm 3 tiểu đơn vị glycoproteingiống nhau gộp lại (Trime) Mỗi tiểu đơn vị lại gồm 2 chuỗi polypeptit ký hiệu là HA1 và
HA2 gắn với nhau bởi cầu nối disunphua, H có phần kị nước móc vào lớp vỏ lipid củavirus
Epitop của kháng nguyên H rất dễ bị biến đổi là do luôn có sự biến đổi trongARN genome làm thay đổi vị trí và loại axit amin tại một số điểm trên phân tử HA1 Sựthay đổi này nằm ở vị trí gắn H vào receptor của tế bào chủ - phân tử axit Neuraminic
Trang 10HA đóng vai trò gắn kết virus vào các thụ thể của tế bào vật chủ và hoà vàomàng tế bào để tiến hành chu trình nhân lên - tức là có vai trò trong quá trình lâynhiễm Hiện tại người ta đã nhận dạng được có 16 phụ nhóm loại HA được xếp theothứ tự từ H1 - H16 Có 3 loại gai H quan trọng ở các virus gây bệnh cho người là H1, H2,
H3 Trước đây người ta còn phân ra H0 và Hw (H ở lợn), về sau 2 loại gai này cùngđược gọi là H1
- Neuramidase (NA hay N) có dạng hình nấm, đầu gai có cấu tạo hình hộp do 4đơn vị protein gần giống hình cầu nối với nhau mà thành, NA cũng có phần kị nước đểmóc sâu vào vỏ ngoài virus NA cắt liên kết glycosid, giải phóng axit neuraminic nên
có tác dụng cắt thụ thể dành cho HA trên bề mặt hồng cầu, NA có vai trò giải phóngvirus ra khỏi tế bào vật chủ Hiện tại người ta ghi nhận có 9 phụ nhóm NA khác nhauđánh số từ N1 -N9
Với 16 phụ nhóm HA và 9 phụ nhóm NA, về mặt lí thuyết có thể có hơn 135dạng virus có kết hợp HA - NA tiềm tàng; tuy nhiên ở lợn hầu như chỉ lưu hành subtypthuộc H1, H3, N1 và N2
2.1.2.3 Đặc tính nuôi cấy
Virus cúm dễ dàng nuôi cấy trên phôi gà: con đường gây nhiễm có hiệu quả nhất làtiêm vào túi ối hoặc xoang niệu của phôi gà ấp 10 - 11 ngày Ngoài ra, môi trường nuôicấy vào thận bê, tế bào phổi của bào thai lợn, tế bào thận lợn và tế bào xơ phôi gà… cũngđược sử dụng
2.1.2.4 Đặc tính kháng nguyên và sinh miễn dịch
Bệnh cúm ở động vật do virus cúm typ A gây ra là nặng nhất và có thể gây racác đại dịch, đó là do virus cúm typ A có genome phân đoạn, dẫn đến sự thay đổikháng nguyên liên tục biểu hiện ở hai kiểu:
Một là, virus cúm có khả năng lệch kháng nguyên (antigenic drift) do đột biếnngẫu nhiên xảy ra ở các gen mã hóa cho kháng nguyên Hemagglutinin dẫn đến sự thay
10
Trang 11đổi một số axit amin trong phân tử này, do đó gây ra những thay đổi nhỏ về tính khángnguyên, tạo ra các dòng virus mới tránh được một phần miễn dịch trong quần thể độngvật do các vụ dịch trước đó tạo ra Hiện tượng lệch kháng nguyên này tăng lên từ mùanày sang mùa khác, đã gây khó khăn cho việc sản xuất vacxin phòng bệnh và là nguyênnhân gây ra các vụ dịch nhỏ phát tán.
Hai là, virus cúm có một khả năng khác cực kỳ nguy hiểm, đó là khả năngchuyển đổi kháng nguyên (antigenic shift), là khả năng tái tổ hợp gen với một dòngvirus cúm khác đồng nhiễm vào cơ thể để tạo ra một dòng virus hoàn toàn mới, tránhđược toàn bộ sức miễn dịch đặc hiệu với các dòng virus cúm khác có trong quần thểđộng vật Khả năng chuyển đổi kháng nguyên chính là nguyên nhân gây ra các vụ đạidịch cúm
Trong trường hợp này, lợn được coi là một cái “thùng trộn” lí tưởng của viruscúm và một virus cúm tái tổ hợp mới xuất hiện, đó là virus cúm A/H1N1 mang một tổhợp gen của 4 dòng virus gồm: virus cúm lợn Bắc Mỹ, virus cúm gia cầm Bắc Mỹ,virus cúm lợn chủng châu Á, châu Âu và virus cúm người Hiện tại, loại virus mới nàyđang là mối đe doạ của một đại dịch cúm Cũng là virus A/H1N1 nhưng virus mới nàykhác với virus A/H1N1 cổ điển gây cúm ở lợn Cho đến nay, người ta chưa hề phát hiệnthấy trường hợp lợn bị nhiễm loại virus cúm mới này
2.l.2.2 Sức đề kháng
Virus không bền với nhiệt độ, ở 56 - 600C virus mất độc tính trong vài phút; ở
1000C chết ngay; ở 40C trong nước niệu của phôi gà virus tồn tại 2 tháng; ở -700C khilàm lạnh nhanh, có thể bảo quản virus lâu dài
Các chất sát trùng thông thường như formol, virkon, vôi, cresyl… có thể tiêudiệt virus nhanh chóng
Trang 122.1.3 Truyền nhiễm học
2.1.3.1 Loài vật mắc bệnh
Virus cúm typ A tồn tại ở nhiều loài động vật khác nhau trong tự nhiên bao gồmngười, động vật có vú và chim Với virus cúm lợn cổ điển A/H1N1 thì lợn là loài vậtchủ chính nhưng virus cũng có khả năng lây nhiễm giữa các loại động vật, đặc biệt làvịt, gà tây, người Lợn có thể nhiễm virus cúm từ gia cầm và người, điều đó là cơ sở đểngười ta cho rằng lợn đóng vai trò như một “bình trộn” (Mixing Vessel) cho virus từgia cầm và từ những động vật có vú Điều này nhấn mạnh sự quan trọng của virus cúmlợn trong việc nghiên cứu mối quan hệ với tất cả các loại virus cúm
2.1.3.2 Chất chứa căn bệnh
Virus cúm typ A có nhiều typ và subtyp, vì thế WHO quy định cách viết dànhcho virus cúm bao gồm: typ virus, địa điểm phân lập, năm phân lập, kí hiệu gai khángnguyên H và N Ví dụ: A/Singapore/57/H2N2; gây dịch cúm châu Á năm 1957
Nếu virus gây bệnh phân lập được từ động vật thì còn phải ghi loại động vậtmắc bệnh Ví dụ: A/Swine/New - Jersey/76/H1N1 hoặc A/Duck/Ukraina/63/H3N8
2.1.3.3 Đường xâm nhập
Đường hô hấp: Đường xâm nhập chính của virus là đường hô hấp, virus vàovùng hầu trong các tế bào của màng nhầy họng rồi lan sang các tế bào lân cận, các hệthống lưu thông và hệ lâm ba dẫn tới các tế bào, cơ quan khắp cơ thể
Đường tiêu hóa: Khi mầm bệnh theo thức ăn, nước uống xâm nhập vào cơ thểqua đường tiêu hóa, virus nhân lên trong lớp thượng bì của ống tiêu hóa làm thành mụnnước sơ phát, sau đó theo hệ thống máu và lâm ba đến khắp cơ thể
Da: Da nguyên lành không để virus đi qua, khi có vết xây xát gia súc có thểnhiễm virus Tại những xây xát hoặc vết thương ở da, nhất là vùng vú thường xuất hiệnmụn nước sơ phát trong bệnh tự nhiên; vùng da tổn thương cũng là nơi virus xâm nhậpvào cơ thể
12
Trang 132.1.3.4 Cơ chế sinh bệnh
Virus cúm sau khi xâm nhập vào cơ thể sẽ nhân lên ở biểu mô niêm mạc đường
hô hấp như mũi, hạch amidan, khí quản, phổi và hạch lympho khí phế quản Virus chỉgây nhiễm trùng huyết trong một thời gian ngắn
Phổi được coi là cơ quan đích tấn công chủ yếu của virus Virus cúm có thể pháhủy tế bào là do kháng nguyên NA và/hoặc protein PB1F2; tuy nhiên các cytokine sảnsinh bởi vật chủ trong giai đoạn đầu khi bị nhiễm trùng cũng có thể đóng vai trò thenchốt trong tiến triển của bệnh Một số cytokine được nói đến gồm interferon - α(IFNα), tumor necrosis factor - α (TNFα), interleukin - 1 (IL1) và interleukin - 6 (IL6).Các cytokine này khiến cho hoạt động của phổi bị ảnh hưởng, gây viêm, sốt, mệt mỏi,
bỏ ăn và một số tác động phụ khác Vì vậy, nếu lượng virus xâm nhập vào càng sâutrong đường hô hấp, lượng cyokine sản sinh càng nhiều sẽ khiến cho bệnh thêm trầmtrọng Tuy nhiên, cũng có một số cytokine có vai trò kháng virus và sinh đáp ứng miễndịch chống virus cúm; vì vậy cần phải có những nghiên cứu tiếp theo về vai trò củacytokine trong cơ chế gây bệnh của virus cúm
2.1.3.5 Cách lây lan
Virus có nhiều trong dịch đường hô hấp của lợn mắc bệnh, từ đó mầm bệnh cóthể lây lan trực tiếp từ lợn bệnh sang lợn khỏe thông qua các dịch tiết, không khí khilợn bệnh hắt hơi, sổ mũi và ho… Đường truyền lây qua tiếp xúc trực tiếp dễ dàng đượcchứng minh trong điều kiện thí nghiệm: lợn dễ gây nhiễm trong phòng thí nghiệm bằngcách nhỏ giọt virus vào mũi hoặc phơi nhiễm virus qua phương pháp khí dung
Các vật dụng chăn nuôi và người cũng có thể mang mầm bệnh từ chuồng lợnbệnh sang chuồng lợn khoẻ Mầm bệnh có thể lưu hành trên đàn lợn trong suốt mộtnăm nhưng thường gây dịch trong các tháng cuối mùa thu và mùa đông, giống như quyluật phát dịch của dịch cúm mùa ở người Ở những nơi chăn nuôi lợn tập trung, bệnh
Trang 14càng dễ xảy ra Sự xuất hiện và lây lan của bệnh thường liên quan đến vận chuyển lợnhoặc sản phẩm của lợn chưa qua xử lí thích ứng.
2.1.4 Triệu chứng
Cúm lợn cổ điển là bệnh mang tính chất bầy đàn Thời gian nung bệnh thường
từ 1 - 3 ngày, bệnh phát ra đột ngột và có tốc độ lây lan nhanh nên có thể thấy hầu hết
số lợn trong đàn phát bệnh trong cùng một thời điểm
Lợn mẫn cảm có thể đột ngột phát bệnh với các biểu hiện: sốt cao từ 40,5 - 41,50C.Con vật mệt mỏi, bỏ ăn, nằm co cụm lại một chỗ, lười vận động, thậm chí không đi lạiđược
Lợn biểu hiện cảm mạo: hắt hơi, ho, sổ mũi, chảy nước mũi rất nhiều Cơn ho cóthể rất dữ dội giống như đàn chó sủa, lợn khó thở, phải há mồm ra để thở, thở thể bụng,một số con có thể bị viêm kết mạc mắt, con vật giảm cân, gầy yếu do biếng ăn và lười vậnđộng
Trang 15nhanh sau 5 - 7 ngày kể từ khi biểu hiện bệnh đột ngột, tuy nhiên nếu có mầm bệnhkhác kế phát thì lợn mắc bệnh trầm trọng hơn và tỷ lệ chết sẽ tăng lên.
Hạch phổi thường sưng to, hệ thống khí phế quản chứa đầy dịch nhầy, có bọt khí
và hầu như đặc kín bởi tơ huyết và dịch rỉ viêm Khi cắt phế quản, tiểu phế quản và bópthấy chảy ra một chất dịch đục, dính, màu đỏ hoặc xám
Trong một số trường hợp thấy lợn bị viêm màng phổi tơ huyết
Hình 2 4 Bệnh tích đại thể ở phổi
2.1.5.2 Bệnh tích vi thể
Cũng như bệnh tích đại thể, bệnh tích vi thể không phức tạp, biểu hiện giốngnhư các bệnh viêm phổi do virus khác