1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sự vận dụng học thuyết giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở việt nam

15 205 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 188,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN MÔN: NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN Sự vận dụng học thuyết giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường địn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

   

TIỂU LUẬN MÔN: NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA

CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

 

Sự vận dụng học thuyết giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam       GVHD: ThS Thái Ngọc Như Quỳnh Sinh viên: Nguyễn Lê Trùng Dương

Lớp – MSSV:VTK41 - 1710352

   

 

 

 

 

 

Lâm Đồng, tháng 08 năm 2021

Trang 2

MỤC LỤC :

 MỞ ĐẦU :  3

 NỘI DUNG :  4

I Phần I  :  Sơ lược về học thuyết giá trị thặng dư và nền kinh tế thị 

trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam   4

1 Học thuyết giá trị thặng dư   4

2 Nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  5

II Phần II : Vận dụng giá trị của học thuyết thặng dư trong nền kinh 

tếthịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa  ở Việt Nam    8

 KẾT LUẬN:  12

Trang 3

MỞ ĐẦU

Chúng ta đã biết Giá Trị Thăng Dư là một trong những đóng góp to  lớn của C.Mác đối với  lịch sử phát triển của loài người .  Trong xu thế  kinh tế thế giới phát triển theo hướng từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền  kinh tế trí thức , học thuyết giá trị thặng dư vẩn giữ nguyên giá trị . Bài tiểu luận nhầm tóm tắt những luận  điểm cơ bản của C.Mác về giá trị thặng dư 

và làm rõ sự vận dụng học thuyết giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị  trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. 

Bài tiểu luận được chia thành 2 phần , bao gồm : 

Phần I : Sơ lược về học thuyết giá trị thặng dư và nền kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Trong phần này sẽ nói về các vấn đề cơ bản và chung nhất của học  thuyết giá trị thặng dư   và nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa  ở Việt  Nam. 

Phần II : Vận dụng giá trị của học thuyết thặng dư trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Phần này sẽ đi sâu và nói rỏ về giá trị khi vận dụng học thuyết thặng dư trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa việt nam 

Trang 4

NỘI DUNG

PHẦN I : SƠ LƯỢC VỀ HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ VÀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CỦ NGHĨA

Ở VIỆT NAM

1 Học thuyết giá trị thặng dư :

Học thuyết giá trị thặng dư được hình thành trên cơ sở học thuyết giá  trị - lao động mà trực tiếp là việc phát hiện ra tính chất hai mặt của lao  động sản xuất hàng hóa. Việc phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động  sản xuất hàng hóa có ý nghĩa to lớn về mặt lý luận, đem đến cho lý thuyết  giá trị - lao động một cơ sở khoa học thực sự

Khi nghiên cứu học thuyết giá trị thặng dư, C. Mác chỉ rõ giá trị thặng

dư là lao động không công của công nhân cho nhà tư bản chỉ được tạo ra  trong quá trình sản xuất nhờ tính chất đặc biệt của loại hàng hoá sức lao  động. Đồng thời C.Mác khẳng định rằng: Sản xuất ra giá trị thặng dư - quy  luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản. Quy luật giá trị thặng dư đòi hỏi sản xuất giá trị thặng dư ngày càng nhiều cho các nhà tư bản bằng cách  tăng cường bóc lột lao động làm thuê trên cơ sở mở rộng sản xuất và phát  triển kỹ thuật. C. Mác chỉ ra có hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư  tuyệt đối và tương đối, đồng thời chỉ ra sản xuất giá trị thặng dư siêu ngạch 

là hình thức biến tướng của sản xuất giá trị thặng dư tương đối

Quy luật giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, vì: Quy luật này không những vạch rõ mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là sản xuất giá trị và giá trị thặng dư mà còn vạch rõ  phương thức mà các nhà tư bản sử dụng để kéo dài ngày lao động, tăng 

Trang 5

cường độ lao động và tăng năng suất lao động để tăng cường bóc lột công  nhân làm thuê

Quy luật giá trị thặng dư ra đời cùng với sự ra đời của quan hệ sản  xuất tư bản chủ nghĩa, tồn tại và phát huy tác dụng cùng với sự tồn tại và  vận động của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa

Quy luật giá trị thặng dư chi phối các quy luật kinh tế khác, như: Quy  luật lợi nhuận, quy luật lợi nhuận bình quân, quy luật lợi nhuận siêu ngạch,

Quy luật này quyết định toàn bộ quá trình phát sinh, phát triển của chủ nghĩa tư bản, đồng thời đây cũng là nguyên nhân làm cho mâu thuẫn cơ  bản và nói chung toàn bộ mâu thuẫn của xã hội tư bản ngày càng sâu sắc,  tất yếu dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản

Như vậy, thoạt nhìn, việc mua bán sức lao động cũng giống như mua  bán các hàng hóa thông thường khác, nhưng ẩn sau quan hệ “thuận mua  vừa bán” đó là sự bóc lột tinh vi của nhà tư bản đối với người công nhân. 

Do đó, “sản xuất giá trị thặng dư” chỉ là sự bóc lột lao động không công  của công nhân một cách tinh vi của nhà tư bản

2 Nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Đảng ta chính thức đưa ra khái niệm kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa, coi đó là mô hình tổng quát, là đường lối chiến lược nhất

quán của Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đến nay, đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xác định ngày càng sâu sắc

Về mục tiêu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. “Mục đích của

Trang 6

nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân”(1)

Đặc trưng về sở hữu: Trước đổi mới, nền kinh tế nước ta chỉ có một chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất là chế độ công hữu (gồm sở hữu toàn dân

và sở hữu tập thể). Từ khi tiến hành đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam thừa nhận trên thực tế có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, bao gồm cả công hữu và tư hữu

Đặc trưng về cơ cấu kinh tế: Là nền kinh tế có nhiều thành phần kinh

tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, các thành phần kinh tế khác là bộ phận hợp thành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế

Đặc trưng về phân phối: Thực hiện phân phối theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, dựa trên các nguyên tắc của cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước,

từ chỗ coi Nhà nước là chủ thể quyết định phân phối chuyển dần sang xác định thị trường quyết định phân phối lần đầu và Nhà nước thực hiện phân phối lại

Về cơ chế vận hành của nền kinh tế: Kết hợp giữa cơ chế thị trường với vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Tại Hội nghị Trung ương

6 khóa X, tháng 3-2008, Đảng ta khẳng định, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh tế vừa tuân theo quy luật của thị trường, vừa chịu sự chi phối bởi các quy luật kinh tế của chủ nghĩa

xã hội và các yếu tố bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây cũng

là nền kinh tế có tổ chức, có kế hoạch, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng

Trang 7

sản Việt Nam và sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vừa phát huy những ưu thế của kinh tế thị trường và kinh tế kế hoạch, vừa loại bỏ những khuyết tật của hai nền kinh tế đó, nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội. Nhà nước quản lý bằng chính sách, pháp luật, chiến lược, quy hoạch; sử dụng

cơ chế thị trường để giải phóng sức sản xuất. Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm định hướng và tạo môi trường pháp lý cho

sự phát triển các thành phần kinh tế và các chủ thể kinh tế. Trong nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, không phải thị trường điều tiết hoàn toàn mà còn có sự điều chỉnh, quản lý của Nhà nước để đạt các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ, gắn phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, khắc phục những bất cập, khuyết tật của cơ chế thị trường

Về phương tiện, công cụ, động lực của kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa, đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế,

thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Kinh tế thị trường được Đảng, Nhà nước sử dụng như một công cụ, phương tiện, một động lực để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cơ chế vận hành của kinh tế thị trường là một cơ chế mở, bị điều tiết bởi các quy luật kinh tế cơ bản: giá trị, cạnh tranh, cung cầu nên kinh tế thị trường tạo ra khả năng kết nối hình thành chuỗi giá trị cho nền sản xuất toàn cầu

Trang 8

PHẦN II : VẬN DỤNG HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ HỌC THUYẾT THẶNG DƯ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG XÃ HỘI CHỦ

NGHĨA Ở VIỆT NAM

Học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác ra đời trên cơ sở nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Học thuyết đã vạch trần thực chất bóc lột tư bản chủ nghĩa và cội nguồn đối lập kinh tế giữa giai cấp vô sản

và giai cấp tư sản. Ngày nay, từ quan điểm đổi mới về chủ nghĩa xã hội, học thuyết còn có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa

xã hội. Việc vận dụng học thuyết giá trị thặng dư đã và đang được nghiên cứu để đảm bảo tính khoa học, phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam. 

Đất nước ta phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN, việc vận dụng học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác trước hết phải nhận thức đúng khái niệm bóc lột và bóc lột giá trị thặng dư trong học thuyết Mác. Từ đó, có cơ sở khoa học để luận giải những hiện tượng kinh

tế của xã hội hiện nay. “Bóc lột” là một bộ phận người trong xã hội hoặc tập đoàn xã hội nào đó, chiếm đoạt không có bồi thường thành quả lao động của một người khác hoặc của tập đoàn xã hội khác. Theo C. Mác, việc bóc lột lao động đều có trong tất cả các hình thái xã hội từ trước tới nay vận động trong những mâu thuẫn giai cấp. Nhưng chỉ khi nào kẻ sở hữu tư liệu sản xuất tìm ra được người công nhân tự do, với tư cách là đối tượng bóc lột, và bóc lột người công nhân đó nhằm mục đích sản xuất ra hàng hoá để thu được giá trị tăng thêm, thì khi đó mới là bóc lột giá trị thặng dư, tư liệu sản xuất mới mang tính chất đặc biệt là tư bản. Ngày nay, học thuyết giá trị thặng dư vẫn có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp xây dựng nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Việc nghiên

Trang 9

cứu, vận dụng học thuyết này ở nước ta trở thành một việc làm cần thiết, theo các hướng sau đây:

- Học thuyết giá trị thặng dư của Mác được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu lịch sử nền sản xuất hàng hoá, đặc biệt là nền kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa. Cho nên, chính C. Mác chứ không phải ai khác là một trong những người nghiên cứu sâu sắc về kinh tế thị trường. Nước ta đang phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mặc dù nền kinh tế hàng hoá ở nước ta có những đặc trưng riêng của nó, song đã là sản xuất hàng hoá thì phải nói đến giá trị và giá trị thặng dư. Điều khác nhau chỉ là trong những quan hệ kinh tế khác nhau thì giá trị và giá trị thặng dư mang bản chất xã hội khác nhau. Do vậy, việc nghiên cứu những lý luận của Mác về nền kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa là việc làm có ý nghĩa thực tiễn ở nước ta hiện nay. Khi phân tích sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa, Mác cho rằng mọi hoạt động của tư bản đều xoay quanh việc tận dụng phương tiện bóc lột nhằm khai thác tối đa sức lao động để tăng thêm lao động thặng dư. Do đó, dẫn đến tất yếu kéo dài ngày lao động, tăng cường

độ lao động hay cải tiến kỹ thuật, ứng dụng công nghệ mới, tăng năng suất lao động để có thêm điều kiện thu hút nhiều hơn nữa giá trị thặng

dư, nguồn gốc làm giàu của giai cấp tư sản. Trong hai yếu tố của sản xuất hàng hóa, thì sức lao động là yếu tố cơ bản nhất, còn tư liệu sản xuất là phương tiện cần thiết cho sản xuất. Yếu tố tư liệu sản xuất là yếu tố được tận dụng để đạt năng suất lao động cao - quyết định sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội. Yếu tố thực sự tạo ra của cải, tạo ra giá trị và giá trị tăng thêm là người lao động. Do đó, lao động và chiến lược con người là vấn đề quan trọng để tạo được bước phát triển nhảy

Trang 10

vọt trong lực lượng sản xuất đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước

- Khai thác những luận điểm của C. Mác nói về quá trình sản xuất, thực hiện, phân phối giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản cùng những biện pháp, thủ đoạn nhằm thu được nhiều giá trị thặng dư của các nhà

tư bản để góp phần vào việc quản lý thành phần kinh tế tư nhân trong nền kinh tế nước ta sao cho vừa có thể khuyến khích phát triển, vừa hướng thành phần kinh tế này đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội Điều đó đòi hỏi cần có chính sách thích đáng và có hiệu lực để thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển với nhiều loại hình sản xuất kinh doanh, qua  đó thu hút nhiều lao động xã hội, sử dụng nhiều trình độ lao động để tạo ra nhiều sản phẩm thỏa mãn nhu cầu xã hội. Đó là con đường để thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế và bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

- Khai thác di sản lý luận của C. Mác nói về quá trình tổ chức sản xuất

và tái sản xuất tư bản chủ nghĩa với tính cách là một nền sản xuất lớn gắn với quá trình xã hội hóa sản xuất ngày càng cao nhằm tạo ra khối lượng giá trị thặng dư ngày càng lớn.  Khi phân tích giá trị thặng dư tương đối, Mác đã trình bày rõ các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa

tư bản trong công nghiệp với các đặc điểm, ưu thế và vị trí lịch sử của từng giai đọan. Việc nghiên cứu các giai đoạn đó giúp chúng ta nhiều bài học bổ ích trong quá trình tổ chức sản xuất ở một đất nước mà sản xuất nhỏ còn phổ biến. Trong điều kiện hiện nay ở nước ta phải coi trọng phân công lao động, phân công phải thích ứng với kỹ thuật mới phù hợp với từng đơn vị, từng ngành và toàn xã hội, mở rộng hợp tác phân công lao động quốc tế. Phân công lao động phải đảm bảo thúc

Trang 11

đẩy và tạo điều kiện cho sự phát triển hợp lý của các ngành, nghề trong xã hội, đảm bảo chuyên môn hóa và năng suất lao động cao trong từng đơn vị nhằm thúc đẩy nhanh quá trình xã hội hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa từ một nền sản xuất nhỏ trở thành nền sản xuất lớn hiện đại

- Thu hồi giá trị thặng dư và định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện cho phép bóc lột giá trị thặng dư. Điều này đã được V.I.Lênin trình bày qua lý luận và kinh nghiệm chỉ đạo thực tiễn ở nước Nga Xô Viết

Ở nước ta hiện nay, đẩy mạnh xã hội hoá sản xuất theo định hướng XHCN từ một nền sản xuất nhỏ lên nền sản xuất lớn để sản xuất ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư, cần phải: + Làm cho kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và cùng với kinh tế tập thể trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. + Khuyến khích và tạo điều kiện để các thành phần kinh tế khai thác tối đa các nguồn lực để nâng cao hiệu quả kinh tế và xã hội, cải thiện

và nâng cao đời sống cho nhân dân. + Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu. + Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tăng cường hiệu lực quản lý vĩ mô của Nhà nước; phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường

Từ việc nghiên cứu học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác và vận dụng

lý luận này trong việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

ở Việt Nam có thể rút ra một số kết luận sau đây:

- Học thuyết giá trị thặng dư - học thuyết về bản chất bóc lột và địa vị lịch sử của chủ nghĩa tư bản vẫn là cơ sở phương pháp luận để nhận thức đúng chủ nghĩa tư bản hiện đại. Học thuyết đó có ý nghĩa lý luận

Ngày đăng: 29/09/2021, 11:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w