1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thu hoạch diễn án hành chính hồ sơ 10 LS.HC.10

23 519 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 82,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

a Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơquan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước ViệtNam dân chủ cộng h

Trang 1

I TÓM TẮT HỒ SƠ VỤ ÁN

I/.TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN

Ngày 23/05/2016, bà Nguyễn Thị Ngợi, sinh ngày 20/10/1935 (thường trú tại: ThônThanh Liễu, xã Tân Hưng, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương) nộp đơn khởi kiện Ủyban nhân dân thành phố Hải Dương về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất choông Nguyễn Hữu Phong và bà Nguyễn Thị Nghiêm

Trước đó vợ chồng bà Nguyễn Thị Ngợi và ông Nguyễn Hữu Đặt có thửa đất số 195 và

192, số tờ 07 – Xứ Đồng, Thanh Liễu Diện tích 785 m² đất thổ và 150 m² đất ao Giađình bà Ngợi, ông Đặt có 05 người con, nhưng ông bà chưa giao quyền sử dụng đất choai

05 người con gồm:

1 Nguyễn Thị Đón, sinh năm 1963

2 Nguyễn Hữu Phong, sinh năm 1966

3 Nguyễn Thị Phú, sinh năm 1968

4 Nguyễn Thị Thao, sinh năm 1973

5 Nguyễn Thị Thảo, sinh năm 1976

Đều thường trú tại: thôn Thanh Liễu, xã Tân Hưng, thành phố Hải Dương, tỉnh HảiDương

Lý do khởi kiện là khi xã Tân Hưng còn thuộc huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương Lúc nàyông Nguyễn Hữu Phong và vợ là Nguyễn Thị Nghiệm đã làm đơn xin cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất và nộp cho Ủy ban nhân dân xã Gia Lộc và ngày 01/12/2002 Từ

đó, Ủy ban nhân dân xã Tân Hưng đã lập danh sách gửi lên Ủy ban nhân dân huyện GiaLộc Căn cứ vào danh sách gửi lên từ xã Tân Hưng, thì Ủy ban nhân dân huyện Gia Lộc

đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 734508, tờ bản đồ số 3 cho vợ chồngông Nguyễn Hữu Phong - Nguyễn Thị Nghiêm

Đến ngày 15/01/2016 bà Nguyễn Thị Thao đi lao động nước ngoài về, có đề nghị bà Ngợđồng ý cấp bìa đỏ cho các con Đến lúc đó mới biết ông Nguyễn Hữu Phong và vợ

Trang 2

Nguyễn Thị Nghiệm đã tự động làm giấy và đứng tên trong “Giấy chứng nhận quyền sửdụng đất” rồi.

Bà Ngợi cho rằng việc cấp bìa như vậy là sai Vì đất này là nguồn gốc do bà Ngợi và ôngĐặt (chồng bà) tạo dựng được Khi ông Đặt chết (22/02/2001) không để lại di chúc choai

Do vậy bà nộp đơn lên Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương đề nghị giải quyết Vì lúcnày xã Tân Hưng đã sát nhập về thành phố Hải Dương, không còn thuộc huyện Gia Lộcnữa

II/ KẾ HOẠCH HỎI

Mục đích hỏi để là sáng tỏ các sự việc, đồng thời chứng minh yêu cầu trong đơn khởikiện của bà Ngợi là có căn cứ và hợp pháp

1 Hỏi Người bị kiện (Đại diện ủy ban nhân dân thành phố Hải Dương)

1.1 Vị đại diện Ủy ban nhân dân thành phố Hải Dương (sau đây gọi là ông/bà) hãy chobiết những căn cứ để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ?

1.2 Trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Nguyễn HữuPhong và bà Nguyễn Thị Nghiệm, đã áp dụng văn bản nào ?

1.3 Ông Phong và bà Nghiêm nộp đơn xin cấp đất có kèm theo giấy tờ gì nữa không ?Nếu có, tại sao không thấy trong hồ sơ vụ án ?

1.4 Ông/bà hãy cho biết quy trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?

1.5 Trong Luật đất đai 2003 có quy định rõ về trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, vậy ông/bà có biết điều này hay không ?

1.6 Tại trang số 8 trong hồ sơ vụ án có ghi thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụngđất cho ông Phong, bà Nghiêm là ngày 10/10/2004 có đúng không? Lúc này luật đất đai

2003 đã có hiệu lực rồi đúng không ?

1.7 Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có tiến hành đo vẽ hiện trạng thửa đấtkhông ? Có xác định vị trí đất không ?

1.8 Trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Phong, bà Nghiệm là loại đất

gì ?

Trang 3

1.9 Ông Hồ Đăng Dũng – Phó Chủ tịch UBND thành phố Hải Dương trình bày quanđiểm về vụ án này trong văn bản ngày 22/8/2016 (trang 42, 43 trong hồ sơ) đã khẳng địnhviệc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là sai? Vậy tại sao không hủy Giấy chứngnhận quyền sử dụng đất của ông Phong, bà Nghiêm ?

2 Hỏi người có quyền và nghĩa vụ liên quan (Hỏi ông Nguyễn Hữu Phong)

2.1 Ông Phong cho biết, mối quan hệ của ông với bà Ngợi là gì ?

2.2 Ông Phong cho biết, ông nộp đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngàytháng năm nào ?

2.3 Ông Phong cho biết ông được cấp diện tích đất bao nhiêu ? thuộc tờ bản đồ số mấy,thửa số mấy ?

2.4 Ông Phong cho biết, ông có nhận giấy ủy quyền hay giấy cho tặng từ cha mẹ đẻ (ôngĐặt, bà Ngợi) không ?

2.5 Ông Phong cho biết, khi ông Đặt (cha đẻ của ông) chết có để lại di chúc gì cho ôngkhông ? nếu có tại sao không có trong hồ sơ vụ án ?

2.6 Tại sao trong đơn xin cấp đất ngày 01/02/2002 đứng tên ông mà ông lại không ký tênhay điểm chỉ, lại để cho một mình vợ ông ký tên

3 Hỏi người khởi kiện (bà Nguyễn Thị Ngợi ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Nhàn)

3.1 Bà Nhàn hãy cho biết nguồn gốc thửa đất số 195, 192 tờ bản đồ số 7 và thửa đất số

3.5 Tại phiên tòa hôm nay, ngoài yêu cầu về hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của

vợ chồng ông Phong, bà Nghiêm ra thì người khởi kiện có còn yêu cầu gì khác nữakhông ?

Trang 4

III/ LUẬN CỨ BẢO VỆ

tờ bản đồ số 3 cấp cho ông Nguyễn Hữu Phong và bà Nguyễn Thị Nghiêm được Toà ánnhân dân thành phố Hải Dương đưa ra xét xử ngày hôm nay

Phần nội dung:

Căn cứ hồ sơ, tài liệu trong vụ án đồng thời lắng nghe bên trình bày tôi xin được đưa raquan điểm để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp cho người khởi kiện là bàNguyễn Thị Ngợi như sau:

Thứ nhất: Về nguồn gốc đất, Bà Nguyễn Thị Ngợi và ông Nguyễn Hữu Đặt là hai vợchồng chung sống với nhau và được nhà nước cấp cho thửa đất số 195 và 192, tờ bản đồ

số 7 Vị Trí đất nằm ở Xứ Đồng – Thanh Liễu, xã Tân Hưng Diện tích 785 m² đất thổ và

150 m² đất ao Việc này đã được thể hiện rõ trong các biên bản lấy lời khai của Bà Ngợ

và các con của bà Ngợi Đặc biệt ông Phong cũng thừa nhận việc nay Đồng thời căn cứvào “Biên bản đối thoại lúc 9 giờ 30 phút ngày 23 tháng 8 năm 2016 thì các bên đã xácđịnh rõ về nguồn gốc đất

Thứ hai: Về điều kiện để được cấp sổ là không đúng, vì ông Nguyễn Hữu Phong và vợ làNguyễn Thị Nghiệm chỉ nộp đơn đề nghị cấp sổ, mà không có giấy thừa kế hoặc tặng chocủa bà Ngợi Cụ thể, căn cứ theo điều 50 luật đất đai 2003 thì:

“1 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường,thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được

Trang 5

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơquan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước ViệtNam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam

và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyềncấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất;giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trướcngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là

đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật;e) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất

2 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản

1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền

sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệulực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của phápluật, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấpthì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất

3 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trựctiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối tại vùng có điềukiện kinh tế - xã hội khó khăn ở miền núi, hải đảo, nay được Uỷ ban nhân dân xã nơi cóđất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất

4 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1Điều này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nayđược Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợpvới quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thìđược cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất

Trang 6

5 Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhândân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đấtđai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất sau khi thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

6 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1Điều này nhưng đất đã được sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luậtnày có hiệu lực thi hành, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đấtkhông có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã

có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phải nộptiền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ

7 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày

15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấpgiấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của phápluật

8 Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có các công trình là đình, đền, miếu, am, từđường, nhà thờ họ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sauđây:

a) Có đơn đề nghị xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

b) Được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chungcho cộng đồng và không có tranh chấp

Như vậy ông Phong và bà Nghiệm không đáp ứng được các điều kiện nêu tại khoản 1điều 50 luật đất đai 2003, do đó không đủ điều kiện để được cấp giấy Ủy ban nhân dânhuyện Gia Lộc thời điểm đó cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như vậy là sai, hoàntoàn trái với luật đất đai 2003

Thứ ba: Trình tự thủ tục cấp sổ không đúng so với quy định của luật đất đai 2003 Tạithời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phong và Bà Nghiệm thì Ủyban nhân dân huyện Gia Lộc đã làm trái quy định của luật đất đai 2003

Trang 7

Cụ thể như sau: “Điều 123 Trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chongười đang sử dụng đất

1 Việc nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định như sau:a) Người xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nộp hồ sơ tại văn phòng đăng kýquyền sử dụng đất; trường hợp hộ gia đình, cá nhân tại nông thôn xin cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất thì nộp hồ sơ tại Uỷ ban nhân dân xã nơi có đất để chuyển chovăn phòng đăng ký quyền sử dụng đất;

b) Hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm đơn xin cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50của Luật này (nếu có), văn bản uỷ quyền xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếucó)

2 Trong thời hạn không quá năm mươi ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ,văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm chuyển hồ sơ đến cơ quan quản lýđất đai thuộc Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụngđất để thực hiện các thủ tục về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trường hợp phảithực hiện nghĩa vụ tài chính mà nghĩa vụ tài chính đó được xác định theo số liệu địachính thì văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất gửi số liệu địa chính đến cơ quan thuế đểxác định mức nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; thông báo cho người đượccấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính; trường hợp không

đủ điều kiện thì trả lại hồ sơ và thông báo lý do cho người xin cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất biết

3 Trong thời hạn không quá năm ngày làm việc, kể từ ngày thực hiện xong nghĩa vụ tàichính, người được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến nơi đã nộp hồ sơ để nhậngiấy chứng nhận quyền sử dụng đất”

Việc cấp giấy này cũng hoàn toàn trái với quy định tại điều 126 luật đất đai 2003

Cụ thể như sau:

“Điều 126 Trình tự, thủ tục chuyển đổi quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân

1 Việc nộp hồ sơ chuyển đổi quyền sử dụng đất được quy định như sau:

Trang 8

a) Hồ sơ chuyển đổi quyền sử dụng đất nộp tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi

có đất để chuyển cho văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất;

b) Hồ sơ chuyển đổi quyền sử dụng đất gồm hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất vàgiấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân phải có chứng thực của

Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất hoặc chứng nhận của công chứng nhànước

2 Trong thời hạn không quá mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, vănphòng đăng ký quyền sử dụng đất chuyển hồ sơ cho cơ quan quản lý đất đai huyện, quận,thị xã, thành phố thuộc tỉnh để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Trường hợp các bên chuyển đổi phải thực hiện nghĩa vụ tài chính mà nghĩa vụ tài chính

đó được xác định theo số liệu địa chính thì văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất gửi sốliệu địa chính đến cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính theo quy định của phápluật; văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thông báo cho các bên chuyển đổi thực hiệnnghĩa vụ tài chính

Trong thời hạn không quá năm ngày làm việc, kể từ ngày thực hiện xong nghĩa vụ tàichính, các bên chuyển đổi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại nơi đã nộp hồ sơ”

Về trình tự thủ tục cấp GCN QSDĐ, theo quy định tại Chương 3, Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 thì thủ tục cấp GCN QSDĐ bao gồm các bước sau:

+ Bước 1: Người sử dụng đất có trách nhiệm nộp hồ sơ kê khai đăng ký quyền sử dụngđất tại Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất Hồ sơ Hồ sơ kê khai đăng ký quyền sử dụngđất do người sử dụng đất lập gồm:

a) Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất (theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư này);b) Bản sao giấy tờ về quyền sử dụng đất được Uỷ ban nhân dân cấp xã chứng thực baogồm một trong những giấy tờ quy định tại Khoản 1, Điều 100, Luật đất đai 2013

c) Biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất sử dụng

Trang 9

Trong khi đó, hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ của ông Phong và bà Nghiệm chỉ có Đơn xinđăng ký quyền sử dụng đất và Thông báo về việc hộ gia đình tự kiểm tra thửa đất đang sửdụng để lập hồ sơ cấp GCN QSDĐ mà không có thêm tài liệu nào khác.

+ Bước 2: Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thẩm tra và xác nhận vào đơn xin đăng

ký quyền sử dụng đất những vấn đề như: Hiện trạng sử dụng đất: Tên người sử dụng đất,

vị trí, diện tích, loại đất và ranh giới sử dụng đất; Nguồn gốc sử dụng đất; Tình trạngtranh chấp, khiếu nại về đất đai; Quy hoạch sử dụng đất;

Ông Phong không cung cấp đủ giấy tờ hợp lệ trong hồ sơ nhưng Uỷ ban nhân dân xã TânHưng vẫn thực hiện việc xét hồ sơ, không yêu cầu ông Phong bổ sung các giấy tờ cònthiếu theo quy định pháp luật

+ Bước 3: Kết thúc việc xét đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất, Uỷ ban nhân dân cấp xãcông bố công khai kết quả xét đơn tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã và các thôn, ấp, bản,

tổ dân phố để mọi người dân được tham gia ý kiến; thời gian công khai là 15 ngày

Tại Biên bản xác minh ngày 29/06/2018 (BL 37), ông Đỗ Đình Huân (cán bộ địa chínhxã) có khai rằng “Sau khi tổng hợp danh sách công khai để cấp giấy chứng nhận QSDĐ,gia đình bà Ngợi không có ý kiến gì”

Tại BL 01, 32 bà Ngợi khẳng định rằng bà không hề biết ông Phong, bà Nghiệm sang têntrong GCN QSDĐ từ bao giờ Chỉ đến khi bà Thao - con gái bà Ngợi đi lao động từ nướcngoài về, bà Ngợi định làm giấy tờ cho bà Thao thì mới biết thửa đất số 334 này do ôngPhong, bà Nghiệm đứng tên

Như vậy, từ những vị phạm trình tự thủ tục trên, tôi có thể khẳng định rằng UBND xãTân Hưng không niêm yết công khai kết quả xét đơn cấp GCNQSDĐ cho gia đình ôngPhong tại trụ sở UBND xã Tân Hưng

Từ những nhận định trên, tôi khẳng định ông Phong và bà Nghiêm tự ý làm hồ sơ xin cấpGCN QSDĐ là trái quy định pháp luật

Thứ tư: Trong hồ sơ này Nội dung Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đầy đủthông tin Cụ thể, chỉ có trang bìa của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các trang bêntrong không có Vì vậy không thể hiện được thông tin về thửa đất Trong hồ sơ vụ án

Trang 10

cũng không có quyết định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phong và bàNghiêm.

Thứ năm: Tại Biên bản đối thoại lúc 09 giờ 30 phút ngày 23 tháng 8 năm 2016 , chủ tọacông bố ý kiến của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Dương, trong đó có đoạn khẳng định

bà Ngợi không hề có giấy tờ nào thể hiện việc chuyển quyền sử dụng đất cho ông Phong

và bà Nghiệm Đồng thời Ủy ban nhân dân thành phố Hải Dương cũng đồng ý với yêucầu của người khởi kiện (bà Nguyễn Thị Ngợi) là hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụngđất của ông Nguyễn Hữu Phong và bà Nguyễn Thị Nghiệm

Trong các bản khai của ông Phong, thì ông trình bày rằng ông là con trai trong gia đình

bà Ngợi nên ông có quyền hưởng phần đất do cha mẹ để lại Tuy nhiên đây là hành vihoàn toàn trái với quy định của pháp luật Trong luật dân sự cũng như luật đất đai không

hè quy định việc hưởng tài sản của cha mẹ có sự phân biệt giữa con trai và con gái Theoquy định về thừa kế của luật dân sự thì tất cả các con đều có quyền và nghĩa vụ ngangnhau

Thứ sáu: Tại văn bản ngày 22/8/2016 trình bày quan điểm của Ủy ban nhân dân thànhphố trong việc cung cấp, tiếp cận, kiểm tra chứng cứ và đối thoại vụ án hành chính, doông Trần Hồ Đăng, chức vụ Phó chủ tịch UBND thành phố Hải Dương ký đã khẳng định

hồ sơ cấp GCN QSDĐ cho ông Phong và à Nghiệm là chưa đầy đủ theo quy định

Đồng thời cũng tại văn bản này cũng nêu rằng “Nếu tòa án nhân dân thành phố HảiDương ra bản án về việc yêu cầu thu hồi GCN QSDĐ đã cấp cho ông Phong và bàNghiêm thì UBND thành phố Hải Dương có thể căn cứ và điều 106 Luật đất đai năm

2003 và điều 87, NĐ 43/2014-CP để thực hiện thủ tục thu hồi GCN QSDĐ đã cấp”

Như vậy: Từ những vấn đề nói trên, có thể thấy việc UBND huyện Gia Lộc trước đây đãcấp GCN QSDĐ cho ông Phong và bà Nghiệm là không có căn cứ và vi phạm trình tựthủ tục cấp GCN QSDĐ nghiêm trọng

Việc này đã xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Ngợi, do đó kính

đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xem xét và tuyên bố thu hồi và hủy GCN

Trang 11

QSDĐ số AK 734508, tờ bản đồ số 3 đã cấp cho vợ chồng ông Nguyễn Hữu Phong Nguyễn Thị Nghiêm.

-Trân trọng cảm ơn quý tòa đã lắng nghe ý kiến của tôi !

1 Thông tin vụ án

a Người khởi kiện

Họ và tên : Nguyễn Thị Ngợi

Sinh năm : 1935

Thường trú: thôn Thanh Liễu, xã Tân Hưng, TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương

Người đại diện theo ủy quyền của bà Ngợi:

Chị Nguyễn Thanh Nhàn Sinh năm: 1991

Thường trú : xã Long Xuyên, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương

Tạm trú: Số 234 Lê Thanh Nghị, phương Lê Thanh Nghị, TP Hải Dương, tỉnh HảiDương

b Người bị kiện: Uỷ ban nhân dân TP Hải Dương

Đại diện: Ông Vũ Tiến Phụng – Chủ tịch UBND TP Hải Dương

Địa chỉ: Số 106 Trần Hưng Đạo, phường Trần Hưng Đạo, TP Hải Dương, tỉnhHải Dương

Người đại diện theo ủy quyền của ông Phụng:

Ông Trần Hồ Đăng – Phó Chủ tịch UBND TP Hải Dương

c Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Họ và tên: Nguyễn Hữu Phong Sinh năm: 1966

Họ và tên: Nguyễn Thị Nghiệm Sinh năm: 1971

Họ và tên: Nguyễn Thị Đón Sinh năm: 1963

Họ và tên: Nguyễn Thị Phú Sinh năm: 1968

Họ và tên: Nguyễn Thị Thao Sinh năm: 1973

Họ và tên: Nguyễn Thị Thảo Sinh năm: 1976

Cùng thường trú: thôn Thanh Liễu, xã Tân Hưng, TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương

d Đối tượng khởi kiện: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 734508

ngày 30/12/2007 do UBND huyện Gia Lộc cấp cho vợ chồng anh Nguyễn Hữu Phong vàNguyễn Thị Nghiệm

e Yêu cầu khởi kiện: hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK

734508 ngày 30/12/2007 do UBND huyện Gia Lộc cấp cho vợ chồng anh Nguyễn HữuPhong và Nguyễn Thị Nghiệm

Ngày đăng: 29/09/2021, 15:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w