Sáng kiến kinh nghiệm môn Sinh học SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ CẢM ỨNG Ở THỰC VẬT” CHO HỌC SINH LỚP 11 ........................................................................................................................
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
CHỨC VỤ: Giáo viên THPT
ĐƠN VỊ CÔNG TÁC: Trường THPT
, Tháng 9 năm 2021
Trang 2SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
CHỨC VỤ: Giáo viên THPT
LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: Sinh học THPT
ĐƠN VỊ CÔNG TÁC: Trường THPT
, Tháng 9 năm 2021
Trang 3MỤC LỤC
TRANG
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT 2
PHẦN A: MỞ ĐẦU 3
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3
II MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI 2
III Ý NGHĨA VÀ TÁC DỤNG THỰC TIỂN CỦA ĐỀ TÀI 3
IV ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
V THỜI GIAN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 4
PHẦN B: NỘI DUNG 5
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN 5
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 5
1.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT TRONG SOẠN CHỦ ĐỀ CẢM ỨNG Ở THỰC VẬT 25
2.1 Phân tích nội dung kiến thức chương trình hiện hành và đề xuất các chủ đề dạy học phần “cảm ứng” ở thực vật– sinh học 11 – trung học phổ thông 25
2.2 Quy trình thiết kế và tổ chức hoạt động dạy học kiến thức phần cảm ứng – sinh học 11 – THPT bằng phương pháp bàn tay nặn bột 26
2.3 Đề xuất các bước chính của phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy học chủ đề “Cảm ứng ở thực vật” 27
2.4 Thiết kế bài soạn theo phương pháp bàn tay nặn bột trong chủ đề “Cảm ứng ở thực vật” 33
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 59
I KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 59
II BÀI HỌC KINH NGHIỆM 65
PHẦN C: KẾT LUẬN 66
I KẾT LUẬN 67
II ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN TIẾP CỦA ĐỀ TÀI 67
III KIẾN NGHỊ 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
Trang 4STT CỤM TỪ VIẾT TẮT CỤM TỪ
4 THCS & THPT Trung học cơ sở và trung học phổ thông
Trang 5PHẦN A: MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Như chúng ta đã biết, không có phương pháp dạy học nào là vạn năng.Việc tìm kiếm và vận dụng các phương pháp tiên tiến vào quá trình dạy học cácmôn học ở Trung học nói chung và môn Sinh học nói riêng là vấn đề quan trọngnhằm hình thành cho học sinh phương pháp học tập độc lập, sáng tạo, qua đónâng cao chất lượng dạy học Một trong những phương pháp có nhiều ưu điểm,đáp ứng được mục tiêu yêu cầu đổi mới và vận dụng tốt vào quá trình dạy họcmôn Sinh học hiện nay đó là phương pháp “Bàn tay nặn bột” Trong những nămgần đây phương pháp ‘Bàn tay nặn bột” bước đầu được đưa vào thử nghiệmtrong dạy học trong các trường Phổ thông Việc nghiên cứu áp dụng phươngpháp này vào dạy học sao cho phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường làvấn đề hết sức cần thiết góp phần đổi mới phương pháp dạy học Có như vậymới hình thành cho học sinh phương pháp học tập đúng đắn, giúp họ thực sự trởthành “chủ thể” tìm kiếm tri thức
Mục tiêu của môn Sinh học 11 là giúp học sinh có một số kiến thức cơbản ban đầu về sự trao đổi chất; sự sinh sản của động vật, thực vật ; Hình thành
và phát triển cho các em những kỹ năng cần thiết như quan sát và làm một số thínghiệm thực hành khoa học đơn giản gần gũi với đời sống sản xuất, nêu thắcmắc và đặt câu hỏi trong quá trình học tập, biết tìm thông tin để giải đáp Biếtdiễn đạt những biểu cảm bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ, phân tích so sánhrút ra những dấu hiệu chung và riêng của một số sự vật hiện tượng đơn giảntrong tự nhiên Qua đó hình thành và phát triển những thái độ và hành vi như:Ham hiểu biết khoa học, có ý thức vận dụng những kiến thức đã học vào đờisống, yêu con người, thiên nhiên, đất nước, yêu cái đẹp Có ý thức và hành độngbảo vệ môi trường xung quanh
Từ phân tích những đặc điểm trên, tôi nhận thấy chủ đề Cảm ứng ở Thực
Trang 6pháp dạy học mới vào giảng dạy đặc biệt là phương pháp “Bàn tay nặn bột”.Hướng đổi mới này không những nâng cao hiệu quả dạy học môn Sinh học màcòn phù hợp với xu hướng đổi mới phương pháp dạy học và yêu cầu đào tạo conngười trong giai đoạn hiện nay
Tôi quyết định chọn và thực hiện đề tài “Vận dụng phương pháp bàn tay
nặn bột trong dạy học chủ đề Cảm ứng ở Thực vật” cho học sinh lớp 11,
trường THCS & THPT Hoàng Hoa Thám làm vấn đề nghiên cứu.
II MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
1 Mục đích:
Sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học kiến thức “Cảmứng” ở Thực vật – Sinh học 11 – THPT nhằm phát huy tính tích cực học tập củahọc sinh
2 Yêu cầu:
- Nghiên cứu ý nghĩa phương pháp bàn tay nặn bột và khả năng áp dụngtrong dạy học Sinh học nhằm phát triển khả năng nghiên cứu của HS
- Nghiên cứu về học tập để phát triển kĩ năng nghiên cứu của HS
-Phân tích chương trình và sách giáo khoa Sinh học 11 THPT phần "Cảmứng ở thực vật" và làm rõ những khả năng phát triển kĩ năng nghiên cứu của họcsinh
- Thiết kế bài dạy có sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy họcphần "Cảm ứng ở thực vật", Sinh học 11, THPT
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm tại trường THCS & THPT Hoàng HoaThám
- Tổng hợp, phân tích, xử lý và biểu diễn kết quả thực nghiệm sư phạm
III Ý NGHĨA VÀ TÁC DỤNG THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Các kết quả thu được trong quá trình thực hiện đề tài góp phần hoànthiện lý thuyết về cách thức phát triển kĩ năng nghiên cứu khoa học của HStrong hệ thống kiến thức phương pháp dạy học Sinh học
Trang 7- Sự hoàn thiện đề tài sẽ trở thành nguồn tài liệu tham khảo giúp cho giáoviên và học sinh THPT có cái nhìn toàn diện, rõ nét hơn về thực tế so với trên lýthuyết
- Thiết kế được các chủ đề học tập trong dạy học kiến thức “Cảm ứng” ởThực vật – Sinh học 11 – THPT
- Xây dựng được quy trình thiết kế và tổ chức dạy học bằng phương phápBàn tay nặn bột trong dạy học “Cảm ứng” ở Thực vật – Sinh học 11 – THPT
- Đề tài này còn giúp giáo viên và học sinh học tốt môn sinh học nóichung và chuyên đề cảm ứng nói riêng Qua đó nâng cao kết quả thi học sinhgiỏi cấp tỉnh, tỉ lệ xét tuyển các ngành khối B của các trường Đại học, Cao đẳng,phát triển năng lực và tư duy của học sinh
IV ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp bàn tay nặn bột.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu phát triển kĩ năng
nghiên cứu khoa học của HS trong quá trình dạy học phần "Cảm ứng ở thực vật"Sinh học 11, THPT thông qua phương pháp bàn tay nặn bột
- Nghiệm thể nghiên cứu: HS lớp 11, trường THCS & THPT Hoàng Hoa
Thám – Thụy Lôi - Tiên Lữ - Hưng Yên
V THỜI GIAN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
- Từ 15/8/2018 đến 15/3/2019 tiến hành sưu tập tài liệu về phương phápdạy học bàn tay nặn bột
- 16/3/2019 đến 10/1/2020 tiến hành giảng dạy để đánh giá hiệu quả tácđộng của đề tài
- 11/1/2020 đến 10/3/2020 tiến hành viết đề tài
Trang 8PHẦN B: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1 Khái quát về phương pháp Bàn tay nặn bột
Bàn tay nặn bột là một phương pháp dạy học tích cực dựa trên thí nghiệmnghiên cứu, áp dụng cho việc giảng dạy các môn khoa học tự nhiên Phươngpháp dạy học Bàn tay nặn bột có tên tiếng Pháp là La main à la pâte - viết tắt làLAMAP, tiếng Anh là Hands-on, đều có nghĩa là “bắt tay vào hành động” Đây
là phương pháp dạy học khoa học dựa trên cơ sở của sự tìm tòi – nghiên cứu, ápdụng cho việc dạy học các môn khoa học tự nhiên Phương pháp này được khởixướng bởi Giáo sư Georges Charpak (Giải Nobel Vật lý năm 1992).[7]
Theo phương pháp Bàn tay nặn bột, dưới sự giúp đỡ của giáo viên, chínhhọc sinh tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông quatiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra để từ đó hìnhthành kiến thức cho mình Đứng trước một sự vật hiện tượng, học sinh có thểđặt ra các câu hỏi, các giả thuyết từ những hiểu biết ban đầu, tiến hành thựcnghiệm nghiên cứu để kiểm chứng và đưa ra những kết luận phù hợp thông quathảo luận, so sánh, phân tích, tổng hợp kiến thức Mục tiêu của phương phápBàn tay nặn bột là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá và say mê khoa họccủa học sinh Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, phương pháp Bàntay nặn bột còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngônngữ nói và viết cho học sinh
1.1.1.1 Khái niệm “Bàn tay nặn bột”.
Theo Gioerges Charpak thì:
“Bàn tay nặn bột” vượt quá sự tách đôi truyền thống giữa phương pháp vàchương trình Trong đó, trẻ em hành động, thí nghiệm, nghiên cứu, tìm kiếm và
có những câu hỏi đi kèm, hướng tới xây dựng những kiến thức cơ bản để hiểubiết thế giới tự nhiên và kỹ thuật
Trang 9a Giải thích về thuật ngữ “Bàn tay nặn bột”.
“Bàn tay nặn bột” nói vậy để cho ngắn gọn nhưng thực ra, nó huy động cảnăm giác quan: xúc giác cũng như thị giác, thính giác và có cả khứu giác, vị giácnữa để phát triển trong các em sự tiếp xúc diệu kỳ với thế giới bao quanh, để các
em học cách khám phá và tìm hiểu nó
b Ý nghĩa của thuật ngữ “Bàn tay nặn bột”:
- Bàn tay - tượng trưng cho việc học sinh tự hành động, trực tiếp hành động
- Nặn bột - tượng trưng cho sản phẩm của chính các em trong hoạt động tự tìmtòi, sáng tạo
- Lòng bàn tay tượng trưng cho trái đất tròn Năm ngón tay tượng trưng cho trẻ
em ở năm châu lục khác nhau
Ý nói: Toàn trẻ em trên trái đất đều cùng nhau tham gia vào chương trình
học tiên tiến, thú vị này để xây dựng một trái đất đẹp trong tương lai
1.1.1.2 Khái niệm “Bàn tay nặn bột”của nhóm nghiên cứu:
Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là một phương pháp dạy học mà trong
đó, học sinh tiến hành các thao tác trí tuệ có sự hỗ trợ của một sô dụng cụ và những giác quan để nghiên cứu, tìm tò, khám phá ra tri thức mới Tất cả suy nghĩ và kết quả được học sinh mô tả lại bằng chữ viết, lời nói, hình vẽ.
*Hay nói cách khác:
“ Bàn tay nặn bột” là một phương pháp dạy học được tổ chức nhằm giúp học sinh tự phát hiện ra tri thức khoa học Trên cơ sở vận dụng tất cả các giác quan của mình, kinh nghiệm, tri thức cũ và tham gia làm thực nghiệm khoa học.
Như vậy, phương pháp Bàn tay nặn bột đề cao vai trò chủ thể tích cực, độc
lập, sáng tạo của HS, hình thành cho các em phương pháp học tập đúng đắn Các
em học tập nhờ hành động, cuốn hút mình trong hành động Các em sẽ tiến bộdần bằng cách tự nêu những thắc mắc, nghi vấn, hỏi đáp với bạn, trình bày quan
Trang 10điểm của mình, đối lập với các quan điểm của người khác, tranh luận, tạo ra môitrường học tập tích cực.
1.1.2 Một số đặc điểm của phương pháp “ Bàn tay nặn bột”.
- Mục tiêu hàng đầu của phương pháp là giúp học sinh tiếp cận dần các kháiniệm khoa học và kỹ thuật thực hành, kèm theo sự vững vàng trong diễn đạt,trong nói và viết
- Phương pháp “Bàn tay nặn bột” đưa ra một tiến trình ưu tiên cho việc xâydựng tri thức bằng hoạt động, thí nghiệm và thảo luận
- Đó là sự thực hành khoa học bằng hành động hỏi đáp, tìm tòi, thực nghiệm,xây dựng một tập thể tốt và thu được kiến thức cơ bản để hiểu biết thế giới tựnhiên và kĩ thuật
- Phương pháp này đặt học sinh vào vị trí của một nhà nghiên cứu khoa học Các
em tự mình tìm tòi, khám phá ra kiến thức của bài học thông qua việc tiến hànhcác thí nghiệm khoa học, trao đổi, thảo luận nhóm dưới sự hướng dẫn của giáoviên
- Học sinh học tập nhờ hành động Các em học tập tiến bộ dần bằng cách tự nghivấn Bạn bè trao đổi, quan niệm về một vấn đề khoa học nào đó với nhau vàđược kiểm tra (sự đúng sai) bằng cách tiến hành làm các thí nghiệm
- Trong phương pháp “Bàn tay nặn bột”, học sinh được thoải mái đưa ra quanđiểm của mình về sự vật, hiện tượng Đó là những hiểu biết ban đầu của họcsinh Những hiểu biết này có thể đúng, chưa đầy đủ, hoặc có thể sai, đôi khi làngây thơ, ngờ nghệch nhưng vẫn được tôn trọng, động viên và khích lệ Khi họcsinh đưa ra biểu tượng ban đầu của mình về vấn đề đặt ra, giáo viên không đưa
ra lời nhận xét đúng, sai mà để các em tự nhận thấy được trong quá trình kiểmtra giả thuyết
* Đối với học sinh: Khi tồn tại quan niệm sai hoặc không thích hợp, các em sẽ
được tự mình nhận thức lại, sửa chữa lại ở cuối tiết học hoặc trong quá trình
Trang 11diễn biến của tiết học Do có sự khác nhau về quan niệm nên gây ra sự tranhluận, thắc mắc mà muốn được tháo gỡ thì phải đi tìm câu trả lời chính xác (tìm
ra chân lý khoa học) Vậy muốn có câu trả lời thì buộc phải suy nghĩ, mày mò
để tìm một hướng đi hiệu quả và tiến hành hành động để đi đến đích cuối cùng.Tóm lai, đối với học sinh, biểu tượng ban đầu là điểm xuất phát, là nền tảng màtrên đó kiến thức sẽ được thành lập
* Đối với giáo viên: Giáo viên biết được sự hiểu biết của học sinh về vấn đề sắp
học đạt ở mức độ nào để tính đến những chướng ngại ẩn ngầm, nhận thức đượccon đường còn phải trải qua giữa các quan niệm của người học với mục đích củagiáo viên để tìm cách xử lý thích hợp như: xác định một cách thực tế về trình độbắt buộc phải đạt được, lựa chọn những tình huống sư phạm, các kiểu can thiệp
và những công cụ so với kiến thức hoa học được coi là chuẩn thích đáng nhất
và cuối cùng để có sự đánh giá chuẩn mực, sát thực nhất
1.1.3 Nguyên tắc về tiến trình sư phạm trong sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột
1.1.3.1 Học sinh quan sát một sự vật hay một hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũi với đời sống, dễ cảm nhận và các em sẽ thực hành trên chúng
- Sự vật ở đây được hiểu rộng bao gồm cả những sự vật có thể sờ được
bằng tay (cái lá, hạt đậu, con thỏ) và tiến hành các thí nghiệm với nó và cả những sự vật không thể tiếp xúc được ví dụ như tế bào quang hợp, ADN, mặt
trời…
- Đối với học sinh trung học, vốn sống của các em còn ít, vì vậy các sự
vật hiện tượng càng gần gũi với học sinh càng kích thích sự tìm hiểu, khuyến khích sự tìm tòi của các em.
1.1.3.2 Trong quá trình tìm hiểu, học sinh lập luận, bảo vệ ý kiến của mình, đưa ra tập thể thảo luận những ý nghĩ và những kết luận cá nhân, từ đó
có những hiểu biết mà nếu chỉ có những hoạt động, thao tác riêng lẻ không đủ tạo nên
Trang 12- Nguyên tắc này nhấn mạnh đến sự khuyến khích học sinh suy nghĩ vàđưa ra những lập luận để bảo vệ cho ý kiến cá nhân của mình, nhấn mạnh đếnvai trò của hoạt động nhóm trong học tập Chỉ khi trao đổi những suy nghĩ cánhân của học sinh với những học sinh khác, học sinh mới nhận thấy những mâuthuẫn trong nhận thức.
- Việc trình bày của học sinh là một yếu tố quan trọng để rèn luyện ngônngữ Vai trò của giáo viên là trung gian giữa kiến thức khoa học và học sinh.Giáo viên sẽ tác động vào những thời điểm nhất định để định hướng sự thảoluận và giúp học sinh thảo luận xung quanh vấn đề mà các em đang quan tâm
1.1.3.3 Những hoạt động do giáo viên đề xuất cho học sinh được tổ chức theo tiến trình sư phạm nhằm nâng cao dần mức độ học tập
- Các hoạt động này làm cho các chương trình học tập được nâng cao lên
và dành cho học sinh một phần tự chủ khá lớn.
- Mức độ nhận thức được hình thành theo quy luật từ thấp đến cao, từ đơn
giản đến phức tạp Để học sinh hiểu sâu sắc kiến thức, yêu cầu của sự hình thành kiến thức cũng theo quy tắc này Từ hiểu biết cơ bản, rồi nâng dần lên theo cấp
độ tương ứng với khả năng nhận thức của học sinh sẽ giúp học sinh tiếp thu kiến thức hiệu quả và chắc chắn.
- Giáo viên dành sự tự chủ cho học sinh có nghĩa là tôn trọng và lắng
nghe ý kiến của học sinh, chấp nhận các lỗi sai và sự hiểu lầm ban đầu, học sinh được chủ động làm thí nghiệm, chủ động trao đổi, thảo luận…Ngoài ra, giáo viên dành sự tự chủ cho học sinh cũng chính là thay đổi vai trò của giáo viên trong quá trình dạy học từ giáo viên đóng vai trò trung tâm chuyển sang học sinh đóng vai trò trung tâm, chủ động chiếm lĩnh kiến thức.
1.1.3.4 Cần một lượng tối thiểu là 2 giờ/tuần trong nhiều tuần liền cho một đề tài Sự liên tục của các hoạt động và những phương pháp giáo dục được đảm bảo trong suốt thời gian học tập
- Một chủ đề khoa học được giảng dạy trong nhiều tuần sẽ giúp cho học
sinh có thời gian để tìm hiểu, nghiên cứu, xây dựng và hình thành kiến thức.
Trang 13Điều này cũng có lợi cho học sinh trong việc khắc sâu, ghi nhớ kiến thức thay vìgiảng dạy ồ ạt, nhồi nhét kiến thức, "cưỡi ngựa xem hoa".
- Các kiến thức trong chương trình các bậc học, lớp học đều có sự kếthừa, liên quan với nhau Khi thiết kế hoạt động dạy học, giáo viên cần chú ýđến tính kế thừa của các vấn đề đã được đưa ra ở cấp học dưới Càng có sự traođổi thông tin, thống nhất giữa các giáo viên của các bậc học, các lớp thì hoạtđộng dạy học càng có hiệu quả
1.1.3.5 Bắt buộc mỗi học sinh phải có một quyển vở thực hành do chính các em ghi chép theo cách thức và ngôn ngữ của các em
- Vở thực hành là một đặc trưng quan trọng của phương pháp Bàn tay nặnbột
Ghi chép trong vở thực hành được thực hiện bởi từng cá nhân học sinh Thông
qua vở thực hành, giáo viên cũng có thể tìm hiểu sự tiến bộ trong nhận thức hay biết mức độ nhận thức của học sinh để điều chỉnh hoạt động dạy học và hàm lượng kiến thức cho phù hợp Ghi chép trong vở thực hành không những giúp học sinh làm quen với công tác nghiên cứu khoa học mà còn giúp học sinh rèn
luyện ngôn ngữ
1.1.3.6 Mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh dần dần các khái niệm khoa học
và kĩ thuật được thực hành, kèm theo là sự củng cố ngôn ngữ viết và nói của học sinh
- Nguyên tắc này nhấn mạnh mối liên hệ giữa dạy học kiến thức và rèn
luyện ngôn ngữ (nói và viết) cho học sinh Sự hiểu kiến thức nội tại bên trong học sinh sẽ được biểu hiện ra bằng ngôn ngữ khi học sinh phát biểu, trình bày, viết Giáo viên cần quan tâm, tôn trọng và lắng nghe học sinh cũng như yêu cầu các học sinh khác lắng nghe ý kiến của bạn mình Các thuật ngữ khoa học, khái niệm khoa học cũng được hình thành dần dần, giúp học sinh nắm vững và hiểu
sâu sắc
1.1.4 Những đối tượng tham gia
Trang 141.1.4.1 Gia đình, xã hội được khuyến khích thực hiện các công việc của lớp học
- Nguyên tắc này nhấn mạnh vai trò của gia đình và xã hội trong việc phối
kết hợp với nhà trường để thực hiện tốt quá trình giáo dục học sinh.
1.1.4.2 Giáo viên có thể tìm thấy trên internet các website có nội dung về những kiến thức đã được thực hiện, những ý tưởng về các hoạt động, những giải pháp thắc mắc Giáo viên cũng có thể tham gia hoạt động tập thể bằng trao đổi với các đồng nghiệp, với các nhà sư phạm và với các nhà khoa học Giáo viên
là người chịu trách nhiệm giáo dục và đề xuất những hoạt động của lớp mình phụ trách
- Từ sự cần thiết phải có nguồn thông tin, các tư liệu giúp đỡ cho giáo
viên được đặt ra cấp thiết Giáo viên cần được quan tâm giúp đỡ và hỗ trợ trong quá trình chuẩn bị các tiết học.
- Internet và các trang web là một kênh hỗ trợ quan trọng cho giáo viên,
nơi mà giáo viên có thể trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm với nhau, đề xuất những vấn đề vướng mắc, các câu hỏi cho các chuyên gia, các nhà nghiên cứu
để được giải đáp và giúp giáo viên thực hiện tốt kế hoạch dạy học của mình.
1.1.5 Bản chất của việc dạy – học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”.
Dạy học theo phương pháp “ Bàn tay năn bột, các em có thể tiến hànhnhững nghiên cứu dẫn đến sự hiểu biết Nhưng các em cần được hướng dẫn vàgiúp đỡ bởi các câu hỏi của thầy giáo và hoạt động trong khuôn khổ một đề tài
đã được xây dựng chứ không phải chỉ lựa chọn theo các “cơ hội” Trong quátrình nghiên cứu, học sinh phải sử dụng tất cả các giác quan để tìm ra tri thứcmới Các em cần có vở ghi chép cá nhân để ghi lại những ý tưởng của mình,những điều đã được sửa chữa lại, cho phép giữ lại vết tích của những thửnghiệm liên tiếp, đánh dấu được tiến trình nghiên cứu Vở ghi chép được họcsinh giữ suốt trong thời gian học Trung học và cuối cấp học sẽ hình thành mộttập vở ghi nhớ đặc biệt
Trang 15Như vậy bản chất của “ Bàn tay nặn bột” không phải là phương thức mới chophép các em hội nhập tốt hơn vào đời sống tự nhiên mà tạo cho các em một cách
xử lý độc lập, có phần nào giống như một nhà nghiên cứu Khi xử lý độc lập,học sinh sử dụng giác quan và một số dụng cụ hỗ trợ cho các thao tác trí tuệ Dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” không đòi hỏi phải sử dụngnhững dụng cụ thí nghiệm phức tạp, hiện đại, đắt tiền mà các dụng cụ ở đâykhông quá tốn kém, đa số là các vật dụng dễ kiếm và dễ sử dụng, không nặng
nề Nó được sử dụng hàng ngày với vài vật liệu đơn giản là đủ Các thao tác trênnhững dụng cụ thí nghiệm cũng hết sức đơn giản và không cần có hiểu biết kĩthuật gì đặc biệt Các em có thể thử nghiệm nhu cầu của cây trồng bằng cáchthay đổi các thông số : đất, nước, ánh sáng, nhiệt độ, không khí, bằng cách sosánh và phân tích kết quả thực nghiệm Các em sẽ phát hiện ra rằng: chỉ cần thayđổi mỗi lần một thông số là có thể có những kết luận khác nhau.Và trong quátrình ấy, học sinh sẽ đặt ra những câu hỏi thắc mắc: Tại sao có những loại câysống bám trên cây khác mà không cần đến yếu tố đất? Tại sao sự nảy mầmkhông chỉ xảy ra trong đất mà còn cả trên nhựa, tờ giấy? Như vậy trong hạt cógì? Cây trồng có ăn đất không? Tại sao lại bón phân cho cây ?
1.1.6 Tiến trình dạy học theo phương pháp Bàn tay nặn bột
Phương pháp Bàn tay nặn bột đề xuất một tiến trình ưu tiên xây dựng trithức bằng cách khai thác, thực nghiệm và thảo luận, tiến trình đó đi theo 5 bướcsau:
Trang 16Sơ đồ các bước phương pháp Bàn tay nặn bột
Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề
- Tình huống xuất phát hay tình huống nêu vấn đề là một tình huống do
giáo viên chủ động đưa ra như là một cách dẫn nhập vào bài học Tình huống xuất phát phải ngắn gọn, gần gũi dễ hiểu đối với học sinh Tình huống xuất phát nhằm lồng ghép câu hỏi nêu vấn đề Tình huống xuất phát càng rõ ràng thì việc dẫn nhập cho câu hỏi nêu vấn đề càng dễ Tuy nhiên có những trường hợp không nhất thiết phải có tình huống xuất phát mới đề xuất được câu hỏi nêu vấn
đề (tùy vào từng kiến thức và từng trường hợp cụ thể).
- Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học (hay môdun kiến thức mà
học sinh sẽ được học) Câu hỏi nêu vấn đề cần đảm bảo yêu cầu phù hợp với trình độ, gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu của học sinh nhằm chuẩn bị tâm thế cho học sinh trước khi khám phá, lĩnh
hội kiến thức Giáo viên phải dùng câu hỏi mở, tuyệt đối không được dùng câuhỏi đóng (trả lời có hoặc không) đối với câu hỏi nêu vấn đề Câu hỏi nêu vấn đềcàng đảm bảo các yêu cầu nêu ra ở trên thì ý đồ dạy học của giáo viên càng dễthực hiện thành công
Bước 2: Bộc lộ biểu tượng ban đầu
Làm bộc lộ quan niệm ban đầu để từ đó hình thành các câu hỏi của học
sinh là bước quan trọng, đặc trưng của phương pháp Bàn tay nặn bột Giáo viên nên khuyến khích học sinh nêu những suy nghĩ, nhận thức ban đầu của mình trước khi được học kiến thức mới Để làm bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh, giáo viên có thể yêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức cũ đã học có liên quan đến kiến thức mới của bài học Khi yêu cầu học sinh trình bày quan niệm ban đầu, giáo viên có thể yêu cầu bằng nhiều hình thức biểu hiện của học sinh như
có thể là bằng lời nói (thông qua phát biểu cá nhân), bằng cách viết hay vẽ để biểu hiện suy nghĩ Từ những quan niệm ban đầu của học sinh, giáo viên giúp học sinh đề xuất các câu hỏi Chú ý xoáy sâu vào những quan niệm liên quan
đến kiến thức trọng tâm của bài học
Trang 17Bước 3 : Đề xuất câu hỏi và phương án thí nghiệm, tìm tòi – nghiên cứu
Đề xuất câu hỏi :
- Từ những khác biệt và phong phú về biểu tượng ban đầu của học sinh,
giáo viên giúp học sinh đề xuất các câu hỏi từ những sự khác biệt đó Chú ý xoáy sâu vào những sự khác biệt liên quan đến kiến thức trọng tâm của bài học.
Đề xuất phương án thí nghiêm, tìm tòi - nghiên cứu
- Từ các câu hỏi được đề xuất, giáo viên nêu câu hỏi cho học sinh, đề nghịcác em đề xuất các giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm tìm tòi –
nghiên cứu để để kiểm chứng các giả thuyết nhằm tìm câu trả lời cho các câu hỏi đó Các câu hỏi có thể là : “Theo các em, làm thế nào để chúng ta tìm câu trả lời cho các câu hỏi nói trên?”; “Bây giờ các em hãy suy nghĩ để tìm phương pháp giải quyết cho các câu hỏi mà lớp mình đặt ra!”,
- Các phương án thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu ở đây là các phương án
để tìm ra câu trả lời như quan sát, thực hành thí nghiệm, nghiên cứu tài liệu…
- Tùy theo kiến thức hay vấn đề đặt ra mà học sinh có thể đề xuất cácphương án thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu khác nhau Trong quá trình đề xuấtphương án thực nghiệm, nếu ý kiến của học sinh nêu lên có ý đúng nhưng ngôn
từ chưa chuẩn xác hoặc diễn đạt chưa rõ thì giáo viên nên gợi ý và từng bướcgiúp học sinh hoàn thiện diễn đạt Giáo viên cũng có thể yêu cầu các học sinhkhác chỉnh sửa cho rõ ý Đây là một vấn đề quan trọng trong việc rèn luyệnngôn ngữ cho học sinh Trường hợp học sinh đưa ra ngay phương án đúngnhưng vẫn còn nhiều phương án khác khả thi thì giáo viên nên tiếp tục hỏi cáchọc sinh khác để làm phong phú các phương án tìm câu trả lời Giáo viên có thểnhận xét trực tiếp nhưng yêu cầu các học sinh khác cho ý kiến về phương pháp
mà học sinh đó nêu ra thì tốt hơn Phương pháp Bàn tay nặn bột khuyến khíchhọc sinh tự đánh giá ý kiến của nhau hơn là của giáo viên nhận xét
Trang 18- Sau khi học sinh đề xuất được phương án thí nghiệm tìm tòi - nghiêncứu, giáo viên nêu nhận xét chung và quyết định tiến hành phương án với cácdụng cụ đã chuẩn bị sẵn.
Bước 4 : Tiến hành thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu
- Từ các phương án thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu mà học sinh nêu ra,giáo viên khéo léo nhận xét và lựa chọn dụng cụ thí nghiệm hay các thiết bị dạyhọc thích hợp để học sinh tiến hành nghiên cứu Nếu phải làm thí nghiệm thì ưutiên thực hiện thí nghiệm trực tiếp trên vật thật Một số trường hợp không thểtiến hành thí nghiệm trên vật thật có thể làm trên mô hình, hoặc cho học sinhquan sát tranh vẽ Đối với phương pháp quan sát, giáo viên cho học sinh quansát vật thật trước, sau đó mới cho học sinh quan sát tranh vẽ khoa học hay môhình để phóng to những đặc điểm không thể quan sát rõ trên vật thật
- Khi tiến hành thí nghiệm, giáo viên nêu rõ yêu cầu và mục đích thí
nghiệm hoặc yêu cầu học sinh cho biết mục đích của thí nghiệm chuẩn bị tiến hành Sau đó giáo viên mới phát các dụng cụ và vật liệu thí nghiệm tương ứng với hoạt động Nếu để sẵn các vật dụng thí nghiệm trên bàn học sinh sẽ nghịch các đồ vật mà không chú ý đến các đồ vật khác trong lớp; hoặc học sinh tự ý thực hiện thí nghiệm trước khi lệnh thực hiện của giáo viên được đưa ra; hoặc học sinh sẽ dựa vào đó để đoán các thí nghiệm cần phải làm (trường hợp này mặc dù học sinh có thể đề xuất thí nghiệm đúng nhưng ý đồ dạy học của giáo
viên không đạt)
- Các thí nghiệm được tiến hành lần lượt tương ứng với từng kiến thức.Mỗi thí nghiệm được thực hiện xong, giáo viên nên dừng lại để học sinh rút rakết luận (tìm thấy câu trả lời cho các vấn đề đặt ra tương ứng) Giáo viên lưu ýhọc sinh ghi chép vật liệu thí nghiệm, cách bố trí và thực hiện thí nghiệm (mô tảbằng lời hay vẽ sơ đồ), ghi chú lại kết quả thực hiện thí nghiệm, kết luận sau thínghiệm vào vở thực hành Phần ghi chép này giáo viên để học sinh ghi chép tự
do, không nên gò bó và có khuôn mẫu quy định, nhất là đối với những lớp mớilàm quen với phương pháp Bàn tay nặn bột Đối với các thí nghiệm phức tạp và
Trang 19nếu có điều kiện, giáo viên nên thiết kế một mẫu sẵn để học sinh điền kết quả thínghiệm, vật liệu thí nghiệm Ví dụ như các thí nghiệm phải ghi số liệu theo thờigian, lặp lại thí nghiệm ở các điều kiện nhiệt độ khác nhau…
- Khi học sinh làm thí nghiệm, giáo viên bao quát lớp, quan sát từngnhóm Nếu thấy nhóm hoặc học sinh nào làm sai theo yêu cầu thì giáo viên chỉnhắc nhỏ trong nhóm đó hoặc với riêng học sinh đó, không nên thông báo lớntiếng chung cho cả lớp vì làm như vậy sẽ phân tán tư tưởng và ảnh hưởng đếncông việc của các nhóm học sinh khác
- Giáo viên chú ý yêu cầu học sinh thực hiện độc lập các thí nghiệm trongtrường hợp các thí nghiệm được thực hiện theo từng cá nhân Nếu thực hiện theonhóm thì cũng yêu cầu tương tự như vậy Thực hiện độc lập theo cá nhân haynhóm để tránh việc học sinh nhìn và làm theo cách của nhau, thụ động trong suynghĩ và cũng tiện lợi cho giáo viên phát hiện các nhóm hay các cá nhân xuất sắctrong thực hiện thí nghiệm nghiên cứu, đặc biệt là các thí nghiệm được thực hiệnvới các dụng cụ, vật liệu thí nghiệm giống nhau nhưng nếu bố trí thí nghiệmkhông hợp lý sẽ không thu được kết quả thí nghiệm như ý
Bước 5 : Kết luận và hệ thống hóa kiến thức
- Sau khi thực hiện thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, các câu trả lời dần
dần được giải quyết, các giả thuyết được kiểm chứng, kiến thức được hình thành, tuy nhiên vẫn chưa có hệ thống hoặc chưa chuẩn xác một cách khoa học.
- Giáo viên có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để học sinh ghi
vào vở coi như là kiến thức của bài học Trước khi kết luận chung, giáo viên nên
yêu cầu một vài ý kiến của học sinh cho kết luận sau khi thực nghiệm (rút rakiến thức của bài học) Giáo viên khắc sâu kiến thức cho học sinh bằng cách chohọc sinh nhìn lại, đối chiếu lại với các ý kiến ban đầu (quan niệm ban đầu) trướckhi học kiến thức Như vậy từ những quan niệm ban đầu sai lệch, sau quá trìnhthực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, chính học sinh tự phát hiện ra mình sai hayđúng mà không phải do giáo viên nhận xét một cách áp đặt Chính học sinh tự
Trang 20phát hiện những sai lệch trong nhận thức và tự sửa chữa, thay đổi một cách chủđộng Những thay đổi này sẽ giúp học sinh ghi nhớ lâu hơn, khắc sâu kiến thức.
- Nếu có điều kiện, giáo viên có thể in sẵn tờ rời tóm tắt kiến thức của bàihọc để phát cho học sinh dán vào vở thực hành hoặc tập hợp thành một tập riêng
để tránh mất thời gian ghi chép
1.1.7 So sánh phương pháp Bàn tay nặn bột với các phương pháp dạy học tích cực khác
a Giống nhau
Đều nhằm tổ chức cho học sinh hoạt động tích cực, tự lực giải quyết vấn
đề Về cơ bản thì tiến trình dạy học cũng được diễn ra theo 3 pha chính là:
chuyển giao nhiệm vụ cho học sinh; học sinh hoạt động tự chủ giải quyết vấnđề; báo cáo, hợp thức hóa và vận dụng kiến thức mới
b Khác nhau
Ở Bàn tay nặn bột các tình huống xuất phát và câu hỏi nếu vấn đề là
những sự vật hay hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũi với đời sống, dễ cảm
nhận và các học sinh sẽ thực hành trên những cái đó
Phương pháp Bàn tay nặn bột chú trọng việc giúp cho học sinh bộc lộ
quan niệm ban đầu để tạo ra các mâu thuẫn nhận thức làm cơ sở đè xuất các câu hỏi và giả thuyết.
Hoạt động tìm tòi – nghiên cứu trong phương pháp Bàn tay nặn bột rất đadạng, trong đó các phương án thí nghiệm nếu được tiến hành thì chủ yếu là cácphương án được đề xuất bởi chính học sinh, với những dụng cụ đơn giản, dễkiếm
Trong phương pháp Bàn tay nặn bột, mỗi học sinh bắt buộc phải có mộtquyển vở thực hành do chính học sinh ghi chép theo cách thức và ngôn ngữ củachính mình
Thông qua các hoạt động như vậy, phương pháp Bàn tay nặn bột nhằmđạt được mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh dần dần của học sinh đối với các khái
Trang 21niệm khoa học và kĩ thuật được thực hành, kèm theo sự củng cố về ngôn ngữ nói
và viết
1.1.8 Những ưu điểm và khó khăn khi sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột
Khi sử dụng phương pháp này có những ưu điểm và khó khăn sau:
1.1.8.1 Ưu điểm của phương pháp
- Phương pháp Bàn tay nặn bột là một phương pháp có tiến trình dạy học
rõ ràng, dễ hiểu, có thể áp dụng được ở điều kiện của Việt Nam Giáo viên không phải mất nhiều thời gian cho việc thuyết trình, giảng giải.
- Việc áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột vào trong các lớp học, tạo
nên sự ham thích cho học sinh Giúp học sinh hứng thú với những hoạt động tìm hiểu kiến thức mới.
- Kiến thức được học sinh tiếp nhận một cách tự nhiên, thoải mái, không
- Giúp học sinh rèn kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói, viết Giúp
học sinh tự tin, mạnh dạn hơn trong giao tiếp.
1.1.8.2 Những khó khăn khi thực hiện phương pháp Bàn tay nặn bột
1.1.8.2.1 Về điều kiện, cơ sở vật chất
Trong các lớp học hiện nay, bàn ghế được bố trí theo dãy, nối tiếp nhau,không thuận lợi cho việc tổ chức học theo nhóm Trong khi đó, phần lớn cáctrường học chưa có phòng học học bộ môn và phòng thí nghiệm để thuận lợi choviệc giảng dạy các bộ môn khoa học
Trang thiết bị nói chung trong các lớp học chưa đầy đủ phục vụ cho việc
tổ chức các hoạt động dạy học, nhất là còn thiếu các phương tiện hỗ trợ hoạt
Trang 22động báo cáo, thảo luận của học sinh như máy tính, projector, máy chiếu vật thể,máy chiếu bản trong, flip chart Dụng cụ thí nghiệm còn chưa đồng bộ và thiếuchính xác Nguồn tài liệu bổ trợ cho hoạt động tìm tòi - khám phá của học sinhcòn hạn chế Mặt khác, số học sinh trên một lớp quá đông nên việc tổ chức họctập theo nhóm rất khó khăn Điều này cũng gây khó khăn trong việc tổ chức cáchoạt động tham quan, dã ngoại, điều tra thực tế cho học sinh.
1.1.8.2 2 Về đội ngũ giáo viên
Trình độ giáo viên hiện nay chưa đồng đều cả về chuyên môn và năng lực
sư phạm Kiến thức chuyên sâu về khoa học của một bộ phận không nhỏ giáoviên còn hạn chế Vì vậy, giáo viên thường gặp nhiều khó khăn trong việc trảlời, giải đáp các câu hỏi cũng như khó khăn trong việc lí giải thấu đáo các thắcmắc của học sinh nêu ra trong quá trình học Đây là một trở ngại rất lớn trongviệc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực nói chung và phương pháp Bàntay nặn bột nói riêng Năng lực sư phạm của giáo viên trong việc áp dụng cácphương pháp dạy học mới nói chung còn hạn chế Điều đó thể hiện ở việc giáoviên thường gặp nhiều khó khăn trong việc nêu ra tình huống mở đầu cho mỗibài dạy trong phương pháp Bàn tay nặn bột Thường thì tình huống đưa ra phảigắn với nội dung bài dạy, làm sao đảm bảo được vấn đề khơi gợi sự tò mò, hamthích trước vấn đề sắp học nhưng vẫn "giấu kín được kết quả của bài học" Đây
là việc làm gây nhiều lúng túng cho người dạy Trong tiến trình dạy học, ở một
số bài học, giáo viên không có đủ kiến thức, khả năng để tìm ra một số thínghiệm chứng minh cho kiến thức bài học trong trường hợp học sinh không tựnêu ra được thí nghiệm kiểm chứng cho biểu tượng ban đầu của mình
1.1.8.2 3 Về công tác quản lí
Hiện nay, một vấn đề còn nổi cộm, gây nhiều cản trở cho công tác đổi
mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông là vấn đề đánh giá hoạt động dạy
học của giáo viên Trong khi Bộ Giáo dục và Đào tạo đang triển khai áp dụngcác phương pháp dạy học mới, trong đó đặc biệt chú trọng đến việc tổ chức hoạtđộng học tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh nhưng một bộ phận không
Trang 23nhỏ cán bộ quản lí chuyên môn ở các Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục
và Đào tạo chưa theo kịp với tiến trình đổi mới đó Vì thế, quan điểm đánh giágiờ dạy của họ vẫn mang nặng tính hình thức với các tiêu chí đánh giá như: giáoviên có dạy hết kiến thức trong bài hay không; giáo viên có sử dụng công nghệthông tin trong dạy học hay không; giáo viên tiến hành thí nghiệm có thành côngkhông; giáo viên sử dụng các phương tiện dạy học có thành thạo hay không
mà chưa chú ý nhiều đến hiệu quả hoạt động nhận thức cho học sinh Vì vậy,giáo viên thường rất dè dặt khi áp dụng phương pháp dạy học mới, khi mà ở đógiáo viên phải tổ chức cho học sinh hoạt động nên nhiều khi không thể chủ độnghoàn toàn về mặt thời gian Trong quá trình học sinh hoạt động, thường có nhiềudiễn biến bất ngờ mà giáo viên có thể không lường trước được dẫn đến có thểkhông hoàn thành tất cả các khâu trong một tiết học và vì thế mà giờ dạy lạikhông được đánh giá cao
Công tác kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh hiện nay cũng là mộtvấn đề gây cản trở đến việc đổi mới phương pháp dạy học Các bài thi và kiểmtra hiện nay chủ yếu vẫn là kiểm tra sự ghi nhớ và vận dụng lí thuyết của họcsinh "Thi gì, học nấy" luôn là tiêu chí lựa chọn của đại đa số mọi người trên thếgiới Chính vì vậy mà các phương pháp dạy học tích cực nói chung và phươngpháp Bàn tay nặn bột nói riêng chưa có được "chỗ đứng" vững chắc trong mỗigiáo viên, học sinh và trong cả nền giáo dục Việt nam khi mà công tác kiểm tra,đánh giá, thi cử chưa đổi mới theo hướng đánh giá kỹ năng và sự sáng tạo củahọc sinh
1.1.9 Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học.
- Trong quá trình HS thực hành, GV phải khéo léo theo dõi, quan sát học sinhxem các em đang nghĩ gì về vấn đề mà mình đặt ra để nắm được tình hình Nếu
có điều gì không khớp với dự định ban đầu thì cần phải có sự điều chỉnh chophù hợp
Trang 24- Các biểu tượng HS đưa ra có thể đúng, có thể sai nhưng giáo viên không đánhgiá và cũng không đưa ra câu trả lời GV chỉ gợi ý hay đặt thêm những câu hỏidẫn dắt HS đi tìm câu trả lời cho câu hỏi của chính các em chứ không làm thay.
Ví dụ; “ Theo em, nó sẽ như thế nào”? “ Em nghĩ (làm) thử xem”? “Em tìm cáchlàm nào đó để xem có đúng không”? Ví dụ khi các em lọc nước mà kết quảvẫn đục Gv chỉ gợi ý “ Các em thử xem thiết bị thí nghiệm có vấn đề gì không”?
“ Xem lại các bước tiến hành lọc nước của các em” Trong trường hợp thínghiệm cần đến các điều kiện, GV phải giúp các em xác định được điều kiện củathí nghiệm (Ví dụ: Về mặt thời gian, môi trường, nhiệt độ ) Điều này, bướcđầu HS có thể gặp khó khăn nhưng thực hiện nhiều lần các em sẽ quen dần trongviệc đặt điều kiện cho thí nghiệm để đảm bảo độ chính xác cao
* Tình huống xuất phát từ câu hỏi phải đảm bảo các yêu cầu sau :
- Câu hỏi thường mang tính chất mở hoặc nửa mở phù hợp với mục tiêu bài học
và phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh sao cho các em có khả năng giảiquyết
- Có tác dụng khêu gợi trí tò mò và ham hiểu biết khoa học, kích thích các emsuy nghĩ và tiến hành giải quyết để đem lại những hiểu biết
- Câu hỏi phải gọn, rõ ràng, dễ hiểu, hạn chế những từ ngữ mang khái niệm màcác em chưa biết Nếu có, GV nên tìm những từ ngữ thay thế sao cho vừa đảmbảo HS hiểu được vừa vẫn giữ nguyên được ý nghĩa của nó
- Khi nêu câu hỏi phải đảm bảo cho tất cả học sinh nghe và biết được mình cầnphải làm gì
- Việc chuẩn bị các vật liệu, đồ dùng dạy học có ý nghĩa quan trọng Đối vớiphương pháp Bàn tay nặn bột nếu không có đồ dùng dạy học thì không thể tiếnhành được
- Đối với phương pháp Bàn tay nặn bột nếu chỉ dừng lại ở việc đánh giá bằngđiểm số thì chưa đủ mà cần phải phối hợp đánh giá về năng lực quan sát, năng
Trang 25dụng ngôn ngữ để biểu đạt (kể cả trong khi nói và viết), sự hứng thú tìm tòi, sự
tò mò ham hiểu biết, sự tham gia tích cực trong giờ học Tất cả những điều đónhằm kích thích, lôi kéo các em khám phá thế giới không ngừng, tạo ra sự cânđối ở các em giữa kiến thức và kỹ năng, giữa lý thuyết và thực hành
- Không chia nhóm HS quá đông, mỗi nhóm chỉ từ 2, 4 đến 6 em và từ hai bànghép lại
- Không nên cho HS biết trước kiến thức của bài học một cách tiêu cực mà phải
để cho các em tự khám phá ra chúng Không để các em sử dụng sách giáo khoa
để trả lời câu hỏi mà giáo viên đưa ra vì như vậy sẽ làm cho HS có thói quen ỷlại không chịu suy nghĩ, tìm tòi trong học tập Sách giáo khoa có thể chỉ được sửdụng làm tài liệu quy chiếu với các kết quả nghiên cứu của HS ở cuối tiết học
- Không nêu tên bài học trước khi học (với những bài thể hiện nội dung bài học
1.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.2.1 Phương pháp nghiên cứu đọc tài liệu
- Nghiên cứu tổng quan các tài liệu về chủ trương, nghị quyết của Đảng
và Nhà nước trong công tác giáo dục về đổi mới giáo dục phổ thông nói chung
và đổi mới hình thức, phương pháp dạy học nói riêng.
- Nghiên cứu các tài liệu về các bài báo, các công trình nghiên cứu, các ấn
phẩm và tài liệu về phương pháp Bàn tay nặn bột và lý thuyết về tính tích cực của học sinh.
- Nghiên cứu SGK về nội dung kiến thức trong phần “Cảm ứng” ở Thực
Trang 261.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
a Phương pháp điều tra
Sử dụng bảng hỏi, phiếu điều tra để:
- Khảo sát tình hình dạy học bằng phương pháp Bàn tay nặn bột tại đơnvị
- Tìm hiểu thái độ và tâm lý của học sinh khi được học bằng phương phápBàn tay nặn bột
- Ngoài ra còn tìm hiểu được quan điểm và thái độ của giáo viên vềphương pháp Bàn tay nặn bột
b Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia
- Tham khảo ý kiến đóng góp của giáo viên có kinh nghiệm
- Trao đổi trực tiếp với giáo viên tại trường khảo nghiệm để xin ý kiến
trong việc điều chỉnh và hoàn thiện phương pháp Bàn tay nặn bột cho học sinh
tại trường
c Phương pháp quan sát
Được sử dụng để quan sát hành động, sự chuyển biến tâm lý và hình thànhnăng lực của học sinh khi học tập
1.2.3 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu
- Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học dùng trong khoa họcgiáo dục
- Phân tích kết quả khảo sát và khảo nghiệm để có cơ sở đánh giá tính khảthi của đề tài
+ Định lượng: Sử dụng một số công cụ toán học để sử lý số liệu tính theo
tỉ lệ % các kết quả điều tra và kết quả khảo nghiệm
+ Định tính: Đánh giá, phân tích mức độ khả thi của việc sử dụng phươngpháp Bàn tay nặn bột trong dạy học THPT
1.2.4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
Trang 27Tổng kết những kinh nghiệm của bản thân và đồng nghiệp sau một quátrình dạy để thấy hiệu quả hiểu biết của học sinh, các năng lực hình thành sau khihọc bài về lịch sử thế giới cổ đại.
1.2.5.Phương pháp thử nghiệm:
Thực hiện dạy học trên các lớp để xem kết quả và rút ra kết luận
Trang 28CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT TRONG SOẠN CHỦ ĐỀ CẢM ỨNG Ở THỰC VẬT 2.1 Phân tích nội dung kiến thức chương trình hiện hành và đề xuất các chủ đề dạy học phần “cảm ứng” ở thực vật– sinh học 11 – trung học phổ thông
Để có cơ sở thiết kế các giáo án theo phương pháp Bàn tay nặn bột, chúngtôi đã tiến hành phân tích nội dung phần “Cảm ứng” ở Thực vật – Sinh học 11 –Trung học phổ thông, thể hiện ở các tiết học sau:
Chuyên đề này gồm các bài trong chương II Phần IV Sinh học cơ thể Sinh học 11 THPT Gồm các bài:
-Bài 23: Hướng động
Bài 24: Ứng động
Bài 25: Thực hành hướng động
Căn cứ để vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột
Phần Cảm ứng ở thực vật chủ yếu là kiến thức sinh lí với các thành phầnkiến thức: khái niệm, cơ chế, quá trình, quy luật, ứng dụng Nhiệm vụ của sinhhọc thực vật là nghiên cứu, phát hiện bản chất của các quá trình diễn ra trong cơthể Thực vật, xác lập mối tương quan giữa chúng Trong quá trình nghiên cứunếu chỉ dừng lại ở quá trình quan sát, mô tả hiện tượng thì chỉ có thể thấy đượcbiểu hiện ở bên ngoài mà không thấy được dấu hiệu bản chất Hơn nữa, qua thựctiễn tiếp xúc với thực vật và sản xuất nông nghiệp học sinh cũng tích lũy đượcmột số kinh nghiệm, biểu tượng liên quan đến các hoạt động sống của Thực vật
Các thí nghiệm tiến hành khi dạy kiến thức sinh lí có tác dụng khắc sâu,chính xác hóa và mở rộng kiến thức cho học sinh về các chức năng sống củathực vật Các thí nghiệm trong phần này tương đối đơn giản dễ thiết kế, dễ theodõi kết quả thí nghiệm Vì vậy học sinh có thể tự đề xuất được phương án thínghiệm và tiến hành thí nghiệm để kiểm chứng, qua đó dễ dàng hình thành đượckiến thức
Trang 29GIÁO VIÊN GIAI ĐOẠN HỌC SINH
Chuẩn bị đồ dùng dạy học
Tổ chức các nhóm kiểm tra GT G GT
Ghi chép, đối chiếu với GT và rút ra kết luận tạm thời
Xác định mục tiêu chủ đề
I Chuẩn bị Chuẩn bị đồ dùng học tập theo yêu cầu củagiáo viên
TLN để đưa ra GT của nhóm Ghi GT của nhóm vào vở Đại diện nhóm đưa ra GT Kiểm tra giả thuyết
Ghi GT cá nhân vào vở Tiếp nhận vấn đề
Tự đánh giá
Yêu cầu các nhóm đề xuất PA kiểm tra GT; lựa chọn những PA có thể tiến hành
Yêu cầu các nhóm tiến hành kiểm tra GT
Theo dõi, giúp đỡ học sinh Yêu cầu các nhóm báo cáo kết quả; giúp HS chính xác hóa và chốt lại kiến thức trọng tâm.
III Đánh giá
Đánh giá chung
Ghi PA của nhóm vào vở Đại diện nhóm đề xuất PA kiểm tra giả thuyết
Nhận vật liệu và tiến hành kiểm tra GT
Yêu cầu HS TLN để đề ra PA kiểm tra GT
Đại diện nhóm báo cáo kết quả, cả lớp tiến hành trao đổi để rút ra kiến thức bài học; các cá nhân tự điều chỉnh kiến thức vào vở
2.2 Quy trình thiết kế và tổ chức hoạt động dạy học kiến thức phần cảm
ứng – sinh học 11 – THPT bằng phương pháp bàn tay nặn bột
Sơ đồ: Quy trình sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học chủ đề Cảm
ứng Thực vật
Lập kế hoạch dạy học
Trang 302.3 Đề xuất các bước chính của phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy học Chủ đề Cảm ứng
Bước 1 : Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề
- Tính hiệu quả của cách đặt vấn đề có thể có được từ tình huống;
- Các nguồn lực địa phương (về vật chất và nguồn tư liệu);
- Các mối quan tâm chủ yếu của địa phương, mang tính thời sự hoặc nảy
sinh từ các hoạt động khác, có thể về khoa học hay không;
- Tính phù hợp của việc học đối với các mối quan tâm riêng của HS.
Kinh nghiệm thực hiện:
- Chuẩn bị một tình huống mở có liên quan đến vấn đề khoa học đặt ra
- Căn cứ vào nội dung khoa học của bài học, chọn khái niệm chủ chốt cần
hình thành, dựa trên những tình huống gần gũi quen thuộc với HS để làmtình huống xuất phát
- Cũng có thể bắt đầu từ một hiện tượng phổ biến trong tự nhiên hay từ một
thí nghiệm sinh học đơn giản để làm tình huống xuất phát
Trang 31tìm kiếm nguồn thức ăn thuận lợi như thức ăn, nguồn nước còn Thực vật thìkhông có phản ứng như vậy?
Em có đồng ý với nhận định như vậy không? Hãy lấy ví dụ để chứngminh cho quan điểm của mình?
Bước 2 : Bộc lộ quan điểm (biểu tượng) của học sinh
Nhiệm vụ:
- Làm bộc lộ các quan niệm ban đầu của HS về nội dung khoa học của bàihọc, đối chiếu chúng với nhau nếu có sự khác biệt để tạo điều kiện cholớp lĩnh hội vấn đề đặt ra
- Phát biểu các câu hỏi của HS
- Trình bày các biểu tượng ban đầu của HS
Kinh nghiệm thực hiện:
- Công việc được thực hiện dưới sự hướng dẫn bởi GV, GV có thể giúpsửa chữa, phát biểu lại các câu hỏi để đảm bảo đúng nghĩa, tập trung vàolĩnh vực khoa học và tạo điều kiện cho việc nâng cao khả năng diễn đạtnói của HS;
- Sự chọn lựa có định hướng, có căn cứ của GV trong việc khai thác cáccâu hỏi của HS một cách hiệu quả (nghĩa là thích hợp với một tiến trìnhxây dựng, có tính đến các dụng cụ thực nghiệm và tư liệu sẵn có) có thểdẫn đến việc học một nội dung trong chương trình
Khi dạy chủ đề Cảm ứng
- Giáo viên yêu cầu học sinh làm việc cá nhân viết câu trả lời vào vở thực hành
- Giáo viên chọn các biểu tượng ban đầu tiêu biểu và yêu cầu học sinh trình bàytrước lớp
- Giáo viên phân nhóm các biểu tượng ban đầu có thể chia thành hai nhóm chính
Trang 32- Phát biểu bằng lời các giả thuyết ở các nhóm;
- Có thể xây dựng các qui trình để chứng minh hay loại bỏ các giả thuyết;
- Viết các đoạn mô tả các giả thuyết và các tiến trình (bằng lời và hình vẽ,
Trang 33- Cách quản lí tạo nhóm HS của GV (ở các mức khác nhau tùy thuộc hoạtđộng, từ mức độ cặp đôi đến mức độ cả lớp); các yêu cầu đưa ra (các chứcnăng và hành vi mong đợi ở từng nhóm).
- Giúp HS hình thành các vấn đề khoa học và tiếp theo là đưa ra các giảthuyết khoa học (chú ý làm rõ và quan tâm đến sự khác biệt giữa các ýkiến)
- Tổ chức việc đối chiếu các ý kiến sau một thời gian tạm đủ mà HS cóthể suy nghĩ
- Khẳng định lại các ý kiến về phương pháp kiểm chứng giả thuyết mà HS
đề xuất
Khi dạy Chủ đề Cảm ứng ở Thực vật
*Đề xuất giả thuyết
Học sinh đề xuất các giả thuyết
1 Thực vật có thể sống được bằng cách tìm nguồn có lợi như nước, ánh sáng vàtránh tác nhân gây hại Ví dụ: rễ cây mọc về hướng nguồn nước (cây dừa bờ ao)
2 Thực vật mọc hướng tới nơi có lợi do thân cây uốn cong được
3 Thực vật có khả năng tìm lợi, tránh hại bằng cách thay đổi sinh trưởng: hiệntượng rụng lá về mùa đông
*Thiết kế phương án thí nghiệm
Giả thuyết 1: Làm thí nghiệm về tính hướng sáng, hướng trọng lực,
hướng nước, hướng hóa
+ Thí nghiệm hướng sáng: Trồng 2 -3 hạt đậu đang nảy mầm vào chai trong
suốt và tưới ẩm Khi thấy cây mọc lên có lá rồi đem vào hộp giấy, chỉ chừa mộtphần ánh sáng bên góc phải Tưới nước cho cây hằng ngày Sau 2 – 3 ngày quansát hiện tượng
Trang 34Hoặc đơn giản hơn học sinh để chậu cây bên cạnh của sổ, sau 3 – 4 ngày quansát hiện tượng.
+ Thí nghiệm hướng trọng lực: Đục 2 lỗ ở đáy cốc, sau đó dùng một sợi dây
luồn qua hai lỗ và buộc lại để treo cốc lên Sau đó cho đất vào cốc nén chặt rồitrồng vào trong cốc 2-3 cây đậu đang nảy mầm tưới nước hàng ngày Treongược cốc lên sau 3 – 4 ngày quan sát hiện tượng
Mô hình mẫu Giáo viên cho học sinh quan sát sau khi làm thí nghiệm
và báo các kết quả
+ Thí nghiệm hướng nước: Trải một lớp giấy ăn vào trong khay Sau đó cho
mùn cưa vào rải đều Tiếp tục cho một số hạt đậu đang nảy mầm vào một phíacủa khay và tưới ẩm ở phía đối diện Để khay nghiêng một góc 45 độ, sao chophía hạt đậu đang nảy mầm ở phía trên của khay Sau 3-4 ngày quan sát
+ Thí nghiệm hướng hóa: Chuẩn bị một cốc trong suốt Cho phân NPK vào
trong một miếng túi nhỏ châm thủng nhiều lỗ Đặt túi phân NPK ở một góc củađáy
Cho xà phòng vào trong một miếng túi nhỏ, châm thủng nhiều lỗ Đặt túi xàphòng ở góc kia của đáy Cho đất vào đầy cốc Trồng 2 – 3 hạt đậu nảy mầmvào giữa Tưới ấm, sau 3 -4 ngày quan sát hiện tượng
+ Thí nghiệm hướng tiếp xúc: Dùng chai trong suốt cắt ngang tạo thành chậu
cho đất vào chai và cắm một cây que cao khoảng 0,5m Sau đó cho hạt mồng tơi
đã nảy mầm vào, tưới hàng ngày sau 8 ngày quan sát
Trang 35 Giả thuyết 2: Khi làm thí nghiệm hướng sáng học sinh dùng bút màu đánh dấu các vị trí trên ngọn cây non ở phía được chiếu sáng và phía không được chiếu sáng Sau một thời gian so sánh các vị trí các vạch
ở hai phía và rút ra kết luận
Giả thuyết 3: Đọc sách giáo khoa và tìm các thông tin từ các nguồn khác nhau để tìm hiểu nguyên nhân cơ chế một số hiện tượng: rụng lá, khí khổng đóng khi nhiệt độ cao, sự cụp lá của cây trinh nữ
+ Sử dụng kính lúp để quan sát vị trí vận động cụp xòe của cây trinh
nữ khi va chạm, vẽ hình mô tả dự đoán cơ chế cụp xòe của lá.
Bước 4: Tiến hành thí nghiệm, tìm tòi nghiên cứu
Nhiệm vụ:
- Các giai đoạn tranh luận trong nhóm: các cách thức tiến hành quan sáthay thí nghiệm;
- Kiểm soát sự thay đổi của các thông số;
- Mô tả thí nghiệm (bằng các sơ đồ, các đoạn văn mô tả);
- Tính lặp lại được của thí nghiệm (HS chỉ rõ các điều kiện thí nghiệm)
Kinh nghiệm thực hiện:
- Tập hợp các điều kiện thí nghiệm, hay hướng dẫn HS quan sát nhằmkiểm chứng các ý tưởng nghiên cứu được đề xuất
- Việc quản lí các ghi chép cá nhân của HS
- Giúp HS phương pháp trình bày kết quả
- Học sinh tự tiến hành thí nghiệm và ghi kết quả vào vở thực hành
Bước 5: Kết luận và hệ thống hóa kiến thức
Nhiệm vụ:
- So sánh và liên hệ các kết quả thu được trong các nhóm khác nhau, trongcác lớp khác…
Trang 36- Đối chiếu với kiến thức đã được thiết lập /trong sách /(dạng khác củaviệc sử dụng các tìm kiếm tài liệu) trong khi đảm bảo “mức độ phát biểukiến thức” thích hợp với trình độ HS;
- Tìm kiếm các nguyên nhân của những kết quả khác biệt nếu có, phân
tích /một cách phê phán/ các thí nghiệm đã tiến hành và đề xuất các thí
nghiệm bổ sung;
- Trình bày các kiến thức mới lĩnh hội được cuối bài học bằng lời văn viếtcủa HS với sự giúp đỡ của GV
Kinh nghiệm thực hiện:
- Giúp HS lựa chọn các lí luận và hình thành kết luận
- Đề nghị một tình huống ngược lại
Đặt ra các câu hỏi mới
Tùy thuộc vào tính chất của các câu hỏi mới (sự phù hợp vớichương trình, tính hiệu quả…) và tùy thuộc vào những điều kiện bó buộc
về vật chất và thời gian mà các câu hỏi này có thể dẫn đến một quá trìnhtìm tòi nghiên cứu mới hay không
Khi dạy chủ đề Cảm ứng ở thực vật :
Giáo viên hoạt động trên lớp cho học sinh trả lời câu hỏi
- Cảm ứng ở thực vật là gì?
- Những tác nhân nào gây nên cảm ứng ở thực vật?
- Thực vật có những hình thức nào để phản ứng lại các tác nhân đó?
- Những bộ phận nào của của cơ thể thực vật tham gia vào quá trình cảm ứng?
- Nguyên nhân, cơ chế, vai trò của các hình thức cảm ứng ở thực vật?
- Cảm ứng ở thực vật có đặc điểm gì?
2.4 Thiết kế bài soạn theo phương pháp bàn tay nặn bột chủ đề: Cảm ứng
ở thực vật