Báo cáo kết thúc học phần: Công chứng các hợp đồng mua bán, tăng cho, thuê, trao đổi, mượn vay tài sản.Đề tài: Tiếp nhận yêu cầu công chứng Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá, công chứng viên nghiên cứu hồ sơ và phát hiện: Căn nhà là tài sản bán đấu giá không có giấy chứng nhận. Cho rằng, tài sản không đảm bảo điều kiện bán đấu giá, nên công chứng viên đã từ chối yêu cầu công chứng. Anh (chị) có đồng tình với cách xử lý của công chứng viên trong tình huống này hay không? Anh (chị) hãy xây dựng quy trình công chứng hợp đồng mua bán tài sản đấu giá.
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO CÔNG CHỨNG VIÊN VÀ CÁC CHỨC DANH KHÁC
-BÁO CÁO KẾT THÚC HỌC PHẦN Môn: Công chứng các hợp đồng mua bán, tặng cho, thuê, trao đổi,
mượn vay tài sản
Chuyên đề: Tiếp nhận yêu cầu công chứng Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá, công chứng viên nghiên cứu hồ sơ và phát hiện: Căn nhà là tài sản bán đấu giá không có giấy chứng nhận Cho rằng, tài sản không đảm bảo điều kiện bán đấu giá, nên công chứng viên đã từ chối yêu cầu công chứng Anh (chị) có đồng tình với cách xử lý của công chứng viên trong tình huống này hay không? Anh (chị) hãy xây dựng quy trình công chứng hợp đồng mua bán tài sản đấu giá
Họ và tên :
Sinh ngày :
Số báo danh :
Hà Nội, ngày 24 tháng 9 năm 2021
Trang 2MỤC LỤ
I MỞ ĐẦU 1
II NỘI DUNG 2
1 Khái quát về công chứng hợp đồng mua bán tài sản đấu giá 2
1.1 Khái niệm đấu giá tài sản 2
1.2 Nguyên tắc bán đấu giá 3
1.3 Khái quát về hợp đồng mua bán tài sản đấu giá 4
1.4 Khái quát về công chứng hợp đồng mua bán tài sản đấu giá 5
1.5 Thực hiện công chứng hợp đồng mua bán tài sản đấu giá là nhà ở của công chứng viên
6 1.6 Ý kiến đối với cách xử lý của công chứng viên trong tình huống của đề tài 7
2 Thực tiễn và nguyên nhân 11
3 Giải pháp, kiến nghị - đề xuất 13
III KẾT LUẬN 15
Trang 3I MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nhằm đáp ứng nhu cầu trao đổi, mua bán của con người, nhiều hình thức mua bán tài sản đã được ra đời bên cạnh hình thức trao đổi trực tiếp truyền thống, trong đó có hình thức bán đấu giá tài sản Là một trong những hoạt động dịch vụ thuộc nền kinh tế thị trường, đấu giá tài sản có vai trò thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thông qua việc đa dạng hoá các hình thức trao đổi, lưu thông, mua bán hàng hoá
Xét về bản chất pháp lý, hoạt động mua bán tài sản qua đấu giá tài sản cũng chính là một giao dịch dân sự, giao dịch này dựa trên sự thoả thuận, thống nhất ý chí bởi các bên tham gia, vì vậy giao dịch này tồn tại dưới dạng hợp đồng Về hình thức hợp đồng mua bán tài sản đấu giá, Luật đấu giá tài sản năm 2016 quy định rằng “Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự”1 Như vậy, có thể hiểu đối với những loại hợp đồng mua bán theo pháp luật dân sự yêu cầu cần phải công chứng, việc mua bán tài sản đấu giá đối với cùng loại tài sản cũng cần đáp ứng yêu cầu về công chứng nêu trên Với vai trò là một biện pháp bảo đảm về mặt hình thức, nội dung cho các giao dịch dân sự nói chung và hợp đồng mua bán tài sản đấu giá nói riêng, hoạt động công chứng cần phải đảm bảo thực hiện theo những quy định nhất định về pháp luật chung và
cả pháp luật chuyên ngành về công chứng và tài sản mua bán của hợp đồng
Xuất phát từ yêu cầu chặt chẽ nêu trên, đồng thời nhằm tìm hiểu rõ hơn về việc áp dụng quy định vào thực tiễn và về quy trình thực hiện hoạt động công chứng hợp đồng
mua bán tài sản đấu giá, bài báo cáo này đã lựa chọn đề tài: “Tiếp nhận yêu cầu công chứng Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá, công chứng viên nghiên cứu hồ sơ và phát hiện: Căn nhà là tài sản bán đấu giá không có giấy chứng nhận Cho rằng, tài sản không đảm bảo điều kiện bán đấu giá, nên công chứng viên đã từ chối yêu cầu công chứng Anh (chị) có đồng tình với cách xử lý của công chứng viên trong tình huống này hay không? Anh (chị) hãy xây dựng quy trình công chứng hợp đồng mua bán tài sản đấu giá”
Trang 4II NỘI DUNG
1 Khái quát về công chứng hợp đồng mua bán tài sản đấu giá
1.1 Khái niệm đấu giá tài sản
Tại hệ thống pháp luật Việt Nam, hoạt động bán đấu giá tài sản được quy định tại những điều luật cụ thể thuộc các văn bản pháp luật khác nhau, như:
Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định tại Điều 461 như sau:
“Tài sản có thể được đem bán đấu giá theo ý chí của chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật Tài sản thuộc sở hữu chung đem bán đấu giá phải có sự đồng ý của tất cả các chủ sở hữu chung, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Việc bán đấu giá tài sản phải đảm bảo nguyên tắc khách quan, công khai, minh bạch, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia và được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản”
Tại khoản 2 Điều 5 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 định nghĩa về đấu giá tài sản:
“Đấu giá tài sản là hình thức bán tài sản có từ hai người trở lên tham gia đấu giá theo nguyên tắc, trình tự và thủ tục được quy định tại Luật này, trừ trường hợp quy định tại Điều 49 của Luật Đấu giá tài sản này”
Ngoài ra, Luật Thương mại 2005 cũng đưa ra định nghĩa về đấu giá đối với một tài sản thuộc đặc trưng riêng của hoạt động thương mại là hàng hoá tại khoản 1 Điều 185 như sau:
“Đấu giá hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó người bán hàng tự mình hoặc thuê người tổ chức đấu giá thực hiện việc bán hàng hoá công khai để chọn người mua trả giá cao nhất”
Có thể thấy, tại mỗi văn bản pháp luật, đấu giá tài sản lại được đề cập đến ở những khía cạnh riêng biệt Tuy nhiên, xét về bản chất đấu giá tài sản nhìn chung là một hình thức bán công khai một tài sản, theo đó có nhiều người muốn tham gia trả giá, theo trình
tự thủ tục nhất định, tài sản đưa ra đấu giá được bán cho người chấp nhận mua ở mức giá cao nhất.2
Theo đó, cũng cần hiểu tài sản đấu giá được đề cập đến ở đây là “tài sản được phép giao dịch theo quy định của pháp luật”3 Cụ thể, tài sản được phép giao dịch theo quy định
2 Phạm Đặng Ngọc Thọ (2018), Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về bán đấu giá tài sản thế chấp đảm bảo thực hiện hợp đồng tín dụng qua thực tiễn tại ngân hàng trên địa bàn Quảng Bình”
3 Quốc hội (2016), khoản 11 Điều 5 Luật Đấu giá tài sản
2
Trang 5tại Điều 105 của Bộ luật Dân sự 2015 đó là: “(i) Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; (ii) Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản
có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”
1.2 Nguyên tắc bán đấu giá
Nhằm đảm bảo cho việc thực hiện hoạt động đấu giá tài sản giữa các chủ thể được diễn ra trong sự thống nhất quản lý nhà nước, tuân thủ theo quy định của pháp luật và đạt được kết quả là mục tiêu hình thành của nó, hoạt động bán đấu giá tài sản phải tuân thủ theo một số nguyên tắc cụ thể như sau:
Một là tuân thủ quy định của pháp luật
Như đã đề cập ở trên, để đảm bảo hiệu quả, chất lượng, ý nghĩa của việc đấu giá tài sản, hoạt động này cần được thực hiện trong khuôn khổ của hệ thống pháp luật Xét về bản chất, đấu giá tài sản chính là giao dịch mua bán tài sản nói chung theo quy định của pháp luật dân sự, nhưng lại được thực hiện thông qua một hình thức riêng biệt đó là hoạt động đấu giá Do vậy, việc tuân thủ quy định pháp luật không chỉ gói gọn đối với Luật Đấu giá tài sản mà cần phải phù hợp với các quy định chung về hoạt động mua bán tài sản tại pháp luật dân sự và với quy định chuyên ngành khác về loại tài sản tham gia đấu giá
Hai là đảm bảo tính độc lập, trung thực, công khai, minh bạch, công bằng, khách
quan
Trong những nguyên tắc này, cần đặc biệt chú ý đến hai nguyên tắc chung và bao quát nhất đó là công khai và trung thực Đối với nguyên tắc công khai, hoạt động đấu giá tài sản yêu cầu tất cả các thông tin liên quan đến tài sản bán đấu giá cần được công khai ngay từ thời điểm ra thông báo bán đấu giá tài sản và liên quan đến những thông tin: chủ
sở hữu tài sản, người/tổ chức có tài sản bán đấu giá; giá khởi điểm, thời gian, địa điểm đấu giá tài sản; đặc điểm, tình trạng, số lượng, chất lượng tài sản đấu giá Mặt khác, nguyên tắc trung thực lại yêu cầu tất cả các thông tin liên quan đến cuộc bán đấu giá đều cần phải khách quan, chính xác, không sai lệch Nguyên tắc trung thực giúp các chủ thể tham gia hoạt động đấu giá được minh bạch, công bằng, khách quan, mọi người đều có quyền trả giá, được quyền biết thông tin liên quan đến hoạt động đấu giá như nhau
Ba là nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích của các bên
Nguyên tắc này được thể hiện ở việc các bên tham gia hoạt động đấu giá được thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của mình và đồng thời có quyền yêu cầu các bên liên quan thực hiện đúng nội dung công việc như đã công khai, thông báo
Trang 6Cuối cùng là nguyên tắc cuộc đấu giá phải do đấu giá viên điều hành, trừ trường hợp
cuộc đấu giá do Hội đồng đấu giá tài sản thực hiện
Nguyên tắc này được hiểu là việc tổ chức hoạt động đấu giá phải do người có chuyên môn, kiến thức và kỹ năng nhất định điều hành thực hiện, qua đó nhằm đảm bảo hoạt động đấu giá tài sản được diễn ra đúng với quy định của pháp luật và tuân thủ theo những nguyên tắc còn lại đã được phân tích nêu trên Chủ thể đó có thể là đấu giá viên (cá nhân đã được đào tạo và huấn luyện qua khoá học chuyên môn) hoặc Hội đồng đấu giá tài sản
1.3 Khái quát về hợp đồng mua bán tài sản đấu giá
Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá được các bên ký kết căn cứ trên kết quả đấu giá tài sản Theo đó, “hợp đồng mua bán tài sản đấu giá được ký kết giữa người có tài ản đấu giá với người trúng đấu giá hoặc giữa người có tài sản đấu giá, người trúng đấu giá và tổ chức đấu giá tài sản nếu các bên có thoả thuận, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”4 Như đã phân tích ở mục 1.1 hợp đồng mua bán tài sản đấu giá thuộc giao dịch dân
sự dưới dạng hợp đồng nói chung theo quy định của pháp luật dân sự, vì vậy hợp đồng này phải được thực hiện và đáp ứng theo quy định của pháp luật về dân sự
Cụ thể, hợp đồng mua bán tài sản đấu giá phải thoả mãn đặc tính cơ bản của hợp đồng nói chung là:
(i) thể hiện sự thoả thuận của các bên tham gia hợp đồng; và
(ii) nội dung thoả thuận là xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng5 (ở đây là xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan đến hoạt động mua bán tài sản)
Bên cạnh đó, hợp đồng cũng phải thoả mãn những điều kiện có hiệu lực đối với giao dịch dân sự nói chung cả về hình thức và nội dung theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 Trong đó, đối với điều kiện về hình thức được quy định như sau:
“Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định” Như vậy, đối với điều kiện về hình thức, Bộ luật Dân sự
chỉ quy định khái quát và chung nhất bởi đây không phải điều kiện bắt buộc đối với tất cả các loại hợp đồng Theo đó, đối với từng hợp đồng liên quan đến chuyên ngành nhất định
sẽ có những yêu cầu riêng được quy định tại pháp luật chuyên ngành tương ứng Khi đó, quy định đấy sẽ trở thành điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
4 Quốc hội (2016), khoản 2 Điều 46 Luật Đấu giá tài sản
5 Trương Nhật Quang (2019), Pháp luật về hợp đồng, NXB Dân trí
4
Trang 7Ví dụ đối với trường hợp mua bán bất động sản, khoản 2 Điều 17 của Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định:
“[ ] Việc công chứng, chứng thực hợp đồng do các bên thoả thuận, trừ hợp đồng mua bán, thuê mua nhà, công trình xây dựng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà các bên là hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 2 Điều 10 của Luật này thì phải công chứng hoặc chứng thực”
Như vậy, việc công chứng hoặc chứng thực trong trường hợp này trở thành điều kiện có hiệu lực về hình thức đối với hợp đồng mua bán, thuê mua nhà, công trình xây dựng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chủ thể được quy định tại khoản
2 Điều 10 của Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 Hay nói cách khác, hợp đồng mua bán tài sản đấu giá đối với tài sản là nhà, công trình xây dựng cũng phải đáp ứng điều kiện có hiệu lực về hình thức là công chứng hoặc chứng thực
1.4 Khái quát về công chứng hợp đồng mua bán tài sản đấu giá
Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014 định nghĩa “công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”
Như vậy, có thể hiểu việc công chứng hợp đồng mua bán tài sản đấu giá là công việc được thực hiện bởi công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng Theo đó, công chứng viên này có trách nhiệm chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng mua bán tài sản đấu giá bằng văn bản
Theo đó, sau khi được công chứng, hợp đồng mua bán tài sản đấu giá đã được công chứng sẽ có giá trị pháp lý nhất định, cụ thể:
(i) Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá đã được công chứng viên chứng nhận sẽ “có hiệu lực kể từ ngày công chứng viên ký tên và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng”
(ii) Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá sẽ “phát sinh hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác”
Trang 8(iii) Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá “có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Toà án tuyên
bố là vô hiệu” Các căn cứ và trường hợp tuyên bố vô hiệu dựa theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015
Việc công chứng hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán tài sản đấu giá nói riêng cần phải được thực hiện theo thủ tục nhất định được quy định tại Điều 40 Luật Công chứng năm 2014, trong đó phải đảm bảo hồ sơ yêu cầu đáp ứng đầy đủ theo quy định của
pháp luật Đặc biệt đối với tài sản là bất động sản thì cần chú ý phải nộp cả “Bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc bản sao giấy tờ thay thế được pháp luật quy định đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sử hữu, quyền sử dụng trong trường hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản đó”6
1.5 Thực hiện công chứng hợp đồng mua bán tài sản đấu giá là nhà ở của công chứng viên
Hoạt động công chứng hợp đồng nói chung và công chứng hợp đồng mua bán tài sản đấu giá nói riêng cần phải thực hiện theo thủ tục nhất định được quy định tại Luật Công chứng năm 2014, trong đó có quy định rõ về hồ sơ yêu cầu công chứng phải đảm bảo đầy đủ các tài liệu như sau:
“a) Phiếu yêu cầu công chứng, trong đó có thông tin về họ tên, địa chỉ người yêu cầu công chứng, nội dung cần công chứng, danh mục giấy tờ gửi kèm theo; tên tổ chức hành nghề công chứng, họ tên người tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng, thời điểm tiếp nhận hồ sơ;
b) Dự thảo hợp đồng, giao dịch;
c) Bản sao giấy tờ tùy thân của người yêu cầu công chứng;
d) Bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc bản sao giấy tờ thay thế được pháp luật quy định đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng trong trường hợp hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản đó; đ) Bản sao giấy tờ khác có liên quan đến hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định phải có.” 7
Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 118 Luật Nhà ở năm 2014 cũng quy định điều kiện để tham gia giao dịch (mua bán, cho thuê mua, tặng cho, đổi, thế chấp, góp vốn) đối với nhà ở phải đảm bảo “có giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật” Tuy nhiên đối với một số trường hợp thì giấy chứng nhận lại không phải điều kiện bắt buộc, đó là:
6 Quốc hội (2014), điểm d khoản 1 Điều 40 Luật Công chứng
7 Quốc hội (2014), khoản 1 Điều 40 và khoản 1 Điều 41 Luật Công chứng
6
Trang 9“2 Giao dịch về nhà ở sau đây thì nhà ở không bắt buộc phải có Giấy chứng nhận: a) Mua bán, thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai;
b) Tổ chức thực hiện tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương;
c) Mua bán, thuê mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; mua bán, thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở để phục vụ tái định cư không thuộc sở hữu nhà nước; bán nhà ở quy định tại khoản 4 Điều 62 của Luật này;
d) Cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở;
đ) Nhận thừa kế nhà ở;
e) Chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại được xây dựng trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở bao gồm cả trường hợp đã nhận bàn giao nhà ở từ chủ đầu tư nhưng chưa nộp hồ sơ đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đối với nhà ở đó.”8
Như vậy, việc công chứng hợp đồng mua bán tài sản đấu giá là nhà ở, bản sao giấy chứng nhận là một trong những giấy tờ bắt buộc bởi lẽ pháp luật chuyên ngành là Luật Nhà ở yêu cầu phải đáp ứng Tuy nhiên đối với trường hợp như “mua bán nhà ở hình thành trong tương lai” thì giấy chứng nhận lại không phải bắt buộc cung cấp trong hồ sơ Trong quá trình tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng đối với tài sản là nhà, nếu phát hiện đối tượng của hợp đồng không phù hợp với quy định của pháp luật thì công chứng viên có nghĩa vụ phải chỉ rõ cho người yêu cầu công chứng để sửa chữa Hay nói cách khác trong trường hợp đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản đấu giá là nhà ở mà thuộc trường hợp bắt buộc phải có giấy chứng nhận, nếu hồ sơ không cung cấp đủ hoặc không phù hợp với quy định của pháp luật thì công chứng viên có nghĩa vụ phải chỉ rõ phần còn thiếu, không phù hợp để người yêu cầu công chứng sửa chữa Trường hợp đã chỉ rõ mà người yêu cầu công chứng không sửa chữa thì công chứng viên có quyền từ chối công chứng Khi từ chối, công chứng viên phải giải thích rõ lý do cho người yêu cầu công chứng Đây cũng là một trong số nghĩa vụ của công chứng viên được quy định tại Điều 17 Luật Công chứng năm 2014
1.6 Ý kiến đối với cách xử lý của công chứng viên trong tình huống của đề tài
Xét tình huống được đưa ra tại đề tài: “Tiếp nhận yêu cầu công chứng Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá, công chứng viên nghiên cứu hồ sơ và phát hiện: Căn nhà là tài sản bán đấu giá không có giấy chứng nhận Cho rằng, tài sản không đảm bảo điều kiện bán đấu giá, nên công chứng viên đã từ chối yêu cầu công chứng.”
Trang 10Trong tình huống này, căn cứ theo những phân tích về việc thực hiện công chứng hợp đồng mua bán tài sản đấu giá là nhà ở của công chứng viên tại mục 1.5 nêu trên, bản thân em chưa thực sự đồng tình hoàn toàn với cách xử lý của công chứng viên này Hay nói cách khác, cách xử lý của công chứng viên này chưa hoàn toàn chính xác và phù hợp theo quy định của pháp luật Cụ thể như sau:
Trước hết, cần phải làm rõ căn nhà được đem bán đấu giá ở đây là tài sản hiện có hay tài sản hình thành trong tương lai Trường hợp đây là tài sản hình thành trong tương lai, nghĩa là theo quy định tại khoản 2 Điều 118 Luật Nhà ở năm 2014 và khoản 1 Điều 40 Luật Công chứng 2014, hồ sơ yêu cầu công chứng đối với hợp đồng mua bán tài sản đấu giá là nhà ở hình thành trong tương lai không cần phải có giấy chứng nhận Như vậy việc công chứng viên cho rằng tài sản không đảm bảo điều kiện bán đấu giá là chưa chính xác theo quy định của pháp luật, vì thế không thể xem đây là căn cứ để từ chối yêu cầu công chứng của khách hàng
Mặt khác, ngay cả trong trường hợp tài sản là căn nhà hiện có, tức khách hàng cần phải cung cấp giấy chứng nhậnn tại Hồ sơ yêu cầu công chứng thì việc công chứng viên ngay lập tức từ chối yêu cầu công chứng của khách hàng cũng chưa phù hợp với quy định của pháp luật Thay vào đó, đầu tiên công chứng viên có nghĩa vụ phải chỉ rõ cho người yêu cầu công chứng biết phần tài liệu, hồ sơ còn thiếu là giấy chứng nhận để người yêu cầu công chứng biết và bổ sung Chỉ khi người yêu cầu công chứng không cung cấp được giấy chứng nhận sau khi đã được chỉ rõ thì công chứng viên mới được quyền từ chối yêu cầu công chứng Thêm vào đó, khi từ chối yêu cầu công chứng, công chứng viên cũng cần phải giải thích rõ lý do từ chối để người yêu cầu công chứng hiểu rõ
Như vậy, hiểu chung lại, khi tiếp nhận yêu cầu công chứng Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá, trong quá trình nghiên cứu hồ sơ và phát hiện: Căn nhà là tài sản bán đấu giá không có giấy chứng nhận, công chứng viên cần tìm hiểu rõ loại căn nhà có phải tài sản yêu cầu bắt buộc phải có giấy chứng nhận hay không Trường hợp có, công chứng viên cần chỉ rõ và yêu cầu người yêu cầu công chứng bổ sung tài liệu Nếu người yêu cầu công chứng không cung cấp được đầy đủ tài liệu, công chứng viên có thể từ chối tiếp nhận yêu cầu công chứng đồng thời giải thích rõ lý do cho người yêu cầu công chứng nắm được
1.7 Xây dựng quy trình công chứng hợp đồng mua bán tài sản đấu giá
Để đảm bảo việc yêu cầu công chứng hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán tài sản đấu giá nói riêng tránh được những vi phạm, lỗi không đáng có, đồng thời giúp hoạt động công chứng được diễn ra nhanh gọn, rõ ràng hơn, các Văn phòng Công chứng/Phòng Công chứng nên xây dựng cho mình một bộ quy trình thực hiện căn cứ trên quy định của pháp luật và các văn bản hướng dẫn khác có liên quan Trong phạm vi bài 8