1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ebook Một số nền văn hóa của nhân loại: Phần 1

234 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 234
Dung lượng 48,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung cuốn sách khá phong phú đề cập nhiều vấn đề cốt lõi của cội nguồn văn hóa, gồm những sự kiện lịch sử, nhân vật ở cách thời đại chúng ta hàng ngàn năm lịch sử, lại diễn ra trên một diện rộng khắp các châu lục, trong một thời gian rầt dài. Phần 1 của ebook giới thiệu đến bạn đọc những nền văn hóa: nền văn hóa dưới đáy Đại dương; nền văn hóa sông Nile - Ai Cập; nền văn hóa Hy Lạp; nền văn hóa La Mã. Mời các bạn tham khảo tài liệu!

Trang 1

®1 NY

I NV

>I

±H

Trang 2

NHỮNG NỀN VĂN HÓA LỚN CỦA

NHÂN LOẠI

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Thế giới đã gần được 6 tỷ tuổi thọ, tuy nhiên lịch sử loài người chỉ mới hiện diện khoảng 100.000 năm qua, đã phải trải qua bao thăng trầm, biến đổi và qua hàng ngàn năm chiến tranh khủng khiếp, nhưng cuộc sống con người vẫn phải luôn luôn tồn tại và phát triển qua các hình thức tổ chức xã hội khác nhau Song bất luận dưới hình thức xã hội nào, con người vẫn phải tự xây dựng cho mình một đời sống văn hóa cộng đồng Tuỳ từng hoàn cảnh

xã hội, thiên nhiên mà sự phát triển văn hóa ở mỗi vùng, miền, dân tộc có sự khác nhau Và vì vậy không có một dân tộc nào,

để tồn tại và phát triển lại không tạo dựng một nền văn hóa riêng Bất luận trong hoàn cảnh nào, từng cộng đồng dân tộc cần xây dựng cho bản thân một nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc mình Điều đó cho thấy trên khắp hành tinh chúng ta, có bao quốc gia dân tộc là có bấy nhiêu nền văn hóa.

Cuốn sách -Những nền văn hóa lớn của nhân loại- mà người

biên soạn muốn giới thiệu với bạn đọc, không có tham vọng giới thiệu đầy đủ các nền văn hóa đó ở đây chỉ xin giới thiệu những nền văn hóa lớn có truyền thống hàng ngàn năm lịch sử và có một ảnh hưởng nhất định đối với nền văn hóa thế giới Đó là các nền văn hóa:

5

Trang 5

- Nền văn hóa dưới đáy Đại dương

- Nền văn hóa sông Nile - Ai Cập

- Nền văn hóa Hy Lạp

- Nền văn hóa La Mã

- Nen văn hóa Tây Á (bao gồm: văn hóa Lưỡng Hà, văn hóa Babilon, văn hóa Assyria và Tây Babilon, văn hóa Phénicia, văn hóa Palestine).

- Nền văn hóa sông Hằng - Ân Độ

- Nền văn hóa Trung Hoa

- Nền văn hóa Maya

- Nền văn hóa Aztec

- Nền văn hóa Andes

Nội dung cuổn sách khá phong phú đề cập nhiều vấn đề cốt lõi của cội nguồn văn hóa, gồm những sự kiện lịch sử, nhân vật

ở cách thời đại chúng ta hàng ngàn năm lịch sử, lại diễn ra trên một diện rộng khắp các châu lục, trong một thời gian rầt dài Đây

sẽ là một khó khăn cho người biên soạn trong việc kiểm chứng

tư liệu Do vậy sự thiếu sót sẽ là một điều không thể tránh khỏi Mong bạn đọc gần xa góp ỳ, để cho lần tái bản sau được tốt hơn.

Người biên soạn

Trang 6

NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI

l ẵ S Ụ SỐNG LÀ G /ễ*

Thế giới sinh vật tồn tại đến ngày nay trên trái đất

có khoảng từ 4 đến 10 triệu loài: Mỗi loài một vẻ, không pha trộn và cũng không loại trừ lẫn nhau Đến nay việc phân loại sinh vật vẫn chưa đến hồi kết, bởi sự hiểu biết con người ngày càng phát triển không ngừng Mặt khác đặc trưng của mỗi loài sinh vật vẫn chưa được khám phá tường tận Hơn nửa do tác động của nhiều nguyên nhân và sự ảnh hưởng lẫn nhau của mỗi loài, mà mỗi ngày lại sinh ra nhiều loài mới

Với sự phát triển của khoa học, việc phân biệt các sinh vật và các loài vô sinh không thể chỉ căn cứ vào những tiêu chí mà con người đặt ra trong những thế kỷ trước là sự hô hâp, sự sinh sản và sự vận động

Đặc tính cơ bản của sinh vật là tính năng động Và

từ khi trong vũ trụ có sinh vật, sự nặng động của sinh vật đã làm cho thế giới ngày một đa dạng phong phú hơn Hơn nửa chỉ có sinh vật mới có khả năng sinh ra

7

Trang 7

sự chênh lệch đối xứng Trong những hoàn cảnh không thuận lọi, chỉ có sinh vật mới có khả năng thoát khỏi hoặc thích nghi để tồn tại và phát triển Cũng chỉ có sinh vật mói có khả năng hoạt động tự xức tác, tìm kiếm, tổng hợp những chất mà cơ thể thiếu hoặc cần phải có cho sự tồn tại và phát triển.

Bản thân cơ thể sinh vật, để hình thành và phát triển, đòi hỏi nhiều thành phần hóa học, chủ yếu là các họp chẩt của cacbon kết hợp vói oxy, hyđro và nitơ Cơ thể sinh vật cũng cần một lượng nhỏ kim loại như nhôm, sắt, natri Đặc biệt nước chiếm một lượng rất lớn,

có trường họp chiếm 85% trọng lượng cơ thể như cơ thể con sứa Trong khi silic là thành phần chủ yếu của khoáng vật Ngoài ra sinh vật còn khác khoáng vật ở chỗ những yếu tô" tổng họp thành sinh vật được sắp xếp thành phân tử như: đường, chất béo, axit am in o là những phân tử đặc thù của sinh vật Axit desoxyri­bonucleic, gọi tắt là ADN là phân tử đặc thù nhẩt tạo nên nhiễm sắc thể trong cơ thể sinh vật, có thể tái sinh

và chứa đựng tất cả những thông tin cần thiết cho sự sống Phân tử này hình xoắn kép, xếp thành dãy tạo nên mã di truyền

2 N G U Ồ N GỐC S Ụ SỐNG

Đầu tiên người ta đi tìm nguồn gốc sự sống qua thuyết tha sinh xuyên thiên thể để giải thích sự sống trên trái đất bắt nguồn từ một hạt của một thiên thể nào

Trang 8

đó, cho nên người ta đã dày công nghiên cứu từ những thiên thạch "cháy thành than" Năm 1884, một thiên thạch rơi xuống ở Organcil gần Toulouse, Pháp, qua nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy thiên thạch này chứa đầy hydrocacbua no, mà chất này thì không thể tạo nên môi trường sống.

Từ những nghiên cứu mang tính khoa học, các nhà học giả khẳng định rằng cần phải tìm nguồn gốc sự sống ngay trên Trái Đất chúng ta - và họ cho rằng sự sống bắt nguồn từ nước - thành phần cấu tạo chủ yếu của cơ thể sống - do một phản ứng hoá học dây chuyền phức tạp nào đây (như năng lượng bức xạ vũ trụ) trong một môi trường khác hẳn hiện nay

3ệ THỜI G IAN XUẤT HIỆN s ụ S ố N G

- Các nhà khảo cổ đã tìm thây ở Greenland, Đan Mạch và Transvall, Nam Phi các hoá thạch sinh vật có

từ 3 - 8 tỷ năm tuổi xuất hiện nhiều tảo mầu xanh trên đá vôi, tạo thành lóp đá rêu, nhờ khả năng quang họp lớn tạo nên khí oxy, đó là dạng sơ khai của sự hô hấp Các cơ thể này rất bé nhỏ chỉ khoảng dưới 60 micromet (phần triệu mét), những tế bào đơn giản không có nhân

Vào khoảng 1,45 tỷ năm xuất hiện cơ thể lớn hơn từ

100 - 600 micromet có nhân và có bào quan Theo giáo

sư Linn Margulis, Trường Đại học Boston, Hoa Kỳ, thì

Trang 9

các bào quan đó là do các tế bào không nhân, cộng sinh với nhau tạo nên Những thể hạt sinh ra vi khuẩn, các thể viên sinh ra tảo và các tiên mao sinh loại vi khuân trùng xoắn.

Các nhà khoa học cho rằng bên cạnh giới sinh vật còn tồn tại tói ngày nay qua hàng tỷ năm biến hoá còn

có thêm 4 giói sinh vật nửa tách biệt han nhau:

- Giới nấm là loại thực vật thiếu diệp lụcỆ Có loại nấm đơn bào như nấm men, đa bào như nấm gỗ

- Giói thảo mộc gồm rêu, cây hình nón và thảo mộc

Từ -570 đến - 240 triệu năm, thòi đại c ổ sinh, nhiều nhóm động vật không xương sống và có xương sống cùng xuâ't hiện Động vật có xương sống đầu tiên xuất hiện là loài cá không có hàm dưới, không có chi đại diện là lóp miệng trên có 84 loài, có mang, sống dưới nước như loài cá mút đá đã có 470 triệu năm tuổi

Khoảng - 420 triệu năm có trên 5 loài cá cốt nơạnh

hoá thạch xu ất hiện với hàm, tiếp đó là các loài giáp

cứng, hiện nay là loài cá mập vóc dáng khổng lồ dà 1 6m

là đại diện còn lại

Trang 10

ít lâu sau khi đã có hàm, vây quanh miệng phát triển thành răng Vây cá từng đôi một cứng dần lên, trở thành chi trước, chi sau vận động bằng cơ Cũng có loài

cá có tai ở gần mang, giống như hai lá phổi thông vói 2

lỗ mũi bên ngoài, một đường cho nước mắt chảy ra - loài cá này sống dưới n'ước, có 2 cách thở, bằng mang hoặc bằng phổi, gọi là lưỡng phế

Từ biển, cá bơi vào sông hồ để chinh phục đất liền

Có loài cá trôi giạt lên cạn, mang không còn tác dụng, thì hai túi ở bên cạnh có chức năng hấp thụ oxy, hydro, nitơ trong không khí để tồn tại Đó là loài cá lưỡng cư Loài lưỡng cư phát triển thành một lớp riêng đó là lóp ếch nhái

* Lớp bò sát

Khoảng - 290 lóp bò sát xuất hiện, nhưng sự xuất hiện của chúng không đồng nhất Ở kỷ Đại Trung sinh, khắp nơi lớp bò sát phát triển rất mạnh Bò sát sinh ra loài chim và loài có vú Sau này, hai loài tách ra, phân hóa trở thành lóp riêng Bò sát có vú xuất hiện đầu tiên khoảng -280 triệu năm - Thằn lằn xuất hiện cách nay

230 triệu năm là dạng trung gian giữa bò sát và động vật có vú

Một điều chưa một ai giải thích thoả đấng là vào kỷ Đại Trung sinh, loài bò sát trên cạn cũng như dưới nước, đều có kích thước khổng lồ dài khoảng 20 - 30 mét, bò sát có cánh, sải cánh dài 27 mét Đến cuối kỷ

Trang 11

Đại Trung sinh (cón gọi là kỷ Phấn trăng), cách nay khoảng 65 triệu năm, các cổ sinh vật khổng lô như thăn lằn khủng khiếp, thằn lằn bạo chúa, khủng long, và hàng nghìn loài khác, kể cả thực vật dưới biển, trên đât liền bị chết đồng loạt trong một khoảng thòi gian ngắn Qua các nghiên cứu về các tầng lớp đất đá cổ ở thời kỳ này người ta thấy lượng iridi (kim loại nặng rất độc hại) chiếm tỷ lệ rất cao Phải chăng do ảnh hưởng của núi lửa hay một thiên thạch khổng lồ nào đó va chạm trái đất phát ra năng lượng cực mạnh với nhiều mảnh vỡ lớn và đang che lấp ánh sáng mặt trời hay do mưa axit giết chết tất cả trứng của loài bò sát khổng lồ trên mặt đất, trừ loài có vứ mang thai trong bụng, các con vật sống sâu dưới đáy nước, các loài cá sấu, rùa đẻ trứng vùi sâu dưới cát Và chỉ còn một số loài chim là sống sót

để bước vào kỷ thứ 3, dưới 60 triệu năm trở lại nay

Trang 12

20 triệu năm Các loài chim khổng lồ nay không còn Loài chim voi lớn nhất hiện nay tìm thấy ở Madagasca

có chiều cao 3 mét

Hai đặc điểm nổi trội của động vật có vú là răng có nhiều loại khác nhau, chức năng khác nhau Căn cứ vào phương thức sinh sản, các nhà khoa học chia lớp có vú thành 3 nhóm lớn:

- Nhóm đơn huyết: là nhóm nguyên thu ỷ nhất, hiện còn sống ở Australia Loài này đẻ trứng

- Nhóm túi đẻ ấu trùng, tiếp tục phát triển trong một cái túi ở bụng Trước đây nhóm này có mặt ở khắp nơi, nhưng có lẽ do sức ép của nhóm có vú, mang thai bụng và nuôi thai bằng nhau thai, cho nên nhóm có túi

bị mai một dần

* Nhóm có nhau thai: là nhóm có nhiều hơn cả Sau

khi thụ thai, thai tiếp tục phát triển trong tử cung, có nhau bao quanh làm nhiệm vụ nuôi thai và loại bỏ chất thải Khi sinh, con còn non đã có thể hoàn chỉnh được nuôi bằng sữa mẹ

Động vật có vú xuất hiện vào kỷ Đại Trung sinh, nói

chung cơ thể thấp bé, nhưng ở kỷ 3, thì những động vật

có vú sống trên cạn có kích thước to lớn như con Baluchitherium, có họ vói loài tê giác cao gần 7 mét từ vai đến chân, và một số chim khổng lồ, nhưng đã tuyệt chủng do khí hậu lạnh dần từ thế kỷ 3

* Bộ linh trưởng: Linh trưởng gồm 200 loài, nhưng

Trang 13

cũng không đông lắm so vói các loài khác trong lớp động vật có vú Nhưng tiến hoá nhất và quan trọng

nhất ở chỗ trong bộ linh trưỏng có họ người, trình độ phát

triển cao hơn hẳn các động vật khác, cơ thể tinh vi phức tạp với những khả năng kỳ diệu mà tói nay con người văn minh hiện đại chúng ta vẫn chưa khám phấ hết

Bộ linh trưởng thuộc lóp động vật có vú, đi trên gan bàn chân, có những đặc điểm sau:

- Thần kinh sọ não phát triển so với khối mặt tương đối nhỏ, mõm mất dần

- Hai hốc mắt phía trước xa vùng thái dương, liền với xương trán, có gò bao quanh Thị giác phát triển, phân biệt được chiều nông, sâu, cao, thấp, trước sau của

các đồ vật trước mặt, rất thích hợp vói cuộc sống trong

lùm cây rậm rạp vùng rừng nhiệt đới Khứu giác, xúc giác kém phát triển so vói các động vật khác

- Bộ răng hoàn chỉnh, từng đôi một, nhiều kiểu bao gồm răng cửa, răng nanh, răng hàm, vói những chức năng khác nhau như: cắn, xé, nghiền Hàm dưới cử động theo chiều thẳng đứng, thích hợp với cách ăn thực vật, rau quả, củ

- Cột sống có 26 đến 33 phần tử không kể đốt đuôi Tuỳ loài mà có đuôi dài hoặc ngắn, thậm chí có loài đuôi thoái hoá cụt hẳn

- Xương đòn có vai trò quan trọng (có một số động vật có vú không có xương đòn) đỡ hai chi trên

Trang 14

- Xương chậu phát triển theo hình thang đỡ hai chi dưới Đầu các chi có 5 ngón cử động dễ dàng, thuận tiện cho việc trèo, di chuyển bằng cách bấu víu chặt các cành cây rồi đánh đu sang cành khác Ngón cái to hon các ngón khác Riêng ngón tay cái có thể chụm được vào trong các ngón khác.

- Khối xương cổ tay có 9 xương Trong đó có xương đậu và xương giữa, xương thuyền và xương vừng trăng tách rời nhau; xương trụ và xương quay cử động riêng

rẽ, khiến bàn tay có thể úp ngửa dễ dàng Ở cẳng chân, xương ông quyển và xương mác tách rời nhau Vuốt ở đầu tứ chi mất dần chức năng tự vệ thay bằng móng có vai trò bảo vệ các đầu chi

Vú của loài động vật có vú thường có một cặp vú trước ngực; tử cung đơn giản, có hai vòi Nhau thai hình đĩa, cùng phát triển song song với thai, có chức năng hấp thụ thức ăn để nuôi thai và lọc thải châ't bã của thai

Các con linh trưởng đầu tiên xuất hiện cách nay 70 triệu năm Môi trường sống của chúng là những rừng cây, đồng cỏ

Linh trưởng đầu tiên được các nhà khảo cổ học và

cổ sinh vật biết đến con linh trưởng đầu tiên là con Purgatorius sốn g cùng thòi với loài khủng long, ở cuối

kỷ Phân trắng Hoá thạch của nó tìm thẩy ở thung lũng Purgatoire bang Montana, Mỹ Tuy chỉ có 44 răng còn lại, trong đó có 3 răng cửa, 1 răng nanh và 4 răng hàm

Trang 15

nhỏ Con linh trưởng hoá thạch purgatorius được các nhà khảo cổ và cổ sinh vật học xếp vào nhóm Plesiadapiforme, đại diện là con plesiadapis - hoá thạch tìm thấy ở Cernay gần Reims (Pháp) sống ở đầu

kỷ 3 thuộc châu Âu, Bắc Mỹ, thân hình bé nhỏ, hốc mắt liền với hố thái dương, vuốt ở đầu chi, chưa biến thành móng, bộ răng đã hoàn chỉnh, chứng tỏ thức ăn đa dạng Nhóm Plesiadapiforme được các nhà khoa học gọi là bán linh trưởng (Peneprimates) - Đến đầu đời Êoxen, cách nay khoảng 50 đến 55 triệu năm trên lục địa cổ Laurasie (bao gồm Bắc Mỹ, châu Âu - châu Á lúc

đó còn liền nhau xuất hiện nhóm Adapiforme đại diện

là con Adapisparisiensis - hóa thạch tìm thấy ở đồi Monmartre vào năm 1882, nhưng phải 80 năm sau đến đầu thế kỷ XX, các nhà khoa học mới thừa nhận là linh

trưởng Ở Bắc M ỹ người ta cũng tìm thấy con Notharcus

đều là những con linh trưởng chính tông đi 4 chân, di chuyển bằng cách nhảy từ cành này sang cành khác.Riêng con Sivaladapis còn sống ở các miền nhiệt đới của An Độ đến cuối thời Mioxen cách nay 10 triệu năm phần lớn thuộc loài Adapiformes bị diệt vong vào thời

kỳ băng hà cuối thời Êoxen, cách nay 40 triệu năm, không được xếp vào loại linh trưởng Nhưng nhiều nhà khoa học lại cho rằng giông vượn cáo (Lemuriformes) hay còn gọi là khỉ bậc thâp (prosimiens) là hậu duệ của con Sivaladapis, nhưng vẫn còn nhiều tranh luận bởi lẽ chưa xác định được niên đại rõ ràng Hơn nữa giống vượn cáo gốc gác châu Phi nhưng tói nay chưa tìm thấy

Trang 16

hóa thạch nào của con Adapis ở Phi châu cả Người ta chỉ mói biết giống vượn cáo Lemuriformes xuất hiện ở miền Đông Phi vào giữa thời Miôxen cách nay 15 triệu năm sau khi các con Adapiformes đã bị diệt vong.Trong giống vượn cáo này còn có loài cu li (Lorisidae) thường sống ở châu Phi, Nam Á và ở Madagasca Ngày nay chúng luôn luôn bị đe doạ tuyệt chủng, bởi nạn phá rừng Nhưng cách nay vài nghìn năm chúng đã trải qua một quá trình tiến hoá đáng kinh ngạc Qua bộ sưu tập xương hóa thạch của loài vượn cáo Madagasca cho thấy chúng phát triển cao hơn

cả những con khỉ châu Phi thực thụ Đó là các con Megaladapis hoá thạch rất giống gấu con hay con Palacopropithecus có xương sống đang phát triển gần vói loài khỉ

Cùng với giống vượn cao câp Lemuripormes, trong phân bộ khỉ bậc thấp prosimiens có con phủ hầu Tarsier sống ở một số đảo thuộc vùng Đông Nam Á, hiện còn nhiều ở Indonesia, chỉ to bằng con chuột cống, đuôi dài không có lông, sống bám vào thân cây hoặc các cành thẳng đứng, di chuyển bằng cách nhảy rất nhanh và dài, do khối xương cổ chân dài và khoẻ Mắt

to, dễ nhìn ban đêm Loài phủ hầu rất gần với

O momyidae có ở châu Âu và Bắc Mỹ vào thời Êoxen cách nay 50 triệu năm cùng thời với giống Plesiadapiformes Phần lớn loài Om omyidae cũng không sông được qua thời Êoxen, ngoại trừ con

Trang 17

Ekgmowechashala, xương hóa thạch của nó tìm thây ở Bắc Mỹ có niên đại cách nay 30 triệu năm, thời Ổligôxen.

Về nguồn gốc của con phủ hầu Tarsier, người ta cho rằng nó là láng giềng với loài pseudoloris xuât hiện ở Tây Âu đầu thời Êoxen Theo nhà động vật học tiêu biểu R I Pocock thì con phủ hầu Tarsier có nhiều đặc trưng gần với loài khỉ chính tông (Euprimate) Cùng với loài Omonyidae nó tạo thành giông phủ hầu Tarsiiformes có nhiều đặc trưng tiến hoá hơn các linh trưởng khác phải được xếp với loài khỉ simiens trong một nhóm chung gọi là linh trưởng mũi bình thường (Haplorhini), còn giống vượn cáo Lemuriformes và giôVig Adapiformes thuộc nhóm linh trưởng mũi xoắn (Strepsirhini), mũi dài hơn, có nhiều tuyến nhờn, môi trên tách khỏi mũi, trong khi nhóm linh trưởng mũi bình thường, môi trên liền vói mũi, vùng giữa lỗ mũi khô ráo, có lông, không có tuyến nhờn

Tuy nhiên cách phân loại như trên còn gây ra tranh cãi chưa đi đến hồi kết Mới đây, năm 1996, nhà động vật học và phân loại học nổi tiếng Schwartz đã cân nhắc cách lập luận khác nhau, kết họp nguyên tắc phân loại

và nguyên lý phát sinh giống loài để đi đến kết luận trở lại cách phân loại cũ là chia ra bộ phận tiền khỉ prosimiens (hay còn gọi là linh trưởng hạ đẳng), có mở rộng thêm giống phủ hầu Tarsius gồm giông vượn cáo

Trang 18

Lemuriformes, giống cu li Loriiformes và phân bộ khỉ chính tông simiens vói tên gọi Anthropodea.

podea)

Gồm các loài khỉ chính tông xuất hiện cách nay

khoảng 50 triệu năm với con Pondaungia và

Amphipithecus sống vào đầu thòi Êoxen ở Mianma,

muộn hơn có giống Parapithécidés (hoá thạch tìm thây

ở Fayoum gần thủ đô Cairo, Ai Cập) với các con

Qatranỉa, Apidium và Parapithecus sống cách nay 35 - 32

triệu năm thời Ôligôxen Tuy không khẳng định chúng

có phải là tổ tiên của giống khỉ châu Phi không nhưng các nhà khoa học cho rằng chúng rất gần gũi với giôVig

Khỉ mũi tẹt (Platyrhiniens) với các đặc trưng sau: hai lỗ

mũi nằm cách xa nhau, nhưng thẳng ra phía trước, ngón tay cái không hoàn toàn chụm vào 4 ngón khác, đuôi phát triển và nắm được, làm nhiệm vụ bàn tay thứ

năm Khi mũi tẹt - hoá thạch lâu đòi nhất là con

Branisella tìm thây ở Bolivia, có niên đại khoảng 35 triệu

năm Khỉ mũi tẹt, ngoài Nam Mỹ ra, không thây có ở đâu cả và cho tới nay cũng chưa tìm thây hoá thạch có

niên đại lớn hơn Branisella Theo R Hoffstetter, người

phát hiện ra Pranisella thì khỉ mũi tẹt từ châu Phi vượt Nam Đại Tây Dương, trên những chiếc bè kết tự nhiên bằng các cành hay các thân cây Các hải lưu thời đó không thuận lợi cho việc vượt biển theo hướng Nam - Bắc, ngược lại thuận lợi cho hướng Đông - Tây

Trang 19

Khỉ mũi dưới (Catarhimiens) có đặc trưng là hai lô mũi gần nhau, hướng lên trên hoặc dưới, hàm trên không có răng hàm nhỏ (chỉ có 32 răng), răng hàm nhỏ

ở dưới tạo với răng nanh ở trên thành hai mũi kéo giao nhau; ở các đầu chi, móng bẹt thay dần vuôt nhọn, không có đuôi hoặc đuôi ngắn, không nắm được, ngón tay cái hoàn toàn chụm vào 4 ngón tay khác Khỉ mũi dưới có niên đại lâu đời nhất là 35 triệu năm Các hoá thạch khỉ mũi dưới tìm thấy ở Đông Phi, Bắc Phi và châu Âu có niên đại cách hoá thạch Fayọum gần chục triệu năm Cách nay hơn 20 triệu năm thời Miôxen, khỉ mũi dưới đã chia thành hai họ lớn: Họ khỉ đuôi Cercopithecoidea và họ khỉ dạng người Hominoidea.Khỉ Cercopithecus có răng hàm trên giống răng

hàm dưới với các núm rất khớp nhau, răng nanh hàm

trên tạo vói răng hàm nhỏ phía dưới thành hai mũi kéo rất sắc nhọn như một vũ khí lợi hại M ột số loài khỉ đuôi sông trên cây, nhưng cũng có một số loài sống trên mặt đất, với đôi chân di chuyển chậm chạp Thức ăn phong phú, một phần còn giữ lại ở hai bên túi má trước khi nhai Gan và dạ dày đơn giản hơn Khỉ đuôi hoá thạch có niên đại sớm nhât là 16 - 18 triệu năm, được tìm thây ở hô Victoria (Kenya), Đông Phi, với tên gọi

Victoriapithecus và tìm thây ở Bắc Phi được đặt tên là Prohylobates

Họ khỉ dạng người (Hominoidea) gồm tâ^t cả khỉ

mũi dưới, trừ khỉ đuôi Cercopithecus và O reopithecus

Trang 20

Ngày nay đại diện cho họ khỉ này chỉ còn các loài khỉ châu Á không đuôi Gibbon, loài đười ươi Orang Outan, loài hắc tinh tinh Chimpanze, loài khỉ Gorila và loài

Người chúng ta Nhưng khoảng 15 triệu năm trước đây

vào thời Miôxen, chúng có đến 10 loài khác nhau Đặc trưng của khỉ dạng người Hominoidea khác khỉ đuôi Cercopithecoidea ở chỗ tuy vẫn sống trong rừng rậm rạp nhưng chúng không di chuyển chậm chạp bằng 4 chân như khỉ có đuôi mà di chuyển theo chiều ngang đánh đu từ cành này sang cành khác, do đó hai chi trên dài và khoẻ có thể nâng cả trọng lượng cơ thể, ngực nở, xương bả vai gắn liền với lưng, khớp xương cánh tay khoẻ hơn, cổ tay vận động mềm dẻo hon, nhưng khuỷu tay co ra co vào vững chắc và dứt khoát hơn Xương trụ

ở cánh tay, không dính liền với khối xương cổ tay, nên bàn tay có thể úp xuông, ngửa lên dễ dàng Xương chậu rộng ra và ngắn lại cũng như hai chi dưới, đuôi có xu hướng cụt dần rồi biến mất Bộ não phát triển, cánh kéo giữa răng nanh và hàm trên và răng hàm nhỏ ở hàm dưới không sắc cạnh như ở khỉ đuôi Núm răng bớt nhọn, không tạo thành những đỉnh theo chiều ngang như ở khỉ đuôi

Giống khỉ dạng người Hominoidea cổ xưa nhất là

con khỉ rừng rậm Dendropithecus sống vào cuối thời

Miôxen (cách nay 20 triệu năm), ở miền Đông Phi có nhiều điểm giống khỉ châu Á không đuôi Gibbon, thân hình không to lớn với hai chi trước nhỏ nhắn hơn Loài

khỉ Pliopithecus sống vào giữa thời Miôxen ở châu Âu

Trang 21

cách nay khoảng 15 triệu năm (hoá thạch tim thay ơ

Pháp) được xem là loài khỉ mũi dưới Ccitcirlunưn đau

tiên từ Phi châu di cư sang châu Âu, muộn hcm so với

khỉ rừng rậm châu Phi Dendropithecus, nhưng lại có

nhiều đặc trưng nguyên thuỷ hơn (cổ tay kém cơ động hon, xương tay ngắn, đuôi còn phát triển)

Cách nay khoảng 20 - 10 triệu năm, họ hàng khỉ dạng người khá đông, địa bàn cư trú khá rộng, ơ châu

Ầu có khỉ cây sồi Dryopithecus fontani, sống giữa thời

Miôxen, hóa thạch tìm thấy ở Saint - Gaudens năm

1857, ở miền Đông Phi là con Aegi/ptopithecus hóa thạch

tìm thấy ở Fayoum có niên đại 31 triệu năm, và gần

Limnopithecus sống vào đầu và giữa thời Miôxen (23 -

12 triệu năm) hoá thạch tìm thây ở đảo Rusinga, hồ Victoria (Kenya) năm 1948 - Những phát hiện mới đây trong những năm 1947 - 1977 cho biết thêm hậu duệ của loài khỉ rừng rậm châu Phi xuất hiện ở châu Âu

như con khỉ Mưa Ouranopitìiecus hóa thạch tìm thấy ở

thung lũng Mưa thuộc Macedonia của nước Hy Lạp vào năm 1974, có niên đại giữa 15 và 10 triệu năm; Con

Ouranopitlỉccus sau này tiến hoá thành các giông linh

trưởng khổng lồ ở Trung Quốc, Ấn Độ và Pakistan, tiêu

biểu là con Gigantopithecus có niên đại giữa 11 và 1 triệu năm Con khỉ của thân Rama Ríìmcipitlĩecus hoá thạch

tìm thấy ở Ân Độ và Pakistan năm 1934 Con khỉ thần

Siva Sivapithecus, hoá thạch tìm thây ở Hv Lạp

Hungarie, Thổ Nhĩ Kỳ, Ân Độ và Trung Quốc được

Trang 22

nhóm khảo cổ Trường Đại học Harvard (Mỹ) xem như

là tổ tiên loài đười ươi Orang Outang

Xung quanh các con Drỵopithecus, Ouranopithecus,

Kenyapithecus và Sivapithecus xẩy ra nhiều cuộc tranh

luận nảy lửa liên quan đến nguồn gốc xa xưa của loài người mà cho tói nay vẫn chưa ngã ngũ

khoa học xếp các loài khỉ lớn như đười ươi Orang Outang, khỉ Gorila, hắc tinh tinh Chimpanze vào cùng một giống đười ươi Pongides, tách hẳn họ người cách nay từ 50 - 10 triệu năm, từ thòi Êoxen đến cuối Miôxen, nhưng gần đây qua các công trình nghiên cứu phân tích nhiễm sắc thể và các dãy acide amin trong protein và các kỹ thuật miễn dịch cho phép kết luận rằng giống đười ươi Orang Outang không thể xếp chung cùng với các loài khỉ lớn châu Phi khác mà đứng tách biệt ra bên cạnh một nhóm chung được gọi là Homininae gồm khỉ lớn châu Phi và người, hai chi họ này tạo thành họ lớn Hominidae Những cuộc nghiên

cứu phân tích mới đây cũng cho biết loài Người chúng

ta tách từ loài khỉ Pan - Chimpanze không phải cách nay từ 20 - 30 triệu năm như quan niệm trước đây, mà chỉ cách nay không quá 5 triệu năm

Trong các loài khỉ lớn châu Phi loài Pan -

Chimpanze có nhiều đặc trưng gần vói loài Người hơn

cả Loài đười ươi Orang Outang mới xuất hiện ở Nam Trung Hoa và Indonesia từ giai đoạn đầu của kỷ thứ 3

Trang 23

c á c h n a y 2 t r i ệ u n ă m v à c ũ n g k h ô n g k h á c l ă m s o VƠI

con đười ươi Orang Outang hiện nay

Như vậy, tổ tiên xa xưa của loài Người chúng ta đã được biết khá tường tận với các giống Australopithecus

và Homo có niên đại 3 - 4 triệu năm.

Giống khỉ phương Nam Australopithecus được các

nhà khảo cổ và cổ nhân chủng học nhất trí thừa nhận là

tổ tiên trực tiếp xa xưa nhất của loài Người Địa bàn cư

trú của chúng là miền Đông Phi (Êtiopia, Kenya và Tatania) và miền Nam Phi có niên đại từ 6,5 - 1 triệu năm

Khỉ phương Nam có 2 dạng: dạng mảnh mai có 2 loài: khỉ phương Nam Afar (địa danh tìm thấy hoá

thạch của loài khỉ này) Australopithecus afarencis và khỉ phương Nam châu Phi Austrcilopithecusafricanus Dạng

to, khoẻ cũng gồm 2 loài: Khỉ phương N am to lớn

Australopithecus robustus và khỉ phương Nam rừng rậm

Australopithecus boisei

Tiêu biểu cho khỉ phương Nam Afar là bộ xương hóa thạch gần như hoàn chỉnh (tìm thây ở Afar, Kenya) năm 1976 Các nhà nghiên cứu đã xem xét trình độ tiến hoá của mẫu vật đã khẳng định là xương của một giôVig khỉ phương Nam đã đi được bằng hai chân,tuy chưa được hoàn thiện Điều đó chứng tỏ dấu ấn của cuộc sống trên cây, ngón chân cái to và song song với 4 ngón khác, gan bàn chân không thẩng mà cong Điều này phù hợp với dâu chân 3 con khỉ (2 lớn, 1 bé) do Mary

Trang 24

Leakey (nữ cổ nhân chủng học, người Anh), phát hiện

năm 1976 trên bãi cát ở Laetoli (Tanzania) Năm 1974,

Donal Johanson (Mỹ) và Maurice Taeb (Pháp) đã tìm thấy 52 mảnh vụn ở Hadar (Etiopia) và đã kết luận là

di cốt của giống khỉ phương Nam Australopithecus, lúc đầu các nhà khoa học tưởng là con cái, nhưng 2 năm sau, 1976, xem lại kỹ mảnh xương chậu nên đã kết luận

là hóa thạch của con khỉ đực

Từ tháng 12 - 1992 đến 12/1993 các nhà khoa học về người Thái cổ là Tim White (Anh); Gen Suywa (Nhật)

và Berhane Asfaw đã tìm thấy ở Aramis gần thung lũng Awash (Êtiopia) răng và nhiều mảnh xương hóa thạch của một nhóm từ 17 đến 20 con khỉ lớn có thể đoán định là có họ hàng giống với khỉ phương Nam

Australopithecus Năm 1995, một nhóm các nhà khoa

học quốc tế khác trong đó có Michel Brunet (Pháp), Alain Beauvilain (Trung tâm Nhân loại học Đông Phi ở N'Djamena), Yves Coppens (Trường Đại học Pháp), Emile Heintz (Trung tâm Nghiên cứu khảo cổ DRGM

ở N 'D jam ena) và David Pilbeam (Trường Đại học Harvard, Mỹ) đã tìm thây nhiều m ảnh xương hoá thạch ở Cộng hoà Tchad và kết luận là của giông khỉ phương N am đ ặt tên là A u stra lo p ith ecu s

B ahrelghazali Điều đó chứng tỏ H om inidae đã di cư

từ m iền Tây sang Đông

Hoá thạch khỉ phương Nam tìm thấy nhiều ở Đông

và Nam Phi chứng tỏ có sự di cư từ miền Tây rậm rạp

ẩm thấp sang miền Đông và Nam có nhiều đồng cỏ khô

Trang 25

ráo hơn Năm 1995, nhà cổ nhân chủng học Meave Leakey - con dâu của Mary Leakey (Anh) cũng tìm

thấy những mảnh xương hoá thạch của khỉ phương

Nam ở Kenya, có niên đại 3,3 triệu năm được đặt tên là

Australopithecus anamensis Đại đa số các nhà khoa học

đều công nhận khỉ phương Nam Afar - A ustralopithecus

afarensis là tổ tiên một mặt của Người khéo léo - H om o habiỉis thuộc một giống khỉ phương Nam khác Nhưng

cũng có ý kiến cho rằng Australopithecus afarensis là một

chi của giống khỉ phương Nam africanus tổ tiên của

Người khéo léo - Homohabilis và khỉ phương Nam to lớn Australopithecus robustus và khỉ phương Nam rừng rậm Australopithecus boisei Nhưng Y Coppens, một học giả

lớn, năm 1980 lại xếp khỉ phương N am A far -

Australopithecus afarensis là một giống riêng biệt tạm

gọi là Tiền khỉ phương Nam Afar

Hoá thạch khỉ phương Nam ở châu Phi

Australopithecus africcimis tìm thây ở Nam Phi, có niên

đại 3 triệu năm tại các di chỉ Sterfontein, M akapansgat, Taung và Đông Phi (Êtiopia, Kenya), thân hình cao 1,20 mét, nặng khoảng 20 - 30 kg, thể tích hộp sọ chừng 400 cm-, xương sọ tròn về phía sau, răng nanh và răng cửa phát triển, bộ răng hàm nhỏ dần

Hoá thạch khỉ phương Nam to lớn tìm thây ở N am Phi, còn khỉ phương Nam rừng rậm tìm thấy ở Đông Phi (Êtiopia, Kenya, Tanzania), có niên đại khoảno 2 5 triệu năm, thể tích hộp sọ trung bình khoàng 500cm^ trán nhô ra phía trước, đỉnh gáy khoẻ, đáy sọ ngắn

Trang 26

hàm răng khoẻ, răng cửa và răng nanh nhỏ, răng phía sau to, thức ăn thảo mộc đã có rễ và củ.

Vào khoảng cách nay 4 triệu năm, rừng và đồng cỏ còn rậm rạp, việc kiếm ăn còn dễ, nhưng từ khoảng 1,5 triệu năm sau đó, nạn hạn hán, đồng cỏ ít dần, khí hậu

khắc nghiệt, kiếm ăn khó khăn, chính là thời điểm con

người khéo léo - Homo habilis xuất hiện để thay thế giống

khỉ phương Nam trong môi trường mới

* Giống người tiền sứ Homo

cạn trùng hợp với sự xuất hiện con người thật sự đầu

tiên Người khéo lẻo Homo - habilis, ngày nay đã được

phần lớn các nhà cổ nhân chủng học nhất trí thừa nhận

Loài Người khéo léo Hom o - habilis xuất hiện đầu tiên ở

Đông Phi (Kenya, noi npười ta tìm được 1 hộp sọ rất lớn

1470 cm3 ở dì chỉ Đông Turkana, nhưng tiếc rằng nay đã

bị mất), ở Tanzania, Etiopia có cả ở Nam Phi (hoá thạch tìm thấy vào năm 1976), chắc chắn có niên đại ít nhất trên 2 triệu năm (di chỉ Kanapoi, Kenya có niên đại 4 triệu năm, ở Hadar (Etiopia) có niên đại 3 triệu năm) Dung tích hộp sọ có thay đổi từ 500 đến 800 em’, vòm

sọ dài, vùng xương chẩm tròn, gờ trên hốc mắt nhỏ hơn

so với các loài có trước (như khỉ phương Nam) vòm miệng khá sâu, hàm bớt nặng nề so vói khỉ phương Nam Bộ răng hoàn chỉnh thích hợp vói các loại thức ăn tạp, răng nanh mọc và lớn theo cơ thể, răng hàm hẹp và dài Kỹ thuật chế tác công cụ phát triển dần - Tổ chức

xã hội cũng trở nên ngày càng phức tạp - Giống người

Trang 27

tiền sứ Homo vừa ở trong rừng cây vừa ở thành từng bầy

đàn trên các đồng cỏ gần các hang động để tránh mưa bão và khí hậu khắc nghiệt

- Người đím g thằng Homo erectus

Người đứng thẳng Homo erectus, được phát hiện lần đầu tiên vào cuối thế kỷ XIX ở Java, Indonesia, gọi

là người vượn Java Pithecanthrope rồi ở Trung Quốc,

Chu Khẩu Điếm, Bắc Kinh vào năm 1921 - 1937, được

gọi là người vượn Bắc Kinh Sinanthrope.

Người đứng thẳng Homo - erectus, trước đây nhiều

người cho rằng chỉ có ở châu Á, nhưng qua những cuộc khai quật khảo cổ mới đây vào năm 1954 ở Bắc Phi rồi

ở Đông Phi (Tanzania, Tchad, Kenya, Etiopia) và cả ở

châu Âu cho thây người đứng thẳng Homo - erectus đã có

mặt ở trên toàn thế giới củ (Á, Âu, Phi)

Người đứng thẳng Homo - erectus Bắc Phi được gọi là Atlanthrope Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận rằng người đứng thẳng Homo - erectus lâu đời nhất vẫn là ở

châu Á Những chiếc răng người tiền sử tìm thấy ở Vân Nam Trung Quốc, có niên đại 1,7 triệu năm, ở Đông Phi (Đông Turkana, Kenya) có niên đại 1,6 triệu năm, ở Bắc Phi còn muộn hơn (700.000 năm), ở Mauer (Đức) cũng

có niên dại 700.000 năm, ở Tautave (Pháp) muộn hơn

n ử a khoảng 450.000 năm Dung t í c h h ộ p sọ từ 7 5 0 -

1225 cm 5 Xương sọ dài và thâp, vòm sọ dàv, trán hót ra phía sau Gờ trên hốc mắt dày và chắc (ờ người

Pithecanthrope trông như lưỡi trai chiếc mũ đội đầu)

Trang 28

đường vòng quanh thái dương khá rộng, vùng chỏm góc cạnh, cằm chỉ chớm thấy, nhưng chưa thấy rõ lắm

Bộ răng rất gần với người hiện đại ngày nay, nhưng răng to hơn Xương sau của sọ hoi khác chúng ta ngày

nay chút ít Công cụ lao động của người đứng thẳng

Homo - erectus đã tinh vi hơn: rìu đá 2 mặt Nơi cư trú

đa dạng hơn Môi trường sống của người đứng thẳng

Homo - erectus cũng đa dạng hơn: vùng xích đạo (Java),

gần đồng cỏ ôn đới (Chu Khẩu Điếm, Bắc Kinh, Trung Quốc), nơi có khí hậu khô cằn ở Maghreb Bắc Phi, vùng

đồng cỏ có lúc khô ở Đông Phi Người đứng thẳng Homo

- erectus đ ã c ó b ế p l ò đ ể n ư ớ n g t h ị t , đ ể l à m t h ứ c ă n v à

sưởi ấm, một thành tựu quan trọng về tổ chức cuộc sống của người nguyên thuỷ: như ở hang Escale ở vùng cửa sông Rhône (Pháp) có niên đại 800.000 năm, nhưng đặc biệt quan trọng nhất là ở Chu Khẩu Điếm có niên đại 350.000 năm - 400.000 năm Kỹ thuật chế tác công

cụ lao động đã tiến bộ vượt bậc Có nhiều dấu tích thu lượm được ở Java, Trung Quốc, Tanzania chứng tỏ người nguyên thuỷ đứng thẳng đã có những tập tục sơ khai nào đó Giữa 1,8 triệu năm và 700.000 năm ở châu

Âu không còn xương cốt hóa thạch của người nguyên thu ỷ, nhưng lại có nhiều vết tích về địa điểm cư trú, về công cụ do người nguyên thuỷ chế tác

derthalensis

Năm 1856, người ta đã phát hiện một hóa thạch ở

Trang 29

thung lũng X’eander (Đức), do đó có tên Neanderthal, sau đó còn có vết tích ở Hanofersand (Tây Đức), có niên

đại 80.000 năm kéo dài tói 35.000 năm Người khôn ngoan

Néandéctan còn có ở Pháp (La Chapelle aux Saínt, tỉnh

Correze; La Ferrassie; tỉnh Dorđoque ), ở Italia (Mont Circé), ở Tâv Bđn Nha (Gibralta) và ở Thuỵ Sĩ (Drachenloch), tiếp đó di cư sang vùng Cận Đông (Tabun, Skuhl - Israel) Shanidar (Iraq), rồi đi tiếp về phía Đông: Krapina (thuộc Nam Tư cũ), Teshiktash (Uzbekistan), Chu Khẩu Điếm, gần Bắc Kinh (Trung Quốc)

Người khôn ngoan Néandectan c ó hình dáng trán hớt

ra phía sau, sọ dài, chỏm lồi, xương gò má hớt ra phía sau, làm khuôn mặt có hình mõm, gờ trên hô"c mắt nổi

rõ, khuôn mặt cao và lồi, lỗ mũi mở rộng, dung tích hộp

sọ đạt tới 1.700 em’, khớp cằm thẩng hoặc hớt ra phía sau, xoang trán và xoang má phát triển

Người khôn ngoan Néadectan có kỹ thuật chế tác công

cụ lao động khá tiến bộ, biết bổ dọc đá thành từng

mảnh, để chế ra những công cụ tinh vi hơn người đứng

thẳng Homo erectus trước đó Họ đã biết chôn người

chết, chứng tỏ về mặt xã hội đã có sự thừa nhận đơn sơ

về cá nhân Một số nơi như ở Harus (Pháp) và Krapina (Nam Tư cũ) có biểu hiện tình trạng ăn thịt nơười

Khí hậu trái đất vào thời đại con người khôn ngoan

Néandéctan đang ôn hóa bông trở nên rét cóng Nhiều

tảng băng tràn ngập phần lớn lãnh thổ châu Âu Xhiều cánh rừng biến mất trở thành những trảng cò rộng lớn

Trang 30

Những con ma mút, tê giác lông lá xuất hiện cùng với các loài sơn dương, tuâYi lộc, dê rừng, gấu ở hang, tạo nên hệ động vật đặc trưng chịu rét.

Người Néandéctan bị diệt vong cách nay khoảng 35.000 năm, đến nay vẫn chưa rõ lý do Nhưng qua các dấu tích để lại ở Israel, ở Đức có thể phỏng đoán họ đã hoà nhập hoặc lai giống với các cư dân khác phát triển hơn

Người khôn ngoan thông minh Homo Sapiens Sapiens Người khôn ngoan thông minh Homo Sapiens Sapiens

sống cùng thời với người khôn ngoan Néandéctan, là một

loại cư dân hiện đại xuất hiện đầu tiên ở Cân Động, cách nay chừng 50.000 năm Các cuộc khai quật khảo cổ

ở Qafzeh và ở Skuhl đã chứng minh điều này So sánh

với người khôn ngoan thông minh Homo Sapiens Sapiens

(người hiện đại) thì những mẫu vật tìm thấy ở Israel có nhiều đặc tính chung: đầu ngắn, thân hình cao to, cân đối, sọ tròn trịa hơn, trán cao, có hố nanh, không còn dáng mõm Mặt thẳng hàm, dung tích hộp sọ thay đổi

từ 1.000 đến 2.000 em ’, cằm hiện rõ Xương sọ phía sau

có nhiều điểm giống vói người hiện đại

Người khôn ngoan thông minh Homo Sapiens Sapiens

dạng Israel có thể coi n h ư người tiền Cro - Magnon Họ

đã từ Cận Đông di cư sang phía Tây để sinh ra người

Cro - M agnon, có niên đại 30.000 - 25.000 năm, được

phát hiện ở Dordogne (vùng Tây Nam Pháp) vào năm

1868, sau đó người ta còn tìm thấy ở Chancelade vào

Trang 31

năm 1888, có niên đại 16.000 năm Đặc biệt là người ta

tìm thấy ở Predmost (CH Séc) 29 bộ di cốt hoá thạch

Người khôn ngoan tlỉông minh Homo Sapiens Sapiens, có

niên đại 12.000 năm, rồi tìm thấy ở Taforalt (Maroc), Afalou Bou Rhumel (Algerie) Đến thòi đại đồ đá mới,

Người khôn ngoan thông minh Homo Sapiens Sapiens đã có

mặt ở tâ't cả các châu lục mà con người hiện đại ngay nay là hậu duệ sau cùng của họ

Cho đến nay các nhà khoa học chưa tìm được những

di cốt hoá thạch để giải thích về mối quan hệ giữa

những Người đứng thẳng Homo - erectus và những Người

khôn ngoan thông minh Homo Sapiens Sapiens.

Nguồn gốc của Người khôn ngoan thông minh Homo

Sapiens Sapiens không phải chỉ xuất hiện một vùng nhất

định nào đó ở Đông Phi rồi di cư đến Cận Đông, châu

Á, châu Âu, châu Mỹ và châu Đại Dương như quan

điểm một số người theo thuyết "một trung tâm" điều chắc chắn là Người khôn ngoan thông minh H om o Sapiens

Sapiens từ Người đứng thẳng Homo erectus mà ra và cùng

tiến hoá trong khắp mọi khu vực của hành tinh chúng

ta như quan điểm của những người theo thuyết "nhiều

trung tâm".

Công cụ lao động của Người khôn ngoan thông minh

Homo Sapiens Sapiens đã có nhiều tiến bộ trong khâu chế

tác Cụ thể công cụ đá có độ chính xác cao, thanh đã biết gọt, đẽo, khắc xương và ngà đã chế được kim khâu

có lỗ,.làm lưỡi câu Hình thành một số tục lệ so khai

Trang 32

như thường xuyên thăm viếng lẫn nhau giữa các hang động, khắc họa lên vách đá một số hình tượng trưng Khoảng 8.000 năm trước Công nguyên người hiện đại Cận Đông đã biết làm nông nghiệp, chăn nuôi, làm

đồ gốm, đã có sự trao đổi hàng hoá

Cuối cùng, vào khoảng 3.500 năm trước Công nguyên chữ viết ra đời Loài người bước vào Lịch sử

Con Người khôn ngoan thông minh Homo Sapiens Sapiens

là hình mẫu của loài người hiện đại ngày nay có mặt trên khắp các lục địa từ 40.000 năm nay, và đã thích nghi với mọi loại hình khí hậu trên mọi vĩ tuyến và kinh tuyến và có cuộc sống vô cùng phong phú và đa dạng về vật chất và văn hóa

- Thuyết tự sinh: Thuyết này được các nhà bác học,

nhà thơ, triết học chấp nhận Theo thuyết này các động

Trang 33

vật đã được hình thành trong một vài trạng thai như khi thối rữa hoặc phân hủy trong nước và đât Theo Aristote: Bùn khi phân hủy sinh ra thế hệ cá chình; theo Virgile: bộ lòng bò mộng khi thối rửa sinh ra bầy ong Jean - Baptiste Van Helmont (1577 - 1644) người Bỉ cho rằng những con đỉa, ốc sên, ếch có từ bùn của vùng đầm lầy.

- T h ế kỷ XVII: Francesco Recli (1626 - 1698), người

Italia, qua thực nghiệm, ông cho rằng những con bọ ròi trong thịt thối là do ruồi đẻ ra chứ không phải là do thịt phân huỷ tạo nên Theo thuyết này "tất cả các thực thể đều được sinh ra từ những thực thể trước đó"

- T hế ký XVIII: Qua thực nghiệm vói kính hiển vi cho

thấy các thực thể cực bé (như nâ^m men ) rất nhiều nhà bác học thừa nhận thuyết tự sinh Năm 1748, John Needham (1713 - 1781) người Anh cho rằng các vi động vật xuâ't hiện trên mẩu thịt ngay từ những ngày đầu Nhưng khi Lazzaro Spallanzani (1729 - 1799) làm lại thí nghiệm ở nhiệt độ cao hơn thì không thấy sự tồn tại của các vi động vật nửa

Cuoi the ky XIX' Nhà bác học Pháp Louis Pasteur

(1822 — 1895) đd lam thi nghiệm và đi đen kết luận rằng

sự lên men chính là sinh vật vô cùng nhỏ bé Sự sinh sôi nảy nở của chúng trong môi trường để lên men dẫn đến

sự xuất hiện các mầm sống đã tồn tại trước đó và không phải tuân theo thuyết tự sinh; khi thiếu không

Trang 34

khí, cha't lỏng cũng có thể thối rữa, nhưng không thể sinh sản được

cũ, năm 1957, người ta tiến hành hội nghị chuyên đề quốc tế lần đầu tiên bàn về nguồn gốc sự sống, do Hiệp hội Hoá sinh học quốc tế tổ chức thảo luận về các thí nghiệm của Oparin (1938); Dauvillier và Desguin (1942), Gamovv, Schrodinger

Theo thuyết của Dauvillier Desguin, khi xưa vật chất rải rác trong vũ trụ (với hằng triệu thiên hà, mỗi thiên hà gồm hàng tỉ vì sao) kết lại có dạng quả cầu khổng lồ Vụ nổ của nguyên tử đầu tiên, cách nay 13 tỉ năm, vật chất chỉ là các đám mây khí khổng lồ có nhiệt

độ rất cao Trái đất được hình thành chủ yếu từ khí mêtal, châì khí tạo nên mây - Vật châ't hình thành từ chất liệu đã được lạnh dần dần trong 6 giai đoạn:

+ Thời kỳ nhiệt độ trên 4.000°C: Tất cả các vật thể còn

+ Thời kì/ nhiệt độ 500 - 600°C: Hyđro khử oxyt sắt

tạo thành nước hình thành nên các đại dương

+ Khí quyển trái đât gồm hoi nước hyđro cacbua,

Trang 35

Silicua, hydro, amoniac, Hydro phosphua, Hydro sul-

fua, Hydro asênua

+ Hơi nước ở nhiệt độ cao chuyển hóa Hydro metal

và các hợp chất silucua thành oxit Khí quyển gồm nitơ, khí cacbonic, nước và khí hiếm Các loại khoáng chât được hình thành từ các đám mây khí đầu tiên Vòng Cacbon có thể khởi đầu nhờ khí cacbonic của khí quyển, hoi nóng của nước và của ánh sáng mặt trời.+ Cacbua Hyđro đã được hình thành giai đoạn trước, ngưng tụ với các nguyên tử khác như lưu huỳnh, amoniac và acid xianhyđric Đấy chính là sự khởi đầu cho sự hình thành các vòng, sự tổng hợp đường nhờ năng lượng mặt tròi và tia cực tím: tất cả tác dụng lên khí cacbonic, alđehit fomic khi được trùng hợp tạo ra đường Đường được hoà tan trong nước của các đại dương ngưng tụ lại, dưới tác động của tia cực tím amit fomic ngưng tụ lại vói alđehit fomic tạo ra glycocol, loại acid hữu cơ đơn giản nhất

Cuôi giai đoạn này biển đầu tiên chứa đựng các yếu

tô của sự sông (gluxit, acid hữu cơ, protein, muối ).+ Cac phân tử có tô chức được kết hợp tạo thành các

tế bào đầu tiên

Những dâu vết đầu tiên của sự sống ở vào k h o ả n g

3.850 triệu năm hay 3.465 triệu năm các vi khuẩn “màu xanh" có khả năng quang họp đầu tiên tạo nên các stro- matolithes Cac loại tảo lục lam được tìm thấy ở Australia

Trang 36

NHỮNG NỀN VĂN HÓA LỚN

CỦA NHÂN LOẠI

/ề NÊN VÃN HOA Dươl DAY DẠI DƯƠNG

Cách nay 2400 năm, nhà triết học lỗi lạc Platon người Hy Lạp, trong trước tác của mình và qua những buổi thuyết trình trước công chúng, ông từng cho rằng trước ông khoảng 9.000 năm, cư dân châu Đại Tây (Atlantic) đã có một nền văn hóa phát triển rực rỡ Platon còn mô tả sinh động các kiểu dáng kiến trúc hoa

lệ và những phương thức sinh hoạt của cư dân châu Đại Tây Ông khẳng định ràng ở đó có nhiều công trình kiến trúc hoành tráng đẹp tuyệt vời, chung quanh những công trình kiến trúc hùng vĩ người ta còn trồng nhiều cây cối cành lá xum xuê tạo nên một môi trường xanh Nhưng rồi không biết vào thời gian nào châu Đại Tây bỗng nhiên trong một đêm chìm xuống mất hút dưới đáy Đại Tây Dương

Nếu lời nói cùa nhà triết học Platon là đúng thì cách

37

Trang 37

nay 12.000 năm trước, loài người đã sáng tạo ra một nền văn hóa châu Đại Tây Nhưng châu Đại Tây nằm ở vị trí nào trên hành tinh chúng ta, mà hàng nghìn năm nay vẫn còn là một điều bí ẩn, chưa một ai giải thích được.

Nhưng rồi, tới những năm 70 của thế kỷ XX, một số nhà khoa học đã đến gần quần đảo Transun nghiên cứu Và họ đã lấy được những nham thạch ở độ sâu 800 mét dưới đáy đại dương Qua các cuộc giám định khoa học các nham thạch thu lượm được, đã đi đến kết luận rằng noi này cách nay 12.000 năm trước quả là một mảng lục địa - Người ta đã dùng khoa học kỹ thuật hiện đại để khảo sát và thấy đúng như lời miêu tả của Platon

Khoảng 30 năm gần đây, các nhà khoa học đi khảo sát dưới đáy Đại Tây Dương đã từng nhiều lần phát hiện thấy có những quần thể kiến trúc vĩ đại Ở đây có những con đường dài, có những cây cột đá được chạm khắc tinh xảo đẹp tuyệt vời và nhiều văn vật khác.Năm 1979, tại khu vực biển tam giác Becmut người

ta đã phát hiện ra một hiện vật đáng kinh ngạc Qua những khảo sát tỉ mỉ của đội điều tra liên hợp Pháp và

Mỹ đã khăng định rằng dưới đáy vùng biển này có một toà Kim tự tháp rất lớn Họ còn cho biết thời gian xây dựng Kim tự tháp này còn sớm hơn so với Kim tự tháp

Ai Cập Qua đo đạc một cách khoa học, Kim tự tháp dưới đáy biển này có chiều dài 300 mét, cao 200 mét đỉnh tháp cách mặt biển 100 mét Tháp có hai khoang

Trang 38

lớn, nước biển chảy qua các khoang với lưu tốc rât nhanh, tạo thành lớp sóng vọt cao trên mặt biển.

Điều đó chứng tỏ cư dân châu Đại Tây cổ xưa đã bị chìm xuống đáy Đại Tây Dương.Tuy vậy những vãn đề đặt ra là con người của cư dân này như thế nào ? Họ đã

có một nền văn minh như thế nào ? Họ đã sáng tạo ra những kỳ tích gì cho nhân loại ? Nhưng tiếc thay cho tới nay chưa có câu trả lời chính xác Họ đã sống cách chúng ta 12.000 năm trước, điều này đặt ra cho các nhà khảo cổ, các nhà nhân chủng học tiếp tục nghiên cứu, khảo sát và khám phá Mọi việc đang ở phía trước.Một nền văn minh dưới đáy Đại Tây Dương là có thực, nhưng những bí ẩn của nó còn phải chờ các nhà khoa học khám phá thêm Tuy vậy, mới đây có thuyết cho rằng Atlantic bị tiêu vong do trục trái đất đã chuyển dịch 6666 km với tốc độ xê dịch là 60° Và khi

trục trái â ấ t chuyển dịch trục 6666 km sẽ xảy ra nạn

hồng thuỷ và Atlantic bị chìm xuống, tiêu vong dưới đáy đại dương

Song đó cũng chỉ là một giả thuyết chưa được các nhà khoa học kiểm chứng Nhưng nó có một điều chắc chắn rằng những di tích lịch sử phong phú vói hàng loạt di vật khai quật được trong lòng đất, những ghi chép bằng chữ viết còn lại trên thế giới và những hình

vẽ trong các hang động người xưa cho chúng ta biết rằng ngoài nền văn minh dưới đáy đại dương còn có một nền văn minh Ai Cập bên bờ sông Nile về Sume về Babylon trong lưu vực sông Tigre và Euphrat còn gọi

Trang 39

nền văn minh Lưỡng Hà, về nền văn minh cổ đại An

Độ ở lưu vực sông Hằng Đó còn là nền văn minh Hy Lạp La Mã, là nền văn hóa Trung Hoa cổ đại bên bờ sông Hoàng Hà và Trường Giang Còn bên kia Tây Bán cầu là nền văn hóa Aztec và Maya Đó chính là những cái nôi của các nền văn hóa nhân loại

Qua năm sáu ngàn năm nay, những cái nôi văn hóa

đã nuôi dưỡng bồi đắp trí tuệ và sức sáng tạo cho hàng triệu triệu con người mở ra ngọn nguồn lâu dài cho mọi ngành khoa học, văn học, nghệ thuật phát triển cống hiến xuất sắc cho nền văn minh nhân loại

Trang 40

£Ễ NỂN VẦN HÓA SÒNG NILE - A I CẶP

Sông Nile bắt nguồn từ vùng cao nguyên Trung bộ châu Phi dài trên 6.500 km với 7 nhánh đổ nước ra Địa Trung Hải, là cái nôi của một nền văn minh sớm nhất của nhân loại

Dòng sông lớn nổi tiếng thế giới này đã mang lại nguồn nước phong phú và đất đai màu mỡ và mang đến cho nhân dân Ai Cập cuộc sống và sự phồn vinh Sông Nile là tuyến đường thủy dài nối liền hai vùng Thượng Ai Cập (tức là trung tâm Thèbes) với Hạ Ai Cập (là trung tâm Memphis) Hai vùng Thượng và Hạ

Ai Cập thống nhất lại thành vương quốc Ai Cập Tam giác châu thổ sông Nile dài khoảng 700 km Hai bên bờ sông là một dải đồng bằng phì nhiêu rộng từ 20 - 30 kn^ hằng năm từ tháng 6 đến tháng 9 vào mùa mưa lũ nước dâng lên, khiến cho phù sa từ thượng nguồn đổ về làm cho những cánh đồng càng thêm mầu mỡ Quanh năm các loại cây lương thực, thực phẩm, hoa quả như đại mạch, tiểu mạch, chà là, cây papyus làm giây không ngừng sinh sôi nảy nở

41

Ngày đăng: 29/09/2021, 10:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w