Bài tiểu luận môn tư pháp quốc tế về đề tài: pháp luật việt nam về thừa kế có yếu tố nước ngoài. So sánh với hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam Liên Bang Nga. Theo đó nội dung bài tiểu luận tập trung vào những vấn đề chính sau: Phân tích pháp luật Việt Nam về thừa kế có yếu tố nước ngoài. So sánh hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam Liên Bang Nga với quy định pháp luật Việt Nam về nội dung trên.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA LUẬT
TIỂU LUẬN
Đề tài: Pháp luật Việt Nam về thừa kế có yếu tố nước ngoài,
so sánh với Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam - Liên Bang Nga
Họ và tên :
Mã sinh viên :
, tháng năm 2021
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 2
PHẦN 2 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3
I PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỪA KẾ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 3
1.1 Về phạm vi áp dụng 3
1.2 Về nguyên tắc xác định pháp luật áp dụng 4
II SO SÁNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỚI HIỆP ĐỊNH TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VIỆT NAM - LIÊN BANG NGA VỀ THỪA KẾ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 6
2.1 Về phạm vi áp dụng 6
2.2 Về nguyên tắc xác định pháp luật áp dụng 6
III ĐÁNH GIÁ VÀ NHẬN XÉT 8
3.1 Ưu điểm và hạn chế của pháp luật Việt Nam so với Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam - Liên Bang Nga 8
3.2 Bài học kinh nghiệm 9
PHẦN 3 KẾT LUẬN 10
2
Trang 4PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Thừa kế là một trong những chế định quan trọng của dân luật các nước và cũng là chế định quan trọng trong hệ thống tư pháp quốc tế Về nguyên tắc, trong phạm vi quốc gia nào mà các quan hệ thừa kế được nảy sinh sẽ do pháp luật về thừa kế của quốc gia đó điều chỉnh Tuy nhiên, trong điều kiện giao lưu, hợp tác toàn cầu ngày càng phát triển như hiện nay, khi các giao lưu quốc tế ngày càng tăng lên thì quan hệ thừa kế cũng đã vượt ra khỏi phạm vi điều chỉnh của hệ thống pháp luật một quốc gia Khi đó, quan hệ này trở thành quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài và chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật
tư pháp quốc tế Theo đó, tại Việt Nam có thể kể đến hai nguồn chính là: pháp luật trong nước về thừa kế có yếu tố nước ngoài và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
có điều chỉnh về quan hệ thừa kế Một trong những điều ước được Việt Nam ký kết từ khá sớm đó là Hiệp định “Tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên Bang Nga” đã được ký kết từ ngày 25 tháng
8 năm 1998 và có hiệu lực kể từ ngày 27 tháng 8 năm 2012 (Sau đây gọi là “Hiệp định tương trợ tư pháp”)
Mặc dù cùng quy định về quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, tuy nhiên giữa pháp luật Việt Nam và hiệp định tương trợ tư pháp vẫn có những điểm riêng nhất định Xuất phát từ nội dung này, bài tiểu luận dưới đây, với đề tài “Pháp luật Việt Nam về thừa kế có yếu tố nước ngoài, so sánh với Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam - Liên Bang Nga”
sẽ đi tìm hiểu, phân tích về quy định tại từng nguồn pháp luật trên để đưa ra được những
so sánh, chỉ ra những ưu, nhược điểm cụ thể, đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm cho việc quy định tại Việt Nam
Trang 5PHẦN 2 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỪA KẾ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
Tại hệ thống pháp luật Việt Nam, các quy phạm về quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015 (Sau đây gọi là “BLDS 2015”), cụ thể tại một số điều khoản ở Phần thứ năm “Pháp luật áp dụng đói với quan hệ dân sự có yếu
tố nước ngoài” Theo đó, những quy định này điều chỉnh các vấn đề cơ bản, quan trọng và liên quan trực tiếp đến việc giải quyết xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế liên quan đến thừa kế có yếu tố nước ngoài như sau:
1.1 Về phạm vi áp dụng
BLDS 2015 không đưa ra phạm vi áp dụng đối với quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói riêng mà chỉ ra những quan hệ dân sự nói chung được xác định là quan hệ có yếu tố nước ngoài tại khoản 2 Điều 663:
“2 Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài;
b) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;
c) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.”
Theo đó, có thể xác định đối với thừa kế, quan hệ được coi là có yếu tố nước ngoài khi thuộc một phạm vi một trong những trường hợp sau đây:
(i) Người thừa kế hoặc ngưởi để lại thừa kế là cá nhân, pháp nhân nước ngoài Hay
có thể nói đây là trường hợp xác định theo Luật quốc tịch của chủ thể có liên quan Ví dụ: ông A là công dân Việt Nam nhưng con của ông A là công dân Nga Khi chết ông A để lại di sản thừa kế cho con của mình Trường hợp này, con của ông A là cá nhân nước ngoài nên đây là quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
(ii) Người thừa kế và người để lại thừa kế là công dân Việt Nam nhưng di sản thừa
kế ở nước ngoài Hay nói cách khác, luật được xác định áp dụng trong trường hợp này phụ thuộc đối tượng của quan hệ thừa kế - di sản thừa kế Ví dụ: Ông A là công dân Việt Nam và để lại thừa kế cho con là người Việt Nam Ông A chết tại Việt Nam nhưng di sản
để lại có bao gồm thửa đất ở nước Nga Trong trường hợp này di sản thừa kế ở nước ngoài nên có thể khẳng định đây là quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
4
Trang 6(iii) Người thừa kế và người để lại thừa kế là công dân Việt Nam nhưng việc xác lập, thực hiện, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ thừa kế xảy ra ở nước ngoài Như vậy, tại trường hợp này, việc xác định pháp luật áp dụng được căn cứ theo địa điểm xảy ra sự kiện pháp lý (xác lập, thực hiện, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ thừa kế) Ví dụ: Ông A là công dân Việt Nam và để lại thừa kế cho con là người Việt Nam Tuy nhiên lúc lập di chúc, ông A lại thực hiện ở Nga Khi đó, quan hệ thừa kế này được xác định là quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
Nói tóm lại, một quan hệ thừa kế chỉ cần thoả mãn một trong ba trường hợp nêu trên sẽ được xác định là quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
1.2 Về nguyên tắc xác định pháp luật áp dụng
1.2.1 Xác định pháp luật áp dụng đối với quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
Một quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói riêng có thể liên quan đến phạm vi điều chỉnh của nhiều nguồn pháp luật khác nhau Theo đó, nếu không đưa ra được nguyên tắc để xác định pháp luật áp dụng một cách thống nhất, phù hợp sẽ dẫn tới tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, gây khó khăn cho các cá nhân, tổ chức trong quá trình áp dụng Để giải quyết vấn đề này, Điều 664 BLDS 2015 đã đưa ra nguyên tắc, thứ tự ưu tiên cho việc xác định pháp luật áp dụng nói chung đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, trong đó bao gồm cả quan hệ thừa kế như sau:
“1 Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam.
2 Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam có quy định các bên có quyền lựa chọn thì pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo lựa chọn của các bên.
3 Trường hợp không xác định được pháp luật áp dụng theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đó.”
Có thể thấy, theo quy định này, Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và luật Việt Nam được ưu tiên sẽ áp dụng dụng đầu tiên Trong trường hợp hai nguồn trên không
có quy định điều chỉnh thì xác định theo lựa chọn của các bên (bên để lại di sản và bên được thừa kế) Cuối cùng, nếu trường hợp các nguồn nêu trên đều không xác định thì được áp dụng theo pháp luật của nước có mối qua hệ gắn bó nhất với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đó
Trang 71.2.2 Pháp luật áp dụng đối với quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
Mục 1.2.1 đã đưa ra tổng quan về việc xác định pháp luật áp dụng đối với quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài; tuy nhiên, cũng cần làm rõ rằng, việc xác định chính xác nguồn luật cụ thể nào được điều chỉnh thì cần phải dựa theo nội dung, tính chất của từng quan hệ thừa kế riêng biệt, cụ thể việc xác định pháp luật áp dụng được chia làm hai trường hợp, dựa trên loại hình di sản thừa kế
Trường hợp di sản thừa kế là động sản, việc thừa kế theo pháp luật “được xác định
theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch ngay trước khi chết” 1 Cụm từ “ngay trước khi chết” được hiểu là thời điểm ngay liền trước thời điểm người để lại di sản chết, tuy nhiên trên thực tế thời điểm ngay liền trước này rất khó để xác định chính xác là tại thời điểm cụ thể nào Ví dụ: Ông A có quốc tịch Việt Nam nhưng chết ở nước ngoài và không để lại di chúc thì việc xác định quyền thừa kế theo pháp luật đối với di sản của ông A được áp dụng theo pháp luật Việt Nam
Trường hợp di sản thừa kế là bất động sản, BLDS 2015 quy định việc thừa kế được thực hiện căn cứ theo pháp luật nơi đặt bất động sản là di sản đó2, tức căn cứ theo đối tượng của quan hệ thừa kế Điều này hoàn toàn khác so với di sản là động sản – xác định theo chủ thể của quan hệ thừa kế
1.2.3 Pháp luật áp dụng liên quan đến di chúc
Ngoài ra, BLDS cũng đưa ra một số quy định riêng về xác định pháp luật áp dụng
đối với một số vấn đề liên quan đến thừa kế theo di chúc, tức là “loại hình thừa kế mà
việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người con sống theo quyết định của người
để lại di sản trước khi chết thể hiện qua di chúc”3 Với trường hợp này, luật Việt Nam đưa ra việc xác định pháp luật đối với hai vấn đề quan trọng có liên quan đến hiệu lực của
di chúc đó là “năng lực của người lập di chúc” và “hình thức của di chúc”
Theo khoản 1 Điều 681 BLDS 2015, “năng lực lập di chúc, thay đổi hoặc huỷ bỏ di
chúc được xác định theo pháp luật của nước mà người lập di chúc có quốc tịch tại thời điểm lập, thay đổi hoặc huỷ bỏ di chúc” Ví dụ: Ông A lập di chúc vào năm 2014 khi đó
ông có quốc tịch Việt Nam, nhưng đến năm 2016 ông thay đổi di chúc và tại thời điểm đó ông mang quốc tịch Hàn Quốc Như vậy, việc xác định năng lực lập di chúc được vào
1 Chính phủ (2015), Khoản 1 Điều 680 BLDS 2015
2 Chính phủ (2015), Khoản 2 Điều 680 BLDS 2015
3 “Thừa kế theo di chúc là gì theo quy định pháp luật?” – Trang web: Công ty luật TNHH Lawkey
Link: https://lawkey.vn/thua-ke-theo-di-chuc-la-gi/
6
Trang 8năm 2014 của ông A được thực hiện theo pháp luật Việt Nam và việc xác định năng lực thay đổi di chúc vào năm 2016 được thực hiện theo pháp luật Hàn Quốc
Về hình thức di chúc, theo quy định tại khoản 2 Điều 681 BLDS 2015, pháp luật
được áp dụng để điều chỉnh là “nước nơi di chúc được lập” Ví dụ ông A mang quốc tịch
Việt Nam nhưng lập di chúc tại Hàn Quốc thì hình thức của di chúc được lập pháp tuân theo quy định của pháp luật Hàn Quốc Như vậy về nguyên tắc, hình thức di chúc được xác định theo pháp luật của nước nơi lập di chúc, và công nhận tại quốc gia đó Tuy nhiên cũng tại khoản này, BLDS 2015 cho phép trường hợp ngoại lệ về việc hình thức di chúc được công nhận tại Việt Nam khi phù hợp với pháp luật của một trong các nước: (i) Nước nơi người lập di chúc cư trú tại thời điểm lập di chúc hoặc tại thời điểm người lập di chúc chết; (ii) Nước nơi người lập di chúc có quốc tịch tại thời điểm lập di chúc hoặc tại thời điểm người lập di chúc chết; (iii) Nước nơi có bất động sản nếu di sản thừa kế là bất động sản
II SO SÁNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỚI HIỆP ĐỊNH TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VIỆT NAM - LIÊN BANG NGA VỀ THỪA KẾ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
Hiệp định tương trợ tư pháp được ký kết giữa Việt Nam và Liên Bang Nga từ năm
1998 tuy nhiên đến năm 2012 mới bắt đầu có hiệu lực tại Việt Nam Hiệp định này đã dành hẳn Chương 4 để quy định các vấn đề về thừa kế Nhìn một cách tổng quan có thể thấy trong Hiệp định này, vấn đề thừa kế có yếu tố nước ngoài đã được cụ thể hoá thành một hệ thống các quy phạm khá đầy đủ, điều chỉnh kịp thời các quan hệ thừa kế phát sinh giữa các bên hữu quan Mặc dù có phần tương quan với quy định của pháp luật Việt Nam tuy nhiên quy định tại Hiệp định này vẫn có một số thay đổi, bổ sung nhất định Cụ thể được phân tích dưới đây:
2.1 Về phạm vi áp dụng
Mặc Hiệp định tương trợ tư pháp là điều ước quốc tế được ký kết giữa Việt Nam và Liên bang Nga Mặc dù nội dung của Hiệp định không đưa ra một quy định cụ thể về phạm vi áp dụng, tuy nhiên căn cứ theo bản chất của Điều ước quốc tế có thể hiểu rằng nội dung về quan hệ thừa kế tại Hiệp định được áp dụng đối với mối quan hệ phát sinh có liên quan đến hai nước Việt Nam và Liên bang nga Như vậy, phạm vi tại Hiệp định tương trợ tư pháp đã thu hẹp lại, rõ ràng và chi tiết hơn thay vì phạm vi “quan hệ có yếu
tố nước ngoài” nói chung, tức nước ngoài trong trường hợp này không được cụ thể hoá thành đất nước nhất định nào, theo quy định của pháp luật Việt Nam
Trang 92.2 Về nguyên tắc xác định pháp luật áp dụng
2.2.1 Xác định pháp luật áp dụng đối với quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
Hiệp định tương trợ tư pháp không đưa ra những quy định về nguyên tắc trong việc xác định pháp luật áp dụng đối với quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài như pháp luật Việt Nam Theo đó việc xác định này chỉ được quy định chi tiết tại từng nội dung nhất định tương ứng với mỗi điều khoản của Hiệp định
2.2.2 Pháp luật áp dụng đối với quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
Hiệp định tương trợ tư pháp quy định về việc xác định pháp luật áp dụng căn cứ theo loại hình di sản thừa kế là “động sản” hay “bất động sản”, điều này tương đồng với pháp luật Việt Nam
Đối với bất động sản, Hiệp định tương trợ tư pháp cũng ghi nhận “pháp luật của
Bên ký kết nơi có bất động sản đó” (Khoản 2 Điều 39) là hệ thống pháp luật điều chỉnh
quan hệ pháp luật về thừa kế Quy định này hoàn toàn giống với nội dung tại BLDS 2015 Tuy nhiên, đối với động sản, Hiệp định tương trợ tư pháp lại xác định việc điều chỉnh quan hệ pháp luật về thừa kế là thuộc về pháp luật của Bên ký kết mà người để lại thừa kế “là công dân vào thời điểm chết”, thay vì “ngay trước thời điểm chết” như quy định tại pháp luật Việt Nam Xét trên quan điểm xây dựng luật, do luật quốc gia là việc nội luật hoá các điều ước quốc tế để đảm bảo việc áp dụng một cách thống nhất trong nước thì có thể hiểu ý đồ của nhà làm luật đối với nội dung này là như nhau, tuy nhiên với cách thức thể hiện khác nhau lại dẫn tới nội dung bị hiểu khác đi Như vậy, khi áp dụng trên thực tế rất có thể xảy ra mâu thuẫn giữa hai nội dung này Để hiểu rõ hơn có thể đưa
ra ví dụ sau: Ông A là công dân Việt Nam Ông chết vào 00h01 ngày 31/8/2021, cũng đồng thời trong ngày 31/8/2021 ông nhận được văn bản chấp thuận cho ông nhập quốc tịch nước Nga và thôi quốc tịch Việt Nam Như vậy, nếu căn cứ theo Hiệp định tương trợ
tư pháp, quan hệ thừa kế động sản của ông A do pháp luật nước Nga điều chỉnh, tuy nhiên theo pháp luật Việt Nam lại do Việt Nam điều chỉnh Rõ ràng, với tính chất mâu thuẫn này sẽ gây ra nhiều khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền và cá nhân liên quan khi thực hiện xác định pháp luật áp dụng
Ngoài ra, bên cạnh nội dung quy định về bất động sản và động sản nêu trên, Hiệp định tương trợ tư pháp cũng bổ sung quy định so với pháp luật Việt Nam liên quan đến cách xác định pháp luật áp dụng đối với việc phân biệt di sản là bất động sản hay động
sản là “theo pháp luật của Bên ký kết nơi có di sản đó” (khoản 3 Điều 39) Có thể thấy,
xét về thực tế áp dụng, đây là một quy định cần thiết bởi lẽ việc phân loại tài sản là “bất động sản” hay “động sản” tại hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia có thể khác nhau, nếu 8
Trang 10không có sự thống nhất về quan điểm áp dụng có thể dẫn tới khó khăn trong việc thực hiện
2.2.2 Pháp luật áp dụng liên quan đến di chúc
Về cơ bản, quy định về xác định pháp luật áp dụng liên quan đến di chúc tại Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp luật Việt Nam có sự tương đồng nhất định, cụ thể: (i) Đối với năng lực lập hoặc huỷ bỏ di chúc đều được xác định theo Luật quốc tịch của người để lại thừa kế tại thời điểm lập hoặc huỷ bỏ di chúc; (ii) Đối với hình thức lập di chúc được xác định theo pháp luật của nước là nơi lập hoặc huỷ bỏ di chúc
Tuy nhiên, đi sâu vào từng quy định, có thể thấy Hiệp định tương trợ tư pháp quy định rõ ràng và chi tiết hơn tại một số điểm so với pháp luật Việt Nam:
Đối với năng lực của người lập di chúc, Hiệp định tương trợ tư pháp bổ sung thêm
xác định pháp luật đối với nội dung về “hậu quả pháp lý của những nhược điểm về thể
hiện ý chí của người lập di chúc”, tuy nhiên lại bỏ đi trường hợp “thay đổi di chúc” được
quy định tại pháp luật Việt Nam
Đối với hình thức di chúc, thay vì chỉ quy định về “hình thức lập di chúc”, Hiệp định
tương trợ tư pháp có bổ sung thêm việc xác định pháp luật áp dụng đối với “hình thức
huỷ bỏ di chúc” Bên cạnh đó, Hiệp định cũng bổ sung thêm quy định về việc xác định
pháp luật áp dụng đối với hình thức lập hoặc huỷ di chúc có thể theo “pháp luật của Bên
ký kết mà người để lại thừa kế là công dân vào thời điểm lập hoặc huỷ bỏ di chúc”, quy
định này hoàn toàn mới và rộng hơn so với quy định của pháp luật Việt Nam
2.2.3 Một số quy định khác
Ngoài hai nội dung đề cập ở trên, Hiệp định tương trợ tư pháp còn quy định về việc xác định pháp luật trong quan hệ thừa kế đối với một số vấn đề khác có liên quan như: Nguyên tắc lựa chọn pháp luật áp dụng, Chuyển giao di sản cho Nhà nước, Thẩm quyền giải quyết các vấn đề về thừa kế, Mở (công bố) di chúc Những quy định này hoà toàn không được nhắc đến tại pháp luật Việt Nam
III ĐÁNH GIÁ VÀ NHẬN XÉT
3.1 Ưu điểm và hạn chế của pháp luật Việt Nam so với Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam - Liên Bang Nga
Qua những phân tích, so sánh về sự giống và khác nhau giữa hai nguồn là Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp luật Việt Nam về thừa kế có yếu tố nước ngoài tại mục II nêu trên có thể thấy một số ưu và nhược điểm của pháp luật Việt Nam so với Hiệp định tương trợ tư pháp như sau: