1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài liệu Giáo trình viêm ruột thừa ppt

10 958 32
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Viêm ruột thừa
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 264,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù năm 1827, Melier đã mô tả đúng nguồn gốc của "ổ mủ vùng hố chậu " là do viêm ruột thừa, nhưng chỉ tới năm 1886 Fitz mới xác định và chính thức gọi là viêm ruột thừa ở những trường

Trang 1

VIÊM RUỘT THỪA

Viêm ruột thừa là cấp cứu hay gặp nhất trong

bệnh lý ngoại khoa bụng Tại Pháp, tỷ lệ viêm

ruột thừa từ 40 đến 60 trường hợp cho

100.000 dân Tại Mỹ vào khoảng 1% các

trường hợp phẫu thuật là do viêm ruột thừa

Ở Việt Nam, theo Tôn Thất Bách và cộng sự,

viêm ruột thừa chiếm 53,38% mổ cấp cứu do

bệnh lý bụng tại bệnh viện Việt Đức

Bệnh rất hiếm gặp ở trẻ em dưới 3 tuổi, tăng

dần và hay gặp nhất ở thanh thiếu niên, sau

đó tỷ lệ gặp giảm dần theo tuổi nhưng không

hiếm gặp ở người già

Tỷ lệ nam/ nữ ở người trẻ là 2/3, sau đó giảm

dần và ở người già tỷ lệ này là 1/1

Cần phải nghĩ đến viêm ruột thừa trước bất

cứ bệnh nhân nào đến khám do đau bụng

Triệu chứng lâm sàng rất đa dạng, thay đổi

tùy theo từng bệnh nhân nên có thể nhầm

với những bệnh khác dẫn đến chẩn đoán sai

hay muộn

Mondor đã đề nghị gọi là "Những bệnh viêm

ruột thừa" Cho tới nay việc chẩn đoán viêm

ruột thừa vẫn phải dựa chủ yếu vào thăm

khám và theo dõi lâm sàng, tất cả các

phương pháp cận lâm sàng đều chỉ có tác

dụng tham khảo

Không có cách nào dự phòng và dự đoán

tiến triển của viêm ruột thừa Cách tốt nhất

để hạ thấp biến chứng và tránh tử vong là

chẩn đoán sớm và mổ cắt bỏ ruột thừa trước

khi nó bị vỡ hay hoại tử

I VÀI NÉT LỊCH SỬ

Tuy là một bệnh rất thường gặp nhưng viêm

ruột thừa chỉ được nhắc tới trong y văn từ

khoảng 500 năm trước Lúc đầu bệnh được

gọi là bệnh "Viêm quanh manh tràng" vì

người ta tìm thấy ổ viêm ở vùng hố chậu phải

trên mổ tử thi mà nguồn gốc được cho là

xuất phát từ manh tràng

Mặc dù năm 1827, Melier đã mô tả đúng nguồn gốc của "ổ mủ vùng hố chậu " là do viêm ruột thừa, nhưng chỉ tới năm 1886 Fitz mới xác định và chính thức gọi là viêm ruột thừa ở những trường hợp mà trước đây gọi

là viêm quanh manh tràng, và tác giả gợi ý là cắt bỏ ruột thừa có thể giải quyết được bệnh Năm 1898, Mac Burney mô tả dấu hiệu lâm sàng của viêm ruột thừa chưa vỡ, trong đó

có điểm đau vùng hố chậu phải nay gọi là điểm Mac Burney

Năm 1 889, lần đầu tiên Senn thông báo 1 trường hợp chẩn đoán chính xác ruột thừa viêm chưa vỡ và mổ cắt ruột thừa thành công

Đường mổ ruột thừa áp dụng phổ biến hiện hay thường được gọi là đường Mac Burney thực ra do Mc Arthur thực hiện đầu tiên

II GIẢI PHẪU

Ruột thừa gặp manh tràng ở chỗ chụm lại của 3 dải cơ dọc, dưới góc hồi manh tràng

2-3 cm Về mặt bào thai học, ruột thừa là phần nối tiếp với đáy manh tràng, do phần này bị thoái hoá dần tạo thành

Trong quá trình phát triển của trẻ em, phần trước và bên phải manh tràng phát triển nhanh hơn, làm gốc ruột thừa xoay dần ra sau và vào trong tới vị trí hay gặp ở người lớn

Ruột thừa bình thường ở người lớn dài khoảng 8 đến 10 cm Thành ruột thừa gồm lớp thanh mạc bọc ngoài, lớp cơ rất mỏng gồm lớp dọc do 3 dải cơ dọc của manh tràng dàn mỏng, lớp cơ vòng tiếp nối với cơ của manh tràng

Có thể dựa vào chỗ hợp lại của 3 dải cơ dọc

ở manh tràng để xác định gốc ruột thừa Lớp dưới niêm mạc gồm các náng bạch huyết chỉ có rất ít khi mới sinh, phát triển mạnh từ 12 đến 20 tuổi, từ.30 tuổi số nang này thoái hoá dần và hầu như mất hết sau 60 tuổi

Trang 2

Lòng ruột thừa hẹp được lợp bởi tế bào biểu

mô đại tràng

Động mạch ruột thừa bắt nguồn từ nhánh hồi

manh trùng tràng, đi sau quai tận hồi tràng,

cấp máu cho ruột thừa trong mạc treo ruột

thừa

Phần gốc ruột thừa luôn nằm hằng định so

với manh tràng Phần đầu ruột thừa thay đổi

tuỳ từng người, phần lớn nằm trong phúc

mạc Có khoảng 5% ruột thừa nằm ngoài

phúc mạc sau manh tràng

Nếu quá trình quay của ruột có rối loạn,

manh tràng và ruột thừa có thể nằm lạc vị trí

ở trong khoảng từ góc lách tới hố chậu phải

Trong trường hợp đảo ngược phủ tạng ruột

thừa nằm ở hố chậu trái

III SINH LÝ - GIẢI PHẪU BỆNH

Viêm ruột thừa gây ra do nhiễm khuẩn trong

lòng ruột thừa bị bít tắc Sự quá sản tổ chức

limpho ở thành ruột thừa là nguyên nhân

chính gây tắc lòng ruột thừa Ngoài ra có thể

gặp các nguyên nhân gây tắc khác: sỏi phân,

ký sinh trùng (giun đũa chui vào ruột thừa),

các dị vật (hạt quả)

Khi lòng ruột thừa bị tắc gây ứ đọng dịch tiết

dẫn tới tăng áp lực trong lòng ruột thừa, ứ trệ

tuần hoàn, vi khuẩn phát triển chuyển chất

tiết thành mủ

Giai đoạn đầu quá trình này gây viêm, phù

thành ruột thừa và có những nốt loét ở niêm

mạc ruột thừa

Khi mổ thấy trong ổ bụng có nước dịch tiết

trong, vô khuẩn ở vùng hổ chậu phải, ruột

thừa sưng to mất bóng, các mạch máu giãn

to trên thành ruột thừa Đây là viêm ruột thừa

xung huvết

Nếu tiếp tục phát triển, quá trình viêm càng

làm tăng áp lực dẫn tới ứ trệ tuần hoàn tĩnh

mạch và thiếu máu nuôi dưỡng Vi khuẩn

phát triển ra thành ruột thừa Khi mổ trong ổ

bụng có dịch đục, ruột thừa viêm mọng, có

Giai đoạn này là viêm ruột thừa mủ

Trong trường hợp khi mạch máu ruột thừa bị tắc do huyết khối nhiễm trùng do vi khuẩn yếm khí dẫn tới hoai tử ruột thừa, thấy trên ruột thừa có những nốt hoại tử hay toàn bộ ruột thừa màu cỏ úa, mủn nát

Giai đoạn cuối cùng khi ruột thừa bị thủng dẫn tới mủ chảy ra ngoài Nếu được khu trú lại bởi tổ chức xung quanh gồm ruột, mạc nối, phúc mạc dính lại sẽ tạo thành ổ áp xe ruột thừa

Trong trường hợp mủ chảy vào ổ phúc mạc

tự do sẽ gây viêm phúc mạc toàn thể

Ở một số trường hợp, trong quá trình viêm ruột thừa chưa vỡ, phản ứng bao bọc của tổ chức xung quanh tạo ra đám quánh ruột thừa

IV TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG

1 Triệu chứng cơ năng

Bệnh bắt đầu bằng đau bụng ở hầu hết bệnh nhân, chỉ trừ những trường hợp bị liệt tuỷ sống cắt ngang hoặc ở người rối loạn tâm thần không tiếp xúc được Điển hình là đau

âm ỉ ở vùng hố chậu phải, lúc đầu có thể ở vùng trên rốn hay quanh rốn nhưng rồi khu trú ở vùng hố chậu phải Trẻ em thường đau quanh rốn và trẻ nhỏ chủ yếu là quấy khóc Nếu kèm theo sốt thì phải rất chú ý khám phát hiện, tránh bỏ sót viêm ruột thừa Kèm theo đau, buồn nôn là dấu hiệu hay gặp Có thể xuất hiện nôn nhất là ở trẻ em Các dấu hiệu rối loạn tiêu hoá khác như chán ăn, táo bón, ỉa chảy cũng có thể gặp

Bệnh nhân thấy người mệt mỏi, gây sốt

2 Triệu chứng thực thể

Quan sát người bệnh thấy dấu hiệu "vẻ mặt nhiễm trùng": vẻ mặt hốc hác, môi khô, lưỡi bẩn Đo nhiệt độ thường ở khoảng 37,5 –

380C Khi sốt cao hơn cần phải nghĩ đến và tìm các nguyên nhân khác

Trang 3

Khám tai chỗ: cần khám nhẹ nhàng, tay thầy

thuốc ấm Khám từ vùng không đau tới vùng

đau, phát hiện các dấu hiệu:

+ Phản ứng thành bụng:

Khi khám nhẹ nhàng vùng hố chậụ phải, thấy

cơ thành bụng vùng này căng hơn những

vùng khác của ổ bụng, càng ấn sâu xuống,

cảm giác co cơ càng tăng, bệnh nhân đau

phải nhăn mặt hay đẩy tay thầy thuốc ra

+ Tìm các điểm đau:

Điểm Mc Burney: ở giữa đường nối gai chậu

trước trên đến rốn

Điểm Lanz: nơi nối giữa 1/3 phải và 2/3 trái

đường liên gai chậu trước trên

Điểm Clado: là nơi gặp của đường liên gai

chậu trước trên và bờ ngoài cơ thẳng to phải

Điểm đau trên mào chậu phải: gặp ở viêm

ruột thừa sau manh tràng

+ Dấu hiệu co cứng thành bụng :

Vùng hố chậu phải thường là dấu hiệu của

giai đoạn ruột thừa viêm tiến triển muộn

+ Tăng cảm giác da vùng hố chậu phải:

Bệnh nhân rất đau khi mới chạm vào vùng

này, gặp ở một số ít bệnh nhân

+ Dấu hiệu Blumberg:

Bệnh nhân đau khi thầy thuốc đột ngột bỏ tay

đang đè ở vùng hố chậu phải

+ Dấu hiệu Rovsing:

Bệnh nhân đau bên phải khi đẩy dồn hơi

trong đại tràng từ bên trái sang bằng cách ép

vào vùng hố chậu trái

+ Thăm trực tràng hay thăm âm đạo :

Ở phụ nữ là việc phải làm ở tất cả các bệnh

nhân nghi ngờ viêm ruột thừa Khi thăm

khám, ngón tay chạm vào thành phải trực

tràng hay bờ phải túi cùng âm đạo sẽ làm

bệnh nhân đau

3 Thăm khám cận lâm sàng

Xét nghiệm công thức mảu thường thấy số lượng bạch cầu tăng, tuy nhiên không tăng song song với mức độ tổn thương ruột thừa Trong công thức bạch cầu, số bạch cầu đa nhân trung tính tăng Tuy nhiên ở một số bệnh nhân nhất là người già số lượng bạch cầu có thể hoàn toàn bình thường

Chụp X-quang không chuẩn bị bụng không cho thấy dấu hiệu gì đặc biệt Riêng ở trẻ nhũ nhi, dấu hiệu viêm ruột thừa muộn được phát hiện qua phim chụp bụng không chuẩn

bị với hình ảnh nhiều mức nước hơi của các quai ruột non tập trung ở hố chậu phải

Gần đây, khi siêu âm ổ bụng phát triển, một

số tác giả sử dụng tìm các dấu hiệu ruột thừa viêm nhưng chưa có những tiêu chuẩn rõ ràng và chưa được áp dụng rộng rãi

Soi ổ bụng chẩn đoán trong những trường hợp khó, nhất là ở phụ nữ là một phương pháp đang được theo dõi đánh giá

V CÁC THỂ LÂM SÀNG

1 Lâm sàng theo lứa tuổi a) Viêm Ruột Thừa ở trẻ em :

Viêm ruột thừa rất hiếm gặp ở lứa tuổi nhũ nhi, việc chẩn đoán gặp nhiều khó khăn do trẻ chưa biết nói, khó hợp tác khi khám nên thường để muộn khi đã viêm phúc mạc

Khi trẻ nhũ nhi quấy khóc kèm theo sốt, nên nghĩ tới viêm ruột thừa, chụp bụng không chuẩn bị có một dấu hiệu rất quan trọng là thấy nhiều hình mức nước hơi tập trung ở hố chậu phải

Việc điều trị vì vậy chậm trễ và có nhiều biến chứng

Ở trẻ 2-5 tuổi, việc khai thác bệnh sử vẫn còn khó khăn, vì vậy các dấu hiệu lâm sàng cần được chú ý thăm khám kỹ Rất có thể bỏ sót chẩn đoán nếu trông chờ có đủ các dấu hiệu điển hình

Trang 4

Những triệu chứng sốt, ỉa chảy, nôn, trằn trọc

quấy khóc, co chân bên phải gấp vào bụng là

những dấu hiệu rất có thể của viêm ruột

thừa Bụng chướng là dấu hiệu rất hay gặp

Thăm trực tràng một cách nhẹ nhàng rất có

giá trị chẩn đoán đối với những thầy thuốc có

kinh nghiệm vì nếu thăm trực tràng một cách

thô bạo sẽ làm đứa trẻ đau đớn và mất hết

mọi giá trị

Ở lứa tuổi trên dưới 1 tuổi, tỷ lệ viêm ruột

thừa vỡ xấp xỉ 100%, dưới 2 tuổi là 70-80%

và tới 5 tuổi thì tỷ lệ này là 50%

b) Viêm Ruột Thừa ở phụ nữ có thai :

Tỷ lệ gặp viêm ruột thừa ở phụ nữ có thai

tương đương với người bình thường Trong

6 tháng đầu của thai kỳ, triệu chứng không

có nhiều khác biệt so với phụ nữ bình

thường Trong 3 tháng cuối, dấu hiệu lâm

sàng có thay đổi do tử cung to đẩy manh

tràng lên cao và xoay ra ngoài nên điểm đau

dâng cao và lệch ra thắt lưng Do ảnh hưởng

của nội tiết tố gây giữ nước làm phản ứng

thành bụng giảm độ nhạy cảm dẫn tới chẩn

đoán chậm Khi khám nên chú ý:

+ Cho bệnh nhân nằm nghiêng trái để khám

vùng hố chậu phải

+ Bệnh nhân nằm ngửa, đẩy vào tử cung từ

bên trái sẽ gây đau ở hố chậu phải

Cần lưu ý là tiến triển viêm ruột thừa ở người

có thai rất nhanh chóng dẫn đến hoại thư vì

vậy việc chẩn đoán đúng và chỉ định mổ sớm

trước khi hoại thư là điều cần thiết để bảo vệ

tính mạng cho người mẹ và thai nhi

c) Viêm Ruột thừa ở người già :

Các triệu chứng đau chán ăn, buồn nôn rất

thường gặp ở người già nhưng ít rầm rộ hơn

Đau bụng chậm khu trú vào vùng hố chậu

phải Phản ứng thành bụng ở người già rất

kín đáo, chướng bụng hay gặp Nhiều người

già không có sốt Có thể sờ thấy khối ở hố

chậu phải trong thể u

ổ bụng thấy hình ảnh quai ruột giãn và mức nước hơi ở hố chậu phải cần nghĩ tới viêm ruột thừa Đối với người già cần thăm khâm toàn thân một cách kỹ càng và tiến hành các xét nghiệm cần thiết để phát hiện các bệnh kèm theo, từ đó lựa chọn phương pháp gây

mê, cho thuốc điều trị sau mổ , thậm chí những thủ thuật kèm theo Các bệnh thường kèm theo là bệnh tim mạch (cao huyết áp, loạn nhịp ), nội tiết (đái đường ), tiết niệu (u

xơ tuyến tiền liệt, chức năng thận )

2 Thể lâm sàng theo tiến triển a) Viêm ruột thừa thể nhiễm độc:

Hay gặp ở trẻ em hoặc những người cơ thể khoẻ mạnh, cường tráng như những vận động viên Bệnh nhân có tình trạng sốc nhiễm trùng, nhiễm độc: li bì, nhiệt độ 39-40oC, mạch nhanh nhỏ, thở nông, có thể tụt huyết áp, đầu chi tím lạnh Khám bụng thấy dấu hiệu rất nghèo nàn: bụng chướng nhẹ, nắn bụng đau không rõ, không rõ phản ứng Thăm trực tràng cũng không thấy rõ Cần được mổ sớm và cho kháng sinh liều cao, hồi sức tích cực Khi mổ thấy có ít dịch thối ở

hố chậu phải, ruột thừa hoại tử một mảng hay toàn bộ

b) Viêm ruột thừa thể tắc ruột:

Hay gặp ở người già Bệnh diễn biến chậm, bệnh nhân có dấu hiệu đau bụng cơn kèm theo có sốt Xquang bụng thấy có bóng hơi,

mức nước hơi ở hố chậu phải hay tiểu khung

c) Viêm ruột thừa do ký sinh trùng:

Hay gặp viêm ruột thừa do giun đũa ở trẻ

em Bệnh nhi vào viện vì đau bụng dữ dội, thường sau tẩy giun khô.ng đủ liều Không sốt hay sốt nhẹ Khám vùng hố chậu phải thấy đau, phản ứng nhẹ khi mổ có thể thấy ruột thừa ngọ nguậy, nắn ngoài cứng Có thể

ở đầu ruột thừa hoại tử có giun thò ra

d) Viêm ruột thừa do lao:

Trên bệnh nhân đã biết đang bị lao hay

Trang 5

thấy ruột thừa sưng to và rải rác có hạt màu

trắng trên thanh mạc ruột và phúc mạc, có

hạch mạc treo, có dịch vàng trong ổ bụng

Xét nghiệm giải phẫu bệnh thấy hình ảnh lao

Cần điều trị lao tích cực Có nguy cơ dò và

bục mỏm ruột thừa

3 Thể lâm sàng theo vị trí

a) Viêm ruột thừa sau manh tràng:

Bệnh nhân đau lan ra sau, khi khám thấy hố

chậu phải đau không rõ

Có khi chân phải co lại do kích thích cơ đái

chậu Nắn điểm trên mào chậu bệnh nhân

đau chói

b) Viêm ruột thừa tiểu khung:

Thường có dấu hiệu về tiết niệu như đái rắt,

đái buốt

Khi khám trên bụng thấy điểm đau lệch

xuống thấp ở hố chậu phải

Thăm trực tràng hay âm đạo rất quan trọng

để chẩn đoán

c) Viêm ruột thừa dưới gan:

Do ruột quay chưa hết, manh tràng nằm ở

ngay dưới gan Rất dễ nhầm với viêm túi mật

vì có sốt, đau và phản ứng dưới sườn phải

Siêu âm thấy túi mật, đường mật chính bình

thường là phương tiện chẩn đoán phân biệt

tốt

d) Viêm ruột thừa bên trái:

Ở người đảo ngược phủ tạng Khi bệnh nhân

đau hố chậu trái kèm theo sốt cần chú ý thăm

khám toàn thân để phát hiện đảo ngược phủ

tạng, ruột thừa nằm ở bên trái

e) Viêm ruột thừa trong bao thoát vị:

Tránh nhầm với thoát vị nghẹt

VI TIẾN TRIỂN

1 Viêm phúc mạc

Thường sau khoảng 48h ruột thừa viêm không được điều trị kịp thời sẽ vỡ gây viêm phúc mạc Bệnh nhân đau tăng, sốt tăng cao tới 39-400C Khi mới vỡ mủ ở hố chậu phải, thấy toàn vùng hố chậu phải co cứng, nắn rất đau Nếu không được khu trú, các dấu hiệu viêm phúc mạc toàn thể xuất hiện: đau bụng tăng lên, lan khắp bụng, suy sụp, hốc hác, nhiệt độ 39-400C, có thể có rét run Bụng chướng, nắn đau chói và có cảm ứng phúc mạc khắp bụng, nhưng nếu khám kỹ vẫn thấy đau nhất ở hố chậu phải, và nếu hỏi kỹ

sẽ phát hiện được các dấu hiệu khởi đầu đều xuất phát từ hố chậu phải

Viêm phúc mạc do viêm ruột thừa ở người già thường biểu hiện bởi bệnh cảnh tắc ruột, xảy ra 3-5 ngày sau khi bắt đầu đau Có dấu hiệu cảm ứng phúc mạc cùng với dấu hiệu tắc ruột cơ giới do giả mạc dính các quai ruột gây ra

2 Viêm phúc mạc thì 2

Bệnh viêm ruột thừa tiến triển sau 24 - 48 giờ thấy bớt giảm, bệnh nhân đỡ hay hết sốt, hết đau, sau đó đột ngột đau lại dữ dội vùng hổ chậu phải

Toàn thân suy sụp nhanh cùng với dấu hiệu

viêm phúc mạc toàn thể rõ

3 Áp xe ruột thừa

Là thể viêm phúc mạc khu trú do ổ mủ của viêm ruột thừa được bao bọc bởi tổ chức xung quanh như mạc nối, các quai ruột dính lại Tiếp sau cơn đau do viêm ruột thừa, các triệu chứng dịu bớt, sau 3-5 ngày bệnh nhân thấy đau lại tăng lên, sốt dao động Khám vùng hố chậụ phải thấy một khối căng, nắn đau chói, liền với gai chậu, có khi thấy da vùng này tấy đỏ lên do ổ mủ sắp vỡ ra ngoài

Có thể gặp thể áp xe ruột thừa trong ổ bụng khi khám thấy một khối đau chói, có thể di dộng, nằm cách với gai chậu, lệch vào phía trong

Trang 6

4 viêm phúc mạc thì 3

Khi ổ áp xe ruột thừa không được điều trị

Bệnh nhân đột ngột đau tăng lên, tiếp theo là

triệu chứng viêm phúc mạc toàn thể do ổ áp

xe vỡ vào ổ phúc mạc Đây là một thể viêm

phúc mạc nặng do bệnh tiến triển lâu trên

một cơ thể suy kiệt vì nhiễm trùng

5 Đám quánh ruột thừa

Gặp ở một số trường hợp ruột thừa ở giai

đoạn viêm được các tổ chức xung quanh bao

bọc lại Thường bệnh nhân đến viện vào

ngày 4-5 sau khi đau bụng Khám thấy dấu

hiệu nhiễm trùng nhẹ, sốt nhẹ 37,5-38,50

thấy vùng hố chậu phải có một đám chắc,

ranh giới không rõ, nắn vào đau ít

Đây là trường hợp bệnh lý của ruột thừa duy

nhất không nên mổ ngay mà nên cho kháng

sinh và theo dõi Quá trình viêm có thể tự

thoái trào hay khu trú lại thành ổ áp xe ruột

thừa

7 Viêm ruột thừa mạn tính

Một số tác giả phương tây nêu ra nhưng

chưa được công nhận rộng rãi Khi có các

dấu hiệu viêm ruột thừa không rõ, đau vùng

hố chậu phải, sốt và nhiễm trùng không rõ,

sau vài ba ngày tự khỏi, có thể tái phát sau

một thời gian

VII CHẨN ĐOÁN THÂN BIỆT

1 Với các nguyên nhân khác trong ổ bụng

a)Thủng ổ loét dạ dầy - tá tràng:

Do dịch tiêu hoá từ ổ loét thủng chảy xuống

khu trú ở hố chậu phải gây ra đau Thường là

do thủng dạ dầy không phát hiện sớm, để

muộn khi đã có dấu hiệu nhiễm trùng toàn

thân Hỏi và khám kỹ sẽ thấy cơn đau bắt

đầu đột ngột, dữ dội vùng trên rốn Bao giờ

cũng còn co cứng và đau dù kín đáo ở trên

rốn Khi mổ thấy ruột thừa viêm không rõ, có

dịch nhớt có thể lẫn thức ăn đọng ở hố chậu

phải nên nghĩ tới và tìm xem có thủng ổ loét

b) Viêm túi mật cấp:

Dễ nhầm với viêm ruột thừa dưới gan Bệnh nhân đau dưới sườn phải kèm theo có sốt rét run Khảm vùng dưới sườn phải đau, có thể

sờ thấy túi mật to Siêu âm là phương pháp chẩn đoán phân biệt có giá trị

c) Viêm tuỵ cấp:

cũng có thể gây ra nhầm lẫn trong chẩn đoán

d) Ở trẻ em :

cần phân biệt đau bụng do viêm ruột thừa với lồng ruột cấp, viêm túi thừa Mekel hoặc viêm hạch mạc treo, viêm ruột

e) Ở phụ nữ :

Có thể nhầm với viêm phần phụ, chửa ngoài

tử cung vỡ, vỡ nang hoàng thể, xoắn u nang buồng trứng Trong trường hợp nghi ngờ chẩn đoán thì nội soi ổ bụng đặc biệt có giá trị trong chẩn đoán phân biệt và có thể điều trị nguyên nhân đồng thời

f) Ở người già:

Có thể nhầm với tắc ruột và u manh tràng

g) Một số bệnh lý khác :

Tuy hiếm gặp cũng có thể nhầm với viêm ruột thừa như: viêm túi thừa đại tràng, viêm hoại tử mạc nối lớn, tắc mạch mạc treo, vỡ phồng động mạch chủ bụng

2 Các bệnh lý do tiết niệu

Cơn đau quặn thận hay viêm đường tiết niệu

dễ nhầm với viêm ruột thừa nhất là ruột thừa sau manh tràng Thường bệnh nhân có dấu hiệu đau vùng thắt lưng phải, có thể sau một vài đợt vận động, kèm theo có rối loạn tiểu tiện như đái buốt, đái rắt, nước tiểu đục hay

có máu Siêu âm, chụp hệ tiết niệu, xét nghiệm tế bào nước tiểu giúp ích cho chẩn đoán phân biệt

Viêm cơ đái chậu bên phải: bệnh nhân đau

Trang 7

thích cơ đái chậu: chân phải gáp vào bụng,

bệnh nhân không thể duỗi chân ra vì đau Khi

cố kéo chân phải duỗi ra, khối cơ lưng phải

sẽ co căng và đau Siêu âm phát hiện ổ mủ

cơ đái chậu rất có giá trị chẩn đoán phân

biệt

3 Một số bệnh nội khoa

Viêm thuỳ dưới phổi phải, một số trường hợp

sốt da virus có thể gây đau vùng hố chậu

phải đặc biệt là ở trẻ em

VIII NGUYÊN TẮC CHẨN ĐOÁN

Viêm ruột thừa đòi hỏi được chẩn đoán sớm

Mặc dù có nhiều tiến bộ, các phương tiện

thăm dò cận lâm sàng không có nhiều giá trị

trong chẩn đoán viêm ruột thừa Trước một

trường hợp đau bụng có sốt đến khám,

người thầy thuốc cần thăm khám tỷ mỷ, có

hệ thống để phát hiện các dấu hiệu như phản

ứng thành bụng, điểm đau vùng hố chậu

phải Đặc biệt việc theo dõi, khám lại nhiều

lần, so sánh các dấu hiệu giữa các lần khám

giúp ích nhiều cho việc chẩn đoán

IX ĐIỀU TRỊ

1 Khi chẩn đoán viêm ruột thừa, chỉ định

mổ tuyệt đối

a) Với ruột thừa viêm đến sớm trong vòng

24 giờ chưa vỡ

Chọn đường mổ Mac Burney ở vùng hố chậu

phải để cắt ruột thừa Thành bụng được

đóng theo các lớp giải phẫu

b) Khi chẩn đoán viêm phúc mac do viêm

ruột thừa đường mổ cần rộng rãi để cắt ruột

thừa, lau sạch và kiểm tra ổ bụng Đường mổ

rạch theo đường Mac Burney rộng, cắt qua

các lớp cơ vào ổ bụng hoặc dùng đường mổ

giữa dưới rốn hay đường mổ cạnh giữa bên

phải Đóng thành bụng một lớp, để hở da

c) Áp xe ruột thừa:

khi áp xe đã hình thành, trích dẫn lưu ổ mủ,

ruột thừa sẽ mổ cắt sau từ 3-6 tháng Với áp

xe ruột thừa trong ổ bụng, mổ bụng lấy bỏ ổ

áp xe, cắt ruột thừa ngay

d) Duy nhất trường hợp đám quánh ruột thừa không mổ mà điều trị tích cực và theo

dõi Nếu tiến triển thành áp xe ruột thừa sẽ

xử lý như áp xe, nếu đám quánh giảm dần rồi hết sẽ mổ cắt ruột thừa sau 3-4 tháng

2 Một số điểm chú ý về kĩ thuật 2.1 Tư thế :

Bệnh nhân nằm ngửa Vô cảm có thể với gây

tê vùng (tê ngoài bao cứng, tê tuỷ sống) hay gây mê toàn thân Bàn mổ điều chỉnh nghiêng sang trái, đầu hơi thấp để dồn các quai ruột non sang phần bụng bên trái, bộc lộ

dễ dàng ruột thừa

2.2 Đưòng mổ:

Đường mổ Mac Burney : dùng trong đa số các trường hợp viêm ruột thừa thông thường, đến sớm Đường rạch này có ưu điểm đi theo hướng của từng lớp thành bụng, không cắt cơ, khi phục hồi thành bụng chắc Nhược điểm là khi cần mở rộng đường mổ đòi hỏi cắt cơ Khi ruột thừa viêm mủ dễ gây áp-xe giữa các lớp thành bụng

Đường rạch dọc bờ ngoài cơ thẳng to bên phải: có lợi điểm có thể kéo dài lên trên và xuống dưới khi cần, cho phép đường mổ rộng rãi, thao tác dễ dàng, nhược điểm là cắt ngang qua các nhánh thần kinh chi phối cơ thẳng to Đường này áp dụng cho các trường hợp chẩn đoán nghi ngờ hay viêm phúc mạc Đường mổ giữa dưới rốn: áp dụng trong một

số ít viêm phúc mạch ruột thừa muộn hay áp

- xe ruột thừa nằm trong ổ bụng hoặc trong những trường hợp chưa rõ căn nguyên của viêm phúc mạc

2.3 Thăm dò ổ bụng:

Sau khi mở phúc mạch kiểm tra ngay xem có dịch ở hố chậu phải hay không? Nếu dịch có lẫn thức ăn, phải kiểm tra dạ dày tá tráng tìm

ổ loét thủng Trong trường hợp rạch da đường Mac Burney nên mổ đường giữa trên

Trang 8

rốn để thăm dò và xử lý thương tổn Khi dịch

mủ không tương xứng với tổn thương của

ruột thừa phải kéo dài lên phía trên Nếu dịch

mủ không tương xứng với tổn thương của

ruột thừa phải tìm xem nguyên nhân khác

gây viêm phúc mạc, nếu là máu đen thì cần

kiểm tra phần phụ hoặc gan

Nếu tình trạng ruột thừa không tương xứng

với thời gian diễn biến thì cần kiểm tra các

tạng trong ổ bụng để tránh bỏ sót tổn

thương, vì sau khi mổ, các dấu hiệu thành

bụng sẽ không còn giá trị chẩn đoán

Đối với phụ nữ, một điều bắt buộc đối với các

phẫu thuật viên là việc kiểm tra một cách có

hệ thống phần phụ hai bên cho dù tổn thwng

ruột thừa rõ ràng vì có một số trường hợp,

nữ giới có các bệnh lý khác kèm theo một

cách tình cờ mà cụ thể là u nang buồng

trứng hoặc chửa ngoài tử cung

Nếu không phát hiện và xử lý đồng thời trong

lần mổ ruột thừa, tiến triển trong giai đoạn

hẫu phẫu sẽ khó phát hiện và dễ ảnh hưởng

đến tính mạng bệnh nhân

Vì vậy nếu tổn thương ruột thừa chưa rõ,

việc kiểm tra và xử lý phần phụ được tiến

hành ngay sau khi mở bụng còn trong trường

hợp ruột thừa bị viêm rõ ràng, việc kiểm tra

và xử lý phần phụ tiến hành trước khi đóng

bụng trong thì lau, rửa và kiểm tra ổ bụng

2.4 Cắt ruột thừa:

Thường gặp sau khi mở phúc mạc, đẩy các

quai ruột vào phía trong, ruột thừa sẽ lộ ra ở

vùng mổ

Trong trường hợp ruột thừa không lộ ra, có

thể nó nằm quặt sau hồi tràng hay sau manh

tràng Cần lấy điểm mốc là chỗ chụm lại của

3 dải cơ dọc ở manh tràng để tìm gốc ruột

thừa

Khi ruột thừa bộc lộ ra ngoài được, tiến hành

cắt ruột thừa xuôi dòng: bộc lộ mạc treo, thắt

và cắt mạch máu ruột thừa, thắt gốc ruột

thừa và cắt ruột thừa

Khi ruột thừa nằm sâu sau hồi tràng hay sau manh tràng, tiến hành cắt ruột thừa ngược dòng: thắt và cắt gốc ruột thừa trước, sau đó

sẽ dần dần kẹp và thắt mạch máu

Sau khi cắt ruột thừa nếu tổ chức manh tràng xung quanh gốc ruột thừa tốt có thể làm một đường khâu túi để vùi mỏm ruột thừa Khi tổ chức mủn, phù nề thì không cần khâu vùi Nếu ruột thừa đã hoại tử hết không thể thắt hay khâu thì có thể đặt 1 sond dẫn lưu qua gốc ruột thừa vào manh tràng, sẽ rút sau này

Kiểm tra có hệ thống khoảng 80 cm hồi tràng

từ góc hồi manh tràng để tìm túi thừa Meckel Trong trường hợp ruột thừa không rõ viêm hay viêm giai đoạn đầu, nếu thấy có thể cắt ruột thừa Khi có viêm phúc mạc thì không nên cắt túi thừa không phải là nguyên nhân gây bệnh

Kiểm tra hệ thông phần phụ ở nữ giới Lau sạch ổ bụng, nếu cần khi có viêm phúc mạc thì có thể rửa sạch bụng với huyết thanh

ấm có thể pha betadile loãng, thấm khô Không được đổ kháng sinh bột vào ổ bụng

2.5 Vấn đề dẫn lưu:

Nếu ruột thừa viêm chưa vỡ chỉ cần cắt ruột thừa, lau sạch ổ bụng không cần dẫn lưu Khi

có viêm phúc mạc, đặt 1 dẫn lưu vùng hố chậu phải hay túi cùng Douglas, sẽ rút sau

72 giờ Tuy nhiên theo quan sát, hầu hết các dẫn lưu đều không có tác dụng vì vậy có nhiều phẫu thuật viên chủ trương rửa kỹ ổ bụng bằng huyết thanh, bêtadin và không

dẫn lưu

2.6 Đóng bụng:

Trong trường hợp chưa có viêm phúc mạch, thành bụng được đóng theo các lớp giải phẫu với chỉ chắc, khôn tiêu hoặc tiêu chậm Lưu ý không để khoảng trống giữa các lớp tránh đọng dịch tiết hay dịch máu là môi trường cho vi khuẩn phát triển làm nhiễm trùng thành bụng Cắt chỉ khâu da sau 5-6

Trang 9

Khi đã có viêm phúc mạc, thành bụng được

đóng một lớp từ trong ra ngoài, có thể để hở

da hay không với chỉ tốt, sẽ cắt sau 15 ngày

khi thành bụng đã liền vững chắc

2.7 Với áp xe ruột thừa: ( trừ trường hợp

áp xe ruột thừa trong ổ bụng )

Khi chẩn đoán áp xe ruột thừa đã thành hoá,

khối mủ biệt lập hoàn toàn với ổ phúc mạc và

đã dính vào thành bụng trước, vì vậy khi rạch

từ thành bụng sẽ dẫn lưu thẳng ổ mủ ra

ngoài Chọn điểm đau chói nhất, thường

khoảng 1 cm phía trong gai chậu trước trên

bên phải, dụng 1 kim chọc dò, nếu có mủ sẽ

rạch rộng theo chân kim, tách qua các lớp

vào dẫn lưu ổ mủ ngoài phúc mạc Đặt 1 dẫn

lưu cao su vào ổ mủ để lưu tới khi hết mủ

Ruột thừa sẽ được cắt sau 6 tháng

2.8 Với trường hợp áp xe ruột thừa trong

ổ bụng:

Việc chẩn đoán áp xe ruột thừa trong ổ bụng

không mấy khó khăn đối với thầy

thuốc có kinh nghiệm cũng như dấu hiệu của

siêu âm Trước khi mổ, sau khi gây mê hoặc

gây tê vùng, khám lại bệnh nhân sẽ phát hiện

một cách dễ dàng tính di động của khối này

Sự khác biệt cơ bản giữa áp xe ruột thừa

trong ổ bụng với áp xe ruột thừa là khối áp xe

này nằm tự do trong ổ bụng, tiến triển tự

nhiên sẽ vỡ vào ổ bụng gây viêm phúc mạc

Với áp xe ruột thừa trong ổ bụng muốn đi vào

ổ mủ ta phảo đi qua ổ phúc mạc, vì vậy chỉ

định mổ là bắt buộc Đường mổ là đường

cạnh bên phải, vào ổ bụng dùng gạc lớn che

xung quanh để tránh mủ chảy vào trong ổ

bụng khi thao tác Mạc nối lớn bọc quanh ổ

mủ phải được cắt bỏ cùng với ruột thừa

2.9 Với trường hợp mổ mà ruột thừa

không viêm:

Trước đây do chưa hiểu biết nhiều về miễn

dịch và vai trò của ruột thừa, việc cắt ruột

thừa không cần đắn đo Có thời kỳ, chỉ định

cắt ruột thừa "dự phòng" được đặt ra cho

những người đi biển dài ngày hoặc làm việc

trên Bắc cực Hiện nay có một số thống kê

cho thấy mối tương quan của những người

đã cắt ruột thừa với ung thư đại tràng cao hơn nhóm còn ruột thừa, vì vậy cắt ruột thừa được chỉ định chặt chẽ hơn Tuy nhiên nếu không cắt ruột thừa, với một sẹo mổ ở hố chậu phải, sau này khi ruột thừa bị viêm mà người bệnh mất giấy mổ, không nhớ được lần mổ trước là chưa cắt ruột thừa thì thầy thuốc dễ bỏ sót chẩn đoán Vì vậy quan điểm chúng tôi là nếu người có trình độ văn hoá,

có sổ theo dõi sức khoẻ thì có thể không cắt, nhưng phải dặn cho bệnh nhân biết là họ vẫn còn ruột thừa và các giấy tờ ra viện, y bạ phải ghi rõ, còn nếu không vẫn bắt buộc phải cắt ruột thừa

3 Điều trị kháng sinh trong viêm ruột thừa

Theo Condon, vi khuẩn chí ở ruột thừa như sau (tính theo phần trăm)

Vi khuẩn ái khí Vi khuẩn kị khí E.Coli 80 Nhóm Bacteroides Fraglilis 89 Klebsiella - Enterobacter 57 Các Bacteroides khác 25 Nhóm Str.Faecalis 28 Streptococci 64 Các cầu khuẩn Gr (+) khác 6 Clostridia 13 Các vi khuẩn ái khí khác 43 Các vi khuẩn kỵ khí khác 41

Kháng sinh kết hợp chứ không thay thế mổ cắt bỏ ruột thừa Nhiều nghiên cứu tiền cứu cho thấy rõ tác dụng rõ rệt của việc dùng kháng sinh ngay từ khi khởi mê có tác dụng giảm tỷ lệ nhiễm trùng rõ rệt nhất là nhiễm trùng vết mổ Do đặc điểm vi khuẩn chí của ruột thừa nên Flagyl dùng đơn độc (khi ruột thừa chưa vỡ mủ) hay phối hợp với một kháng sinh phổ rộng khác (trường hợp ruột thừa đã vỡ) rất có tác dụng trong điều trị sau

mổ viêm ruột thừa

4 Biến chứng sau mổ 4.1 Chảy máu:

Có thể chảy máu do tuột chỉ thắt mạch mạc treo ruột thừa Biến chứng này sẽ gây một

Trang 10

hội chứng chảy máu trong ổ bụng sau mổ

Cần mổ lại sớm để cầm máu

Trong trường hợp máu chảy ri rỉ sau mổ,

nhất là trường hợp ruột thừa sau manh tràng

sẽ tạo thành một khối máu tụ Nếu không

được dẫn lưu khối này sẽ trở thành một ổ

máu tụ nhiễm trùng và đòi hỏi phải được làm

sạch dẫn lưu qua vết mổ hay qua một đường

rạch thấp phía bên

4.2 Viêm phúc mạc sau mổ:

Nguyên nhân thường do bục mỏm ruột thừa

do vỡ ổ áo - xe trong ổ bụng sau mổ hay do

viêm thân ruột thừa cắt không hết Biểu hiện

bằng hội chứng viêm phúc mạch Cần mổ lại

để xử lý

4.3 Dò manh tràng:

Thường ở những trường hợp ruột thừa khó,

có hoại tử gốc ruột thừa nên hay gặp ở

những trường hợp có dẫn lưu Điều trị kháng

sinh kết hợp với chăm sóc tại chỗ Đường dò

thường tự liền sau 10 -15 ngày

4.4 Áp xe túi cùng Douglas:

Biểu hiện bằng dấu hiệu nhiễm trùng toàn

thân kèm theo có kích thích trực tràng: mót

rặn, ỉa mũi nhầy Thăm trực tràng thấy túi

cùng Douglas đầy đau chói Cách điều trị tốt

nhất là dẫn lưu qua đường trực tràng khi ổ

áp xe đã khu trú: sau khi dùng van banh rộng

lỗ hậu môn, chọc dò qua thành trước trực

tràng, nếu có mủ sẽ rạch dẫn lưu ổ áp xe vào

lòng trực tràng

4.5 Tắc ruột sau mổ:

Tắc ruột sau mổ xảy ra trong giai đoạn sớm

thường là do áp xe tồn dư hay dị vật bỏ

quên Trong trường hợp này bệnh cảnh tắc

ruột thường song hành với hội chứng nung

mủ ở sâu, trừ một số trường hợp hội chứng

này bị che lấp do xử dụng kháng sinh Trong

những trường hợp này, chụp không chuẩn bị

và siêu âm sẽ đóng góp rất lớn cho chẩn

đoán Cần mổ sớm khi đã có chẩn đoán xác

Tắc ruột sau mổ muộn do mổ cắt ruột thừa thường do dây chằng dẫn đến nghẹt ruột hoặc xoắn ruột Vì vậy trong những trường hợp bệnh nhân có bệnh cảnh tắc ruột cùng với đường mổ Mac Burney cần thăm khám

và theo dõi sát và chỉ định mổ phải đặt ra rất sớm để tránh biến chứng ruột non bị hoại tử

do nghẹt hoặc xoắn

X KẾT LUẬN

Viêm ruột thừa là một cấp cứu hay gặp nhất trong công việc của người thầy thuốc ngoại khoa Nguyên tắc chẩn đoán và điều trị đối với viêm ruột thừa là phải phát hiện và mổ sớm mới hy vọng tránh được những biến chứng và hiệu quả nguy hiểm do ruột thừa

vỡ gây ra Phát triển hệ thống chăm sóc sức khoẻ ban đầu, tuyên truyền hướng dẫn cho nhân dân biết các dấu hiệu nghi ngờ đầu tiên

để đến khám bệnh là nhiệm vụ cơ bản của Y

tế cộng đồng Người thầy thuốc khám bệnh ban đầu cần sớm nhận biết các triệu chứng, không lạm dụng thuốc nhất là thuốc giảm đau

và kháng sinh, đồng thời gửi bệnh nhân đến

cơ sở ngoại khoa là cách tốt nhất hạ thấp tỷ

lệ biến chứng do viêm ruột thừa

Ngày đăng: 25/12/2013, 00:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm