1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tài liệu ôn thi vấn đáp lý luận chung về nhà nước và pháp luật 2021

178 173 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các quan hệ đối nội, quy định nhà nước có giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện đối với các tổ chức, cá nhân có liên quan; nhà nước có thể cho phép các tổ chức khác được t

Trang 1

NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT 2021

Hệ thống câu hỏi

TÀI LIỆU ÔN THI VẤN ĐÁP LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP

LUẬT 2021 1

Phân tích các đặc trưng cơ bản của nhà nước Trên cơ sở đó, làm sáng tỏ biểu hiện một

đặc trưng của nhà nước Việt Nam hiện nay .6

Phân biệt Nhà nước CHXHCNVN với Đảng cộng sản VN? 10 Phân tích mục đích, ý nghĩa của việc nghiên cứu về nguồn gốc NN Vì sao lại tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về nguồn gốc NN 11

Phân tích quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về nguồn gốc nhà nước 12 Phân loại (kiểu) nhà nước, trình bày khái quát về từng loại (kiểu) nhà nước, cho ví dụ.Phân loại (kiểu) nhà nước 13

Trình bày khái quát về từng loại (kiểu) nhà nước, cho ví dụ 14 Phân tích ý nghĩa của việc phân chia kiểu nhà nước theo hình thái kinh tế - xã hội 17 Trình bày khái niệm bản chất nhà nước Phân tích ý nghĩa của vấn đề bản chất nhà nước 18

Phân tích các yếu tố quy định bản chất nhà nước 21 Phân tích vai trò xã hội của Nhà nước CHXHCNVN hiện nay 22 Trình bày sự hiểu biết của anh/chị về nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.Theo anh (chị), làm thế nào để một nhà nước thực sự là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Nhà nước của dân là nhà nước có những tính chất sau: 23

Trình bày khái niệm chức năng nhà nước Phân tích ý nghĩa của việc xác định và thực hiện chức năng nhà nước trong giai đoạn hiện nay 26

Phân tích các yếu tố quy định chức năng nhà nước Một số yếu tố quy định chức năng nhà nước, bao gồm: 28

Phân tích những yêu cầu, đòi hỏi đối với chức năng của nhà nước Việt Nam hiện nay (số lượng chức năng, nội dung chức năng, phương pháp thực hiện chức năng) 28

Phân tích ý nghĩa của hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp đối với việc thực hiện chức năng nhà nước 31

Phân tích vai trò của bộ máy nhà nước đối với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước 32

Phân tích mối quan hệ giữa bộ máy nhà nước và chức năng nhà nước của nhà nước Việt Nam hiện nay 33

Phân tích khái niệm CQNN, phân biệt CQNN với bộ phận khác của nhà nước 34

Trang 2

Phân tích nội dung, giá trị của nguyên tắc đảm bảo chủ quyền nhân dân trong tổ chức và

hoạt động của bộ máy nhà nước 36

Phân tích nội dung, giá trị của nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tư sản 38

Phân tích nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng cộng sản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước XHCN 40

Phân tích nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước XHCN 41

Phân tích các giải pháp hoàn thiện bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay 42

Phân định rõ ràng hơn chức năng, nhiệm vụ của các CQNN: 42

Phân biệt nhà nước đơn nhất và nhà nước liên bang thông qua những ví dụ cụ thể về hai dạng cấu trúc nhà nước này 45

Cho biết ý kiến cá nhân của anh/chị về những ưu việt, hạn chế của chính thể quân chủ và chính thể cộng hoà 49

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hình thức nhà nước 54

Phân tích vị trí, vai trò của nhà nước trong hệ thống chính trị Trình bày ý nghĩa của việc xác định vị trí, vai trò của nhà nước trong hệ thống chính trị 57

Phân tích ưu thế của nhà nước so với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, liên hệ thực tế Việt Nam 58

Phân tích mối quan hệ giữa Nhà nước CHXHCN Việt Nam với Đảng Cộng sản Việt Nam Ý nghĩa của mối quan hệ này trong tổ chức, quản lý xã hội hiện nay 60

Phân tích yêu cầu, đòi hỏi đối với pháp luật trong nhà nước pháp quyền 62

Phân tích các đặc trưng cơ bản của pháp luật, trên cơ sở đó, làm sáng tỏ biểu hiện một đặc trưng của pháp luật Việt Nam hiện nay 66

Phân biệt pháp luật với các công cụ khác trong hệ thống công cụ điều chỉnh QHXH 68

Phân tích những điểm tiến bộ của pháp luật tư sản so với pháp luật phong kiến 69

Phân tích những điểm tiến bộ của pháp luật XHCN so với pháp luật tư sản 71

Phân tích biện pháp giải quyết sự xung đột giữa pháp luật với đạo đức 72

Phân tích biện pháp giải quyết sự xung đột giữa pháp luật với tập quán 74

Phân tích ưu thế của pháp luật so với các công cụ khác trong điều chỉnh QHXH 75

Phân tích mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong nhà nước pháp quyền 76

Vì sao pháp luật không phải là công cụ duy nhất để điều chỉnh QHXH? 78

Tại sao cần phải kết hợp giữa pháp luật với các công cụ khác trong điều chỉnh QHXH? 79

Phân tích nguyên tắc và nội dung kết hợp giữa pháp luật với các công cụ khác trong quản lý xã hội 80

Phân tích khái niệm điều chỉnh QHXH 83

Trang 3

Phân tích khái niệm điều chỉnh QHXH bằng pháp luật 84

Phân tích khái niệm bản chất pháp luật Trình bày ý nghĩa của vấn đề bản chất pháp luật 85

Phân tích sự thống nhất giữa tính xã hội và tính giai cấp của pháp luật Trình bày ý nghĩa của vấn đề này trong xây dựng, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật ở nước ta hiện nay 86

Phân tích tính chủ quan và tính khách quan của pháp luật Theo anh/chị, làm thế nào để ngăn ngừa hiện tượng duy ý chí trong xây dựng pháp luật 88

Trình bày những hiểu biết của anh/chị về pháp luật dân chủ Theo anh/chị, làm thế nào để pháp luật thực sự dân chủ 89

Phân tích các yếu tố quy định bản chất, nội dung của pháp luật 91

Phân tích luận điểm: “Xã hội không thể một ngày thiếu pháp luật” 92

Tại sao nhà nước phải quản lý xã hội bằng pháp luật? 92

Phân tích khái niệm nguồn của pháp luật Cho biết các phương thức tạo nguồn của pháp luật Việt Nam hiện nay 93

Phân tích khái niệm VBQPPL, cho ví dụ Trình bày ưu thế của VBQPPL so với các loại nguồn khác của pháp luật 95

Phân tích khái niệm tiền lệ pháp Trình bày những ưu điểm, hạn chế của tiền lệ pháp Cho ví dụ minh hoạ 98

Phân tích khái niệm hiệu lực của VBQPPL Trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu lực của VBQPPL trên thực tế 100

Phân tích khái niệm QPPL Nêu ý nghĩa của việc nghiên cứu QPPL 102

Phân tích cơ cấu của QPPL Nêu ý nghĩa của từng bộ phận trong QPPL 103

Nêu các cách trình bày QPPL trong VBQPPL Qua đó, phân biệt QPPL với điều luật, cho ví dụ 105

Phân tích bộ phận chế tài của QPPL Tại sao trên thực tế, bộ phận chế tài thường không cố định 106

Phân tích cơ cấu của QPPL Việc thể hiện nội dung từng bộ phận của QPPL có ảnh hưởng gì đến việc thực hiện pháp luật trên thực tế 107

Phân tích khái niệm hệ thống pháp luật Trình bày ý nghĩa của việc nghiên cứu hệ thống pháp luật đối với hoạt động xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật 108

Phân tích các yếu tố cấu thành của hệ thống QPPL Trình bày căn cứ để phân định các ngành luật 110

Phân tích khái niệm hệ thống nguồn của pháp luật Trình bày vai trò của các loại nguồn của pháp luật Việt Nam hiện nay 110

Vai trò của các loại nguồn của pháp luật Việt Nam hiện nay 111

Phân tích các tiêu chí để đánh giá mức độ hoàn thiện của một hệ thống pháp luật 113

Trang 4

Phân tích đặc điểm của hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay Nêu các định hướng phát

triển hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay 115

Các định hướng phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay 117

Phân tích khái niệm xây dựng pháp luật Phân biệt xây dựng pháp luật với thực hiện pháp luật 118

Phân biệt xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật: 120

Phân tích nguyên tắc dân chủ trong xây dựng pháp luật Theo anh/chị cần làm gì để hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay thực sự dân 122

Phân tích nguyên tắc khách quan trong xây dựng pháp luật Trình bày ý nghĩa của nguyên tắc này trong xây dựng pháp luật 124

Phân tích khái niệm pháp điển hóa pháp luật Trình bày mục đích, ý nghĩa của pháp điển hóa pháp luật 125

Phân tích khái niệm QHPL Việc một QHXH được pháp luật điều chỉnh có ý nghĩa gì đối với sự vận động và phát triển của nó 128

Phân tích khái niệm QHPL, cho ví dụ về QHPL cụ thể mà anh/chị tham gia hàng ngày 129

Phân tích khái niệm năng lực chủ thể QHPL Cho biết những yếu tố ảnh hưởng đến việc hạn chế năng lực của chủ thể QHPL trong quy định và thực tiễn thực hiện 131

Phân tích khái niệm năng lực chủ thể QHPL Việc nhà nước quy định điều kiện về NLPL và NLHVPL của chủ thể QHPL dựa trên cơ sở nào, có ý nghĩa gì? 133

Phân tích những yếu tố bảo đảm việc thực hiện quyền, nghĩa vụ pháp lý của chủ thể QHPL, cho ví dụ minh hoạ 136

Cho ví dụ về một QHPL cụ thể và xác định chủ thể, khách thể, nội dung của QHPL đó 137

Phân tích khái niệm thực hiện pháp luật Trình bày mục đích, ý nghĩa của việc thực hiện pháp luật 138

Phân tích khái niệm thực hiện pháp luật Trình bày các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hiện pháp luật ở Việt Nam hiện nay 139

Phân tích khái niệm ADPL Trình bày mục đích, ý nghĩa của hoạt động ADPL 140

Phân tích khái niệm ADPL Trình bày các bảo đảm của hoạt động ADPL 142

Phân tích khái niệm ADPL Trình bày các biện pháp khắc phục hạn chế (nếu có) trong hoạt động ADPL ở Việt Nam hiện nay 144

Tại sao phải ADPL tương tự? Phân tích ý nghĩa của hoạt động ADPL tương tự đối với đời sống xã hội 146

Phân biệt VPPL với các vi phạm khác trong xã hội Cho ví dụ 148

Cho một ví dụ về VPPL cụ thể và phân tích các dấu hiệu của VPPL đó 149

Cho một ví dụ về VPPL cụ thể và phân tích cấu thành của VPPL đó 150

Trang 5

Phân tích khái niệm truy cứu trách nhiệm pháp lý Trình bày mục đích, ý nghĩa của hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lý 152

Phân tích yêu cầu, đòi hỏi đối với hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lý 154 Phân tích căn cứ đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của VPPL 155 Phân tích ý nghĩa của từng yếu tố trong cấu thành VPPL đối với việc truy cứu trách nhiệm pháp lý 156

Phân tích khái niệm ý thức pháp luật Mục đích, ý nghĩa của việc nghiên cứu ý thức pháp luật 158

Phân tích căn cứ đánh giá ý thức pháp luật của một cá nhân, liên hệ bản thân 159 Phân tích vai trò của ý thức pháp luật đối với việc xây dựng pháp luật, liên hệ thực tiễn Việt Nam 160

Phân tích vai trò của ý thức pháp luật đối với việc thực hiện pháp luật, liên hệ bản thân 162

Phân tích khái niệm giáo dục pháp luật Trình bày mục đích, ý nghĩa của việc giáo dục pháp luật 163

Phân tích các biện pháp cơ bản để nâng cao ý thức pháp luật ở Việt Nam hiện nay 165 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 166

Trang 6

Phân tích các đặc trưng cơ bản của nhà nước Trên cơ sở đó, làm sáng tỏ biểu hiện một đặc trưng của nhà nước Việt Nam hiện nay.

Định nghĩa nhà nước:

Nhà nước là tổ chức quyền lực đặc biệt của xã hội, bao gồm một lớp người được tách ra từ xã hội để chuyên thực thi quyền lực, nhằm tổ chức và quản lý xã hội, phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội cũng như lợi ích của lực lượng cầm quyền

Đặc trưng của Nhà nước:

Nhà nước là tổ chức quyền lực đặc biệt của xã hội (quyền lực nhà nước): Quyền lực nói chung được xem là khả năng của cá nhân, tổ chức có thể buộc các cá nhân tổ chức khác phải phục tùng theo ý chí của mình, thể hiện ở sự áp đặt ý chí của chủ thể có quyền đối với chủ thể dưới quyền Trong xã hội có tồn tại nhiều loại quyền lực khác nhau như quyền lực thị tộc, quyền lực của các tổ chức, quyền lực nhà nước,… Mỗi chủ thể nằm trong các mối quan hệ khác nhau sẽ nắm giữ một loại quyền lực khác nhau nhưng quyền lực nhà nước thường chỉ được nắm giữ bởi Nhà nước - Nhà nước là tổ chức đại diện chính thức cho toàn thể xã hội (hoặc các tổ chức, cá nhân được Nhà nước trao quyền) còn các

tổ chức, cá nhân trong xã hội là đối tượng của quyền lực ấy Có thể thấy quyền lực nhà nước gắn liền với Nhà nước Quyền lực nhà nước được coi là loại quyền lực đặc biệt bởi các khía cạnh sau:

Nguồn gốc: Quyền lực nhà nước phụ thuộc vào sức mạnh bạo lực, sức mạnh vật chất và uy tín của Nhà nước đối với xã hội

Phạm vi: Quyền lực nhà nước tồn tại trong mối quan hệ giữa Nhà nước với các cá nhân, tổ chức trong xã hội và giữa Nhà nước với các thành viên cũng như cơ quan nhà nước Quyền lực nhà nước có tác động bao trùm lên toàn xã hội, tới mọi cá nhân, tổ chức thuộc mọi khu vực, lãnh thổ về hầu hết các lĩnh vực cơ bản của đời sống: kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục…

Cách thức thực hiện: Được tổ chức thực hiện một cách chặt chẽ bởi một lớp người tách ra khỏi hoạt động sản xuất trực tiếp Lớp người này tổ chức thành các cơ quan khác nhau, mỗi cơ quan chuyên đảm nhiệm những công việc nhất định, hợp thành bộ máy nhà nước từ trung ương tới địa phương

Mục đích: Nhà nước sử dụng quyền lực nhà nước để điều hành và quản lý xã hội, thiết lập và giữ gìn trật tự xã hội, phục vụ và bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội cũng như lợi ích của lực lượng cầm quyền

VD1: Quyền lực nhà nước được CSGT - cá nhân được phân công nhiệm vụ, sử dụng để yêu cầu người điều khiển xe máy phải dừng xe, xuất trình giấy tờ và người điều khiển buộc phải thực hiện theo Đây cũng là một biểu hiện của hoạt động quản lý xã hội của nhà nước

VD2: Đợt dịch Covid tháng 2/2020 vừa qua, Thủ tướng yêu cầu cả nước thực hiện giãn cách xã hội và việc giãn cách đã được thực hiện trên toàn bộ 63 tỉnh thành đối với hầu hết các hoạt động kinh tế - văn hóa - xã hội Việc giãn cách này nhằm hạn chế sự lây lan của dịch bệnh và đảm bảo an toàn cộng đồng

Trang 7

Nhà nước thực hiện việc quản lý dân cư theo lãnh thổ: Đối tượng hướng tới của hoạt động quản lý của Nhà nước là dân cư trên một vùng lãnh thổ nhất định Đây là điểm đặc trưng của Nhà nước với việc dân cư được quản lý phụ thuộc vào khu vực lãnh thổ nơi

họ sinh sống chứ không phụ thuộc vào các đặc điểm về giới tính, dân tộc, huyết thống,

độ tuổi, nghề nghiệp, lý tưởng,… như các tổ chức khác Qua đây có thể thấy phạm vi tác động rộng lớn nhất trong quốc gia Người dân cứ sống trên một khu vực lãnh thổ nhất định thì sẽ chịu sự quản lý của một nhà nước nhất định, và do vậy họ thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhà nước ở nơi họ sinh sống, không phân biệt huyết thống, giới tính, dân tộc…

VD: Hội phụ nữ quản lý đối tượng phụ thuộc vào đặc điểm giới tính (phụ nữ); hội câu cá quản lý các thành viên của tổ chức - những người có cùng đam mê, sở thích câu cá; Ủy ban nhân dân phường quản lý tất cả cư dân sinh sống trên địa bàn phường

Nhà nước nắm giữ và thực thi chủ quyền quốc gia: Chủ quyền quốc gia là khái niệm chỉ quyền quyết định tối cao của quốc gia trong quan hệ đối nội và quyền độc lập

tự quyết của quốc gia trong quan hệ đối ngoại Nhà nước có quyền lực bao trùm mọi cá nhân, tổ chức trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, vì vậy nhà nước là tổ chức duy nhất có đủ

tư cách và khả năng đại diện chính thức và hợp pháp cho quốc gia trong các quan hệ đối nội và đối ngoại Trong các quan hệ đối nội, quy định nhà nước có giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện đối với các tổ chức, cá nhân có liên quan; nhà nước có thể cho phép các tổ chức khác được thành lập và hoạt động (doanh nghiệp) hoặc có thể công nhận

sự tồn tại và hoạt động hợp pháp của các tổ chức khác (hội câu cá) Trong quan hệ đối ngoại, nhà nước có toàn quyền xác định và thực hiện các đường lối, chính sách đối ngoại của mình Các tổ chức khác chỉ được tham gia vào quan hệ đối ngoại khi nhà nước cho phép

VD1: Trong đợt dịch Covid, Nhà nước đã ra quyết định về việc giảm mức trần lãi suất cho vay nhằm trợ giúp các doanh nghiệp, quyết định này buộc các ngân hàng phải thực hiện theo

VD2: Nhà nước cân nhắc và quyết định việc ký kết các hiệp định quốc tế với các Nhà nước khác

Nhà nước ban hành pháp luật và dùng pháp luật làm công cụ quản lý xã hội:

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung có giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện đối với các tổ chức và cá nhân Với phạm vi quản lý rộng cùng với quyền lực đặc biệt được trao, nhà nước là tổ chức duy nhất có thể đại diện cho xã hội ban hành pháp luật làm công cụ quản lý xã hội => pháp luật được triển khai rộng rãi trên toàn xã hội Nhà nước đảm bảo cho pháp luật được thực hiện bằng nhiều biện pháp: tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, thuyết phục, tổ chức thực hiện, động viên, khen thưởng, áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước => Mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội có nghĩa vụ tôn trọng

và thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh => Pháp luật là một trong những công cụ hiệu quả nhất để nhà nước quản lý xã hội, điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng nhất định

VD: Bộ luật hình sự được Nhà nước ban hành nhằm trừng phạt các hành vi phạm tội đồng thời răn đe để hạn chế những hành vi đó diễn ra trên thực tế Bộ luật có các quy

Trang 8

định công khai để mọi người dân đều biết đến và tuân theo, đồng thời được đảm bảo thực hiện bởi những biện pháp cưỡng chế nhà nước

Nhà nước quy định và thực hiện việc thu thuế (giáo trình có thêm phát hành tiền):

Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân buộc phải nộp cho Nhà nước theo quy định của pháp luật Chỉ có Nhà nước mới được quyền quy định và thực hiện việc thu thuế bởi các lý do sau:

Nhà nước là tổ chức đại diện cho toàn xã hội, quyết định và thực hiện các công việc chung, quan trọng cho toàn xã hội

Khác với các tổ chức khác, Nhà nước là một bộ máy được tách khỏi hoạt động lao động sản xuất trực tiếp để chuyên thực hiện chức năng quản lý xã hội nên nó không thể

tự tạo ra nguồn thu được mà được nuôi dưỡng bởi nguồn thuế Mặt khác, với một bộ máy hoạt động nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của một tổ chức, đặc biệt nó còn là một tổ chức đặc biệt lớn đồng thời thực hiện công việc cũng đặc biệt quan trọng đối với

xã hội, chính vì vậy, Nhà nước cần có khoản thu lớn để duy trì cho các hoạt động của mình - đó là thuế

Vai trò quản lý XH của NN là đặc biệt quan trọng và không thể thay thế

Chỉ có Nhà nước mới có đủ quyền lực và khả năng để đảm bảo việc thu thuế và phát hành tiền

VD: Trong khi các tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động kinh tế, tạo ra nguồn thu cho mình thì Nhà nước cần phải thực hiện nhiệm vụ quản lý xã hội nhằm đảm bảo môi trường kinh doanh, đầu tư an toàn nhất, tuy nhiên hoạt động này không tạo ra thặng

dư, không giúp tăng thu ngân sách nhà nước, vì vậy, các tổ chức kinh tế phải trích một phần lãi nhằm đảm bảo duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước

Liên hệ với Nhà nước Việt Nam hiện nay

Nhà nước có quyền lực đặc biệt: Nhà nước Việt Nam hiện nay theo Hiến pháp năm

2013 là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Quyền lập pháp

là quyền đặt ra Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp, đặt ra luật và sửa đổi luật Các văn bản quy phạm pháp luật này được Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc hầu hết các lĩnh vực trong cuộc sống (văn hóa, kinh tế, xã hội) và phát sinh trên toàn bộ phạm

vi lãnh thổ của quốc gia, yêu cầu mọi người dân phải tuân theo Quyền hành pháp là quyền tổ chức thực hiện pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống xã hội, gồm quyền tổ chức quản lý các quá trình kinh tế, chính trị, xã hội trên cơ sở pháp luật, quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật của hệ thống hành chính nhà nước Quyền tư pháp

là quyền phán quyết về những tranh chấp dân sự, tranh chấp hành chính bằng con đường

tố tụng của Tòa án; quyền phán quyết những hành vi nào là tội phạm và áp dụng hình

Trang 9

phạt tương ứng trong các vụ án hình sự Qua trên, có thể thấy Nhà nước Việt Nam hiện nay có khả năng áp đặt ý chí lên các chủ thể trong xã hội thông qua các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp Quyền lực này cũng có phạm vi bao trùm trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam về hầu hết các lĩnh vực khác nhau

Nhà nước thực hiện việc quản lý dân cư theo lãnh thổ: Mọi cá nhân, tổ chức sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam đều phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tôn giáo, chính trị, (theo khoản 1 Điều 16 Hiến pháp 2013:

“Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”) Nhà nước Việt Nam phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính theo Điều 110 Hiến pháp 2013 gồm: cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (63 tỉnh thành); quận huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; xã, phường, thị trấn và các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt khác nhằm quản lý toàn bộ dân cư một cách hiệu quả nhất

Nhà nước nắm giữ và thực thi chủ quyền quốc gia: Ngay tại Điều 1 Hiến pháp Việt Nam 2013 đã khẳng định chủ quyền quốc gia của Nhà nước Việt Nam hiện nay “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời.” Hơn nữa, tại các Điều 11, 12 lại càng khẳng định chủ quyền quốc gia là bất khả xâm phạm, mọi hoạt động hợp tác quốc tế đều phải giữa trên cơ sở tôn trọng chủ quyền và không can thiệp vào các công việc nội bộ của nhau Đồng thời, các hoạt động liên quan đến chủ quyền quốc gia chỉ được thực hiện bởi Nhà nước, cụ thể là Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 12)

Nhà nước ban hành pháp luật và dùng pháp luật làm công cụ quản lý xã hội:

Việc ban hành pháp luật ở Việt Nam được thực hiện bởi các cơ quan lập pháp - quốc hội (hiến pháp, luật, nghị quyết), cơ quan hành pháp - chính phủ, các bộ, ủy ban nhân dân các cấp (Nghị định, thông tư, quyết định) và thậm chí là cơ quan tư pháp - Tòa

án, Viện kiểm sát (Nghị quyết, thông tư, quyết định) Những văn bản trên được ban hành

và đảm bảo thực thi trên thực tế thông qua các biện pháp: tuyên truyền phổ biến pháp luật thông qua các phương tiện truyền thông và thông qua các cơ quan, đoàn thể từ trung ương tới địa phương; biện pháp giáo dục từ bậc mẫu giáo, tiểu học, trung học (các chiến sĩ cảnh sát đến các trường để hướng dẫn việc tuân thủ đúng pháp luật, đặc biệt là pháp luật giao thông, pháp luật hình sự) đến bậc cao đẳng, đại học (môn pháp luật đại cương); biện pháp cưỡng chế (các hành vi trái pháp luật sẽ bị xử phạt tương ứng và buộc thi hành đúng bởi các cơ quan nhà nước)

sách nhà nước Việt Nam phụ thuộc vào thu thuế, cụ thể theo dự toán thu ngân sách nhà nước năm 2021, số tiền thu từ thuế vào khoảng 994,367 tỷ VNĐ trên tổng thu ngân sách nhà nước là 1,343,330 tỷ VNĐ (chiếm khoảng 75%)1 Có thể thấy tầm quan trọng của nguồn thu này đối với hoạt động của Nhà nước Việt Nam, vì vậy, việc thực hiện thu thuế được quy định cụ thể trong nhiều văn bản luật và văn bản dưới luật liên quan (Luật quản

lý thuế, Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, …) Đồng thời, việc thu

Trang 10

thuế chỉ được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước (ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan quản lý thuế: Tổng cục thuế, cục thuế, tổng cục hải quan, ) Các ngân hàng thương mại chỉ được tham gia phối hợp với các cơ quan nhà nước để đảm bảo việc thu thuế được diễn

ra thuận tiện, dễ dàng nhất (Căn cứ Luật Quản lý thuế 2019 - Điều 2,3,20,27, )

Phân biệt Nhà nước CHXHCNVN với Đảng cộng sản VN?

Định nghĩa Nhà nước CHXHCNVN là một Đảng Cộng sản VN là một đảng (Đây không nhà nước - tổ chức quyền lực đặc chính trị - một tổ chức tìm cách phải là một biệt của xã hội, bao gồm một lớp nắm quyền lực chính trị bằng

trình lao động sản xuất để chuyên những tiêu chí mà Đảng Cộng làm nhiệm vụ quản lý nhà nước, sản VN đưa ra thì đều có thể trở

Trang 11

Cơ cấu tổ Gồm các CQNN được phân theo Gồm các cơ quan do Đảng

hành hoạt động quản lý nhà nước, duy trì, phát triển hoạt động của

thành: Cơ quan lập pháp (Quốc Ban Kiểm tra trung ương, Ban hội), cơ quan hành pháp (Chính chấp hành trung ương

Mục đích, ý nghĩa của việc nghiên cứu về nguồn gốc Nhà nước:

Trước tiên, trong nghiên cứu khoa học, về mặt tư duy, việc nghiên cứu nguồn gốc của một sự vật, hiện tượng nào đó luôn là cơ sở tốt nhất cho việc hiểu bản chất của sự vật, hiện tượng đó Cũng tương tự như vậy, muốn hiểu được bản chất, vai trò của nhà nước nói chung và các kiểu nhà nước nói riêng, việc nghiên cứu nguồn gốc hình thành nhà nước là một điều cực kỳ quan trọng Cụ thể, khi biết nguồn gốc nhà nước bắt nguồn từ việc phân công lao động dẫn tới con người có của cải dư thừa, xuất hiện kẻ giàu, người nghèo, trật tự ngang bằng nhau trong xã hội nguyên thuỷ bị phá vỡ thì nhà nước ra đời để quản lý, giữ cho mâu thuẫn trong vòng kiểm soát… từ đó, ta hiểu được rằng, việc nhà nước quản lý, đứng trên xã hội dẫn tới việc nhà nước mang quyền lực chính trị, bảo vệ quyền lợi cho giai cấp cầm quyền (tính giai cấp), mặt khác nhà nước sinh ra để quản lý

xã hội nên nhà nước cũng mang trong mình bản chất xã hội

Tiếp đó, việc nghiên cứu nguồn gốc nhà nước còn giúp chúng ta hiểu rõ ràng về tiến trình lịch sử phát triển của Trái Đất, loài người Rõ ràng, trong lịch sử phát triển hơn 4.5 triệu năm của Trái Đất, con người mới chỉ xuất hiện cách đây khoảng 160,000 năm,

Trang 12

tuy là một khoảng thời gian không dài so với lịch sử Trái Đất nhưng việc xuất hiện loài người đã đem lại cho Trái Đất một diện mạo vô cùng khác với những thời kỳ trước đó Nghĩa là, giai đoạn có loài người xuất hiện chỉ là một phần lịch sử phát triển của Trái Đất, con người xuất hiện cũng góp phần viết nên lịch sử của hành tinh, và việc nhà nước hình thành cũng là một phần của lịch sử mà con người viết nên Vì vậy, hiểu được cụ thể về nguồn gốc Nhà nước giúp chúng ta hoàn thiện tri thức về thế giới xung quanh, nâng tầm hiểu biết của con người về chính mình

Việc xuất hiện những quan điểm khác nhau về nguồn gốc nhà nước là vì một số lý

do sau đây:

Góc nhìn và phương pháp nghiên cứu khác nhau: Mỗi nhà khoa học lại có cách tiếp cận vấn đề và cách thức để giải quyết vấn đề khác nhau Khi có cách tiếp cận khác nhau và phương thức giải quyết vấn đề cũng không liên quan đến nhau thì việc cho ra một kết quả khác nhau là điều dễ hiểu Ví dụ: Người tiếp cận vấn đề từ khía cạnh phi thực

tế, mang tính tâm linh thì cho rằng nhà nước do thượng đế tạo ra;

Khả năng và sự hiểu biết không tương đồng: Khi nghiên cứu một vấn đề, nguồn tri thức nền và khả năng tư duy vấn đề là một trong những yếu tố quyết định kết quả của công trình nghiên cứu Con người sinh ra vốn đã khác nhau về khả năng tư duy, khi lớn lên, tri thức mà họ thu nhặt được cũng rất khác nhau Vì vậy, khi vận dụng tư duy vốn có của họ với những tri thức nền họ thu thập được để nghiên cứu một vấn đề tương đối lớn như nguồn gốc nhà nước, chắc chắn, kết quả họ cho ra đời là khác nhau;

Sự ảnh hưởng bởi các tư tưởng: Điều này thường xảy ra mạnh mẽ hơn với những nhà nghiên cứu nguồn gốc nhà nước từ sơ khai Ví dụ: Tư tưởng thần học ảnh hưởng tới quan điểm của các nhà nghiên cứu rằng nhà nước hình thành do thượng đế

Thời điểm nghiên cứu không giống nhau: Thời điểm nghiên cứu khác nhau dẫn tới các quan điểm xã hội khác nhau có thể sẽ ảnh hưởng ít hoặc nhiều tới quan niệm hình thành nhà nước Ví dụ: Quan niệm về nguồn gốc nhà nước của Ph Ăngghen về sau này

đã không còn bị ảnh hưởng bởi thần học, nó đã khách quan hơn, dựa trên sự lịch sự phát triển thực của con người Ngoài ra, thời điểm nghiên cứu khác nhau dẫn tới những công

cụ hỗ trợ cho việc nghiên cứu khác nhau nên kết quả cho ra cũng khác

Phân tích quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về nguồn gốc nhà nước

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, xã hội loài người đã trải qua một giai đoạn không có nhà nước và pháp luật Giai đoạn này gọi là xã hội cộng sản nguyên thuỷ

Do công cụ lao động thô sơ, năng suất lao động thấp nên không có của cải dư thừa, không

có sở hữu tư nhân, mọi người đều bình đẳng như nhau, cùng lao động và cùng hưởng thụ

Xã hội không chia thành người giàu và người nghèo, không có người bóc lột và người bị bóc lột, không có giai cấp và đấu tranh giai cấp Qua quá trình đấu tranh vì sự sinh tồn của mình, con người nguyên thuỷ ngày càng thông minh hơn, họ biết chế tạo ra các công

Trang 13

cụ lao động để tạo ra năng suất lao động cao hơn, từ các công cụ bằng đá đập, đá mài, loài người đã biết chế tạo các công cụ bằng đồng, bằng sắt Nhờ các công cụ này mà việc săn bắn và trồng trọt thuận lợi hơn Xã hội cộng sản nguyên thuỷ trải qua ba lần phân công lao động xã hội:

Lần thứ nhất, chăn nuôi tách khỏi trồng trọt thành một ngành kinh tế độc lập;

độc lập;

Trong xã hội xuất hiện một tầng lớp không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nhưng lại tham gia vào quá trình phân phối sản phẩm và cùng với các thủ lĩnh quân

sự họ đã làm chủ xã hội Lúc đó trong xã hội xuất hiện sở hữu tư nhân, xuất hiện người giàu và người nghèo, xuất hiện người bóc lột và người bị bóc lột, xuất hiện giai cấp thống trị và giai cấp bị thống trị, xã hội phân chia thành hai mặt đối lập có mâu thuẫn không thể điều hoà được Tổ chức thị tộc bộ lạc với những quy tắc đạo đức và tập quán của nó đã

tỏ ra bất lực trước những QHXH phức tạp đó Nhu cầu khách quan của xã hội đòi hỏi phải có một tổ chức quyền lực mạnh mẽ hơn, có một bộ máy cưỡng chế với quân đội, cảnh sát, toà án, nhà tù mới có thể duy trì được trật tự xã hội và nhà nước ra đời

Bàn về nguồn gốc của nhà nước Ph Ăngghen đã khẳng định rằng: “Nhà nước không phải là một quyền lực từ bên ngoài ấn vào xã hội Nhà nước là sản phẩm của xã hội đã phát triển đến một giai đoạn nhất định Nó là bằng chứng nói lên rằng xã hội đó bị hãm trong sự mâu thuẫn với bản thân nó mà không sao giải quyết được, rằng xã hội đó

đã bị phân chia thành những mặt đối lập không thể điều hoà mà bất lực không sao trừ bỏ được Nhưng muốn cho những mặt đối lập đó, những giai cấp có quyền lợi kinh tế mâu thuẫn nhau đó không tiêu diệt lẫn nhau và tiêu diệt luôn cả xã hội trong một cuộc chiến tranh vô ích thì cần phải có một lực lượng cần thiết, một lực lượng tựa hồ như đứng trên

xã hội, có nhiệm vụ làm dịu những xung đột và giữ cho sự xung đột đó nằm trong vòng trật tự Một lực lượng nảy sinh từ xã hội và ngày càng tách rời xã hội, đó chính là nhà nước.”

Phân loại (kiểu) nhà nước, trình bày khái quát về từng loại (kiểu) nhà nước, cho

ví dụ.Phân loại (kiểu) nhà nước

Đầu tiên, khái niệm kiểu nhà nước là tổng thể tất cả những đặc điểm, đặc thù của một nhóm nhà nước, qua đó phân biệt với các nhóm nhà nước khác

Như vậy, có thể hiểu đơn giản sự phân chia kiểu nhà nước chính là sự phân loại nhà nước Do nhà nước là một hiện tượng xã hội đa dạng và phức tạp, các nhà khoa học

có nhiều cách khác nhau để phân loại nhà nước Cụ thể:

Theo tiêu chí thời đại hình thành và phát triển, có thể chia thành các kiểu nhà nước

cổ đại, trung đại, cận đại và hiện đại Các kiểu nhà nước này tồn tại trong các thời đại lịch

Trang 14

sử tương ứng là cổ đại, trung đại, cận đại và hiện đại Các phân loại này chỉ hoàn toàn dựa vào thời đại xuất hiện trong lịch sử của các nhà nước, phổ biến trong giới sử học Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có sự thống nhất giữa các nhà khoa học về mốc thời gian phân chia các thời đại

Theo cách tiếp cận từ các nền văn minh, có thể phân chia thành các kiểu nhà nước như: nhà nước trong nền văn minh nông nghiệp, nhà nước trong nền văn minh công nghiệp, thậm chí là nhà nước trong nền văn minh hậu công nghiệp (nền văn minh tri thức)

Phân chia thành kiểu nhà nước phương Đông và kiểu nhà nước phương Tây Ban đầu, cách phân chia này chị dựa hoàn toàn vào yếu tố địa lý, nhưng ngày nay, cách phân chia này còn dựa vào cả yếu tố nhân chủng, ngữ hệ, văn hoá, kinh tế, chính trị…);

Dựa trên cách thức tổ chức và thực hiện QLNN, có thể phân chia thành kiểu nhà nước độc tài, chuyên chế và kiểu nhà nước dân chủ;

Theo tiến trình phát triển của lịch sử xã hội (hình thái kinh tế - xã hội) Đây là cách tiếp cận của chủ nghĩa Mác - Lênin Theo đó, tương ứng với mỗi hình thái kinh tế - xã hội có giai cấp là một kiểu nhà nước Theo đó, xã hội có giai cấp sẽ trải qua các hình thái kinh tế - xã hội là chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa tương ứng với các kiểu nhà nước: chủ nô, phong kiến, tư sản và xã hội chủ nghĩa Xã hội luôn vận động, hình thái kinh tế - xã hội sau thay thế cho hình thái kinh tế - xã hội trước khi quan hệ sản xuất thay đổi, do đó, các kiểu nhà nước cũng thay thế cho nhau Tuy nhiên,

sự phát triển từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội khác luôn phải trải qua quá trình quá độ, dẫn đến việc trong cùng một kiểu, nhà nước ở thời kì đầu của hình thái kinh tế - xã hội có thể có nhiều khác biệt so với nhà nước ở thời kỳ sau đó Chính vì vậy, sự phân chia kiểu nhà nước chỉ mang tính chất tương đối

Trình bày khái quát về từng loại (kiểu) nhà nước, cho ví dụ

Theo cách tiếp cận của chủ nghĩa Mác - Lênin, có 04 kiểu nhà nước trong xã hội

có giai cấp là: nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa

a Nhà nước chủ nô:

Cơ sở kinh tế: quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ, đất đai và các tư liệu sản xuất khác hầu hết thuộc sở hữu tư nhân của các chủ nô, kể cả nô lệ

Cơ sở xã hội: trong xã hội chiếm hữu nô lệ tồn tại 02 giai cấp cơ bản: chủ nô và nô

lệ Bên cạnh đó là lực lượng dân tự do (giới bình dân)

Nô lệ có địa vị vô cùng thấp kém, họ bị coi là tài sản thuộc sở hữu của chủ nô, chủ

nô có quyền tuyệt đối đối với nô lệ, khai thác bóc lột sức lao động, đánh đập, đem bán, tặng cho, bỏ đói hay giết chết

Trang 15

Ví dụ: Đế chế La Mã, nhà nước Athen, nhà nước Sparte, Nhà Thương, nhà Hạ ở Trung Quốc… là các nhà nước chủ nô

Cơ sở kinh tế quan hệ sản xuất phong kiến mà đặc trưng là sở hữu của địa chủ, phong kiến về ruộng đất và bóc lột nông dân thông qua phát canh, thu tô

Cơ sở xã hội: Xã hội phong kiến có kết cấu phức tạp, trong đó có hai giai cấp cơ bản là địa chủ, phong kiến và nông dân, ngoài ra còn có các tầng lớp khác như thợ thủ công, thị dân… Giai cấp địa chủ, phong kiến được phân chia thành nhiều đẳng cấp khác nhau phụ thuộc vào chức tước, phẩm hàm, đất đai, tài sản… Nông dân là bộ phận đông đảo nhất trong xã hội phong kiến nhưng đồng thời cũng là đối tượng bị áp bức, bóc lột nặng nề

Trong xã hội phong kiến, về nguyên tắc địa chủ không có quyền sở hữu đối với người sản xuất là nông dân mà chỉ có quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất Nhưng vì không có đất không có tư liệu sản xuất nên nông dân rơi vào tình trạng lệ thuộc vào địa chủ phong kiến về mặt kinh tế, họ buộc phải làm thuê cho địa chủ phong kiến và phải làm nhiều nghĩa vụ nặng nề đối với địa chủ phong kiến Hình thức bóc lột phổ biến của địa chủ đối với nông dân là địa tô

Ví dụ: Trung Quốc thời nhà Chu đến nhà Thanh, nước Nga thời Sa hoàng, là các nhà nước phong kiến

Nhà nước tư sản:

Đây là kiểu nhà nước thay thế cho nhà nước phong kiến

Cơ sở kinh tế của nhà nước tư sản là các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa chủ yếu dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư

Cơ sở xã hội: trong xã hội hình thành 02 giai cấp chính là giai cấp tư sản và giai cấp vô sản Giai cấp này dựa vào giai cấp kia để tồn tại, đồng thời hai giai cấp này lại mâu thuẫn, đấu tranh với nhau Ngoài ra, trong xã hội còn xuất hiện các tầng lớp khác như trí thức, tiểu thương, thợ thủ công…

Về mặt xã hội, ở thời kỳ đầu mới thành lập, nhà nước tư sản tỏ ra là một bước tiến lớn trong lịch sử nhân loại khi đã xác lập nhiều thể chế dân chủ như: Nghị viện, quyền tự

do dân chủ, phổ thông đầu phiếu… Tuy nhiên, về mặt giai cấp, do tồn tại trên cơ sở chế

độ tư hữu về tư liệu sản xuất và phục vụ cho chế độ đó, nhà nước tư sản vẫn là công cụ trấn áp của thiểu số người bóc lột đối với đa số quần chúng bị bóc lột, nó không thể nào tiến bộ và dân chủ thực sự được Tuy nhiên, so với các hình thức bóc lột nô lệ và nông dân, hình thức bóc lột của giai cấp tư sản đối với công nhân tinh vi hơn, vô hình hơn

Trang 16

Người công nhân không nắm tư liệu sản xuất, và do đó, họ buộc phải bán sức lao động cho các nhà tư bản nắm tư liệu sản xuất trong tay

Ví dụ: đại đa số các nhà nước phương tây hiện đại đều là nhà nước tư sản, trong đó nổi bật có:

Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland là nhà nước liên bang, hình thức chính thể là quân chủ đại nghị;

Hợp chúng quốc Hoa Kỳ là nhà nước liên bang, hình thức chính thể là cộng hòa tổng thống;

Cộng hòa Pháp là nhà nước đơn nhất có hình thức chính thể cộng hòa hỗn hợp;

Cộng hòa Liên bang Đức là nhà nước liên bang có hình thức chính thể cộng hòa nghị viện

Nhà nước xã hội chủ nghĩa:

Cơ sở kinh tế: quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa mà đặc trưng là chế độ công hữu

về tư liệu sản xuất Cần phải lưu ý rằng công hữu về tư liệu sản xuất không phải là phương tiện để xây dựng chủ nghĩa xã hội, mà là mục tiêu cần đạt tới của chủ nghĩa xã hội

Cơ sở xã hội: Quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, trong đó nền tảng

là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức Trong thời kì đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa, giai cấp thống trị cũ mới chỉ bị lật đổ khỏi địa vị cầm quyền, còn nuôi âm mưu chống đối nhân dân lao động một cách quyết liệt Bởi vậy, đấu tranh giai cấp trong thời kỳ cách mạng mới thành công còn còn hết sức gay gắt Dần dần, khi nhà nước xã hội chủ nghĩa chứng minh được sức sống và thành công của mình, giai cấp thống trị cũ ngày càng được giáo dục, cải tạo, chúng sẽ dần từ bỏ âm mưu chống đối, đối kháng giai cấp vì thế giảm dần từng bước Khi đó, trong xã hội vẫn còn có các giai cấp, tầng lớp có lợi ích không hoàn toàn giống nhau nhưng không đối lập nhau mà cơ bản là thống nhất với nhau

Về mặt xã hội, nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước của dân, do dân, vì dân Nhà nước bảo vệ quyền lợi cho quảng đại quần chúng nhân dân Về mặt giai cấp, nhà nước xã hội chủ nghĩa là công cụ để bảo vệ thành quả của cách mạng xã hội chủ nghĩa do nhân dân lao động đổ nhiều xương máu mới dành được (chuyên chính vô sản) So với các kiểu nhà nước trước đây, nhà nước xã hội chủ nghĩa có bản chất xã hội rộng lớn, triệt để nhất, trong khi đó bản chất giai cấp lại được thu hẹp lại

Hiện tại, sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa xã hội thế giới lâm vào thoái trào, không ít người cho rằng chủ nghĩa cộng sản đã

Trang 17

cáo chung; chủ nghĩa xã hội chỉ là ảo tưởng không bao giờ thực hiện được Tuy nhiên, sự thất bại ở Liên Xô và Đông Âu không phải là sự thất bại của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác-Lênin, mà đó là “sự sụp đổ của một mô hình lỗi thời được phổ biến ở nhiều nước tới mức đồng dạng” Công cuộc cải cách Mở cửa (Trung Quốc), Đổi mới (Việt Nam) đã đạt được những thành công đáng chú ý, giữ vững được định hướng xã hội chủ nghĩa Đặc biệt là trong giai đoạn chống dịch bệnh Covid-19, Việt Nam đã kiến cho thế giới phải thán phục vì tính hiệu quả của các biện pháp chống dịch, đồng thời trở thành một trong

số ít nền kinh tế tăng trưởng dương trong năm 2020 Điều đó đã phần nào chứng minh được tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa

Ví dụ: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, Cộng hòa Cuba, Liên bang các nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết (Liên Xô cũ) là các nhà nước xã hội chủ nghĩa

Phân tích ý nghĩa của việc phân chia kiểu nhà nước theo hình thái kinh tế -

xã hội

Một số ý nghĩa của việc phân chia kiểu nhà nước theo hình thái kinh tế - xã hội:

Đem lại nhận thức đúng đắn về sự vận động và phát triển của nhà nước, đồng thời nhận thức đúng đắn về điều kiện tồn tại và phát triển của nhà nước trong những giai đoạn lịch sử nhất định: Cách phân loại kiểu nhà nước này có căn cứ chính là bản thân hiện tượng “nhà nước”, nghĩa là, việc phân chia dựa vào tiến trình phát triển của hiện tượng này trong xã hội, dựa vào sự vận động phát triển vốn có trong bản thân “nhà nước” - từ

sự thay đổi của các quan hệ sản xuất, tới các mâu thuẫn trong xã hội dẫn tới thay đổi quan

hệ sản xuất, từ đó dẫn tới sự thay đổi kiểu nhà nước Trong khi những cách phân loại khác chỉ đang tập trung vào những biểu hiện bề ngoài của nhà nước hay đơn giản là hoàn cảnh lịch sử mà nhà nước tồn tại Phân loại kiểu nhà nước theo những tiêu chí khác có thể khiến ta gặp khó khăn trong việc hiểu đúng đắn sự vận động và phát triển của nhà nước Tóm lại, cách phân chia này đi vào bản chất của hiện tượng “nhà nước” nên đây sẽ là cách phân loại đem lại nhận thức trực tiếp và rõ ràng nhất về sự vận động và phát triển của hiện tượng này Ví dụ: Nhà nước phong kiến dựa trên quan hệ sản xuất chính là quan

hệ sản xuất phong kiến, nông dân phải làm việc cho các địa chủ phong kiến, họ phải nộp

tô, thuế cho địa chủ… Khi mầm mống của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa xuất hiện trong lòng xã hội phong kiến, các nhà tư bản là những người có địa vị kinh tế nhưng địa

vị xã hội lại thấp hơn địa chủ, quan lại, vua chúa; lâu dần mâu thuẫn phát triển tới một mức độ nhất định dẫn tới giai cấp tư sản đứng lên lật đổ phong kiến, giành chính quyền

về tay mình Từ đó, một quan hệ sản xuất mới thay thế quan hệ sản xuất phong kiến, quan

hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và nhà nước tư sản ra đời ;

Tạo cơ sở cho việc nhận thức đúng đắn bản chất, chức năng, bộ máy cũng như hình thức nhà nước trong từng giai đoạn phát triển của nó: Có thể thấy, nhà nước là một phần của kiến trúc thượng tầng, trong khi đó, quan hệ sản xuất là một phần của cơ sở hạ tầng

và cũng là cơ sở kinh tế cho sự phát triển của một nhà nước Khi phân loại nhà nước theo

Trang 18

hình thái kinh tế - xã hội, ta sẽ biết được quan hệ sản xuất làm nền móng cho một kiểu nhà nước cụ thể Từ đó, ta có những kết luận đúng đắn về bản chất, chức năng, bộ máy cũng như hình thức của kiểu nhà nước đó trong từng giai đoạn phát triển của nó Ví dụ:

Cơ sở kinh tế của nhà nước chủ nô là quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ, đất đai, các tư liệu sản xuất khác hầu hết thuộc sở hữu tư nhân của các chủ nô (bao gồm cả nô lệ) Với quan hệ sản xuất như vậy, giai cấp chủ nô luôn tìm cách vơ vét, bắt nô lệ làm việc để đem lại lợi ích cho mình, bởi vậy, nhà nước này sẽ có những chính sách pháp luật mang đậm tính giai cấp, bảo vệ quyền lợi cho giai cấp chủ nô Thêm vào đó, bộ máy nhà nước cũng

sẽ nặng về cưỡng chế để sẵn sàng đàn áp bất kỳ cuộc nổi dậy nào của nô lệ;

Là tiền đề cho việc nhận thức về các kiểu pháp luật: Các kiểu pháp luật cũng được phân chia dựa trên các kiểu nhà nước - “kiểu nhà nước nào, kiểu pháp luật đó” Vì vậy, hiểu đúng đắn về kiểu nhà nước chia theo hình thái kinh tế xã hội sẽ giúp ta có nhận thức

dễ dàng và chính xác nhất về kiểu pháp luật Ví dụ: Nhà nước xã hội chủ nghĩa được hình thành trên cơ sở quan hệ sản xuất XHCN - đặc trưng là công hữu về tư liệu sản xuất Như vậy, kiểu nhà nước này hướng tới phục vụ quyền lợi cho đại đa số (hoặc toàn bộ) người dân Vì vậy, nhà nước XHCN sẽ có hệ thống pháp luật mang nặng tính xã hội, hướng tới bảo vệ quyền lợi cho đại đa số người dân

Trình bày khái niệm bản chất nhà nước Phân tích ý nghĩa của vấn đề bản chất nhà nước

Bản chất nhà nước là tổng hợp những mặt, những mối liên hệ, những thuộc tính tất nhiên, tương đối ổn định bên trong nhà nước, quy định sự tồn tại, phát triển của nhà nước4

Nhà nước là một hiện tượng xã hội, nó sinh ra từ hai nhu cầu cơ bản là nhu cầu tổ chức quản lý xã hội và nhu cầu bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị về kinh tế, nên ta có thể hiểu bản chất nhà nước theo hai phương diện: phương diện xã hội – tương ứng với tính xã hội của bản chất nhà nước và phương diện giai cấp - tương ứng với tính giai cấp của bản chất nhà nước

Bản chất nhà nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau song quan trọng nhất là:

Cơ sở kinh tế: mỗi nhà nước đều được hình thành trên một cơ sở kinh tế nhất định

và hạt nhân của cơ sở kinh tế đó là quan hệ sản xuất Có thể nói, quan hệ sản xuất quyết định bản chất của nhà nước

VD: nhà nước phong kiến hình thành dựa trên quan hệ sản xuất phong kiến mà đặc trưng là sự sở hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến, địa chủ bóc lột nông dân thông qua

tô thuế Một nhà nước hình thành dựa trên quan hệ sản xuất phong kiến thì nhà nước đó

Trang 19

không thể có bản chất của nhà nước tư sản, vì vốn dĩ nhà nước tư sản được hình thành trên cơ sở quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa;

Cơ sở xã hội: nhà nước ra đời trong hoàn cảnh xã hội có đối kháng giai cấp Trong lòng xã hội tồn tại những mâu thuẫn giữa các giai cấp, tầng lớp, giai cấp, tầng lớp giành chiến thắng sử dụng nhà nước làm công cụ chuyên chính (đàn áp, trấn áp) của một giai cấp nhằm bảo vệ sự thống trị giai cấp đó đối với toàn thể xã hội Vì vậy, chỉ cần các lực lượng trong xã hội đấu tranh để giành quyền lực về tay mình thì bản chất nhà nước có thể

bị thay đổi

VD: tầng lớp tư sản trong lòng xã hội phong kiến là những kẻ có tiềm lực kinh tế nhưng lại không có trong tay quyền lực chính trị, bọn họ mâu thuẫn với địa chủ, phong kiến… Vì vậy, đấu tranh nổ ra và khi chính quyền về tay giai cấp tư sản, nhà nước tư sản

ra đời và bản chất nhà nước đã thay đổi nghĩa của vấn đề bản chất nhà nước:

Bản chất Nhà nước là đặc tính quan trọng xác định nội dung, mục đích, sứ mệnh

và vai trò xã hội của nhà nước

Bản chất Nhà nước cho ta thấy tính chất xã hội và tính chất giai cấp của một nhà nước bất kì, từ đó biết được mức độ thể hiện các tính chất đó ở các nước khác nhau sẽ khác nhau và trong mỗi giai đoạn khác nhau cũng khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện và nhận thức của lực lượng cầm quyền

Bản chất nhà nước xác định những vấn đề: (i) Quyền lực nhà nước thuộc về ai? (ii) Nhà nước bảo vệ quyền lợi của ai? (iii) Những ưu tiên nào trong đường lối, chính sách của nhà nước?

Nghiên cứu bản chất nhà nước giúp việc hiểu đúng đắn bản chất pháp luật

Phân tích sự thống nhất giữa tính xã hội và tính giai cấp của nhà nước Trình bày ảnh hưởng của nó trong việc thực hiện chức năng nhà nước Việt

Nam hiện nay

Sự thống nhất giữa tính xã hội và tính giai cấp của nhà nước:

Tính xã hội và tính giai cấp là hai mặt cơ bản thống nhất thể hiện bản chất của bất

kỳ nhà nước nào, chúng luôn gắn bó chặt chẽ, đan xen nhau Sự thống nhất được thể hiện

ở chỗ tính xã hội và tính giai cấp luôn song hành tồn tại với sự tồn tại của nhà nước, thuộc tính này là cơ sở của thuộc tính kia

phương diện xã hội, nhà nước là một hiện tượng xã hội, được sinh ra từ xã hội để duy trì, quản lý xã hội khi xã hội đã phát triển đến một giai đoạn nhất định Xã hội muốn tồn tại ổn định, có trật tự phát triển thì đòi hỏi phải có sự tổ chức và quản lý chặt chẽ và

Trang 20

nhà nước là đại diện chính thức của toàn xã hội sẽ có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ đó Nhà nước thực hiện chức năng xã hội của mình thông qua chức năng giai cấp Cụ thể, nhà nước duy trì sự lãnh đạo của giai cấp thống trị nhằm:

Áp đặt sự thống trị lên giai cấp khác và toàn xã hội, từ đó không cho phép các giai cấp xung đột, tiêu diệt lẫn nhau và tiêu diệt luôn cả nhà nước Nhờ vậy mà nhà nước duy trì được sự ổn định xã hội;

Giai cấp thống trị sử dụng QLNN để lãnh đạo nhân dân phục tùng để thực hiện các công việc chung của xã hội như: trị thuỷ, chống giặc ngoại xâm, bệnh tật

phương diện giai cấp, nhà nước nằm trong tay giai cấp thống trị và chủ yếu phục

vụ cho giai cấp thống trị, là công cụ thực hiện các mục đích mà giai cấp thống trị đề ra Thế nhưng, giai cấp thống trị chỉ duy trì được địa vị thống trị của mình đến khi nào nhà nước vẫn còn đáp ứng được các yêu cầu đòi hỏi của xã hội

Ngày nay, xu hướng chung của các nhà nước trên thế giới là mở rộng tính xã hội, thu hẹp tính giai cấp Tuy nhiên, tính thống nhất và tính giai cấp là hai thuộc tính không thể thiếu của mọi nhà nước Nếu triệt tiêu tính giai cấp thì nhà nước không thể tồn tại trong hoàn cảnh xã hội tồn tại những giai cấp với lợi ích khác nhau Các giai cấp trong xã hội không có động lực để giành lấy QLNN, nhà nước không được thành lập thì các vấn

đề của xã hội không được giải quyết, tính xã hội cũng vì thế mà không tồn tại Ngược lại nếu xoá bỏ tính xã hội sẽ đẩy đấu tranh giai cấp đến mức gay gắt, giai cấp thống trị càng

ra sức đàn áp thì đấu tranh càng gay gắt, giai cấp thống trị sớm muộn sẽ bị lật đổ, nhà nước sẽ bị diệt vong, tính giai cấp cũng theo đó mà bị loại bỏ Như vậy, hậu quả của việc thiếu đi một trong hai thuộc tính giai cấp và xã hội là dẫn đến nhà nước bị tiêu diệt, xoá

bỏ Trong lúc nhân loại chưa đủ khả năng để vươn đến xã hội cộng sản chủ nghĩa, việc nhà nước bị xoá bỏ là một hiện tượng vô cùng nguy hiểm của xã hội Tuy nhiên, tình trạng vô chính phủ sẽ không kéo dài lâu bởi vì nhà nước là một nhu cầu khách quan của

xã hội, cho nên, nhà nước mới ra đời có đủ cả hai thuộc tính giai cấp và xã hội, sẽ thay thế cho nhà nước cũ

Ảnh hưởng của sự thống nhất giữa tính giai cấp và tính xã hội của nhà nước trong việc thực hiện chức năng nhà nước Việt Nam hiện nay:

Dù trong xã hội nào, nhà nước cũng phải chú ý đến lợi ích chung của toàn xã hội

và những mức độ khác nhau bảo vệ lợi ích của giai cấp (lực lượng) cầm quyền Tuy nhiên mức độ và sự thể hiện (công khai hay kín đáo, tế nhị) tính giai cấp, tính xã hội của mỗi nhà nước khác nhau thì khác nhau, trong mỗi giai đoạn khác nhau cũng có thể khác nhau tùy thuộc vào điều kiện và nhận thức của lực lượng cầm quyền6

Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là một nhà nước xã hội chủ nghĩa, là kiểu nhà nước có tính xã hội rộng rãi nhất trong lịch sử loài người Tại Việt Nam, Nhà nước quan tâm chăm lo đến lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân, tạo điều kiện mở rộng dân

Trang 21

chủ tối đa Kể từ khi thành lập đến nay, Nhà nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã đoàn kết toàn dân, thực hiện thắng lợi nhiều mục tiêu, nhiệm vụ mang tính thời đại như chống giặc ngoại xâm, phát triển kinh tế, phòng chống dịch bệnh Covid-19 Đây là các chức năng thể hiện tính xã hội của Nhà nước ta, tuy nhiên, để thực hiện thành công, Nhà nước ta cũng phải dùng các biện pháp cưỡng chế, áp đặt ý chí nhà nước, tức là

có thể hiện tính giai cấp Mặt khác, Nhà nước ta càng thể hiện tính xã hội rộng rãi bao nhiêu, niềm tin của nhân dân vào Đảng, chính quyền càng gia tăng bấy nhiêu, kể cả bạn

bè quốc tế cũng phải thừa nhận vào sự lãnh đạo của Đảng đối với cả hệ thống chính trị Như vậy, Nhà nước ta càng củng cố vững chắc vị trí lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, của liên minh giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức Như vậy, Nhà nước

ta thể hiện tính giai cấp gián tiếp thông qua tính xã hội của mình

Việt Nam đang ở trong giai đoạn quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, do đó, đấu tranh giai cấp chưa hoàn toàn dịu bớt Kẻ thù của nhà nước xã hội chủ nghĩa trong thời kì này

là giai cấp bóc lột cũ, các thế lực phản động trong và ngoài nước được sự hỗ trợ, giúp sức của các nước đế quốc tư bản chủ nghĩa Theo đó, các thế lực thù địch vẫn còn âm mưu chống phá với thủ đoạn hết sức tinh vi và thâm độc Do đó, việc thể hiện tính giai cấp vẫn cần thiết để bảo vệ chủ quyền quốc gia, chính quyền nhân dân Nhà nước ta chủ trương giải quyết một cách hoà bình những xung đột nêu trên Việc giải quyết hoà bình vừa tạo môi trường lành mạnh và ổn định cho xã hội phát triển vừa đảm bảo tranh chấp được giải quyết một cách nhẹ nhàng, êm đềm Tuy nhiên, nếu những thế lực thù địch không chịu thương lượng thì buộc nhà nước phải dùng đến những biện pháp mạnh mẽ, cứng rắn hơn

để quyết bảo vệ thành quả cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Như vậy, kể cả khi tiến hành bảo vệ lợi ích giai cấp, nhà nước vẫn luôn quan tâm tới lợi ích chung của xã hội Điều này thể hiện sự hài hoà giữa tính xã hội và tính giai cấp của nhà nước CHXHCNVN Chính sự nhận thức đúng đắn, vận dụng mềm dẻo, linh hoạt các quy luật khách quan vào thực tiễn của đất nước, Nhà nước CHXHCNVN đã thể hiện tính xã hội và giai cấp đúng nơi, đúng chỗ, đúng đối tượng để đạt được kết quả cao khi thực hiện chức năng nhà nước của mình

Phân tích các yếu tố quy định bản chất nhà nước

Bản chất nhà nước hiểu đơn giản là những thuộc tính bên trong, ổn định, khó thay đổi của nhà nước Nhà nước mang bản chất giai cấp và bản chất xã hội, đây là hai mặt đối lập trong cùng một hiện tượng, vừa mâu thuẫn vừa thống nhất với nhau Có một số yếu

tố lớn ảnh hưởng tới bản chất nhà nước, gồm:

Cơ sở kinh tế: Đầu tiên, mỗi nhà nước đều được hình thành trên một cơ sở kinh

tế nhất định và hạt nhân của cơ sở kinh tế đó là quan hệ sản xuất Ví dụ: Nhà nước phong kiến hình thành dựa trên quan hệ sản xuất phong kiến mà đặc trưng là sự sở hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến, địa chủ bóc lột nông dân thông qua tô thuế Cơ sở kinh tế có

Trang 22

ảnh hưởng rất lớn tới bản chất nhà nước đó Một nhà nước hình thành dựa trên quan hệ sản xuất phong kiến thì nhà nước đó không thể có bản chất của nhà nước tư sản, vì vốn

dĩ nhà nước tư sản được hình thành trên cơ sở quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Như vậy, “quan hệ sản xuất nào thì nhà nước đó”;

Cơ sở xã hội: Nhà nước sinh ra từ xã hội, là một sản phẩm của xã hội, vì vậy, bản chất nhà nước phụ thuộc rất nhiều vào xã hội, mà cụ thể ở đây các lực lượng, giai cấp trong xã hội Trong lòng xã hội tồn tại những mâu thuẫn giữa các giai cấp, tầng lớp, biểu hiện rõ ràng hơn cả là trong xã hội chiếm hữu nô lệ hoặc xã hội phong kiến Vì vậy, chỉ cần các lực lượng trong xã hội đấu tranh để giành quyền lực về tay mình thì bản chất nhà nước có thể bị thay đổi Ví dụ: Tầng lớp tư sản trong lòng xã hội phong kiến là những kẻ

có tiềm lực kinh tế nhưng lại không có trong tay quyền lực chính trị, bọn họ mâu thuẫn với địa chủ, phong kiến… Vì vậy, đấu tranh nổ ra và khi chính quyền về tay giai cấp tư sản, nhà nước tư sản ra đời và bản chất nhà nước đã thay đổi;

Chủ thể lãnh đạo nhà nước: Yếu tố quan trọng, chủ yếu quyết định đến bản chất nhà nước là cơ sở kinh tế và cơ sở xã hội Về bản chất, các giai cấp, tầng lớp trong xã hội

ra đời dựa trên một cơ sở kinh tế nhất định, giai cấp nào nắm được quyền sở hữu đối với

tư liệu sản xuất thì giai cấp đó cũng nắm được QLNN và trở thành lực lượng lãnh đạo nhà nước Lúc này, bản chất của nhà nước chịu sự ảnh hưởng bản chất giai cấp thống trị, thể hiện đường lối, chủ trương của giai cấp thống trị Tuy nhiên, tác giả muốn tách riêng phần chủ thể lãnh đạo nhà nước để phân tích rõ về ảnh hưởng của yếu tố cá nhân thuộc

về nhà cầm quyền đến bản chất của nhà nước Chủ thể lãnh đạo nhà nước cũng có vai trò tương đối lớn trong quyết định bản chất nhà nước Chủ thể lãnh đạo nhà nước là chủ thể

có sự điều hành, chỉ đạo và định hướng sự phát triển của nhà nước Việc các chủ thể lãnh đạo có những quan điểm, tư tưởng khác nhau cũng có thể dẫn tới bản chất của các nhà nước khác nhau Ví dụ: Nước Đức những năm Thế chiến II có Hitler là lãnh đạo Có thể thấy, nước Đức trong thời kì này bộc lộ bản chất và tính giai cấp nhiều áp đảo so với vai trò, tính xã hội

Phân tích vai trò xã hội của Nhà nước CHXHCNVN hiện nay

Hiện nay, vai trò xã hội của Nhà nước CHXHCNVN biểu hiện đậm nét, cụ thể:

Nhà nước CHXHCNVN thay mặt nhân dân, thực hiện và bảo vệ các lợi ích cơ bản, lâu dài của quốc gia, dân tộc: Điều này được thể hiện rõ trong Hiến pháp của nước CHXHCNVN năm 2013 Nhà nước CHXHCNVN hiện nay đang thực hiện tương đối tốt nhiệm vụ bảo vệ các lợi ích lâu dài của quốc gia dân tộc như: chủ quyền quốc gia, chú trọng đào tạo, phát triển con người, bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc… Một số điểm đáng chú ý có thể kể đến như: Nhà nước tích cực đấu tranh trên mặt trận ngoại giao để bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng, bất khả xâm phạm của 2 quần đảo là Hoàng Sa và Trường

Sa bằng cách lên tiếng phản đối, kêu gọi ủng hộ của cộng đồng quốc tế trong vấn đề biển

Trang 23

Đông, thúc đẩy sự phát triển của Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông COC…; Nhà nước chú trọng phát triển giáo dục, tạo điều kiện để trẻ em được hưởng nền giáo dục tốt nhất có thể, nhất là những trẻ em ở những vùng biên giới, hải đảo…; Nhà nước CHXHCNVN tích cực bảo tồn các giá trị di sản văn hoá phi vật thể như ca trù, nhã nhạc cung đình Huế…;

Nhà nước CHXHCNVN thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân, đầu tư và phát triển văn hoá - xã hội, từ đó hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh: có thể thấy, Nhà nước ta có chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Ngoài ra, Nhà nước ta tích cực hợp tác quốc tế, tham gia ký kết các hiệp định thương mại tự do nhằm đẩy mạnh đầu tư nước ngoài, thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo điều kiện cho đất nước vươn lên về mọi mặt, nâng cao đời sống nhân dân;

Tập hợp mọi tầng lớp trong xã hội vào nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, phát triển kinh

tế, văn hoá, xã hội, duy trì trật tự xã hội: Dân tộc ta là một dân tộc đoàn kết, từ xưa tới nay, tinh thần đoàn kết luôn được các nhà nước trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của Việt Nam nhận thức và vun đắp Trong thời đại mới, tinh thần đoàn kết cũng được Nhà nước CHXHCNVN phát huy trên mọi phương diện nhằm giúp đất nước phát triển đồng đều, toàn diện

Nhà nước CHXHCNVN hiện nay đã, đang và không ngừng đảm bảo quyền làm chủ mọi mặt của nhân dân, nghiêm trị mọi hành vi xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, xây dựng đất nước giàu mạnh, thực hiện công bằng xã hội, xoá bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công Trong Hiến pháp nước CHXHCNVN, Nhà nước ta luôn định hướng phát triển theo hướng “Nhà nước của dân, do dân, vì dân”, quyền lợi của người dân được Nhà nước

ta đặt lên hàng đầu, biểu hiện rõ ràng là đợt dịch Covid-19 năm 2020, Nhà nước thậm chí tạm thời quên đi việc phát triển kinh tế để dập dịch, đảm bảo sức khỏe, tính mạng cho nhân dân Nhà nước ta được Chính phủ rất nhiều nước trên thế giới khen ngợi và bày tỏ

sự ngưỡng mộ với tinh thần vì nhân dân của mình Thêm vào đó, Nhà nước quan tâm đến các thành phần yếu thế trong xã hội, hỗ trợ, giúp đỡ, bảo trợ họ

Trình bày sự hiểu biết của anh/chị về nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.Theo anh (chị), làm thế nào để một nhà nước thực sự là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Nhà nước của dân là nhà nước có những tính chất sau:

Dân là chủ, dân làm chủ, nhân dân là chủ thể có quyền quyết định những vấn đề cơ bản, quan trọng của đất nước: “Nhà nước của dân” là khái niệm thể hiện quyền sở hữu của nhân dân đối với nhà nước, nhân dân có quyền của một chủ sở hữu Nhân dân có quyền tham gia, quyết định những vấn đề cơ bản, quan trọng của đất nước, ví dụ: tham gia quá trình ban hành Hiến pháp, tham gia đóng góp cho các dự thảo Luật…

Trang 24

Nhân dân là chủ thể của QLNN: Quyền lực của nhà nước không tự nhiên phát sinh, quyền lực đó được người dân trao cho Người dân tin tưởng chủ thể nào thì người dân trao quyền cho chủ thể đó thay mặt họ để thực hiện nhiệm vụ quản lý xã hội Chính vì vậy, người dân hoàn toàn có khả năng tước đi quyền lực mà nhà nước có khi nhà nước không cho người dân thấy sự nỗ lực, tận tâm hết mình thực hiện nhiệm vụ Biểu hiện của khả năng tước đi quyền lực là việc người dân có thể nổi dậy chống lại nhà nước Khi người dân đã nổi dậy chống lại nhà nước, dù nhà nước có kháng cự hay không thì việc nhà nước đó sụp đổ chỉ còn là vấn đề thời gian

Nhà nước do dân là một nhà nước:

Do nhân dân đấu tranh cách mạng để mở đường cho việc hình thành: Nhà nước muốn được thành lập thì bao giờ cũng phải trải qua đấu tranh, đây là quy luật tất yếu của lịch sử Việc nhân dân đấu tranh cách mạng thể hiện sự khao khát có được một chính quyền nhà nước do chính tay họ lập nên để thay mặt họ bảo vệ quyền lợi cho xã hội, quản

Do nhân dân đóng góp trí tuệ, sức người, sức của: Nhà nước là của dân, do dân lập nên, vì vậy, nhân dân có quyền đóng góp trí tuệ, công sức, của cải vật chất vào việc xây dựng, phát triển nhà nước ngày một tốt hơn Bởi vì nhà nước càng tiến bộ, phát triển thì khả năng quản lý, bảo đảm quyền lợi cho nhân dân sẽ càng tốt hơn Nhân dân cũng có thể tham gia vào bộ máy nhà nước bằng con đường bầu cử, tuyển dụng, bổ nhiệm , pháp luật thừa nhận quyền tham gia vào bộ máy nhà nước cho mọi công dân có đủ điều kiện

Nhà nước vì dân là nhà nước:

Có mọi (đa số, phần nhiều) chính sách, pháp luật, hoạt động hướng tới đảm bảo quyền lợi cho nhân dân: Nhân dân trao quyền cho nhà nước vì nhân dân tin rằng nhà nước

sẽ đảm bảo quyền lợi cho họ Việc đảm bảo quyền lợi trước tiên thể hiện ở cơ chế ban hành những chính sách tiến bộ, ban hành hệ thống pháp luật đảm bảo quyền lợi chính đáng cho người dân Từ đó, tăng niềm tin của nhân dân với nhà nước, tăng động lực đóng góp của nhân dân cho nhà nước;

Biết kết hợp, điều chỉnh các lợi ích khác nhau, giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội: Trong xã hội bao giờ cũng tồn tại những giai cấp, tầng lớp và những nhóm lợi ích

Trang 25

khác nhau Việc của nhà nước là phải làm sao kết hợp, dung hoà được những nhóm lợi ích khác nhau, từ đó đảm bảo quyền lợi chung cho đa số người dân;

Giải pháp để phát triển một nhà nước thực sự “của dân, do dân, vì dân”:

Nhà nước cần có những quy định cho phép người dân tham gia hoạt động quản lý

xã hội với nhà nước;

Nhà nước cần thực hiện cơ chế công khai hoá, minh bạch hoá hoạt động của mình

để người dân nắm bắt, kiểm soát Từ đó có cơ sở để xác định trách nhiệm của nhà nước trong việc thực hiện hoạt động quản lý;

Nhà nước cần thực thi tốt an sinh xã hội, tạo nên khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việc thực hiện đoàn kết toàn dân cho thấy nhà nước có khả năng tập hợp, gia tăng sức mạnh của quốc gia, dân tộc, từ đó tạo niềm tin với người dân;

Nhà nước cần loại trừ tệ quan liêu, tham ô, tham nhũng Đây là những căn bệnh bóp chết niềm tin của nhân dân vào nhà nước nên cần nghiêm khắc loại bỏ;

Nhà nước phải thực hiện tốt việc phê bình, tự phê bình và dũng cảm nhận trách nhiệm với nhân dân Việc phê bình, tự phê bình và nhận trách nhiệm chứng minh một nhà nước tiến bộ, vì người dân, sai thì dũng cảm nhận sai và sửa sai để không phụ sự tin tưởng của nhân dân

Trình bày sự hiểu biết của anh/chị về nhà nước dân chủ Theo anh/chị, làm thế nào

để một nhà nước dân chủ thực sự và rộng rãi

Thứ nhất, nhà nước dân chủ là nhà nước mà ở đó, người dân có quyền tham gia vào việc tổ chức, hoạt động của các CQNN, bàn bạc, thảo luận và quyết định những vấn

đề quan trọng của đất nước Hay hiểu một cách đơn giản hơn, một nhà nước dân chủ là nhà nước mà ở đó người dân làm chủ, quyền làm chủ thuộc về nhân dân, chính quyền thuộc về nhân dân

Thứ hai, trong nhà nước dân chủ, nhà nước thừa nhận các quyền tự do dân chủ rộng rãi cho người dân, thừa nhận địa vị pháp lý cho các tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng thông qua pháp luật Bên cạnh đó, nhà nước quy định các biện pháp bảo đảm thực hiện

và bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của người dân Ví dụ: Thông qua Hiến pháp, Nhà nước CHXHCNVN thừa nhận các quyền dân chủ của người dân như quyền bầu cử, quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với CQNN về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước Bất kỳ ai xâm phạm tới những quyền tự do, dân chủ của người dân đều có thể bị áp dụng những chế tài pháp lý Ví dụ: Điều 166 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo

Thứ ba, trong quá trình quản lý xã hội, nhà nước cố gắng xây dựng nền dân chủ bằng cách bảo đảm việc người dân được tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của nhà nước Ví dụ: Khoản 2 Điều 28 Hiến pháp nước CHXHCNVN năm 2013

Trang 26

Ngoài ra, một nhà nước dân chủ biểu hiện những tính chất khác hẳn một nhà nước phản dân chủ Nếu như trong nhà nước phản dân chủ, người dân không có bất kỳ quyền hành nào liên quan đến việc quyết định những vấn đề cơ bản, quan trọng của đất nước, thì trong nhà nước dân chủ, những vấn đề đó được coi là gắn liền với quyền và lợi ích của nhân dân, vì vậy, nhân dân tham gia bàn bạc, thảo luận, quyết định những vấn đề đó

VD: Thời nhà Tần - Trung Quốc, người dân không có quyền bầu ra người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình để tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước, quản lý

xã hội Tuy nhiên, Nhà nước Trung Quốc hiện nay đã cho người dân quyền làm chủ thể hiện ở việc người dân có quyền đi bầu cử, bầu ra người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình

Tuy nhiên, biểu hiện dân chủ ở mỗi nhà nước lại có những nét khác nhau Có những nhà nước biểu hiện tính dân chủ thực sự, cũng có nhà nước chỉ biểu hiện dân chủ một cách giả tạo, nghĩa là nhà nước có những chính sách dân chủ nhưng không thể thực hiện trên thực tế hoặc nếu muốn thực hiện thì sẽ có rất nhiều rào cản Nếu xét về mức độ biểu hiện tính dân chủ, có những nhà nước mang tính dân chủ rộng rãi, một số khác lại mang tính dân chủ hạn chế Hoặc xét về cách thức thực hiện dân chủ, lại có nhà nước dân chủ trực tiếp, có nhà nước dân chủ gián tiếp

Trình bày khái niệm chức năng nhà nước Phân tích ý nghĩa của việc xác định và thực hiện chức năng nhà nước trong giai đoạn hiện nay

Chức năng nhà nước là những mặt hoạt động cơ bản, phù hợp với bản chất, mục đích, nhiệm vụ của nhà nước và được xác định bởi điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong những giai đoạn phát triển của nó Hiểu một cách đơn giản hơn, chức năng nhà nước là những việc nhà nước phải làm và nhà nước có thể làm được, những công việc đó gắn liền với tính chất vốn có, sự tồn tại và phát triển của nhà nước Như vậy, chức năng của nhà nước là mặt hoạt động cơ bản, thường xuyên và ổn định của nó

Chức năng nhà nước có một số đặc điểm sau:

Chức năng nhà nước luôn phản ánh bản chất nhà nước: Có thể nói, bản chất như nào thì biểu hiện như thế Một biểu hiện rõ ràng rằng không một nhà nước theo khuynh hướng dân chủ nào lại có những chính sách pháp luật phản dân chủ, hay không nhà nước nào mang bản chất phản dân chủ lại thi hành những chính sách cho phép người dân tham gia vào quá trình quản lý nhà nước VD: Nhà nước XHCN mang bản chất là nhà nước của dân, do dân, vì dân nên các chức năng như kinh tế, giáo dục, khoa học - kỹ thuật là những chức năng phổ biến của nhà nước này

Chức năng nhà nước phụ thuộc vào nhiệm vụ cơ bản của nhà nước: Giữa chức năng

và nhiệm vụ của nhà nước vừa có sự thống nhất, vừa có sự khác biệt, vừa có mối liên hệ mật thiết với nhau Nhiệm vụ của nhà nước là những công việc đặt ra đòi hỏi nhà nước phải giải quyết theo những mục tiêu đã định sẵn Nhà nước có hai loại nhiệm vụ là nhiệm

Trang 27

vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài và nhiệm vụ trước mắt, cấp bách Ví dụ, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Nhà nước Việt Nam có hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng

Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, tất cả các chức năng của nhà nước ta đều được xác định và thực hiện nhằm thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược này Nhiệm vụ trước mắt, cấp bách là những công việc mà nhà nước phải giải quyết trong ngắn hạn, ngay lập tức để thực hiện một chức năng nào đó của nhà nước, do vậy, nhiệm vụ trước mắt, cấp bách có phạm vi hẹp hơn so với chức năng nhà nước, được xác định nhằm thực hiện chức năng, do chức năng quyết định VD: nhiệm vụ kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật môi trường của các doanh nghiệp hiện nay được xác định và thực hiện nhằm thực hiện chức năng quản lý môi trường của nhà nước

Chức năng nhà nước có tính lịch sử: Chức năng nhà nước là một phạm trù mang tính lịch sử bởi ở mỗi thời kỳ, giai đoạn phát triển khác nhau thì nhà nước sẽ thực hiện những chức năng khác nhau Ví dụ: Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà giai đoạn kháng chiến chống đế quốc Mỹ có chức năng chính là phát triển kinh tế, bảo vệ tổ quốc

là chủ yếu Tuy nhiên, Nhà nước CHXHCNVN hiện nay lại có chức năng chính liên quan tới điều hành và quản lý kinh tế, phát triển văn hoá, giáo dục… Không phải trong giai đoạn hiện nay thì nhà nước không thực hiện chức năng bảo vệ Tổ quốc, tuy nhiên, giai đoạn kháng chiến chống đế quốc Mỹ thì chức năng này được thực hiện một cách mạnh

mẽ hơn, quyết liệt hơn

nghĩa của việc xác định và thực hiện chức năng nhà nước trong giai đoạn hiện nay: Việc xác định đúng đắn chức năng nhà nước hiện nay giúp nhà nước có định hướng phát triển một cách phù hợp trong thời kỳ mới: Như đã phân tích, ở môi thời kỳ, ở mỗi giai đoạn phát triển khác nhau thì nhà nước lại có những chức năng và yêu cầu về thực hiện các chức năng đó hoàn toàn khác nhau Việc xác định đúng chức năng nhà nước hiện nay giúp nhà nước có khả năng hội nhập tốt trong thời kỳ Đổi mới, bắt kịp xu thế toàn cầu hoá

VD: Việc bảo tồn và phát huy truyền thống văn hoá dân tộc là một vấn đề đang rất được nhà nước ta quan tâm bởi trong giai đoạn hội nhập hiện nay, các xu hướng văn hoá

du nhập vào nước ta ngày càng nhiều và để tránh tình trạng “hoà nhập nhưng bị hoà tan” thì nhà nước cần xác định rõ chức năng, vai trò của mình, từ đó có hướng thực hiện đúng đắn, phù hợp chức năng đã được xác định;

Việc xác định và thực hiện đúng đắn chức năng nhà nước giúp thực hiện đúng đắn mục tiêu, nhiệm vụ mà nhà nước đề ra: Trong từng giai đoạn phát triển, nhà nước lại có những mục tiêu, nhiệm vụ khác nhau đòi hỏi việc xác định và thực hiện chức năng nhà nước phải thật chính xác để góp phần đạt được mục tiêu đề ra

VD: Một trong những nhiệm vụ mà nhà nước ta xác định trong giai đoạn hiện nay

là xoá đói, giảm nghèo bền vững thì chức năng quản lý, phát triển kinh tế cần được đẩy mạnh

Trang 28

Phân tích các yếu tố quy định chức năng nhà nước Một số yếu tố quy định chức năng nhà nước, bao gồm:

nước, bởi bản chất nhà nước thế nào thì chức năng nhà nước sẽ phát triển theo hướng như vậy Một nhà nước dân chủ, của dân, do dân, vì dân sẽ có những chức năng chủ yếu liên quan đến phát triển kinh tế, xã hội, giáo dục, bảo đảm an sinh xã hội cho người dân Mặt khác, một nhà nước sinh ra chỉ để bảo vệ quyền lợi cho giai cấp thống trị sẽ thực hiện các chức năng đàn áp, nô dịch để phục vụ tốt nhất cho quyền lợi của mình;

Thực tế cho thấy, nhà nước phải làm gì, làm như thế nào, điều đó phụ thuộc rất lớn vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước, do đó, các nhà nước khác nhau có thể có chức năng khác nhau Ví dụ, chức năng của Nhà nước phong kiến Việt Nam trước đây khác với chức năng của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay Trong một nhà nước cụ thể, ở các giai đoạn phát triển khác nhau, số lượng chức năng, tầm quan trọng của mỗi chức năng, nội dung, cách thức thực hiện từng chức năng cũng có thể khác nhau

Ví dụ, trước năm 1986, quản lý, bảo vệ môi trường chưa phải là chức năng của nhà nước

ta nhưng hiện nay nỏ trở thành chức năng có tầm quan trọng đặc biệt và không thể thiếu Hoặc thiết lập và phát triển các mối quan hệ ngoại giao, hữu nghị và hợp tác quốc tế, hội nhập quốc tế là chức năng không thể thiếu của các nhà nước đương đại…7;

rất nhiều tới chức năng nhà nước Ví dụ: Trong giai đoạn chiến đấu chống dịch bệnh Covid-19 hiện nay, nhiệm vụ của nhà nước là kiểm soát dịch bệnh, không để dịch bệnh lây lan nên chức năng bảo vệ tính mạng, sức khoẻ cho người dân cần được triển khai thực hiện mạnh mẽ hơn so với các chức năng khác;

nhà nước có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện các chức năng khác Ví dụ: Chức năng phát triển kinh tế mà không được đảm bảo thì tiềm lực về tài chính của nhà nước sẽ không

đủ để thực hiện chức năng bảo vệ môi trường, bảo vệ và phát triển văn hóa trong giai đoạn hiện nay

Phân tích những yêu cầu, đòi hỏi đối với chức năng của nhà nước Việt Nam hiện nay (số lượng chức năng, nội dung chức năng, phương pháp thực hiện chức năng)

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nhà nước xã hội chủ nghĩa,

là một nhà nước đang phát triển, đời sống văn hoá, chính trị, kinh tế, xã hội có nhiều biến chuyển mạnh mẽ Chính vì vậy, thực tế đặt ra những yêu cầu, đòi hỏi đối với chức năng của Nhà nước Việt Nam hiện đại

Về số lượng chức năng, cần phải xem xét những chức năng nào còn phù hợp thì giữ lại, những chức năng nào không còn phù hợp thì loại bỏ, những chức năng nào cần

Trang 29

thiết nhưng còn thiếu thì phải bổ sung Việc xem xét tính phù hợp của các chức năng phải xét đến một số yếu tố như: định hướng phát triển của đất nước (được thể hiện trong văn kiện Đại hội Đảng, Nghị quyết của Quốc hội, chương trình hành động của Chính phủ ); yêu cầu, đòi hỏi của xã hội; khả năng và tiềm lực của Nhà nước; tình hình phát triển kinh

tế, văn hoá, xã hội; an ninh quốc phòng; xu hướng chung của thế giới; biến động của tình hình quốc tế… Nhìn chung, chức năng của các nhà nước trên thế giới đều đang vận động, biến đổi theo hướng mở rộng các chức năng mang tính xã hội và thu hẹp các chức năng mang tính giai cấp Tuy nhiên, cũng giống như bản chất của nhà nước, tính xã hội và tính giai cấp là hai thuộc tính đối lập nhưng luôn song hành tồn tại của chức năng nhà nước

Vì vậy, các chức năng mang tính giai cấp chỉ có thể bị thu hẹp nhưng không hoàn toàn biến mất hoặc bị thay thế Việt Nam cũng không thể nằm ngoài xu thế này

VD: Nhà nước Việt Nam hiện đại không còn chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược như một số triều đại phong kiến Việt Nam trước đây; chức năng bảo tồn những giá trị văn hoá truyền thống trước tác động của hội nhập, chức năng hợp tác để giải quyết các vấn đề quốc tế là các chức năng hoàn toàn mới

Về nội dung chức năng, có những chức năng luôn song hành với quá trình tồn tại của một nhà nước như: chức năng kinh tế, chức năng xã hội, chức năng bảo vệ đất nước… Tuy nhiên, thực tiễn đặt ra những yêu cầu đòi hỏi các chức năng này phải luôn được mở rộng theo hướng hoàn thiện, đầy đủ và phức tạp hơn, thậm chí nội dung của chức năng này lại tác động đến nội dung của chức năng khác Điều này xuất phát từ một thực tế khách quan là đời sống kinh tế xã hội ngày càng phát triển và phức tạp hơn, từ đó đặt ra nhiều vấn đề mà nhà nước cần phải giải quyết

VD1: Cùng là chức năng kinh tế, nhưng dưới thời phong kiến, chức năng này chỉ dừng lại ở việc nhà nước khuyến khích nông nghiệp, lập chợ, mở cửa các thương cảng để giao dịch với nước ngoài, nhưng ngày nay, chức năng kinh tế của Nhà nước Việt Nam hiện đại có thêm một nội dung quan trọng là quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô Bên cạnh

đó, chức năng ngoại giao cũng có ảnh hưởng tích cực đến chức năng kinh tế (tham gia các hiệp định thương mại, các tổ chức kinh tế thế giới )

VD2: Cùng là chức năng bảo vệ Tổ quốc, nhưng Nhà nước Việt Nam ngày nay có thêm nội dung bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng (tác chiến điện tử)

Bên cạnh việc mở rộng nội dung các chức năng sẵn có, nhà nước cần phải rút bớt những nội dung không còn cần thiết hay không còn phù hợp để tập trung nguồn lực cho các nội dung khác quan trong hơn

VD3: Trước đây việc kinh doanh và phân phối do Nhà nước đảm nhận vào thời bao cấp Tuy nhiên đến giai đoạn hiện nay, chức năng đấy là không còn phù hợp nữa, nhà nước bỏ gần như hoàn toàn chức năng kinh doanh và phân phối, chỉ giữ lại nội dung độc quyền kinh doanh và phân phối một số sản phẩm, mặt hàng ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng, kinh tế vĩ mô, sức khỏe cộng đồng như vũ khí, dịch vụ cảng hàng không, khoáng sản, nhập khẩu thuốc lá…

Trang 30

Về phương thức thực hiện chức năng nhà nước, bao gồm hình thức thực hiện và phương pháp (biện pháp) thực hiện

Hình thức thực hiện chức năng nhà nước bao gồm: xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, bảo vệ pháp luật Ba hoạt động này phải được tách bạch rõ ràng để tạo nên sự phân định rõ thẩm quyền của các CQNN trong việc thực hiện chức năng nhà nước Việc phân chia rõ ràng các hình thức thực hiện pháp luật cũng là tiền đề để chuyên môn hóa việc thực hiện chức năng nhà nước của từng cơ quan cụ thể Bên cạnh đó, các hình thức này tuy độc lập nhưng cũng phải phối hợp nhuần nhuyễn, nhịp nhàng với nhau

để không làm xơ cứng, máy móc hoạt động thực hiện chức năng nhà nước

VD1: Ngày nay, thực hiện chức năng nhà nước không còn giao cho một cá nhân quản lý và thực hiện Thay vào đó, các hình thức thực hiện chức năng nhà nước được giao cho nhiều cơ quan như Quốc hội, Chính phủ, Tòa án Nhân dân Tối cao… tương ứng với các hình thức cụ thể theo nguyên tắc phân công, phối hợp QLNN

Biện pháp thực hiện chức năng nhà nước gồm biện pháp giáo dục, thuyết phục và biện pháp cưỡng chế Yêu cầu hiện nay đối với không chỉ riêng Nhà nước Việt Nam là tăng dần biện pháp giáo dục, thuyết phục và giảm dần biện pháp cưỡng chế Vì biện pháp giáo dục, thuyết phục là biện pháp làm cho người dân hiểu và tự nguyện chấp hành quy định của pháp luật, do đó, biện pháp này tỏ ra hiệu quả trong việc đưa pháp luật của nhà nước vào đời sống, không gây ra phản ứng tiêu cực như biện pháp cưỡng chế Tuy nhiên, không thể hoàn toàn loại bỏ biện pháp cưỡng chế, đặc biệt là trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa nghĩa xã hội Biện pháp cưỡng chế mang lại hiệu quả nhanh chóng, đối tượng bị tác động phải ngay lập tức ứng xử theo ý chí của nhà nước Ở góc độ nào đó, biện pháp cưỡng chế cũng có tác động giáo dục đến các chủ thể khác trong xã hội

VD2: Thời nhà Lý (hậu Lý), khi thực hiện chức năng quản lý nông nghiệp, người dân nào có hành vi vi phạm thì sẽ lập tức chịu sự cưỡng chế từ nhà nước (đánh, thích chữ vào mặt…) bất kể mức độ vi phạm là lớn hay nhỏ Hiện nay, đối với những vi phạm có tính chất không nghiêm trọng, do chủ thể chưa có NLHVPL đầy đủ thực hiện, pháp luật chủ yếu dùng biện pháp giáo dục thuyết phục (cảnh cáo, buộc đưa vào cơ sở giáo dục) để

xử lý Tuy nhiên, nếu các chủ thể này lại lặp lại hành vi VPPL của mình hoặc với những hành vi mang tính chất nguy hiểm cho xã hội, nhà nước buộc phải áp dụng ngay lập tức các biện pháp cưỡng chế như phạt tiền, phạt tù, cải tạo không giam giữ, thậm chí là tử hình để xử lý Việc răn đe kịp thời giúp nhanh chóng khôi phục trật tự pháp luật, đồng thời có tác động cảnh báo, giáo dục đến các chủ thể khác trong xã hội không được thực hiện các hành vi VPPL

Trang 31

Phân tích ý nghĩa của hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp đối với việc thực hiện chức năng nhà nước

Chức năng nhà nước có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, trong

đó có những hình thức cơ bản mang tính pháp lý, bao gồm: lập pháp, hành pháp, tư pháp Như vậy, ba hoạt động kể trên chính là hình thức thực hiện chức năng nhà nước, cụ thể như sau:

Lập pháp: Hiểu một cách đơn giản, lập pháp là việc xây dựng, ban hành ra pháp luật Để thực hiện chức năng quản lý, thiết lập trật tự quản lý xã hội, trước tiên, nhà nước cần ban hành ra pháp luật làm cơ sở để điều chỉnh hành vi của con người trong xã hội Khi có pháp luật, người dân có thể biết được những việc cần phải làm, những việc không được làm hay những việc được phép làm, từ đó, người dân có cách xử sự phù hợp khi tham gia các quan hệ xã hội Ví dụ: Nếu muốn thiết lập trật tự quản lý nhà nước về môi trường, nhà nước ban hành Luật Bảo vệ môi trường… Như vậy, thông qua hoạt động lập pháp, hệ thống pháp luật ngày càng được củng cố và hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực hiện các chức năng nhà nước;

Hành pháp: Hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật được hiểu là hành pháp Khi pháp luật được ban hành, để các chủ thể trong xã hội biết đến và thực hiện pháp luật một cách đúng đắn, nhà nước cần thiết phải có các biện pháp để đưa pháp luật vào thực tiễn thông qua việc phổ biến, tuyên truyền, giáo dục… pháp luật Khi thực hiện được như vậy, những yêu cầu, đòi hỏi của nhà nước đối với các chủ thể trong xã hội mới được thực hiện một cách hiệu quả;

Tư pháp: Hoạt động tư pháp là hoạt động xét xử, bảo vệ pháp luật của Toà án Trong quá trình thực hiện pháp luật, nhiều chủ thể có thể có những hành vi VPPL Vì vậy, đòi hỏi nhà nước cần có những biện pháp để xử lý chủ thể có hành vi VPPL, qua đó, răn

đe, giáo dục người vi phạm, bảo đảm những quy định của pháp luật phải được thực hiện, bảo đảm tính tôn nghiêm của pháp luật

Ví dụ: Để thực hiện chức năng bảo vệ sức khoẻ, tính mạng của người dân trong giai đoạn dịch bệnh Covid-19 hiện nay, trước tiên, nhà nước ta cần ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh các QHXH liên quan tới y tế, dược… Tiếp đó, nhà nước tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về các hành vi có thể bị xử phạt vi phạm, thông qua đó nhắc nhở người dân thực hiện đúng quy định như đeo khẩu trang, rửa tay sát khuẩn, dãn cách xã hội… Tuy nhiên, trên thực tế, có nhiều chủ thể lại thực hiện những hành vi vi phạm trật tự quản lý mà nhà nước đặt ra Lúc này, nhà nước có thể thông qua

cơ chế tư pháp để xử lý những hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội, có tính chất hình

sự như: Trốn cách ly, khai báo gian dối Tất cả đều góp phần giúp nhà nước thực hiện hiệu quả chức năng bảo vệ sức khoẻ, tính mạng của người dân trong thời buổi dịch bệnh Covid-19

Trang 32

Phân tích vai trò của bộ máy nhà nước đối với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước

Bộ máy nhà nước chính là nhà nước nhưng được tiếp cận từ góc độ cấu tạo của nhà nước, bộ máy nhà nước bao gồm các CQNN Bộ máy nhà nước được hình thành như sau:

Trên cơ sở chuyên môn hoá các chức năng nhà nước, mỗi cơ quan trong bộ máy nhà nước được giao thực hiện một chức năng chuyên biệt;

Phạm vi hoạt động của Nhà nước rất rộng nên đặt ra yêu cầu phải phân chia để thực hiện nhiệm vụ quản lý;

Số lượng thành viên của nhà nước có xu hướng phát triển nên đặt ra yêu cầu phải phân chia người làm việc chuyên trách ở những lĩnh vực khác nhau

Như vậy, bộ máy nhà nước và chức năng, nhiệm vụ của nhà nước có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Bộ máy nhà nước có những vai trò không thể phủ nhận đối với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước:

Bộ máy nhà nước quyết định tính hiệu quả trong thực hiện chức năng nhà nước:

Một trong những cơ sở hình thành bộ máy nhà nước là chuyên môn hoá các chức năng nhà nước cho các bộ phận khác nhau của bộ máy nhà nước thực hiện, nghĩa là, mỗi

bộ phận cơ bản cấu thành nên bộ máy nhà nước (CQNN) sẽ đảm nhiệm việc thực hiện một chức năng nhà nước,(ví dụ: Bộ Y tế đảm nhiệm việc thực hiện chức năng liên quan đến sức khoẻ của người dân…) hoặc nhiều cơ quan cùng đảm nhiệm việc thực hiện một chức năng (ví dụ: Bộ Tài chính, bộ Kế hoạch - đầu tư đảm nhiệm việc thực hiện chức năng quản lý và phát triển kinh tế) Về mặt tư duy nói chung, hiệu quả công việc khi một

cơ quan ôm đồm nhiều công việc không thể cao bằng một cơ quan chỉ chuyên môn một nhiệm công việc duy nhất Cũng tương tự như vậy, nếu không có bộ máy nhà nước gồm các cơ quan chuyên trách thực hiện các chức năng nhà nước cụ thể thì hiệu quả thực hiện chức năng nhà nước sẽ không cao Như vậy, khi có bộ máy nhà nước, hiệu quả thực hiện chức năng nhà nước đã được cải thiện Tuy nhiên, nếu bộ máy đó được tổ chức, sắp xếp một cách hợp lý thì hiệu quả thực hiện chức năng sẽ còn được nâng cao hơn Điều này cho thấy vai trò quan trọng của bộ máy nhà nước trong việc thực hiện chức năng nhà nước

Chức năng, nhiệm vụ của nhà nước quyết định cơ cấu, tổ chức của bộ máy nhà nước: Hệ thống cơ quan trong bộ máy nhà nước sinh ra là để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước Vì vậy, nhà nước có chức năng, nhiệm vụ gì thì sẽ tổ chức bộ máy nhà nước tương ứng với chức năng, nhiệm vụ đó

Trang 33

VD1: Nhà nước chủ nô và nhà nước phong kiến có chức năng nghiêng về trấn áp

và xâm lực nên có thể thấy, bộ máy nhà nước nghiêng về tổ chức quân đội, binh lính

VD2: Nhà nước tư sản đã tiến bộ hơn, các chức năng trở nên đa dạng và đồng đều hơn so với hai kiểu nhà nước trước đó Giai đoạn tư bản độc quyền, lũng đoạn của chủ nghĩa tư bản, các nhà nước vẫn mang nặng chức năng trấn áp nên quân đội phát triển mạnh để đi xâm lược các thuộc địa Bên cạnh đó, các chức năng kinh tế, văn hoá, giáo dục cũng được chú trọng phát triển xuyên suốt quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản

Vì vậy, bộ máy nhà nước tư sản phân ra nhiều bộ chuyên ngành để quản lý từng lĩnh vực

VD3: Nhà nước xã hội chủ nghĩa được coi là nhà nước tiến bộ nhất khi kiểu nhà nước này đảm bảo các quyền tự do, dân chủ cho đại đa số người dân Vì vậy, hệ thống các cơ quan nhà nước về quản lý kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục… được tập trung phát triển mạnh hơn Điều này không có nghĩa quân đội trong nhà nước xã hội chủ nghĩa không được chú ý Mặc dù không mang nặng chức năng trấn áp nhưng chức năng bảo vệ tổ quốc lại được đề cao do những thế lực thù địch vẫn lăm le lật đổ chủ nghĩa cộng sản Vì vậy, quân đội vẫn được đầu tư đúng mực

Phân tích mối quan hệ giữa bộ máy nhà nước và chức năng nhà nước của nhà nước Việt Nam hiện nay

Bộ máy nhà nước và chức năng nhà nước có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Thứ nhất, chức năng nhà nước quy định việc hình thành bộ máy nhà nước, hay nói cách khác “chức năng như thế nào, bộ máy như thế đó” Để thực hiện chức năng nhà nước, nhà nước cần thành lập những cơ quan chuyên trách Việc thành lập những cơ quan cấu thành nên bộ máy nhà nước luôn cần có sự phù hợp với chức năng mà nhà nước đã xác định từ trước Vì vậy, nhà nước xác định chức năng của mình là gì thì sẽ thành lập những cơ quan tương ứng để thực hiện những chức năng đó

VD1: Nhà nước phong kiến với chức năng trấn áp là chủ yếu thì trong bộ máy nhà nước, các cơ quan trấn áp như cảnh vệ, quân đội… được chú trọng phát triển hơn

VD2: Nhà nước có chức năng chủ yếu là kinh tế, xã hội thì những cơ quan trong

bộ máy nhà nước sẽ chủ yếu liên quan tới quản lý, phát triển kinh tế - xã hội

Thêm vào đó, do xã hội ngày càng phát triển, những thay đổi trong xã hội ngày càng mạnh nên các chức năng nhà nước cũng có sự thay đổi Ví dụ: Trước kia, nhà nước phong kiến chỉ mang nặng chức năng trấn áp, các chức năng khác như bảo vệ quyền con người, chức năng bảo vệ môi trường… gần như không tồn tại Vì vậy, những cơ quan về bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền con người không tồn tại trong xã hội phong kiến Tuy nhiên, trong thời kỳ hội nhập hiện nay, hầu hết các quốc gia đều quan tâm đến vấn đề quyền con người, vấn đề bảo vệ môi trường nên bộ máy nhà nước bao giờ cũng tồn tại những cơ quan chuyên trách đảm nhận việc thực hiện những chức năng này Mặt khác, ở nước ta hiện nay, để tránh việc hội nhập sâu rộng nhưng lại đánh mất bản sắc văn hoá dân

Trang 34

tộc, vai trò của Bộ Văn hoá - Thể thao & Du lịch ngày càng được nâng cao trong bộ máy nhà nước

Thứ hai, tổ chức bộ máy nhà nước có ảnh hưởng to lớn tới việc hiệu quả của việc thực hiện chức năng nhà nước Trước hết, khi bộ máy nhà nước ra đời, chức năng nhà nước đã phần nào được thực hiện hiệu quả bởi bộ máy nhà nước ra đời đồng nghĩa với sự chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý, nhờ đó mà hiệu quả quản lý, thực hiện các chức năng được nâng cao Mặt khác, việc tổ chức, sắp xếp bộ máy nhà nước sao cho hợp lý cũng là một yếu tố quan trọng để cải thiện tốt hơn nữa việc thực hiện chức năng nhà nước Một bộ máy được sắp xếp hợp lý, logic, tinh gọn sẽ vừa giúp đảm bảo thực hiện chức năng hiệu quả, vừa giảm chi tiêu cho ngân sách nhà nước

Phân tích khái niệm CQNN, phân biệt CQNN với bộ phận khác của nhà nước

Cơ quan nhà nước là bộ phận cơ bản cấu thành nhà nước, bao gồm số lượng người nhất định, được tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật, nhân danh nhà nước thực hiện QLNN

Cơ quan nhà nước có một số đặc điểm sau:

Cơ quan nhà nước là bộ phận cơ bản cấu thành nhà nước và đó chỉ là những bộ phận then chốt, thiết yếu của nhà nước: Theo từ điển tiếng Việt, bộ phận là phần làm nên một chỉnh thể, cơ bản là “coi như là nền gốc”, như vậy, bộ phận cơ bản là một phần coi như nền gốc để tạo nên một chỉnh thể Vì vậy, chỉ những phần là nền gốc mà khi thiếu bộ phận đó, bộ máy nhà nước bị khiếm khuyết thì bộ phận đó mới được coi là CQNN Ví dụ: Chính phủ, Quốc hội, Toà án là những CQNN Như vậy, có một số bộ phận cấu thành nên bộ máy nhà nước nhưng vai trò của nó không phải then chốt, bỏ nó đi thì bộ máy nhà nước vẫn có thể tồn tại đúng nghĩa, ví dụ như các bộ phận tham mưu, giúp việc cho chính phủ, các trường, học viện

Cơ quan nhà nước được thành lập theo những cách thức và trình tự khác nhau:

Ở trong những nhà nước khác nhau thì CQNN lại được thành lập theo những cách thức khác nhau, có thể là thế tập, tiến cử, bầu cử, bổ nhiệm Ví dụ: Chủ tịch nước được Quốc hội bầu ra

Tổ chức và hoạt động của CQNN do pháp luật quy định: Do các CQNN được thay mặt nhà nước sử dụng QLNN nên yêu cầu phải có những quy định chặt chẽ về tổ chức, hoạt động của những cơ quan này để đảm bảo hoạt động một cách nguyên tắc, quy củ, không lạm quyền Ví dụ: Luật Tổ chức Quốc hội quy định rõ về tổ chức và hoạt động của Quốc hội

Mỗi cơ quan có những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn riêng do pháp luật quy định và được trao những quyền năng tương ứng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền

Trang 35

hạn8: Bộ máy nhà nước là hệ thống những CQNN được thành lập để thực hiện chức năng nhà nước, vì vậy, những cơ quan này cần có những quyền năng nhất định để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình Các quyền năng đó được gọi là thẩm quyền của cơ quan nhà nước, có thể hiểu đơn giản là toàn bộ những việc mà cơ quan nhà nước được làm, phải làm Thẩm quyền của CQNN được trao đều phải thông qua pháp luật để đảm bảo sự kiểm soát của nhà nước với các cơ quan này Ngoài ra, thẩm quyền của CQNN đều phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà pháp luật quy định cho nó Những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà pháp luật quy định cho từng cơ quan chính

là giới hạn mà pháp luật đặt ra với thẩm quyền của CQNN, nghĩa là, CQNN chỉ có thẩm quyền trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan đó Ví dụ: Chính phủ là CQNN có nhiệm vụ, quyền hạn được quy định trong Điều 96 Hiến pháp 2013, có

cơ cấu, tổ chức, hoạt động quy định cụ thể trong Luật Tổ chức Chính phủ Ngoài những nhiệm vụ quyền hạn nêu trên, Chính phủ không có bất kỳ nhiệm vụ, quyền hạn hay chức năng nào khác Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Chính phủ được trao quyền năng quyết định hay kiểm tra, giám sát nhưng chỉ trong phạm

vị chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình

Điểm khác biệt giữa CQNN và những bộ phận khác của nhà nước:

số lượng người nhất định, được tổ việc được thành lập để hỗ trợ cho chức và hoạt động theo quy định hoạt động của CQNN

Trang 36

để thực hiện các biện pháp khẩn

Cơ cấu, tổ Là bộ phận cấu thành nên bộ máy Là bộ phận cấu thành nên CQNN,

Quốc hội; Toà án - Luật Tổ chức

VD: Trường Đại học Ngoại thương tự chi trả hoạt động của mình

Phân tích nội dung, giá trị của nguyên tắc đảm bảo chủ quyền nhân dân trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

Nội dung nguyên tắc:

Trong các xã hội trước đây, chủ quyền quốc gia thuộc về nhà nước Nhà nước có quyền quyết định tối cao mọi vấn đề của đất nước, người dân bị coi như bề tôi của nhà nước, được gọi là thần dân, họ phải phục tùng nhà nước một cách tuyệt đối Trong xã hội hiện đại, chủ quyền quốc gia thuộc về nhân dân Nhân dân là người chủ tối cao của đất nước, là người thành lập ra nhà nước, trao quyền cho nhà nước và kiểm tra, giám sát hoạt động của nhà nước Nhân dân có quyền quyết định tối cao các vấn đề quan trọng của đất nước, nhà nước phải phục tùng quyết định của nhân dân

Hiện nay, nhìn chung Hiến pháp và pháp luật của các quốc gia trên thế giới đều quy định chủ quyền thuộc về nhân dân, quy định các hình thức để nhân dân tham gia vào

Trang 37

tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, quy định vị trí, vai trò của cơ quan dân cử trong bộ máy nhà nước, quy định những vấn đề quan trọng của đất nước mà nhà nước không được tự ý quyết định, nhà nước phải trưng cầu ý kiến nhân dân, quy định trách nhiệm của nhà nước trong việc thừa nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ các quyền con người, quyền công dân, quy định vai trò của xã hội dân sự…

các quốc gia khác nhau, nguyên tắc đảm bảo chủ quyền nhân dân được nhận thức

và thực hiện với những mức độ, phạm vi khác nhau Tại Việt Nam, chủ quyền nhân dân

đã trở thành một nguyên tắc hiến định với nội dung: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa VIệt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả QLNN thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” (khoản 2 Điều 2 Hiến pháp năm 2013)

Giá trị của nguyên tắc:

Giá trị của nguyên tắc này thể hiện hết sức rõ nét tính xã hội của nhà nước Tại đó nhà nước sẽ hoạt động vì lợi ích của nhân dân Một cách gián tiếp, nhân dân có thể chi phối, kiểm soát những quyết định quan trọng của đất nước, tránh sự lạm quyền, chuyên quyền của các CQNN Nguyên tắc cũng khẳng định vị trí quan trọng của nhân dân trong công cuộc xây dựng và điều hành bộ máy nhà nước cũng như thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của nhà nước

Như vậy, nguyên tắc này khẳng định chân lý QLNN không tự nhiên sinh ra, cũng không phải do chúa trời hay thượng đế trao cho, mà là được nhân dân tin tưởng trao cho nhà nước Do đó, đây là tiền đề, cơ sở pháp lý cho việc nhân dân có thể lật đổ nhà nước nếu nhà nước không hoàn thành nhiệm vụ của mình Từ đó, buộc bộ máy nhà nước phải

tổ chức và hoạt động hiệu quả hơn để đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của nhân dân

Phân tích nội dung, giá trị của nguyên tắc bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật

Nội dung của nguyên tắc:

Nguyên tắc bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo hiến pháp và pháp luật (nguyên tắc pháp chế) là nguyên tắc đòi hỏi việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước không thể tiến hành một cách tùy tiện, độc đoán theo ý chí cá nhân của người cầm quyền mà phải dựa trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và pháp luật

Hầu hết các nhà nước đương đại đều có Hiến pháp và pháp luật quy định khá đầy

đủ về cơ cấu bộ máy nhà nước, trình tự thành lập mới, giải thể, chia tách, sáp nhập một CQNN, cơ cấu của nó, vấn đề tuyển dụng, bổ nhiệm các thành viên trong cơ quan đó… đều phải được tiến hành theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật Về mặt hoạt động, nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan và nhân viên nhà nước phải thực hiện đúng đắn,

Trang 38

đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo đúng trình tự, thủ tục đã được Hiến pháp và pháp luật quy định, mọi sự VPPL của nhân viên và CQNN đều phải xử lý theo pháp luật

Nguyên tắc này được áp dụng rộng rãi trong nhà nước tư sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, việc thực hiện nguyên tắc này ở các nhà nước tư sản không hoàn toàn nhất quán mà có sự thay đổi qua các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản Đối với Nhà nước Việt Nam, đây cũng là một nguyên tắc hiến định và được ghi nhận trong Hiến pháp ngày càng rõ ràng, cụ thể hơn Chẳng hạn, Điều 12 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” thì đến Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp

và pháp luật…” (khoản 1 Điều 8)

Giá trị của nguyên tắc:

Đây là một trong những nguyên tắc bắt buộc trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước hiện đại Nếu như trong các kiểu nhà nước chưa có Hiến pháp và pháp luật mang tính chủ quan của giai cấp thống trị, bộ máy nhà nước thường có kết cấu lộn xộn, chồng chéo chức năng, nhiệm vụ Hoạt động của các cơ quan này cũng còn tuỳ tiện và chịu sự chi phối của nhà cầm quyền Chính vì vậy, không thể tránh khỏi việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước gây phương hại đến lợi ích của nhiều cá nhân tổ chức trong xã hội, thậm chí là lợi ích của chính bản thân nhà nước Do đó, ngay từ khi nhà nước tư sản còn chưa ra đời, người ta đã nghĩ rằng cần phải có công cụ để chống lại sự tuỳ tiện của bộ máy nhà nước Khi nhà nước tư sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa ra đời, Hiến pháp và pháp luật cùng với các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước cũng theo đó ra đời, trở thành công cụ hiệu quả để chống lại sự tuỳ tiện của bộ máy nhà nước Trong đó, nguyên tắc pháp chế là nguyên tắc quan trọng, đảm bảo cho Hiến pháp và pháp luật được thực thi trên thực tế Khi đó, bộ máy nhà nước không thể nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Hiến pháp và pháp luật, nhờ đó mà tránh được sự tuỳ tiện trong tổ chức và hoạt động của các CQNN này

Ngoài ra, nguyên tắc này tạo cơ sở cho tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trở nên hiệu quả, qua đó củng cố niềm tiên của nhân dân vào một bộ máy nhà nước trong sạch, vững

Phân tích nội dung, giá trị của nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tư sản

Định nghĩa: Nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tư sản là nguyên tắc cơ bản, quan trọng bậc nhất trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tư sản và hiện được áp dụng vào tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước của rất nhiều nhà nước đương đại

Trang 39

Nguyên tắc này bao gồm những nội dung cơ bản sau:

Quyền lực nhà nước được phân chia thành nhiều loại quyền khác nhau như quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp và được trao cho các CQNN khác nhau thực hiện một cách độc lập, mỗi cơ quan chỉ thực hiện một loại quyền, không một cơ quan nào nắm trọn vẹn QLNN, cũng như không một cơ quan nào có thể “lấn sân” sang hoạt động của cơ quan khác Thực chất của sự phân chia quyền lực là sự phân định một cách rạch ròi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các CQNN, đồng thời bảo đảm sự chuyện môn hóa trong việc thực hiện QLNN Các cơ quan lập pháp hành pháp, tư pháp đều thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trên cơ sở pháp luật

Giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp còn có sự kiềm chế, đối trọng với nhau theo phương châm không cơ quan nào nằm ngoài sự kiểm soát, giám sát từ phía cơ quan khác nhằm ngăn ngừa tình trạng lạm quyền, chuyên quyền, độc đoán hoặc thiếu trách nhiệm trong việc thực hiện QLNN, qua đó bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các cá nhân, tổ chức trong xã hội cũng như có thể tránh được những mối nguy khác Sự kiểm soát, giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp cũng thể hiện sự phối hợp với nhau nhằm tạo nên sự thống nhất của QLNN

các nhà nước tư sản, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể, việc áp dụng nguyên tắc này trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước không hoàn toàn giống nhau Thực tế cho thấy, có thể có ba mô hình áp dụng nguyên tắc này trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tư sản, đó là mô hình phân quyền cứng rắn, mô hình phân quyền mềm dẻo, mô hình phân quyền hỗn hợp (trung gian) Sự khác nhau giữa ba mô hình này thể hiện ở cơ cấu các thiết chế quyền lực tối cao, địa vị của từng thiết chế cũng như mối quan hệ giữa chúng

Trong thực tiễn tổ chức bộ máy nhà nước, sự phân chia QLNN không chỉ giới hạn

ở việc phân quyền theo chiều ngang (lập pháp, hành pháp, tư pháp) mà còn diễn ra theo chiều dọc, giữa nhà nước liên bang với nhà nước thành viên, giữa chính quyền trung ương với chính quyền địa phương giữa các cấp chính quyền địa phương với nhau

Giá trị của nguyên tắc:

Ngăn ngừa tình trạng lạm quyền, chuyên quyền, độc đoán hoặc thiếu trách nhiệm trong việc thực hiện QLNN, qua đó bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các

cá nhân, tổ chức trong xã hội cũng như có thể tránh được những mối nguy khác Đây chính là giá trị cốt lõi mà nguyên tắc này đem lại;

Đảm bảo tính minh bạch, hiệu quả trong tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước: Khi các CQNN được trao những quyền năng khác nhau và thêm vào đó là quyền năng giám sát, kiềm chế, làm đối trọng với các cơ quan khác, những cơ quan này sẽ phải hoạt động cẩn thận, tuân thủ quy định pháp luật bởi luôn có cơ chế giám sát hiện diện Khi các CQNN tự giác tuân thủ pháp luật và sử dụng quyền lực một cách đúng đắn thì hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội sẽ được cải thiện;

Trang 40

Củng cố niềm tin của người dân vào một máy nhà nước trong sạch, hiệu quả: Do QLNN không nằm trọn vẹn trong tay bất kỳ cơ quan nào nên việc lạm dụng QLNN sẽ không thể diễn ra giống như trong nhà nước chủ nô hay nhà nước phong kiến Quyền năng được phân chia thì vẫn có khả năng các cơ quan nắm giữ các quyền năng này lạm quyền Tuy nhiên, cơ chế đối trọng giữa các cơ quan được áp dụng giúp minh bạch hoá

và tạo hiệu quả quản lý Khi nhà nước hoạt động hiệu quả, niềm tin của nhân dân vào nhà nước sẽ được củng cố, duy trì và phát triển

Phân tích nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng cộng sản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước XHCN

Đây là nguyên tắc mang tính chất sống còn của mọi nhà nước XHCN Đối với các nước tư bản chủ nghĩa, các cuộc bầu cử thực chất là các cuộc đấu tranh giữa các đảng phái để giành và giữ QLNN Chính đảng thắng thế sẽ lồng ghép quan điểm, chủ trương, đường lối của mình vào chính sách của nhà nước, do đó, định hướng, mục tiêu của nhà nước có thể sẽ thay đổi sau mỗi kỳ bầu cử Các nước xã hội chủ nghĩa xây dựng nhà nước kiểu mới trong điều kiện vô cùng phức tạp: bên ngoài, chủ nghĩa đế quốc vẫn luôn nuôi dưỡng âm mưu tiêu diệt nhà nước vô sản; bên trong, các thế lực thù địch, giai cấp bóc lột

cũ vẫn nuôi ý đồ lật đổ chính quyền nhân dân Bên cạnh đó, xây dựng chủ nghĩa xã hội

là một con đường gian khổ, không những cần kiên định mục tiêu lý tưởng, mà đội ngũ lãnh đạo phải là tổ chức có đủ uy tín, phẩm chất chính trị đại diện quyền lợi của quần chúng nhân dân Do đó, chỉ có Đảng cộng sản là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại diện cho lợi ích của nhân dân lao động và toàn thể dân tộc mới có thể lãnh đạo đạo được cách mạng đi đến thắng lợi Như vậy, Đảng cộng sản là lực lượng lãnh đạo nhà nước

xã hội chủ nghĩa

Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với nhà nước là bảo đảm môi trường, điều kiện pháp lý giữ vững vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước Để làm được điều đó, trước hết, Đảng cộng sản phải là tổ chức duy nhất lãnh đạo cả hệ thống chính trị Cần phải thể chế hóa vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản trong các VBQPPL Hiện tại, hiến pháp các nước xã hội chủ nghĩa đều quy định về vai trò lãnh đạo trung tâm của Đảng cộng sản đối với nhà nước Bên cạnh đó, khi đã có pháp luật, hoạt động của Đảng cộng sản phải tuân thủ quy định của pháp luật, không được tự cho mình đứng trên hay đứng ngoài vòng pháp luật Chỉ như vậy mới giữ vững cơ sở pháp lý cho

sự lãnh đạo của Đảng

Nội dung nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng cộng sản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước XHCN được thể hiện trên 03 phương diện: tổ chức nhân sự, thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong tổ chức và hoạt động của các CQNN

Ngày đăng: 29/09/2021, 17:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w