1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận kinh tế nguồn nhân lực năng suất lao động việt nam hiện nay

19 118 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 753,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năng suất của các nhân tố tổng hợp TFP- Total factor productivity là chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất mang lại do nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và lao động, nhờ vào tác động của các nh

Trang 1

KHOA KINH TẾ-QUẢN TRỊ KINH DOANH

ĐẠI HỌC KINH TẾ NGHỆ AN

KINH TẾ NGUỒN NHÂN LỰC

TIỂU LUẬN NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG VIỆT NAM HIỆN NAY

Sinh viên: Bạch Thị Thương

Mã sinh viên: 18DH03126 Lớp: Kinh tế k5

Năm học 2020-2021

Trang 2

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1

I Giới thiệu vấn đề 1

II Tầm quan trọng của nâng cao năng suất lao động 2

III Cấu trúc tiểu luận 2

PHẦN NỘI DUNG 2

Chương 1: Cơ sở lý thuyết của năng suất lao động 2

1.1 Các khái niệm cơ bản 2

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động 3

Chương 2: Thực trạng năng suất lao động tại Việt Nam 4

2.1 Năng suất lao động toàn bộ nền kinh tế 4

2.2 Năng suất lao động theo ngành kinh tế 6

2.3 Năng suất lao động theo khu vực kinh tế 9

2.4 Đánh giá nguyên nhân của thực trạng năng suất lao động tại Việt Nam 11

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng suất lao động tại Việt Nam 13

3.1 Nhóm giải pháp cho khu vực doanh nghiệp 13

3.2 Nhóm giải pháp về thể chế, chính sách 14

3.3 Nhóm giải pháp chung cho nền kinh tế 14

KẾT LUẬN 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 3

DANH MỤC VIẾT TẮT

WTO- World trade organization: Tổ chức thương mại thế giới

ASEAN-Association of Southeast Asian Nations:hiệp hội các nước Đông Nam

Á

GDP- Gross domestic product: Tổng sản phẩm quốc nội

TFP- Total factor productivity: Năng suất nhân tố tổng hợp

NSLĐ: năng suất lao động

CNTT: công nghệ thông tin

DN: doanh nghiệp

DNNVV: doanh nghiệp nhỏ và vừa

KHCN: khoa học công nghệ

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

I Giới thiệu vấn đề

Năm 2007, Việt Nam chính thức gia nhập WTO, mở ra nhiều cơ hội cũng như thách thức lớn đối với nền kinh tê Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi quá trình chuyển đổi sâu rộng trong từng hướng đi nhằm phát triển kinh tế bền vững, hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Nền kinh tế nước nhà đang từng bước thể hiện sức trỗi dậy và khát khao vươn xa hơn trên bảng chỉ số tăng trưởng của khu vực

Giai đoạn 2016-2020, kinh tế Việt Nam đạt được những bước phát triển quan trọng, gây tiếng vang trên thế giới Việt Nam được đánh giá là một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất

Đến năm 2020, Việt Nam vươn lên đứng thứ 4 trong ASEAN về quy mô GDP Theo đánh giá của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), nếu tính theo sức mua tương đương, nền kinh

tế Việt Nam đã vượt 1.000 tỷ USD Vượt qua những khó khăn, thách thức, đặc biệt là dịch Covid-19, kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020 đạt được nhiều thành tựu quan trọng, khá toàn diện trên hầu hết lĩnh vực, tạo nhiều dấu ấn nổi bật

Tăng trưởng GDP trung bình giai đoạn 2016-2019 (4 năm đầu của kế hoạch 5 năm) đạt trung bình 6,8%, cao hơn hẳn mức trung bình của 5 năm 2011-2015 (5,91%) Năm

2020, tăng trưởng GDP của Việt Nam chỉ đạt 2,91% do ảnh hưởng của dịch Covid-19 Tuy nhiên, Việt Nam là một trong số ít quốc gia đạt mức tăng trưởng dương, thuộc hàng cao nhất thế giới

Theo dự thảo báo cáo chính trị dự kiến trình Đại hội Đảng lần thứ XIII, năng suất lao động giai đoạn 2016-2020 được cải thiện rõ nét Đến năm 2020 năng suất lao động tăng gần 1,5 lần so với năm 2015, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2016-2020 ước đạt 5,8%/năm, cao hơn giai đoạn 2011-2015 (4,3%) và vượt mục tiêu đề ra (5%)

Mức đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) tăng cao, bình quân giai đoạn 2016-2020 ước đạt 45,21%, vượt mục tiêu đặt ra (30-35%) Đáng chú ý, trong giai đoạn 2016-2019, khi chưa chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19, mức đóng góp của TFP đạt tới gần 46%, cao gấp rưỡi giai đoạn trước

Năng suất của các nhân tố tổng hợp TFP- Total factor productivity là chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất mang lại do nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và lao động, nhờ vào tác động của các nhân tố đổi mới công nghệ, hợp lí hóa sản xuất, cải tiến quản lí, nâng cao trình độ lao động…

Trong đó hiểu quả sử dụng lao động được ám chỉ thông qua thuật ngữ “năng suất lao động” Năng suất lao động là chỉ tiêu liên quan đến yếu tố nguồn nhân lực và khoa học công nghệ, tức là yếu tố con người và kỹ thuật trong quá trình sản xuất

“Năng suất lao động” luôn là đề tài quan trọng cần được lựa chọn đánh giá và nghiên

cứu nó là một trong những chỉ số quan trọng phản ánh tình hình phát triển và mức độ tăng trưởng của quốc gia qua các giai đoạn

Trang 5

II Tầm quan trọng của nâng cao năng suất lao động

Năng suất lao động là yếu tố then chốt quyết định khả năng cạnh tranh và sự tồn tại lâu dài của một doanh nghiệp, là cơ sở để nâng cao thu nhập, tạo môi trường và điều kiện làm việc tốt cho người lao động Tăng năng suất lao động là nâng cao được chất lượng cuộc sống và đảm bảo một xã hội tốt đẹp hơn Ở cấp độ quốc gia, trong điều kiện hội nhập quốc tế và cạnh tranh gay gắt hiện nay, năng suất lao động xã hội

là yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của cả nền kinh tế Vai trò của năng suất lao động càng được khẳng định khi nền kinh tế thế giới đi vào khủng hoảng, nhiều nước phát triển đã định hướng cách thức phục hồi nền kinh tế nhanh nhất là thông qua phát triển công nghệ và cải tiến năng suất lao động

Tổ chức lao động quốc tế ILO-International labour organization tại Việt Nam cho rằng có ít nhất 4 lí do tăng năng suất lao động là quan trọng đối với nước ta trong thời đại mới:

Thứ nhất, nó thúc đẩy nền kinh tế

Thứ hai, năng suất lao động ảnh hưởng đến tất cả mọi người

Thứ ba, thực trạng năng suất lao động tại Việt Nam

Thứ tư, dân số già trong tương lai và hội nhập kinh tế cần được xem xét

Vì vậy, có thể nói nâng cao Năng suất lao động quyết định một nền kinh tế có đang và sẽ phát triển bền vững hay không

III Cấu trúc tiểu luận

Tiểu luận gồm 3 chương :

Chương 1: Cơ sở lý thuyết của năng suất lao động

Chương 2: Thực trạng năng suất lao động tại Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng suất lao động Việt Nam

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý thuyết của năng suất lao động

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm năng suất lao động

Theo cách tiếp cận của giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực:

“Năng suất lao động được hiểu là hiểu quả hoạt động có ích của con người trong một đơn vị thời gian.”

Năng suất lao động được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm

Trang 6

Theo C.Mác, năng suất lao động là sức sản xuất của lao động cụ thể có ích

Theo cách tiếp cận của tổ chức lao động quốc tế ILO:

“Năng suất lao động là một chỉ số kinh tế quan trọng có liên quan chặt chẽ với tăng trưởng kinh tế, khả năng cạnh tranh và mức sống trong một nền kinh tế Năng suất lao động thể hiện tổng khối lượng sản lượng (đo lường về Tổng sản phẩm quốc nội, GDP) được sản xuất trên một đơn vị lao động (đo lường về số lượng người có việc làm hoặc

số giờ làm việc) trong một khoảng thời gian nhất định Chỉ số này cho phép người sử dụng dữ liệu đánh giá mức đầu vào gdp so với lao động và tốc độ tăng trưởng theo thời gian, do đó cung cấp thông tin chung về hiệu quả và chất lượng vốn nhân lực trong quá trình sản xuất cho một bối cảnh kinh tế và xã hội nhất định, bao gồm các đầu vào bổ sung và đổi mới khác được sử dụng trong sản xuất.”

Từ các khái niệm trên, công thức chung để tính năng suất lao động được thành lập như sau:

W=Q/T hoặc t=T/Q

Trong đó:

W: năng suất lao động

Q: Tổng khối lượng sản phẩm sản xuất ra

T: Tổng khối lượng thời gian lao động hao phí

t: lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm

1.1.2 Tăng năng suất lao động

Tăng năng suất lao động là: “ Sự tăng lên của sức sản xuất hay năng suất lao động, nói chung chúng ta hiểu là sự thay đổi trong cách thức lao động, một sự thay đổi làm rút ngắn thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa, sao cho lượng lao động

ít hơn mà lại sản xuất ra nhiều giá trị sử dụng hơn”

Ý nghĩa của tăng năng suất lao động

- Là con đường tăng tổng sản phẩm xã hội không có giới hạn, con đường làn giàu cho mỗi quốc gia và từng thành viên trong xã hội

- Tạo cơ hội giảm bớt thời gian hao phí lao động vào quá trình sản xuất vật chất, làm tăng khả năng thỏa mãn nhu cầu về tinh thần, tạo cơ hội cho con người phát triển toàn diện

- Là cơ sở vật chất cho sự tiến bộ xã hội bao gồm tích lũy tái sản xuất và tăng cường quỹ tiêu dùng thỏa mãn nhu cầu của xã hội

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động

Trang 7

Dựa vào nội dung và bản chất của năng suất lao động, các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động được chia thành 3 nhóm cơ bản:

- Nhân tố vật chất kỹ thuật được gắn chặt với trình độ phát triển của kỹ thuật và công nghệ, hoàn thiện công cụ và tư liệu lao động

- Nhân tố tổ chức sản xuất, tổ chức và quản lý nguồn nhân lực, bao gồm yếu tố kinh tế

xã hội gắn liền với cơ cấu lao động, trình độ lành nghề, điều kiện lao động, chế độ sở hữu, cường độ lao động, hiệu quả kích thích lao động và sự quan tâm tới kết quả sản xuất cuối cùng, tức là tất cả liên quan đến con người và quan hệ con người với lao động

- Các nhân tố gắn liền với điều kiện tự nhiên

Chương 2: Thực trạng năng suất lao động tại Việt Nam

2.1 Năng suất lao động toàn bộ nền kinh tế

Những năm qua, năng suất lao động của Việt Nam liên tục gia tăng cả về giá trị và tốc

độ, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội đất nước Năm 2019, NSLĐ của Việt Nam đạt 110,4 triệu đồng/lao động (tương đương 4,792 USD/lao động, tăng

272 USD so với năm 2018) Theo sức mua tương đương (PPP) 2011, NSLĐ Việt Nam năm 2019 đạt 11.757 USD, tăng 1.766 USD; tăng 6,2% so với năm 2018, là năm có mức tăng NSLĐ cao nhất trong giai đoạn 2016-2019 Điều này đưa Việt Nam trở thành một trong những nước có tốc độ tăng NSLĐ cao nhất trong khu vực

Theo tính toán của nhóm nghiên cứu và tham khảo từ Tổ chức Lao động quốc tế

(ILO), năng suất lao động năm 2020 của Việt Nam tăng 5,4% so với năm 2010, đạt mức 117,94 triệu đồng/lao động theo giá hiện hành (tương đương 5.081 USD/lao

3.853

4.166

0

2

4

6

1000USD/LĐ/1y

1000USD/LĐ/1Y

Trang 8

động) Mức tăng này ở mức thấp nhất trong 5 năm gần đây nhưng có cao hơn khi so sánh với các quốc gia trong khu vực do diễn biến của dịch covid-19

Bên cạnh đó, bình quân giai đoạn 2016 – 2020, năng suất lao động Việt Nam tăng 5,8%/năm, cao hơn giai đoạn 2011 - 2015 (4,3%) và vượt mục tiêu đề ra (5%)

Mặc dù có mức tăng trưởng năng suất lao động cao, năng suất lao động của Việt Nam năm 2020, theo ước tính của ILO, vẫn thấp hơn 7 lần so với Malaysia, 4 lần so với Trung Quốc; 3 lần so với Thái Lan, 2 lần so với Philippines và 26 lần so với

Singapore Báo cáo 2020 của Tổ chức Năng suất châu Á (APO) cũng cho thấy, năng suất lao động Việt Nam tụt hậu so với Nhật Bản 60 năm, so với Malaysia 40 năm và Thái Lan 10 năm

Theo báo cáo thường niên của ILO năm 2019 năng suất lao động nước ta tính theo chỉ

số giá tiêu dùng ppp 2011 là 13.817$, trong khi đó Nhật Bản ở con số 77.490$ gấp 5,6 lần, Hàn Quốc gấp 5,8 lần và Trung Quốc gấp 2,1 lần

Việt Nam có xuất phát điểm thấp nên bị tụt lại phía sau trên bản đồ kinh tế Châu lục Tuy những năm gần đây năng suất lao động nước ta đã có sự tăng trưởng rõ rệt nhưng nhìn chung khoảng cách còn quá xa so với các nền kinh tế lớn Là một nước đi sau, chúng ta có nhiều cơ hội hơn để học hỏi cũng như khắc phục những nhược điểm của các nền kinh tế lớn Tuy nhiên, việc đuổi kịp các nước đồng thời phát triển một cách bền vững trong từng bước đi, độc lập trên con đường của riêng mình cũng là thách thức lớn

So sánh chỉ số này với nước bạn Lào có cùng xuất phát điểm, chúng ta đang ở vị trí thấp hơn (thấp hơn 1070$) Rõ ràng, chúng ta cần cố gắng hơn nữa trong tiến trình này

để không bị bỏ lại phía sau

29363

13817

0

10000

20000

30000

40000

50000

60000

70000

80000

90000

Asia

Asia

Trang 9

2.2 Năng suất lao động theo ngành kinh tế

Về cơ cấu nền kinh tế năm 2020, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng thấp nhất là 14,85%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,72%; khu vực dịch

vụ cao nhất chiếm 41,63%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,8% (Cơ cấu tương ứng của năm 2019 là: 13,96%; 34,49%; 41,64%; 9,91%)

159680

33502

14887

59364

13817

0

20000

40000

60000

80000

100000

120000

140000

160000

180000

Axis Title

Asean

Asean

14.85

33.72 41.63

9.8

Cơ cấu kinh tế năm 2020 -đơn vị %

Nông, lâm nghiệp, thủy sản công nghiệp và xây dựng dịch vụ thuế sản phẩm

Trang 10

Tốc độ tăng năng suất của các ngành giai đoạn 2016-2020

Công nghiệp và xây

dựng

Bảng 1- Nguồn: Tổng cục thống kê

Tình hình tăng trưởng của các ngành kinh tế qua các năm thể hiện mức tăng cao hơn ở

2 ngành là dịch vụ, công nghiệp và xây dựng ( trung bình từ 7-9%) Cá biệt năm 2020,

do ảnh hưởng của đại dịch covid-19 tác động xấu đến nền kinh tế chung toàn cầu, tốc

độ tăng trưởng giảm mạnh Tuy vậy ở ngành nông, lâm, thủy sản tốc độ tăng trưởng vẫn tăng, 2 ngành còn lại tuy giảm nhưng vẫn ở con số dương là một kết quả đáng ghi nhận trước tình hình khó khăn hiện tại

Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc quý IV/2020 ước tính 54 triệu người Trong đó, tính chung cả năm 2020, lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc là 53,4 triệu người, bao gồm 17,5 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, giảm 7,2% so với năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng 16,5 triệu người, tăng 0,3%; khu vực dịch vụ 19,4 triệu người, tăng 0,1%

Số liệu trên cho thấy lao động phân bố tương đối đồng đều ở cả 3 ngành Lớn nhất là dịch vụ ( 19,4 trlđ), tiếp đến là nông, lâm, thủy sản ( 17,5 trlđ) với mức chênh lệch không cao ( 1,9 trlđ), thấp nhất là công nghiệp và xây dựng ( 16,5 trlđ) thấp hơn so với nông, lâm, thủy sản 1trlđ Xu hướng chuyển dịch tăng lao động các ngành công

nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm lao động các ngành nông, lâm, thủy sản, tuy nhiên tốc độ chuyển dịch còn thấp và chưa bền vững

17.5

16.5 19.4

Quy mô lao động 2020-đơn vị triệu lđ

Nông, lâm, thủy sản Công nghiệp và xây dựng Dịch vụ

Trang 11

a Ngành nông, lâm, thủy sản

Mặc dù khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có tốc độ tăng trưởng bình quân đều nhưng năng suất lao động vẫn thuộc nhóm thấp nhất châu Á và có mức NSLĐ thấp nhất trong các khu vực kinh tế, đến năm 2018 theo giá hiện hành đạt 39,8 triệu

VND/lao động, chỉ bằng 38,9% NSLĐ của toàn nền kinh tế, bằng 30,4% NSLĐ của khu vực công nghiệp và xây dựng, bằng 33,7% khu vực dịch vụ Trong các nước ASEAN, NSLĐ khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản của Malaysia cao gấp 11,9 lần; Indonesia cao gấp 2,4 lần; Thái Lan cao gấp 2,1 lần và Philippine cao gấp 1,8 lần mức NSLĐ của Việt Nam.Nguyên nhân chủ yếu khiến năng suất lao động của ngành nông nghiệp Việt Nam vẫn còn thuộc nhóm thấp nhất châu Á là do quy mô sản xuất nhỏ, manh mún, trình độ chuyên môn và tính chuyên nghiệp của nông dân thấp, thể trạng người nông dân còn thấp và yếu, lao động trực tiếp trên đồng ruộng chủ yếu là người

có tuổi và trẻ nhỏ

b Ngành công nghiệp

Công nghiệp có tốc độ tăng trưởng qua các năm khá cao, tuy nhiên có xu hướng chững lại Đánh giá về thực trạng công nghiệp Việt Nam có nhiều điểm tắc nghẽn lớn khiến cho tốc độ tăng trưởng chậm lại và chưa thực sự bền vững Thứ nhất, tăng trưởng công nghiệp phụ thuộc nhiều vào các yếu tố về vốn, tài nguyên, lao động trình độ thấp, chưa dựa nhiều vào tri thức, khoa học và công nghệ, lao động có kỹ năng.Thứ hai, một số ngành công nghiệp chủ đạo chưa được tổ chức theo mô hình chuỗi giá trị, đặc biệt là các ngành công nghiệp định hướng xuất khẩu Việt Nam chỉ tham gia được ở các công đoạn có giá trị gia tăng thấp như gia công, lắp ráp, không chủ động được nguồn cung cho sản xuất, đặc biệt là đối với Thứ ba, đầu tư trong công nghiệp chưa đi vào chiều sâu, việc thu hút và tận dụng nguồn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) còn nhiều hạn chế, đặc biệt là việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ; các doanh nghiệp công nghiệp nội địa quy mô nhỏ, năng lực cạnh tranh nhìn chung còn thấp; phân bố không gian của các ngành công nghiệp chưa hiệu quả, vấn đề ô nhiễm môi trường…

c Ngành dịch vụ

Năm 2020, lao động đang làm việc trong khu vực dịch vụ là 19,4 triệu người, tăng gần 0,1% Chuyển dịch lao động tiếp tục theo xu hướng từ khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản sang khu vực công nghiệp, xây dựng và khu vực dịch vụ với tỷ trọng lao động tương ứng trong các khu vực năm 2020 là: 32,8%; 30,9%; 36,3% (năm 2019 tương ứng là 34,5%; 30,1% và 35,4%) Như vậy, lao động trong khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất trong các khu vực của nền kinh tế và có xu hướng tăng Tuy vậy, thực

tế hiện nay, nguồn nhận lực dịch vụ còn bất cập cả về chất lượng và số lượng

Theo dự báo, đến năm 2020, nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp là 1 triệu nhân lực công nghệ thông tin (CNTT) Tuy nhiên, hiện mỗi năm có khoảng 50.000 sinh viên CNTT tốt nghiệp Mặc dù nhu cầu nguồn nhân lực CNTT lớn như vậy nhưng theo ông Phí Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Tin học TP.HCM - HCA, hiện nay, các chương trình đào tạo ngành CNTT trong nước được cho là chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển

Ngày đăng: 29/09/2021, 08:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w