1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Đo lường chất lượng thông tin kế toán tại các ngân hàng thương mại Việt Nam thông qua mức trích lập dự phòng rủi ro

12 9 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 742,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài viết này, tác giả đo lường chất lượng thông tin của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam thông qua chất lượng dự phòng rủi ro. Kết quả cho thấy chất lượng thông tin có mối quan hệ với hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Các ngân hàng có hiệu quả hoạt động tốt thường có chất lượng thông tin tốt hơn các ngân hàng khác. Xét trong toàn hệ thống, ngân hàng Việt Nam có độ chất lượng thông tin thấp so với các quốc gia khác.

Trang 1

ĐO LƯỜNG CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM THÔNG QUA MỨC TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO

MEASUREMENT OF QUALITY OF ACCOUNTING INFORMATION AT VIETNAMESE

COMMERCIAL BANKS THROUGH THE BAD DEBT PROVISION

Trương Hoàng Diệp Hương

Học viện Ngân hàng huongthd@hvnh.edu.vn

TÓM TẮT

Chất lượng thông tin tài chính của ngân hàng thương mại có vai trò quan trọng không chỉ với bản thân ngân hàng, mà cả với nhà đầu tư, nhà quản lý và các doanh nghiệp Chất lượng thông tin trong hoạt động ngân hàng tốt giúp giảm thiểu sự bất cân xứng thông tin trên thị trường, từ đó, giúp nhà đầu tư và các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng dễ dàng và hiệu quả hơn Tuy nhiên, vấn đề về chất lượng thông tin chưa thực sự được các ngân hàng thương mại quan tâm và đánh giá đúng mức Trong bài viết này, tác giả đo lường chất lượng thông tin của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam thông qua chất lượng dự phòng rủi ro Kết quả cho thấy chất lượng thông tin có mối quan hệ với hiệu quả hoạt động của ngân hàng Các ngân hàng có hiệu quả hoạt động tốt thường có chất lượng thông tin tốt hơn các ngân hàng khác Xét trong toàn hệ thống, ngân hàng Việt Nam có độ chất lượng thông tin thấp so với các quốc gia khác

Từ khóa: Chất lượng thông tin, dự phòng rủi ro, ngân hàng thương mại

ABSTRACT

The financial information quality of a commercial bank plays an important role not only for the bank itself, but also for investors, regulators and businesses The good quality of bank’s financial information helps minimize information asymmetry in the market, thereby, helping investors and businesses to access bank capital more easily and effectively However, the issue of information quality has not really been paid attention and appreciated by commercial banks In this article, the author measures the quality of information of commercial banks in Vietnam through the quality of risk provisions The results show that the quality of information is related

to the bank's performance Good performing banks often have better information quality than other banks In the whole system, Vietnamese banking system have low information quality compared to other countries

Keywords: Information quality, bad debt provision, commercial banks

1 Giới thiệu

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng đã đặt ra những biến đổi không nhỏ tới mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội Việt Nam và hệ thống ngân hàng thương mại cũng không nằm ngoài xu hướng đó Trước cuộc cách mạng 4.0 và hội nhập quốc tế, bên cạnh những thuận lợi mang lại từ đổi mới công nghệ, kỹ thuật, mở rộng thị trường, thì hệ thống ngân hàng cũng gặp không ít những khó khăn, thách thức trong việc đổi mới, phát triển nhằm đáp ứng các yêu cầu của thời đại mới Để tận dụng được những lợi thế phát triển và tăng sức cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại trước giai đoạn hội nhập, thì một trong những giải pháp cần thực hiện là nâng cao mức độ minh bạch thông tin trong hệ thống ngân hàng thương mại, từ đó giúp giảm thiểu tình trạng bất cân xứng thông tin trên thị trường, tạo ra sức hút với nhà đầu tư cũng như khách hàng trong nước và quốc tế Bên cạnh đó, việc nâng cao minh bạch thông tin trong hoạt động ngân hàng thương mại còn là giải pháp giúp quản lý hiệu quả hơn thị trường tài chính, giảm thiểu nguy cơ khủng hoảng

Minh bạch thông tin trong hoạt động ngân hàng thương mại (NHTM) được hiểu là việc một ngân

hàng “công bố thông tin tới công chúng một cách kịp thời, tin cậy nhằm đảm bảo người sử dụng thông tin

có đánh giá chính xác về hoạt động tài chính, hoạt động kinh doanh cũng như những rủi ro của ngân hàng

đó” (Basel, 1998) Minh bạch thông tin không đơn thuần ám chỉ số lượng thông tin được công ty công bố,

mà quan trọng hơn là chất lượng thông tin công bố Như Bushman (2004) đã chia sẻ, báo cáo tài chính

Trang 2

của ngân hàng chỉ cung cấp mô tả về sự thật, không phải bản thân sự thật Tính chất của sự minh bạch thông tin thể hiện ở việc tình hình thực sự của ngân hàng được thể hiện rõ ràng đến đâu sau những con số

kế toán được báo cáo Như vậy, khi đề cập tới minh bạch thông tin, thì yếu tố chất lượng thông tin công

bố được đặt lên hàng đầu

Thông tin tài chính có chất lượng tốt thể hiện ở việc thông tin công bố phải đáng tin cậy và phù hợp

để hỗ trợ người sử dụng báo cáo tài chính trong quá trình đưa ra quyết định (Fathi, 2013) Chất lương thông tin tốt có giá trị lớn với công ty vì nó có triển vọng giảm chi phí nợ và giúp tăng giá cổ phiếu (Savina, 2016) Tuy nhiên, tại Việt Nam, chất lượng thông tin tài chính tại các NHTM vẫn chưa thực sự đạt được như kỳ vọng, với bằng chứng là nhiều vụ gian lận thông tin, sửa đổi số liệu đã được phát hiện Điều này gây ảnh hưởng xấu tới uy tín của các ngân hàng thương mại và niềm tin của nhà đầu tư Trên cơ

sở đó, việc đo lường chất lượng thông tin tài chính tại các ngân hàng thương mại của tác giả sẽ tạo cơ sở khoa học để đề xuất các chính sách giúp nâng cao chất lượng thông tin tài chính tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam

Phần còn lại của bài nghiên cứu được cấu trúc như sau: phần 2 trình bày cơ sở lý thuyết về đo lường chất lượng thông tin tài chính; phần này cũng đề ra phương pháp nghiên cứu Phần 3 trình bày kết quả nghiên cứu và đánh giá Cuối cùng, phần 4 đưa ra kết luận và một số hàm ý chính sách

2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

2.1 Cơ sở lý thuyết

Có hai trường phái chính trong các nghiên cứu về chất lượng thông tin báo cáo tài chính, phân theo phương pháp đo lường Trường phái thứ nhất sử dụng phương pháp điều tra bảng hỏi với đối tượng là các nhà quản lý, CEO, giám đốc tài chính của các ngân hàng thương mại, và các kiểm toán viên đã từng tham gia kiểm toán tại các ngân hàng thương mại đó (Van Beest et al, 2009, Mahboub, 2017) Các đối tương được hỏi sẽ đưa ra nhận định theo thang đo Likert về các khía cạnh khác nhau của chất lượng thông tin tài chính, như sự liên quan, tính trung thực, dễ hiểu, tính so sánh được và mức độ kịp thời Dựa vào những nhận định trên, các nghiên cứu tính toán chỉ số phản ánh chất lượng thông tin báo cáo tài chính của các NHTM Dù có ưu điểm là dễ sử dụng, nhưng phương pháp thứ nhất có nhược điểm là mức độ tin cậy của biến số đo lường phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan như trình độ của người phỏng vấn, cảm nhận cá nhân của người được phỏng vấn, mức độ xác đáng của các câu hỏi phỏng vấn…

Trường phái thứ hai sử dụng các dữ liệu trên báo cáo tài chính và mô hình định lượng để đánh giá chất lượng thông tin báo cáo tài chính (Van Tendeloo and Vanstraelen, 2005; Barth etal., 2001, Hirst et

al, 2004) Theo đó, thông tin tài chính có chất lượng tốt khi nó có chức năng dự báo những rủi ro của doanh nghiệp cũng như phản ánh chính xác thực trạng của doanh nghiệp Hay nói cách khác, các khoản mục tài chính của kỳ hiện tại phải có mối quan hệ với kỳ trước đó cũng như có chức năng dự báo cho kỳ sau, đặc biệt là các khoản mục do công ty điều chỉnh như chi phí trích trước, hay trích lập dự phòng rủi ro… Đây cũng là phương pháp mà tác giả lựa chọn sử dụng

Nhằm đo lường chất lượng thông tin của hệ thống ngân hàng thương mại, tác giả sử dụng biến trích lập dự phòng là biến đo lường chính Lựa chọn này được đưa ra trên cơ sở đánh giá thực trạng hệ thống NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2010-2017, khi vấn đề nợ xấu và dự phòng rủi ro cho vay đã trở thành vấn đề được quan tâm nhiều đối với các nhà đầu tư cũng như người cho vay khi xem xét tới tình hình tài chính của một NHTM Biến số chất lượng thông tin về khoản dự phòng rủi ro có yếu tố quyết định đến tính minh bạch của ngân hàng, đặc biệt đối với tính minh bạch về mức độ chấp nhận mạo hiểm (risk-taking) của ngân hàng (Bushman, 2007) Hơn nữa, đây cũng là biến được Jeffrey và Rusticus (2011) lựa chọn trong nghiên cứu về tác động của chất lượng minh bạch thông tin báo cáo tài chính đến sự tồn tại của ngân hàng trong giai đoạn khủng hoảng tài chính 2007-2009 vừa qua

Mức trích lập dự phòng rủi ro là tín hiệu thông báo cho nhà đầu tư về mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng Theo đó, thay vì xem xét đến độ lớn của mức trích lập dự phòng rủi ro, thì việc tín hiệu này có phản ảnh tình hình thực của ngân hàng hay không mới là yếu tố thể hiện chất lượng minh bạch thông tin

Trang 3

tài chính Về phía ngân hàng, các ngân hàng cần phải nhận ra các khoản lỗ cho vay một cách kịp thời để xác định chính xác hơn về chi phí và doanh thu từ việc cho vay, từ đó đưa ra các điều kiện cho vay hợp lý

để điều chính cho các điều kiện kinh tế họ sẽ phải đối mặt Như vậy, nếu mức dự phòng rủi ro quá thấp, thì ngân hàng cần tăng trích lập dự phòng rủi ro trong năm, để nâng mức dự phòng về ngưỡng hợp lý Trong khi đó, nếu mức dự phòng lớn hơn khoản lỗ ước tính, thì các ngân hàng cần giảm mức trích lập dự phòng rủi ro Nhìn chung, mức trích lập dự phòng cần phải “cẩn trọng, bảo thủ, nhưng không vượt quá”

và “nên cân nhắc đến toàn bộ các thông tin hiện hữu như ngày báo cáo tài chính, các yếu tố về ngành nghề, đại lý, kinh tế và các yếu tố chính trị” (Fed, 2006)

Tại Việt Nam, Thông tư 02/2013/TT-NHNN và Thông tư 09/2014/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro của các NHTM Tại quy định này, các NHTM phải trích lập dự phòng rủi ro theo mức tối thiểu do NHNN quy định Tuy nhiên, việc NHTM có phản ánh đúng nhóm nợ, trên cơ sở đó có trích lập đủ theo mức quy định, hay việc NHTM có lựa chọn trích lập trên mức này do nhận thấy rủi ro tiềm tàng hay không phụ thuộc vào sự lựa chọn và mức độ tin cậy của từng ngân hàng Do đó, việc sử dụng biến trích lập dự phòng rủi ro đo đo lường chất lượng công

bố thông tin của các NHTM Việt Nam là có ý nghĩa

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Lựa chọn mẫu ngân hàng

Bài viết sử dụng mẫu dữ liệu gồm 31 NHTM tại Việt Nam trong khoảng thời gian từ 2007 đến

2017 (chỉ tính các NHTM Việt Nam, không tính các chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam) Đây là giai đoạn mà các quy định về tăng cường minh bạch thông tin tại các NHTM được đề cao sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, do đó, giai đoạn này có ý nghĩa nghiên cứu lớn

Do một số ngân hàng mới được thành lập từ năm 2008, và một số ngân hàng đã tham gia mua bán

và sáp nhập từ năm 2014, mà số lượng ngân hàng sẽ có sự biến động theo từng năm Bên cạnh đó, một trong các chỉ tiêu quan trọng để đo lường chất lượng dự phòng rủi ro là tỷ lệ nợ xấu Chỉ tiêu này chỉ mới được các ngân hàng công bố rộng rãi kể từ năm 2010, thời gian trước đó, chỉ có khoảng 39% ngân hàng

có báo cáo về tỷ lệ nợ xấu theo từng nhóm nợ Từ những nguyên nhân trên, số lượng mẫu ngân hàng dùng

để nghiên cứu là 133 mẫu ngân hàng cho mô hình đo lường chất lượng thông tin của từng ngân hàng

và 189 mẫu ngân hàng cho mô hình đo lường chất lượng thông tin của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam

2.2.2 Mô hình đo lường chất lượng thông tin công bố của từng Ngân hàng thương mại

Để đo lường chất lượng thông tin công bố trên báo cáo tài chính của các NHTM, bài nghiên cứu sử dụng phương pháp được đề xuất bởi Dechow và Dichev (2002).Về cơ bản, phương pháp này đo lường chất lượng thông tin dựa trên sai số ước lượng từ mô hình hồi quy Sai số ước lượng càng lớn tương đương chất lượng thông tin cung cấp càng thấp Phương pháp của Dechow và Dichev (2002) được đánh giá tốt về khả năng đo lường chất lượng thông tin, và được nhiều nhà nghiên cứu sau đó sử dụng làm phương pháp cơ sở để thực hiện các nghiên cứu của mình như Shi và Zhou (2013), Darjezi ( 2016), Kamarudin và ismail (2014), và Jeffrey và Rusticus (2011)

Ứng dụng phương pháp của Dechow và Dichev (2002) trong việc đo lường chất lượng thông tin mức trích lập dự phòng rủi ro, xuất phát từ phương trình (3) về số dư dự phòng rủi ro cuối kỳ, Jeffrey và Rusticus (2011) đề xuất dự phòng rủi ro tại thời điểm t phụ thuộc vào mức dự phòng rủi ro đầu kỳ, mức xóa sổ (charge-off) và sự thay đổi trong khoản nợ xấu, theo mô hình (4) như sau:

(3)

Trong đó: LLPt là dự phòng rủi ro tại thời điểm t, LLRt-1 là mức dự phòng rủi ro đầu kỳ, NCOt và NCOt+1 lần lượt là mức xóa sổ tại thời điểm t và t+1, CH_NPLt và CH_NPLt+1 là sự thay đổi trong các khoản nợ xấu trong khoảng thời gian từ t-1 tới t và từ thời gian t tới t+1, εt là nhiễu, giá trị còn lại Tất cả

Trang 4

các biến trên được chia bởi tổng số tiền vay tại thời điểm t và nhân với 100, để diễn tả theo tỷ lệ phần trăm của tổng số tiền vay

Chất lượng thông tin tài chính được đo lường thông qua độ nhiễu (noise) của mô hình về dự phòng rủi ro Cụ thể, chất lượng khoản dự phòng rủi ro (Q_DISC) sẽ được đo lường cho mỗi ngân hàng bằng cách lấy độ lệch chuẩn của giá trị còn lại εt của mỗi ngân hàng trong 10 năm và nhân với -1 Q-DISC cao

là dấu hiệu của chất lượng thông tin thấp và ngược lại

2.2.3 Mô hình đo lường chất lượng minh bạch thông tin của hệ thống ngân hàng

Đối với chất lượng minh bạch thông tin của hệ thống ngân hàng, đề tài dựa theo phương pháp được

sử dụng bởi Liu và Ryan (2006), Leven và Majononi (2003) và Bushman and Williams (2012) nhằm có thể so sánh chất lượng minh bạch thông tin của hệ thống ngân hàng Việt Nam so với các quốc gia khác Theo đó, chất lượng minh bạch thông tin của hệ thống ngân hàng (In.Q-DISC) tại một quốc gia được đo lường bằng mức độ “làm mịn” (Smoothing) doanh thu hàng năm thông qua việc trích lập dự phòng rủi ro của các ngân hàng Phương pháp tính biến Smoothing được xác định từ việc hồi quy phương trình (5) cho mỗi quốc gia Hệ số β1 thể hiện mức độ làm mịn doanh thu Hệ số này lớn hơn 0 sẽ cho thấy việc trích lập dự phòng rủi ro có tác động tích cực tới việc làm mịn doanh thu hàng năm, và thể hiện chất lượng minh bạch thông tin của hệ thống ngân hàng Mô hình (5) có dạng:

LLP it = β 0 + β 1 Ebllp it + β 2 NPL it + β 3 NCO it + β 4 Cap it + β 5 Size it

+ β 6 LLR it + β 7 Loansa it + β 8 GDP it + β 9 RealLoan_Growth it

Trong đó, LLPt là dự phòng rủi ro trích lập tại thời điểm t chia cho tổng dư nợ tại thời điểm t-1; Ebllpit là lợi nhuận trước thuế và chi phí dự phòng rủi ro chia cho tổng dư nợ tại thời điểm t+1; NPLit là thay đổi trong mức nợ xấu chia cho tổng dư nợ tại thời điểm t+1; NCOit là mức xóa sổ chia cho tổng dư

nợ tại thời điểm t+1, Capit là giá trị ghi sổ của vốn chủ sở hữu chia cho tổng tài sản, Sizeit là giá trị log của tổng tài sản, LLRit là mức dự phòng rủi ro tời điểm t+1 chia cho tổng dư nợ tại thời điểm t+1, Loansait là tổng dư nợ tại thời điểm t+1 chia cho tổng tài sản tại thời điểm t+1, RealLoan_Growthit là thay đổi trong tổng dư nợ được điều chỉnh bởi CPI và chia cho tổng dư nợ tại thời điểm t+1, GDP là thay đổi trong GDP

Bảng 1: Các biến số trong mô hình

I Mô hình đo lường chất lượng thông tin của các NHTM

Q_DISC Chất lượng thông tin

Độ lệch chuẩn của giá trị còn lại εt của mỗi ngân hàng trong 10 năm theo mô hình dưới nhân với -1

Tính toán của tác giả

LLPt Trích lập dự phòng rủi ro Trích lập dự phòng rủi ro cuối năm chia

tổng tín dụng cuối năm Báo cáo tài chính

LLRt-1 Dự phòng rủi ro đầu kỳ Dự phòng rủi ro đầu năm chia tổng tín dụng

NCOt Mức xóa sổ bằng dự

phòng rủi ro

Mức xóa sổ bằng dự phòng rủi ro chia tổng

NCOt+1 Mức xóa sổ bằng dự

phòng rủi ro năm sau

Mức xóa sổ bằng dự phòng rủi ro năm sau chia tổng tín dụng cuối năm Báo cáo tài chính

CH_NPLt Biến động nợ xấu Thay đổi số dư nợ xấu năm t so với năm t-1

chia tổng tín dụng cuối năm Báo cáo tài chính

CH_NPLt+1 Biến động nợ xấu năm

sau

Thay đổi số dư nợ xấu năm t+1 so với năm

t chia tổng tín dụng cuối năm Báo cáo tài chính

Trang 5

II Mô hình đo lường chất lượng công bố thông tin của hệ thống NHTM

In.Q-DISC

Chất lượng công bố thông tin của hệ thống NHTM

Hệ số β1 của mô hình sau:

LLPit = β0 + β1Ebllpit + β2 NPLit + β3NCOit + β4Capit + β5Sizeit + β6LLRit + β7Loansait + β8 GDPit + β9RealLoan_Growthit + Fixxed Effect + ε

Tính toán của tác giả

LLPt Trích lập dự phòng rủi ro Dự phòng rủi ro trích lập tại thời điểm t

chia tổng dư nợ tại t-1 Báo cáo tài chính

Ebllpit Lợi nhuận trước thuế và

chi phí dự phòng rủi ro

Lợi nhuận trước thuế và chi phí dự phòng rủi ro chia cho tổng dư nợ tại thời điểm t+1 Báo cáo tài chính

NPLi Biến động nợ xấu thay đổi trong mức nợ xấu chia cho tổng dư

nợ tại thời điểm t+1; Báo cáo tài chính

NCOit Mức xóa sổ bằng dự

phòng rủi ro

Mức xóa sổ chia cho tổng dư nợ tại thời

Capit Vốn chủ sở hữu Giá trị ghi sổ của vốn chủ sở hữu chia cho

Sizeit Quy mô ngân hàng Giá trị log của tổng tài sản Báo cáo tài chính

LLRit Số dư dự phòng rủi ro Mức dự phòng rủi ro tời điểm t+1 chia cho

tổng dư nợ tại thời điểm t+1 Báo cáo tài chính

Loansait Tổng dư nợ Tổng dư nợ tại thời điểm t+1 chia cho tổng

tài sản tại thời điểm t+1 Báo cáo tài chính

RealLoan_

Growthit Tăng trưởng tín dụng

Thay đổi trong tổng dư nợ được điều chỉnh bởi CPI và chia cho tổng dư nợ tại thời điểm t+1

Báo cáo tài chính

GDP Tăng trưởng GDP Thay đổi trong GDP năm t so với t-1 Báo cáo tài chính

3 Kết quả và đánh giá

3.1 Kết quả

3.1.1 Chất lượng công bố thông tin của các ngân hàng thương mại

Mô tả số liệu

Bảng 4.7 mô tả các biến trong mô hình chất lượng công bố thông tin của các NHTM Các biến này đều được biểu diễn dưới dạng tỷ lệ % của tổng dư nợ Trong đó, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro bình quân

là 0,72% với độ lệch chuẩn là 2,21 Tỷ lệ dự phòng rủi ro đầu kỳ là 0,98% với độ lệch chuẩn là 0,64 và tỷ

lệ xóa sổ bằng dự phòng rủi ro là 0,64% với độ lệch chuẩn là 0,7 Tỷ lệ thay đổi số dư nợ xấu là 0,61% với độ lệch chuẩn là 9,39

Bảng 2: Mô tả các biến trong mô hình chất lượng công bố thông tin

Trang 6

Đề tài chia nhóm các NHTM theo hiệu quả hoạt động và đánh giá tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro theo từng nhóm ngân hàng Nhóm 1 gồm 4 ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước, nhóm

2 gồm nhóm các ngân hàng có hiệu quả hoạt động tốt, nhóm 3 gồm nhóm các ngân hàng có hiệu quả trung bình, và nhóm 4 gồm nhóm các ngân hàng bị NHNN xếp vào loại hoạt động yếu kém

Hình 1 thể hiện tỷ lệ nợ xấu giữa các nhóm ngân hàng Theo đó, giai đoạn 2009 – 2013 cho thấy mức chênh lệch lớn trong tỷ lệ nợ xấu Các ngân hàng thương mại yếu kém bộc lộ vấn đề trong chất lượng tín dụng, khi có tỷ lệ nợ xấu lớn nhất trong nhóm các NHTM, ở mức 6 - 7% Trong khi đó, các ngân hàng thuộc nhóm 1 – 3 đều duy trì tỷ lệ nợ xấu ở dưới mức 4% Giai đoạn 2014-2016, các ngân hàng thuộc nhóm 4 đã bị mua lại hoặc sáp nhập với các ngân hàng khác, khiến tỷ lệ nợ xấu của các NHTM thuộc nhóm này giảm xuống Trong khi đó, các NHTM Nhà nước có tỷ lệ nợ xấu nằm ở ngưỡng giữa, còn các NHTM hoạt động tốt có tỷ lệ nợ xấu thấp nhất Nguyên nhân các ngân hàng do nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối thường có mức nợ xấu ở ngưỡng trung bình là do các ngân hàng này, đặc biệt là Agribank, thường phải thực hiện tín dụng ưu tiên theo quy định của nhà nước Các khoản tín dụng này có chất lượng xấu, kéo theo tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại thuộc nhóm 1 thường cao hơn các ngân hàng nhóm 2 Năm 2017, một điểm gây chú ý là tỷ lệ nợ xấu tại các ngân hàng thương mại nhóm 3

có sự tăng đột biến Tỷ lệ này dù chưa vượt qua nhưng cũng đã chạm gần sát tới mức 4% theo quy định của nhà nước Việc tăng trưởng tín dụng cao tại nhóm các ngân hàng này đã kéo theo hệ quả là chất lượng tín dụng giảm sút

Hình 1: Tỷ lệ nợ xấu theo nhóm NHTM của Việt Nam

Hình 2 thể hiện tỷ lệ trích lập dự phòng bắt buộc Tuy có tỷ lệ nợ xấu ở mức trung bình, nhưng tỷ

lệ trích lập dự phòng rủi ro của nhóm các NHTM nhà nước lại luôn duy trì ở mức cao nhất so với các nhóm ngân hàng khác Điều này cho thấy các NHTM nhà nước đã chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật về trích lập dự phòng rủi ro và đảm bảo mức trích lập rủi ro đủ dể xử lý các khoản nợ xấu phát sinh Các NHTM thuộc nhóm 2, nhóm các ngân hàng hoạt động hiệu quả, cũng đã tăng mức trích lập dự phòng rủi ro để phù hợp với quy định của nhà nước Trong khi đó, năm 2017, các NHTM thuộc nhóm 3

đã phải tăng tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro do tăng tỷ lệ nợ xấu Chi phí dự phòng rủi ro tăng lên đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả hoạt động của các NHTM thuộc nhóm này

Trang 7

Hình 2: Tỷ lệ trích lập dự phòng theo nhóm ngân hàng

Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính

Kết quả mô hình

Để xác định dạng mô hình, đề tài tiến hành kiểm nghiệm Hausman Test Kết quả p value = 0,0158

< 0,05 nên kiểm nghiệm Hausman Test bác bỏ giả thiết H0 Vậy mô hình phù hợp với chuỗi dữ liệu là mô hình tác động cố định fixed effect Kiểm định tự tương quan của dữ liệu bảng (kiểm định Wooldridge) cho p-value > 0,05, mô hình không có hiện tượng tự tương quan Kiểm định hệ số VIF < 2, mô hình không

có hiện tượng đa cộng tuyến Kiểm định phương sai sai số thay đổi (heteroskedasticity) của mô hình FEM (dùng kiểm định Wald) cho p-value < 0,05, bác bỏ H0, mô hình gặp phải lỗi phương sai sai số thay đổi

Để khắc phục lỗi trên, đề tài sử dụng mô hình sai số chuẩn mạnh (Robust Standard errors) cho kết quả sau:

Bảng 3: Kết quả mô hình chất lượng công bố thông tin

Trang 8

Mô hình có R bình phương bằng 0,6706, thể hiện mô hình giải thích tốt cho biến độc lập Kết quả của mô hình cho thấy biến dự phòng rủi ro đầu kỳ, mức thay đổi trong nợ xấu đầu năm và trong năm tiếp theo đều có tác động ngược chiều và có ý nghĩa thống kê đối với mức trích lập dự phòng rủi ro Trong khi

đó, mức xóa sổ cuối năm và trong năm tiếp theo có tác động cùng chiều và có ý nghĩa thống kê với mức trích lập dự phòng rủi ro

Dựa vào kết quả mô hình, đề tài đo lường được chất lượng minh bạch thông tin trung bình qua các năm của các NHTM tại Việt Nam bằng cách lấy độ lệch chuẩn của phần dư của mỗi ngân hàng nhân -1 Giá trị này càng cao cho thấy ngân hàng có chất lượng thông tin càng tốt Theo đó, ngân hàng có chất lượng thông tin tốt nhất là NHTM cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng, ngân hàng có chất lượng thông tin thấp nhất là ngân hàng Đại Dương Giống như mức độ công bố thông tin, chất lượng công bố thông tin có mối quan hệ với hiệu quả hoạt động của các NHTM Các NHTM thuộc nhóm 1 (CTG, BID,VCB) và nhóm 2 (như VPB, ACB, KLB) là những ngân hàng có chất lượng công bố thông tin đứng đầu

Hình 3: Chất lượng thông tin các NHTM Việt Nam

Nguồn: Tính toán của tác giả

3.1.2 Chất lượng công bố thông tin của hệ thống ngân hàng

Mô tả số liệu

Tỷ lệ nợ xấu bình quân của các NHTM trong mẫu có sự biến động trong giai đoạn từ 2006 đến

2015 Trong đó, 2 năm 2012, 2013 có tỷ lệ nợ xấu bình quân cao nhất, xấp xỉ 4% Tương ứng với tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro cũng có xu hướng biến động cùng chiều, tăng lên mức 1,81% năm

2012, sau đó giảm xuống còn 1,21% năm 2015 Tuy nhiên, một vấn đề đáng lưu ý là mức xóa sổ bằng dự phòng rủi ro tăng mạnh trong những năm gần đây, cho thấy dù tỷ lệ nợ xấu có giảm xuống từ năm 2013, nhưng các khoản nợ không thu hồi được, nợ xóa sổ của các NHTM, hoặc các khoản nợ xấu bán cho VAMC với giá trị thấp hơn giá ghi nợ đã tăng lên đáng kể

Trang 9

* Chỉ tính các ngân hàng công bố thông tin trên báo cáo tài chính trong mẫu

Hình 4: Tỷ lệ nợ xấu, trích lập dự phòng rủi ro và xóa sổ của hệ thống NHTM*

Bảng 4: Mô tả số liệu mô hình chất lượng công bố thông tin của hệ thống ngân hàng

Nguồn: Tính toán của tác giả

Kết quả của mô hình

Để xác định dạng mô hình, đề tài tiến hành kiểm nghiệm Hausman Test Kết quả p value < 0,05 nên kiểm nghiệm Hausman Test bác bỏ giả thiết H0 Vậy mô hình phù hợp với chuỗi dữ liệu là mô hình tác động cố định fixed effect Chạy mô hình trên ta được kết quả như sau:

Trang 10

Bảng 5: Kết quả mô hình chất lượng công bố thông tin của hệ thống ngân hàng

Từ kết quả trên, tác giả loại bỏ các biến không có ý nghĩa thống kê và chạy lại mô hình hồi quy với fixed effect Kiểm định tự tương quan của dữ liệu bảng (kiểm định Wooldridge) cho p-value > 0,05, mô hình không có hiện tượng tự tương quan Kiểm định hệ số VIF < 2, mô hình không có hiện tượng đa cộng tuyến Kiểm định phương sai sai số thay đổi (heteroskedasticity) của mô hình FEM (dùng kiểm định Wald) cho p-value < 0,05, bác bỏ H0, mô hình gặp phải lỗi phương sai sai số thay đổi Để khắc phục lỗi trên, đề tài sử dụng mô hình sai số chuẩn mạnh (Robust Standard errors) cho kết quả sau:

Ngày đăng: 29/09/2021, 19:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[3] Bushman, R. (2004) What Determines Corporate Transparency? Journal of Accounting Research, 42(2), 207-251 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Accounting Research
[4] Bushman, R. and Williams, C.D. (2012) Bank Transparency, Loan Loss Provisoning Behavior, And Risk-Shifting, Journal of Accounting and Economics, 54 (2012) 1-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Accounting and Economics
[5] Dechow, P.M. and Dichev, I.D. (2002). The Quality of Accruals And Earnings: The Role of Accrual Estimation Errors. The Accounting Review, 77(2002), 35-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Accounting Review
Tác giả: Dechow, P.M. and Dichev, I.D. (2002). The Quality of Accruals And Earnings: The Role of Accrual Estimation Errors. The Accounting Review, 77
Năm: 2002
[2] Basel (1998) Enhancing Bank Transparency: Public Disclosure And Supervisory Information That Promote Safety And Soundness In Banking System. Basel Committee On Banking Supervision, truy cập tại: https://www.bis.org/publ/bcbs41.pdf Link
[1] Barth, M., Beaver, W. and Landsman, W. 2001. The Relevance of the Value Relevance Literature for Financial Accounting Standard Setting: Another View.Journal of Accounting and Economics, 31(1-3), 77-104 Khác
[6] Fathi, J. 2013. The Determinants of the Quality of Financial Information Disclosed by French Listed Companies. Mediterranean Journal of Social Sciences, 4(2), 319-336 Khác
[7] Hirst, D., Hopkins, P. and Wahlen, J. 2004. Fair Values, Income Measurement, and Bank Analysts’ Risk and Valuation Judgments. Accounting Review, 79(2), 453-472 Khác
[8] Jeffrey, Ng., &amp; Rusticus, T.O., (2011). Bank’s Survival During the Financial Crisis: The Role of Regulatory Reporting Quality. DOI: 10.2139/ssrn.1892481 Khác
[9] Mahboub, R. (2017). Main Determinants of Financial Reporting Quality in the Lebanese Banking Sector. European Research Studies Journal, XX, 4B, 706-726 Khác
[10] Savina, N.T. 2016. The Institutionalization of the Concept of Corporate Social Responsibility: Opportunities and Prospects. European Research Studies Journal, 19(3) Part B, 56-76 Khác
[12] Van Tendeloo, B. and Vanstraelen, A. 2005. Earnings Management under German GAAP versus IFRS. European Accounting Review, 14(1), 155–180 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm