MỤC TIÊU CỦA BÁO CÁO Mục tiêu tổng thể của báo cáo này là rà soát lại các nguồn vốn hiện đang được sử dụng để tài trợ cho các dự án đầu tư hiệu quả năng lượng HQNL và đưa ra các kiến ng
Trang 11
THÚC ĐẨY HIỆU SUẤT NĂNG LƯỢNG TRONG CÔNG NGHIỆP THÔNG QUA TỐI ƯU HÓA HỆ
THỐNG VÀ CÁC TIÊU CHUẨN QUẢN LÝ NĂNG LƯỢNG TẠI VIỆT NAM
Báo cáo kỹ thuật
THÚC ĐẨY TÀI TRỢ DỰ ÁN TKHQNL THÔNG QUA HÀI HÒA CÁC TIÊU CHÍ TÀI
CHÍNH THẨM ĐỊNH DỰ ÁN
Thực hiện bởi Ông Hoàng Việt
Hà Nội, ngày 15 tháng 9 năm 2014
Trang 2DẪN NHẬP
Cải thiện hiệu quả năng lượng trong công nghiệp là một trong những biện pháp hiệu quả nhất hỗ trợ các nước mới nổi và đang phát triển bị hạn chế nguồn cung đáp ứng nhu cầu năng lượng gia tăng và nới lỏng ràng buộc giữa tăng trưởng kinh tế và sự xuống cấp môi trường, chẳng hạn như biến đổi khí hậu
Mục đích cuối cùng của Chương trình hiệu quả năng lượng công nghiệp của UNIDO là phát triển các thực tiễn quản lý năng lượng hiệu quả và bền vững trong công nghiệp tại các nước đang phát triển và các nền kinh tế mới nổi, với mục đích là giảm áp lực môi trường và tăng năng suất, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và giảm tình trạng nghèo đói
UNIDO theo đuổi mục tiêu như vậy thông qua các dự án xây dựng năng lực toàn diện với cấp độ
tổ chức, thị trường và trong các doanh nghiệp đối với tối ưu hóa hệ thống năng lượng và quản lý năng lượng Các dự án UNIDO cũng cung cấp hỗ trợ kỹ thuật để tăng cường khung hiện tại về tổ chức, chính sách và quy định thông qua phát triển các chương trình chính sách, pháp lý và công cụ thông thường nhằm thúc đẩy và hỗ trợ tính thống nhất lâu dài giữa các thực tiễn và quản lý năng lượng trong văn hóa doanh nghiệp công nghiệp Tùy thuộc vào đặc thù từng nước, việc triển khai các dự án trình diễn đuợc hỗ trợ thông qua cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và các dự án đầu tư hiệu quả năng lượng điển hình
1 MỤC TIÊU CỦA BÁO CÁO
Mục tiêu tổng thể của báo cáo này là rà soát lại các nguồn vốn hiện đang được sử dụng để tài trợ cho các dự án đầu tư hiệu quả năng lượng (HQNL) và đưa ra các kiến nghị hài hòa hóa các tiêu chí thẩm định tại các định chế được lựa chọn
Ông Hoàng Việt đuợc tuyển dụng là Tư vấn Tài chính chịu trách nhiệm triển khai các nội dung công việc chính sau:
1 Rà soát các nguồn tài chính hiện tại đang tài trợ cho các dự án đầu tư hiệu quả năng lượng như Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt nam, Vietinbank ;
2 Phát triển các tiêu chí thẩm định dự án sẽ được áp dụng bởi các định chế tài chính nhằm đánh giá chính xác hơn các dự án tối ưu hóa hệ thống và hiệu quả năng lượng Việc xây dựng các tiêu chí này sẽ căn cứ vào vòng đời dự án, công nghệ hiệu quả chi phí, thực tiễn tốt nhất và chi phí tiết kiệm được từ các dự án hiệu quả năng lượng như là dòng tiền dương Các tiêu chí này cũng căn cứ vào các tiêu chí thẩm định hiện tại để tạo ra 1 bộ tiêu chí hài hòa và tiện ích Báo cáo cũng trình bày cả bối cảnh, phương pháp luận, cách thức xây dựng tiêu chí và giải thích ý nghĩa của các tiêu chí
3 Tổ chức và chủ trì, với sự phối hợp của Ban quản lý dự án, cuộc họp với thành viên là đại diện
từ các bộ và định chế tài chính liên quan, nhằm tiếp thu các ý kiến đóng góp cho báo cáo các kiến nghị/đề xuất dự thảo Thảo luận sẽ tập trung vào các cải tiến triển vọng, khả năng áp dụng
Trang 4DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
Bộ KH&CN Bộ Khoa học và Công nghệ
DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ
EIB Ngân hàng Đầu tư Châu Âu
EPC Hợp đồng theo kết quả
EEPSs Các tổ chức cung cấp dịch vụ tiết kiệm năng lượng ESCO Công ty dịch vụ năng lượng
GCPF Quỹ hợp tác khí hậu toàn cầu
GEF Quỹ môi trường toàn cầu
IFC Tổ chức tài chính quốc tế
HQNL Hiệu quả năng lượng
KPI Chỉ số kết quả kinh doanh
LGF Quỹ bảo lãnh vốn vay
MMTB Máy móc thiết bị
NAFOSTED Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia NLTT Năng lượng tái tạo
NPV Giá trị hiện tại ròng
ROE Thu nhập trên vốn chủ sở hữu
TK&HQNL Tiết kiệm và hiệu quả năng lượng
UNDP Chương trình phát triển Liên hợp quốc
VEPF Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam
VNCPC Trung tâm sản xuất sạch hơn
WACC Chi phí vốn bình quân
Trang 55
1 RÀ SOÁT CÁC NGUỒN VỐN TÀI CHÍNH HIỆN TẠI HỖ TRỢ CÁC DỰ ÁN ĐẦU
TƯ HIỆU QUẢ NĂNG LƯỢNG
1.1 QUỸ HỢP TÁC KHÍ HẬU TOÀN CẦU - GLOBAL CLIMATE PARTNERSHIP FUND (GCPF)
(i) Nguồn vốn quỹ - Bên cho vay: GCPF
(ii) Bên quản lý quỹ: Deutsche Bank, Đức
(iii)Bên đi vay: VietinBank
(iv) Loại nguồn vốn: Quốc tế, tư nhân, vay 2 bước
(v) Thông tin chi tiết về nguồn vốn:
• Tổng giá trị: 25 triệu USD
• Thời hạn: 7 năm
• Đồng tiền rút vốn: USD
• Đồng tiền cho vay dự án: USD, VND
(vi) Người hưởng lợi cuối cùng:
Bên đi vay phải sử dụng tiền vay để cho vay lại các dự án hiệu quả năng lượng và Năng lượng tái tạo (HQNL và NLTT) Riêng đối với tài trợ dự án năng lượng tái tạo, Vietinbank phải có sự chấp thuận trước của Bên cho vay (GCPF)
(vii) Tiêu chí đánh giá/thẩm định:
• Tiêu chí kỹ thuật: (chi tiết tại Phụ lục A)
- Nhìn chung, nguồn vốn trên có thể sử dụng cho cả dự án hiệu quả năng lượng và dự án năng lượng tái tạo, không có hạn chế nào áp dụng với các ngành công nghiệp Về mặt kỹ thuật, chương trình GCPF phân định 02 loại dự án hiệu quả năng lượng chủ yếu: tiêu chuẩn, dự án phi tiêu chuẩn, và dự án tổng thể (comprehensive) 2 loại dự án sau yêu cầu phải có phương pháp tính hiệu quả năng lượng khác
- Đối với dự án hiệu quả năng lượng, yêu cầu tối thiểu 20% tiết kiệm năng lượng hoặc giảm phát CO2
- Đối với dự án năng lượng tái tạo, chỉ chấp nhận dự án nhỏ (< 30 MW)
• Tiêu chí tài chính:
- Tổng chi phí đầu tư/ 01 dự án không quá 10 triệu USD (VNĐ tương đương)
- Tỷ lệ cho vay dự án bằng nguồn vốn GCPF tối đa không quá 3,5 triệu USD/1 dự án
- Các tiêu chí khác tuân thủ quy định hiện hành của VietinBank (chi tiết trình bày tại Phụ lục B) Một số quy định cơ bản như sau:
+ Tỷ lệ vốn tự có tham gia của chủ đầu tư: để tăng cường trách nhiệm của chủ đầu tư, tỷ lệ
vốn tự có tối thiểu được ngân hàng yêu cầu Tỷ lệ này được quy định căn cứ vào các yếu tố
Trang 6như rủi ro dự án, rủi ro thị trường, năng lực và uy tín của chủ đầu tư, thời hạn khoản vay, v v
Hiện tại, tỷ lệ này là 30% tổng chi phí đầu tư dự án
+ Tài sản bảo đảm: Về nguyên tắc, VietinBank quy định cho vay có (toàn bộ) TSBĐ và không
có TSBĐ căn cứ vào hạng tín dụng, lịch sử tín dụng và quan hệ với ngân hàng Đặc biệt, VietinBank không chấp nhận cho vay không có TSBĐ đối với khách hàng mới thành lập
Bên cạnh đó, VietinBank chấp nhận đa dạng các loại TSBĐ như TSBĐ có tính thanh khoản cao (tiền gửi, vàng, ), giấy tờ có giá (cổ phiếu, trái phiếu v v), bảo lãnh của bên thứ 3, bất động sản, quyền sử dụng đất, nhà xưởng, Máy móc thiết bị (MMTB), khoản phải thu TSBĐ được định giá độc lập để làm căn cứ xác định giá trị TSBĐ và giá trị khoản vay
+ Thời gian hoàn vốn: VietinBank chấp nhận thời hạn vay tối đa là 10 năm Theo đó, thời hạn
trả nợ phải dưới 10 năm
+ Hiệu quả hoạt động tài chính: VietinBank yêu cầu tỷ lệ hoàn vốn/vốn chủ sở hữu (ROE) tối
thiểu là (5%) và không có nợ xấu
+ Bảo hiểm: Tài sản có nguồn gốc từ vốn vay VietinBank phải mua bảo hiểm bắt buộc (viii) Kết quả hoạt động: (Chi tiết theo Phụ lục C)
- Trong 28 dự án đăng ký (chính thức/không chính thức) vay vốn, chỉ có 4 dự án được tài trợ vốn
- Cả 4 dự án được tài trợ vốn đều là các khách hàng hiện hữu (đã có quan hệ với VietinBank)
có hạng tín dụng cao và tình hình tài chính lành mạnh, đồng thời có thị trường đầu ra, có uy tín cao
- Tổng giá trị giải ngân: xấp xỉ 11 triệu USD với lãi suất cho vay ưu đãi (2% thấp hơn sàn lãi suất cho vay dài hạn)
- Tổng giá trị chưa giải ngân: xấp xỉ 14 triệu USD
- Nợ xấu: Không có nợ xấu/chậm trả nợ
có tiềm lực tài chính mạnh như CARLSBERG, Vinamilk, SABECO, Hòa Phát, Hoàng Thạch có nhu cầu hiện thực lớn đối với đầu tư dự án TK&HQNL nhưng lại sử dụng vốn tự
▪ Thị trường TK&HQNL được xem là có tiềm năng lớn do nhu cầu sử dụng năng lượng cao trong các ngành công nghiệp (xi măng, sắt thép, dệt,…) và các chính sách, chế tài gần đây của chính phủ
▪ Tuy nhiên, từ phía ngân hàng, giá trị cho vay các
dự án TK&HQNL là hạn chế do sự chênh lệch giữa nhu cầu vay thực và năng lực và khẩu vị rủi
Trang 77
có để đầu tư thay vì sử dụng nguồn vốn vay ngân hàng
▪ Ngay cả trong trường hợp khách hàng không sử dụng vốn tự có, khách hàng lại yêu cầu vay vốn ngân hàng với lãi suất thấp hơn cả chi phí vốn của ngân hàng hoặc tìm kiếm các nguồn vốn thay thế như vốn từ các đối tác ngân hàng đầu
▪ Các cơ hội kinh doanh mới như biomass, điện gió, thủy điện đuợc nhận định là có rủi ro thị trường và rủi ro chính sách cao
▪ Các lĩnh vực kinh doanh mới này cần Chính phủ
hỗ trợ về thuế, giá… để dự án có thể đạt điều kiện vay ngân hàng
Khi ngân hàng thẩm định cả bảng cân đối kế toán và TSBĐ của khách hàng, một số dự án TK&HQNL tiềm năng không
đủ khả năng hoàn thành nghĩa
vụ nợ đối với ngân hàng
Trong nhiều trường hợp, nghĩa
vụ này còn phụ thuộc vào rủi
ro thị trường, rủi ro chính sách, rủi ro kinh doanh, rủi ro tài chính v v
▪ Ở Việt nam, các ngân hàng có xu hướng sử dụng
cả phương pháp thẩm định dự án dựa vào Bảng cân đối kế toán và Tài sản bảo đảm (balance sheet and/or collateral financing) thay vì chỉ sử dụng phương pháp thẩm định Tài trợ dự án (project financing) Theo đó, thẩm định Tài trợ
dự án TK&HQNL cũng không phải là ngoại lệ
Có một thực tế là: nếu ngân hàng không thỏa mãn với năng lực chung của doanh nghiệp về tổng thể hiệu quả hoạt động kinh doanh và tất cả các nguồn trả nợ, bao gồm cả dòng tiền từ TK&HQNL, ngân hàng có xu hướng không quan tâm đến khái niệm/mục đích đầu tư dự án TK&HQNL Ngược lại, nếu ngân hàng đã thỏa mãn với các tiêu chí và kết quả thẩm định thông thường của dự án, ngân hàng sẽ phê duyệt cho vay mà không cần tính toán đến hiệu quả tiết
Trang 8kiệm năng lượng
▪ Theo hướng dẫn nội bộ của ngân hàng về thẩm định dự án đầu tư, dòng tiền từ tiết kiệm năng lượng, đặc biệt là từ các dự án tổng thể (comprehensive projects), chưa được đưa vào
mô hình dự báo dòng tiền, hiệu quả dự án Nói cách khác, điều này làm tổng thể dự án kém khả thi hơn do dòng tiền từ tiết kiệm chi phí năng lượng được xem là thứ yếu so với dòng tiền thông thuờng (từ kinh doanh) của dự án
✓ Lãi suất đi vay cao/không được ưu đãi
✓ Bị áp dụng tỷ suất chiết khấu cao
▪ Thực tế là khách hàng mới/mới thành lập không
có lịch sử tín dụng và uy tín kinh doanh cao cũng như đầy đủ TSBĐ có tính thanh khoản Vì vậy, khách hàng mới/mới thành lập thường phải chịu Hạng tín dụng thấp, dẫn tới điều kiện đi vay không thuận lợi Trong trường hợp xấu nhất, theo hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của VietinBank, khách hàng có xếp hạng tín dụng thấp hơn B không được chấp thuận vay vốn (Chi tiết về Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của VietinBank tại Phụ lục B)
▪ Đối với Định giá khoản vay (lãi suất đi vay): về mặt nguyên tắc, hạng tín dụng càng thấp thì lãi suất đi vay càng thấp Theo quy định hiện hành, chỉ khách hàng có hạng tín dụng từ AA trở lên mới được vay với lãi suất thấp hơn (thấp hơn tới 1%) Thực tế, dự án TK&HQNL hiềm khi đạt hạng tín dụng AA Thêm nữa, bị đánh giá là có rủi ro cao hơn, lãi suất đi vay có xu huớng cao hơn để bù đắp rủi ro gia tăng
▪ Đối với Tỷ suất chiết khấu, ngân hàng có xu hướng bảo thủ hơn do khách hàng thiếu uy tín với ngân hàng Việc áp dụng tỷ suất chiết khấu như trên để thẩm định dự án làm giảm tính khả thi của dự án, theo đó giảm cơ hội được phê
Trang 9Về nguyên tắc, khoản vay trung hạn sẽ có rủi
ro thấp hơn khoản vay dài hạn
✓ Tuy nhiên, các ngân hàng thường không phân định rõ tỷ suất chiết khấu và lãi suất áp dụng riêng cho các kỳ hạn khác nhau, đặc biệt là giữa kỳ hạn trung hạn (12 - 60 tháng) and dài hạn (> 60 tháng)
✓ Với quan điểm thận trọng như vậy, ngân hàng
có xu hướng áp dụng kỳ hạn dài hạn đối với các dự án TK&HQNL Thông thường cao hơn
1 – 2% so với kỳ hạn trung hạn
▪ Yêu cầu về TSBĐ chặt chẽ hơn:
✓ Đối với khách hàng mới thành lập/mới, vay không
có TSBĐ là không thể
✓ Các khách hàng trên thường gặp hạn chế về TSBĐ có tính thanh khoản như Tiền gửi, Bảo lãnh của bên thứ 3, bất động sản
✓ Máy móc thiết bị được định giá quá thận trọng
✓ Tỷ lệ Giá trị khoản vay/Giá trị TSBĐ chưa thỏa đáng
đối với Máy móc thiết bị
▪ Theo quy định ngân hàng hiện hành, ngay cả khi nhu cầu vay được chấp thuận, khách hàng mới thành lập bắt buộc phải đảm bảo khoản vay bằng đầy đủ TSBĐ Trong khi đó, khách hàng mới hầu như không thể vay không có TSBĐ do hạng tín dụng phải đạt hạng tối thiểu hạng A
▪ Thêm nữa, ngân hàng luôn ưu ái TSBĐ thanh khoản như tiền gửi, bất động sản Tuy nhiên, khách hàng, đặc biệt doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) thường không có đủ TSBĐ do trong nhiều trường hợp, TSBĐ thuộc sở hữu của cá nhân (chủ doanh nghiệp) thay vì thuộc sở hữu của doanh nghiệp; TSBĐ là khoản phải thu và/ hoặc hàng hóa và/hoặc thiết bị, máy móc – đây
là những TSBĐ hình thành trong tương lai, chưa tồn tại ở thời điểm phê duyệt tín dụng/giải ngân Trong một số trường hợp, TSBĐ, nếu có, lại bị chia sẻ giữa nhiều ngân hàng cho vay
Trang 10▪ Giá trị TSBĐ: Do kinh tế Việt nam đình trệ gây khó khăn trong việc xử lý TSBĐ khi phát sinh
nợ xấu, máy móc thiết bị bị ngân hàng và các công ty định giá độc lập định giá thấp (dưới giá trị)
▪ Tỷ lệ Giá trị khoản vay/ Giá trị TSBĐ: do ngân hàng thận trọng trong bối cảnh kinh tế suy thoái,
tỷ lệ trên được quy định ở mức thấp, tối đa 50% (đối với hạng tín dụng từ A trở lên) dành cho các khách hàng quan trọng, trong khi đó tỷ lệ trên chỉ là 20% áp dụng đối với hạng tín dụng BBB hoặc thấp hơn Nói cách khác, khách hàng mới thành lập/khách hàng mới khó có thể vay tới 40% giá trị máy móc thiết bị
▪ Như vậy, sau khi tính đến ảnh hưởng kép ở trên, vay có bảo đảm bởi máy móc thiết bị thường không thực sự thỏa đáng đối với số lượng lớn các khách hàng, đặc biệt các khách hàng chỉ có TSBĐ là máy móc thiết bị
▪ Yêu cầu về Tỷ lệ vốn tự có tham gia chưa thật sự thỏa đáng
✓ Yêu cầu tỷ lệ cao hơn đối với khách hàng mới thành lập
✓ Về nguyên tắc, kỳ hạn vay càng dài thì tỷ lệ này càng cao
▪ Về lý thuyết, tỷ lệ vốn tự có tối thiểu thông thường là 30% Riêng đối với dự án cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tỷ lệ này được yêu cầu tối thiểu là 15%
▪ Trong thực tế, ngân hàng gần đây có xu hướng nhạy cảm hơn với rủi ro nên đã yêu cầu duy trì
tỷ lệ vốn tự có lên đến 50% của tổng chi phí dự
án Thêm nữa, theo quy định hiện hành, việc dự
án TK&HQNL có được coi là dự án cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất hay không vẫn chưa được làm rõ
(Lưu ý: Dự án cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất là dự án: (i) Đưa các tiến bộ kỹ thuật mới, các biện pháp tổ chức thực hiện nhằm hợp lý hóa những bất cập, cải tiến năng lực sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành của dự
Trang 1111
án sẵn có đang vận hành và (ii) Có quy mô vốn đầu tư dưới 5% giá trị còn lại của tài sản cố định được ghi trên báo cáo tài chính quý gần nhất, nhưng không quá 10 tỷ đồng)
▪ Bên cạnh đó, từ góc độ ngân hàng, cho vay ESCO dựa trên dự báo dòng tiền của ESCO dường như là khái niệm chưa có tiền lệ
▪ Với tư cách là bên đi vay vốn ngân hàng, các ESCO có các khó khăn chung tương tự như doanh nghiệp mới thành lập Tại Việt nam, mô hình kinh doanh của ESCO là chủ yếu cung cấp dịch vụ tư vấn, do đó ESCO chủ yếu chỉ sở hữu tài sản vô hình (chất xám, quyền sở hữu trí tuệ v v.) thay vì tài sản hữu hình như bất động sản, máy móc thiết bị Ngoài ra, việc nhiều ESCO có xuất phát điểm là các cơ quan nghiên cứu của chính phủ không có kinh nghiệm kinh doanh và lịch sử tín dụng cũng làm cho ESCO ít hấp dẫn hơn đối với ngân hàng
▪ Mặt khác, mô hình kinh doanh của ESCO dựa trên Hợp đồng EPC (Energy Performance Contract) là khái niệm mới với ngân hàng tại Việt nam Hiện tại, phải thừa nhận là rất khó thuyết phục ngân hàng thẩm định/dự đoán dòng tiền từ các hợp đồng EPC như là nguồn thu thông thường đáng kể của ESCO và căn cứ vào
dự án tiêu chuẩn với quy
mô khoản vay nhỏ và chi phí quản lý cao đồng nghĩa với lợi nhuận không đáng
kể
▪ Hướng dẫn nội bộ của Vietinbank về việc thẩm định dự án đầu tư không có hướng dẫn thẩm định riêng dành cho dự án
TK&HQNL tiêu chuẩn
▪ Để đạt được mục tiêu kinh doanh – KPI (Key Performance Index), hệ thống chi nhánh ngân hàng luôn có xu hướng cho vay các dự án quy
mô lớn để nhanh chóng đạt kế hoạch doanh số
và lợi nhuận được giao Cụ thể là, quy mô khoản vay dự án trung bình là 1 triệu USD trong khi đó khoản vay cho dự án TK&HQNL có thể chỉ là vài nghìn USD Bên cạnh đó, chi phí quản lý liên quan đến lượng công việc, thời gian dành cho thiết kế, ban hành và triển khai hướng dẫn nội
bộ, thẩm định dự án, cả về mặt kỹ thuật và tài chính, từ trụ sở chính đến chi nhánh cũng như từ
Trang 12Điều này một phần dẫn đến các cơ hội tài trợ cho dự án tiêu chuẩn không được phát hiện và tài trợ vốn
▪ Ngân hàng chưa quen với việc thẩm định và tiếp thị các dự án TK&HQNL
▪ Tài trợ các dự án theo danh mục là chưa có tiền lệ
VietinBank đến là rất đáng kể
▪ Khái niệm về TK&HQNL chỉ là thứ yếu khi so sánh với khái niệm rủi ro thị trường, kinh doanh, doanh thu/lợi nhuân …
▪ Tài trợ các dự án TK&HQNL theo danh mục sẽ thích hợp hơn với ngân hàng đầu tư trong khi VietinBank là ngân hàng thương mại, sử dụng vốn thương mại để cho vay
▪ Do chính sách của Ngân hàng Nhà nước về cắt giảm lãi suất, phần chênh ưu đãi lãi suất giữa lãi suất thông thường và lãi suất áp dụng cho các dự án TK&HQNL ngày càng co hẹp lại nên không mang lại lợi ích kỳ vọng cho khách hàng và chi nhánh ngân hàng
▪ Thiếu các dự án tiềm năng đạt yêu cầu kỹ thuật trong danh mục dự án của VieitnBank
▪ Từ năm 2012 trở về trước, lãi suất cho vay tăng vọt: lãi suất cho vay trung dài hạn lên đến 18 –
22 % Do VietinBank được hưởng lãi suất giá rẻ
từ các định chế/tổ chức quốc tế, VietinBank thường cho các dự án TK&HQNL vay lại theo các chương trình tín dụng quốc tế với lãi suất ưu đãi hơn (1 – 2%/năm) Bên cạnh đó, VietinBank còn khuyến khích các chi nhánh cho vay dự án TK&HQNL bằng cách giảm giá bán vốn FTP (Fund Transfer Pricing) cho chi nhánh (1- 2%/năm) Các hỗ trợ tài chính này đã khuyến khích các chi nhánh đẩy mạnh tài trợ cho các dự
án TK&HQNL
▪ Tuy nhiên, cùng với nỗ lực của Ngân hàng nhà nước giảm mạnh lãi suất cơ sở, các ưu đãi kể trên ngày càng thu hẹp lại và hầu như không đáng kể, làm cho số lượng các dự án vay vốn không gia tăng được
▪ Quỹ GCPF yêu cầu ngân hàng phải trình báo cáo kiểm toán năng lượng độc lập đến GCPF để xin GCPF phê duyệt kỹ thuật trước khi quyết định tài trợ cho dự án Do thiếu chuyên môn sâu về
kỹ thuật, ngân hàng phải hợp tác với công ty kiểm toán năng lượng và Công ty tài chính quốc
tế (IFC) để tìm các dự án tiềm năng tại danh mục khách hàng hiện tại và các khách hàng mới Tuy
Trang 1313
nhiên, số lượng dự án đạt điều kiện vẫn hạn chế
do tình hình kinh tế khó khăn ảnh hưởng đến kế hoạch đầu tư của doanh nghiệp Mặt khác, một
số dự án được công ty kiểm toán năng lượng/IFC giới thiệu lại không đạt điều kiện tài chính
1.2 NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ CHÂU ÂU (EUROPEAN INVESTMENT BANK - EIB)
(i) Nguồn vốn quỹ: EIB
(ii) Tổ chức quản lý: EIB
(iii) Ngân hàng vay lại: VietinBank, Ngân hàng Phát triển Việt nam (VDB), Ngân hàng Đầu tư &
Phát triển Việt nam (BIDV), Ngân hàng Nông nghiệp Việt nam (Agribank)
(iv) Loại nguồn vốn quỹ: Quốc tế, tư nhân, vay 2 bước
(v) Chi tiết nguồn vốn:
• Hạn mức: Tổng hạn mức là 150 triệu EUR được chia sẻ giữa 4 ngân hàng theo nguyên tắc
“ai đến trước được phục vụ trước” “first come first served”
• Thời hạn cho vay: 15 năm
• Đồng tiền rút vốn: USD, EUR
• Đồng tiền cho vay: VND, USD
(vi) Bên huởng lợi cuối cùng:
Là doanh nghiệp tư nhân hoặc doanh nghiệp công đáp ứng được các tiêu chí về năng lượng tái tạo, hiệu quả năng lượng, các biện pháp thay đổi và giảm tác động của biến đổi khí hậu khác
(vii) Tiêu chí thẩm định:
• Tiêu chí kỹ thuật: (Chi tiết tham khảo Phụ lục A)
- Nhìn chung, nguồn vốn có thể tài trợ cho cả dự án tiết kiệm năng lượng và năng lượng tái tạo, không phân biệt ngành nào Tuy nhiên, các dự án phải tuân thủ luật pháp EU
- Riêng với dự án tiết kiệm năng lượng (EE), dự án sau khi đầu tư phải tiết kiệm được tối thiểu 20% chi phí năng lượng so với trước khi đầu tư Dự án tiết kiệm được thấp hơn 20% năng lượng cũng có thể đạt yêu cầu được tài trợ vốn miễn là tiết kiệm năng lượng
có thể chứng minh cho ít nhất 50% chi phí đầu tư dự án
• Tiêu chí tài chính:
- Tổng chi phí đầu tư dự án không vượt quá 25 triệu EUR
- Phần tài trợ của EIB không vượt quá 50% tổng chi phí đầu tư dự án, bao gồm cả chi phí nghiên cứu, thiết kế, máy móc thiết bị và lắp đặt, nhân công, đấu nối, dự phòng bất
Trang 14thường,…Nếu dự án được hưởng từ các nguồn tài trợ/trợ cấp khác của EU, toàn bộ phần tài trợ đó không được vượt quá 70% tổng chi phí đầu tư dự án
- Các tiêu chí tài chính khác tuân thủ quy định hiện hành của VietinBank (tham chiếu thông tin chi tiết tại Phụ lục B)
(viii) Kết quả hoạt động: (Chi tiết tham khảo tại Phụ lục C)
- Trong 25 hồ sơ yêu cầu vay vốn, chỉ có 02 dự án năng lượng tái tạo được ngân hàng tài trợ vốn
- 2 dự án này được tái tài trợ bởi nguồn vốn EIB với lãi suất ưu đãi
- Tổng giá trị giải ngân: 21 triệu USD
- Tổng giá trị chưa giải ngân 200 triệu USD
- Điện năng/năng lượng tạo được: 23 MW
- Nợ xấu/Nợ trả chậm: Không phát sinh
(ix) Các vấn đề/phát hiện:
Phát hiện 1: tham
chiếu đến Phát
hiện 1 tại quỹ GCPF
Tham chiếu phần này tại
Năng lượng tái tạo
▪ Đầu tư vào các dự án thủy điện nhỏ không còn được đón nhận như trước đây Nhiều ngân hàng đưa thủy điện nhỏ vào “danh sách hạn chế cho vay”
▪ Ngân hàng còn ngần ngại tài trợ các dự án sinh khối, năng lượng gió, năng lượng mặt trời (do chi phí cao, ít
▪ Theo đánh giá về rủi ro hiện nay của ngân hàng
là thủy điện nhỏ không còn hiệu quả như trước Theo các báo cáo gần đây, nguồn nước thích hợp để làm thủy điện nhỏ với thời hạn thu hồi vốn hiệu quả dần dần cạn kiệt Hơn nữa, việc các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin bài
về năng lực kém của một số chủ dự án đầu tư thủy điện cũng gây ra quan ngại cho ngân hàng
Dự án thủy điện nhỏ cũng được cho là làm phát sinh đáng kể nợ không đủ tiêu chuẩn cho các ngân hàng
▪ Điện gió được xem là chi phí cao trong khi hỗ trợ tài chính và kỹ thuật của chính phủ là rất
Trang 1515
hỗ trợ của chính phủ) khiêm tốn Ngoài ra, năng lượng mặt trời và
sinh khối còn chưa phổ biến đối với ngân hàng Gần đây, VNPT vừa bị từ chối 1 dự án sản xuất tấm năng lượng mặt trời 1 phần vì nguyên nhân trên
▪ Bên cạnh đó, EIB có
xu huớng ưu tiên tài trợ
dự án Tái tạo năng lượng, không phải dự
án TK&HQNL
▪ Để đạt được mục tiêu kinh doanh – KPI (Key Performance Index), hệ thống chi nhánh ngân hàng luôn có xu hướng cho vay các dự án quy
mô lớn để nhanh chóng đạt kế hoạch doanh số
và lợi nhuận được giao
▪ Cụ thể là, EIB thiết kế Mẫu rút vốn chủ yếu thích hợp với dự án năng lượng tái tạo, không phù hợp với dự án TK&HQNL
Tiến độ giải ngân trì
trệ từ thời điểm năm
2012
▪ Một phần do nguyên nhân trình bày tại nguyên nhân 1 to nguyên nhân 6
▪ Do chính sách của Ngân hàng Nhà nước
về cắt giảm lãi suất, phần chênh ưu đãi lãi suất giữa lãi suất thông thuờng và lãi suất áp dụng cho các dự án TK&HQNL ngày càng
co hẹp lại nên không mang lại lợi ích kỳ vọng cho khách hàng
án TK&HQNL
▪ Tuy nhiên, cùng với nỗ lực của Ngân hàng nhà nước giảm mạnh lãi suất cơ sở, các ưu đãi kể trên ngày càng thu hẹp lại và hầu như không
Trang 16hàng…
▪ Thiếu các dự án tiềm năng đạt yêu cầu kỹ thuật trong danh mục
do tình hình kinh tế khó khăn ảnh hưởng đến kế hoạch đầu tư của doanh nghiệp Mặt khác, một
số dự án được công ty kiểm toán năng lượng/IFC giới thiệu lại không đạt điều kiện tài chính
1.3 QUỸ BẢO LÃNH VAY VỐN (LOAN GUARANTEE FUND - LGF) THUỘC CHƯƠNG TRÌNH PECSME
(i) Thông tin về quỹ LGF (như là cấu phần tài chính nằm trong chuơng trình PECSME)
▪ Vào năm 2006, với sự chứng kiến của UNDP, Bộ Khoa học Công nghệ và Vietinbank đã ký Thỏa thuận về chương trình LGF (1.95 triệu USD) để hỗ trợ cho các dự án TK&HQNL trong khuôn khổ chương trình “nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong các doanh nghiệp vừa
và nhỏ - PECSME” (PROJECT for Promoting Energy Conservation in Small and Medium Enterprises in Vietnam)
▪ LGF sử dụng cơ chế bảo lãnh vay vốn từ các định chế tài chính và ngân hàng để hỗ trợ các dự
án EC đầu tư bởi doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) và nhà cung cấp dịch vụ hiệu quả năng lượng (EESPs) Các dự án này phải tạo được ảnh hưởng đáng kể đối với giảm phát khí thải trogng 5 ngành ưu tiên bao gồm gạch, gốm, giấy và bột giấy, dệt và chế biến thực phẩm
▪ Thông qua cơ chế bảo lãnh, LGF cấp bảo lãnh cho các khoản vay thiếu/không đủ tài sản bảo đảm để đạt đuợc các mục tiêu sau:
- Khắc phục rào cản tài sản bảo đảm để hỗ trợ DNVVN đủ điều kiện vay ngân hàng đầu tư vào các dự ánTK&HQNL
- Huy động nguồn vốn tín dụng cho các dự án TK&HQNL bằng cách chia sẻ rủi ro giữa bên bảo lãnh, tổ chức cho vay và bên đi vay
Trang 1717
(Sau khi kết dự án PECSME kết thúc từ năm 2011, Bộ Khoa học Công nghệ ban hành Thông
tư số 06/2011/TT-BKHCN ngày 18/05/2011 để chuyển giao LGF sang cho NAFOSTED (Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia) quản lý và VietinBank được chỉ định là đối tác cung cấp dịch vụ thẩm định tài chính đối với các dự án TK&HQNL đầu tư bởi các DNVVN)
(ii) Bên quản lý quỹ: VietinBank
(iii) Nguồn quỹ LGF: Quỹ môi trường toàn cầu (Global Environmental Facility - GEF)
(iv) Bên giám sát: Bộ Khoa học Công nghệ (Bộ KH&CN) and UNDP
(v) Bên quản lý chương trình:
Vietinbank được lựa chọn là ngân hàng giữ, quản lý quỹ và phát hành Thư bảo lãnh vay vốn đối với khách hàng của quỹ LGF Theo kế hoạch đặt ra, cuối năm 2010, 100% nguồn quỹ LGF phải được sử dụng hết để cấp bảo lãnh cho các dự án TK&HQNL
(vi) Loại quỹ: quốc tế, thương mại, bảo lãnh
(vii) Đặc điểm quỹ:
• Giá trị hạn mức: 1.7 triệu USD
• Nguồn quỹ: UNDP
(Ngoài ra, VietinBank cam kết hạn mức cho vay lên đên 14,1 triệu USD, kỳ hạn cho vay 5 năm dành cho các dự án đáp ứng được các tiêu chí của LGF)
• Đồng tiền bảo lãnh: VND
• Thời hạn bảo lãnh: tương đương với thời hạn cho vay nhưng trong bất kể trường hợp nào, không vượt quá thời hạn trả nợ Thời hạn bảo lãnh có thể được gia hạn phù hợp với thời hạn cho vay nhưng trong mọi trường hợp, không vượt quá 1/3 thời hạn bảo lãnh ban đầu
(viii) Bên hưởng lợi cuối cùng:
Doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong 5 ngành gạch, gốm, giấy và bột giấy, dệt và chế biến thực phẩm
(ix) Tiêu chí thẩm định:
Tiêu chí kỹ thuật
- Dự án phải xuất trình báo cáo phân tích môi trường và báo cáo khả thi phê duyệt bởi Bộ KH&CN hoặc cơ quan có thẩm quyền Đối với các dự án gạch và gốm, chỉ cần báo cáo khả thi phê duyệt bởi Bộ KH&CN hoặc cơ quan có thẩm quyền
- Dự án phải có mức tiết kiệm năng lượng dương, ngoại trừ dự án gạch và gốm sứ Đối với
dự án sản xuất gạch, dự án phải đạt mức tiết kiệm năng lượng dương trên mỗi đơn vị sản xuất Đối với dự án gốm sứ, dự án phải đạt mức giảm phát thải dương trên mỗi đơn vị sản xuất
- Chi phí năng lượng tiết kiệm được phải đạt tối thiểu 30% tổng lợi ích tài chính của toàn bộ
dự án ngoại trừ dự án sản xuất gốm sứ
Trang 18Tiêu chí tài chính
- Giá trị bảo lãnh lên đến 100% giá trị khoản vay nhưng không vượt quá 70% tổng chi phí đầu tư dự án
- Tỷ lệ vốn tự có tham gia tối thiểu (15%) 30%
- Giá trị bảo lãnh/1 dự án không vượt quá 3 tỷ VND, giá trị bảo lãnh/1 chủ đầu tư không vượt quá 4,5 tỷ VND Tuy nhiên, không bảo lãnh cho khoản vay có giá trị duới 80 triệu VND và lớn hơn 2 tỷ VND
- Bội số bảo lãnh là 2
- Chỉ bảo lãnh cho nghĩa vụ trả nợ gốc
- Thời gian hoàn vốn đơn giản của dự án không vượt quá 4 năm;
- Dự án đủ điều kiện vay vốn ngân hàng ngoại trừ điều kiện về tài sản bảo đảm;
- Các tiêu chí tài chính tuân thủ quy định hiện hành của VietinBank (tham chiếu chi tiết tại Phụ lục B)
(x) Kết quả hoạt động:
Tính đến thời điểm 31/03/2014, một số kết quả hoạt động của LGF được ghi nhận như sau:
- Số lượng dự án được bảo lãnh: 52 dự án
- Phân loại dự án theo khu vực địa lý: Hà nội (Bát Tràng) 30 dự án, Bắc Giang 3 dự án, Hải Dương 04 dự án, Phú Thọ 08 dự án, Lê Chân 01 project, Đà nẵng 01 dự án, Bình Dương 03
dự án, Đồng nai 01 dự án, Sa Đéc 01 dự án
- Phân loại dự án theo ngành: Gạch 11 dự án, gốm 40 dự án, giấy 01 dự án
- Phân loại dự án theo hiệu quả hoạt động: hiệu quả 29 dự án, hiệu quả thấp 14 dự án, không hiệu quả 09 dự án
- Phân loại dự án theo nghĩa vụ trả nợ: hoàn trả đầy đủ (26) & đúng hạn (03), chậm trả (14),
nợ xấu (09)
- Phân loại dự án theo Tổ chức cho vay: Quỹ bảo vệ môi trường Việt nam (VEPF) cho vay 43
EC dự án (hiệu quả thấp (14) & không hiệu quả (05), làm phát sinh chậm trả (14) và nợ xấu (05)), Vietinbank cho vay 9 dự án (04 dự án không hiệu quả, phát sinh nợ xấu),
- Dư nợ gốc ban đầu 43.696 triệu VND (Vietinbank: 18.449 triệu VND, VEPF: 25.247 triệu VND)
- Tổng nợ gốc được bảo lãnh: 28.484 triệu VND (VietinBank: 13.010 triệu VND, VEPF: 15.474 triệu VND)
- Dư nợ: 7.120 triệu VND
- Tổng dư bảo lãnh : 5.099 triệu VND
- Nợ xấu: đã phát sinh và tiềm ẩn nợ xấu trong tương lai Chi tiết trình bày dưới bảng sau:
Trang 1919
cho các khoản nợ xấu
VietinBank VEPF VietinBank VEPF
1.981 tr
VND
136 tr VND
thành công về tiết kiệm hiệu
quả năng lượng, trong toàn
và miền Nam như Đà nẵng và Đồng nai) chủ yếu là các hộ kinh doanh
cá thể phải đối mặt với tình hình thị trường đầu
ra khó khăn do đó ảnh hưởng xấu đến hiệu quả kinh doanh và nghĩa vụ trả nợ ngân hàng
▪ Trong nhiều trường hợp, hiệu quả tài chính của dự án xung đột với tính khả thi của dự án về kỹ thuật
▪ Tuy nhiên, do có TSBĐ là bảo lãnh hoàn trả vốn vay, ngân hàng có xu hướng ít thận trọng hơn khi thẩm định
dự án Điều này cũng phản ánh thực tế
là ngân hàng cho vay dựa nhiều vào tài sản bảo đảm trong khi các tiêu chí thẩm định tài chính chưa đóng vai trò quan trọng như kỳ vọng
Trang 20Nguợc lại, VietinBank chủ
yếu phát hành bảo lãnh cho
các dự án do VEPF tài trợ
▪ Ngành gốm sứ và gạch chủ yếu là các
hộ kinh doanh cá thể phải đối mặt với tình hình thị trường đầu ra khó khăn do đó ảnh hưởng xấu đến hiệu quả kinh doanh và nghĩa vụ trả nợ ngân hàng Theo đó, Vietinbank cho rằng những dự án trên có rủi ro cao nên không tài trợ nhiều dự án
▪ Hơn nữa, lãi suất VietinBank cho vay
là lãi suất thươmg mại nên cũng ảnh hưởng đến hiệu quả của dự
án (IRR, NPV), đặc biệt trong tình hình thị trường đầu ra khó khăn
▪ Tương tự vậy, theo quan điểm của ngân hàng, khái niệm về dự án TK&HQNL đóng vai trò thứ yếu so với khái niệm về rủi ro thị trường/kinh doanh/doanh thu/lợi nhuận Trong trường hợp này, thị trường đầu ra của dự án không được đánh giá cao mặc dù dự án khả thi về mặt kỹ thuật
▪ Tuy nhiên, VietinBank quyết định cho vay và bảo lãnh được đưa ra với niềm tin rằng không có rủi ro tín dụng Điều này cho phép VietinBank phát hành bảo lãnh cho các dự án mà VEPF thẩm định và cho vay
▪ Vietinbank là ngân hàng thương mại hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận nên
đã sử dụng nguồn vốn thương mại (thông thường, không ưu đãi) để cho vay các dự án
Trong trường hợp này, tài sản bảo đảm là yếu tố quyết định đến quyết định cho vay của ngân hàng Điều này cũng phản ánh thực tế là ngân hàng cho vay dựa nhiều vào tài sản bảo đảm trong khi các tiêu chí thẩm định tài chính chưa đóng vai trò quan trọng như kỳ vọng
Tỷ lệ nợ xấu (NPL) của Ngành gốm sứ (Bát ▪ VEPF được cho là chưa có năng lực
Trang 2121
VEPF có xu hướng gia
tăng(14/15 dự án hiện tại
của VEPF chậm trả nợ,
hiệu quả thấp)
Tràng) chủ yếu là các hộ kinh doanh cá thể phải đối mặt với tình hình thị trường đầu ra khó khăn
do đó ảnh hưởng xấu đến hiệu quả kinh doanh và nghĩa vụ trả nợ ngân hàng
chuyên sâu trong thẩm định dự án nên chưa có đánh giá toàn diện về dự án, đặc biệt là đánh giá về thị trường đầu
ra và hiệu quả tài chính của dự án
▪ Tuy nhiên, VietinBank quyết định cho vay và bảo lãnh được đưa ra với niềm tin rằng không có rủi ro tín dụng Điều này cho phép VietinBank phát hành bảo lãnh cho các dự án mà VEPF thẩm định và cho vay
1.4 QUỸ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM (VIETNAM ENVIRONMENTAL
PROTECTION FUND - VEPF)
(i) Nguồn quỹ: Vốn ngân sách và các nguồn vốn tư nhân khác, nếu có
(ii) Đơn vị quản lý quỹ: VEPF (thành lập bởi Bộ Tài nguyên và Môi trường)
(iii) Loại quỹ: công, lãi suất ưu đãi do VEPF công bố hàng năm
(iv) Đặc điểm quỹ: Ngoài hỗ trợ tài chính cho các dự án bảo vệ môi trường, VEPF cũng hỗ trợ tài
chính cho các dự án TK&HQNL
(v) Đối tượng hưởng lợi cuối cùng:
Hỗ trợ tài chính cho các tổ chức, cá nhân triển khai các chương trình, dự án, các hoạt động bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, phòng, chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường mang tính quốc gia, liên ngành, liên vùng hoặc giải quyết các vấn đề môi trường cục bộ nhưng phạm vi ảnh hưởng lớn
(vi) Evaluation criteria:
▪ Tiêu chí kỹ thuật: theo quy định nội bộ của VEPF, tùy từng trường hợp
▪ Tiêu chí tài chính: theo quy định nội bộ của VEPF, tùy từng trường hợp
(vii) Kết quả hoạt động đến thời điểm 10/2013 (Nguồn: http://www.vepf.vn/)
- Tổng hạn mức cam kết: 137 tỷ VND, trong đó 40 tỷ VND đuợc dành riêng cho vay dự án triển
khai các công nghệ sạch, thân thiện môi trường, tiết kiệm năng lượng
- Tổng số lượng dự án: 31 dự án, trong đó 23 dự án được xếp loại là dự án triển khai các công
nghệ sạch, thân thiện môi trường, tiết kiệm năng lượng Bên cạnh đó, trong số 31 dự án, 21 dự
án là dự án sản xuất gạch Đáng chú ý là số lượng lớn dự án đuợc giải ngân (15/31) chủ
yếu và năm 2009
- Nợ xấu: 8.243 triệu VND, tuơng đương 12,33% tổng dư nợ
- Chậm trả nợ: 04 dự án
-
Trang 22STT Loại dự án Số tiền cam kết (triệu VND) Số lượng dự án
Dự án triển khai các công nghệ sạch, thân thiện môi
1 Dự án triển khai các công nghệ sạch, thân thiện môi trường, tiết kiệm năng lượng 40.799 23
2 Dự án ản xuất các sản phẩm bảo vệ môi trường 96.800 8
Lĩnh vực đầu tư
Tổng số tiền cam kết commitment (Triệu VND)
Tổng số tiền đã giải ngân (Triệu VND)
Tổng số tiền chưa giải ngân (Triệu VND)
Dư nọ tại thời điểm 30/10/20 13\
(Triệu VND)
Nợ xấu (Triệu VND)
Số tiền giải ngân trong năm
2013 (Triệu VND)
Dự kiến giải ngân năm
2014 (Triệu VND)
Dự kiến giải ngân cuối năm
2013
Số tiền còn tồn đọng (Triệu VND)
Tỷ lệ nguồn vốn chưa giải ngân/tổng số tiền cam kết
Phát hiện/Vấn đề Nguyên nhân/Khó khăn Diễn giải
Tỷ lệ vốn chưa giải ngân cao
(lên đến 30,92% của tổng số
tiền cam kết giải ngân; số dự
án đã giải ngân nhiều nhất vào
năm 2009 nhưng thấp trong
các năm khác)
Doanh nghiệp chưa mặn mà đầu tư dự án trong bối cảnh kinh tế suy thoái, khó khăn thị trường
- Kinh tế suy thoái và thị trường đầu ra thu hẹp kèm theo lạm phát, lãi suất cao đã buộc 60.000 doanh nghiệp phá sản, đa số là doanh nghiệp DNVVN Các doanh nghiệp còn hoạt động đểu không mặn mà với đầu tư và đi vay ngân hàng ngay cả khi được chào lãi suất thấp, ưu đãi
- Ngoài ra, danh mục cho vay của VEPF tập trung vào các lĩnh vực
có rủi ro cao như bất động sản/Vật liệu xây dựng (gạch, gốm v v) trong khi hầu như không có
dự án nào trong các lĩnh vực tiềm năng khác có rủi ro thấp hơn như tòa nhà, nhựa v v
Quy mô khoản vay nhỏ Quy mô khoản vay trung bình 3 tỷ
Trang 2323
VND là nhỏ đối với 1 dự án đầu tư
- Tỷ lệ giá trị khoản cho vay/tổng chi phí đầu tư chưa thuận lợi ( <=
70%)
- Hạn chế về TSBĐ: yêu cầu phải có TSBĐ của chủ đầu tư, bảo lãnh của bên thứ 3
- Đối với ngân hàng thương mại, tỷ
lệ này là 30%
- Tuy nhiên, VEPF không phải là ngân hàng thương mại nên khẩu
vị rủi ro cũng phải khác
Mặc dù lãi suất cho vay ưu đãi,
thấp hơn lãi suất thị trường (lãi
suất VND cố định 5,4%/năm
áp dụng đối với năm 2013), tỷ
lệ nợ xấu duy trì ở mức cao
(tỷ lệ nợ xấu 12,33% cao hơn
nhiều so với chuẩn chung của
ngành ngân hàng Việt nam là
Bất động sản và vật liệu xây dựng tụt dốc trong vòng 4 năm qua trong khi phần lớn vốn giải ngân từ VEPF lại tập trung vào các lĩnh vực này’
Năng lực hạn chế của VÈP trong thẩm định dự án VEPF là tổ chức phi lợi nhuận nên có
thể đã không thẩm định toàn diện rủi
ro dự án, thiên về thẩm định rủi ro kỹ thuật hơn là rủi ro thị trường
1.5 QUỸ TÍN DỤNG XANH (Green Credit Trust Fund – GCTF)
(i) Nguồn vốn quỹ: Cục Kinh tế Liên bang Thụy Sĩ (The Swiss State Secretariat for Economic
Affairs - SECO)
(ii) Giá trị quỹ: 5 triệu USD:
- Bảo lãnh vay vốn: 2 triệu USD
- Bồi hoàn: USD 3 triệu USD
(iii) Đơn vị điều phối: Trung tâm sản xuất sạch hơn (Vietnam Cleaner Production Center)
(iv) Loại quỹ: tư nhân, bảo lãnh, trợ cấp
(v) Mục tiêu của quỹ :
Thúc đẩy đầu tư dài hạn vào doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực công nghệ sản xuất sạch hơn có ảnh hưởng tích cực tới môi trường và đóng góp vào phát triển bền vững của Việt nam Mục tiêu này đạt được nhờ việc cắt giảm yêu cầu tài sản bảo đảm (50% bảo lãnh) và bồi hoàn một phần (lên đến 25%) chi phí đầu tư, dựa trên tác động môi trường đạt được sau khi đầu tư
Trang 24Các lĩnh vực tiềm năng cho sản xuất sạch hơn là sản xuất vật liệu xây dựng, giấy, chế biến thực phẩm, thép, da và sản xuất hóa chất
(vi) Đối tượng hưởng lợi cuối cùng:
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có ít hơn 1000 người lao động, vốn pháp định ít hơn 5 triệu USD, trong đó phần tham gia của đối tác Việt nam phải lớn hơn 51%
(vii) Tiêu chí đánh giá:
- Tiêu chí kỹ thuật: do GCTF chủ động quy định
- Tiêu chí tài chính: điều chỉnh bởi quy định nội bộ của ngân hàng (ACB, VIB, Techcombank)
(viii) Operational structure:
GCTF vận hành với sự tham gia của các ngân hàng thương mại: ACB, VIB, Techcombank; Trung tâm sản xuất sạch hơn (VNCPC); Cục Kinh tế Liên bang Thụy Sĩ (SECO)
Cấu trúc bảo lãnh
- Bảo lãnh đến 50% giá trị khoản vay áp dụng với các khách hàng không đủ tài sản bảo đảm
- Giá trị tối đa bảo lãnh: 500.000 USD
- Tỷ lệ bảo lãnh tích lũy tối đa với các quỹ khác (ví dụ: Quỹ bảo lãnh quốc gia) là 70%
- Nếu khách hàng đầu tư đúng mục đích/công nghệ, khách hàng không phải chịu phí bảo lãnh
- Nếu khách hàng đầu tư sai mục đích/công nghệ, hoặc khách hàng sử dụng vốn vay cho dự
án khác, phí bảo lãnh là 3%/năm tính trên dư bảo lãnh
- Nếu khách hàng không đạt điều kiện bồi hoàn sau khi lắp đặt thiết bị, bảo lãnh vẫn có hiệu lực đến cuối kỳ hạn vay quy định tại Hợp đồng vay vốn giữa khách hàng và ngân hàng
Cấu trúc bồi hoàn
- Mặt khác, GCTF bồi hoàn cho các doanh nghiệp DNVVN đến 25% giá trị khoản vay được ngân hàng chấp thuận, nếu ngân hang đạt được cải thiện nhất định về môi trường nhưng tối
đa là 200.000 USD/dự án Chi tiết như sau:
Trường hợp cải thiện môi trường duới 30%, không được bồi hoàn
Trường hợp mức cải thiện môi trường từ 30 đến 49%, được bồi hoàn đến 15% giá trị khoản vay được ngân hàng chấp thuận
Trường hợp mức cải thiện môi trường hơn 50%, to 25% giá trị khoản vay được ngân hàng chấp thuận
Mức tối đa được bồi hoàn: 200.000 USD hoặc VND tương đương
(ix) Kết quả hoạt động thời điểm 08/2014 (Nguồn: http://gctf.vn//)
- Tổng vốn cam kết:
- Tổng số dự án: 09 dự án
- Lĩnh vực đầu tư: 03 dự án nhựa, 04 dự án giấy, 01 dự án thép, 01 dự án sợi
Trang 25Thời gian
Tổng chi phí đầu
tư (USD)
Tổng hạn mức cho vay (USD)
Bảo lãnh (%)
Bảo lãnh vay vốn ngân hàng
Tỷ lệ bồi hoàn (%)
Thời igan thu hồi vốn (năm) Địa điểm
nhựa
Y
Máy đùn
2008 –
2009
135.363 N/A 50 Techcombank 25 4.5 TP Hồ
Chí Minh
nhựa
Y
Máy đùn
2010 –
2011
Chí Minh
2010 –
2011
970.100 N/A 50 Techcombank 15 4.3
Quảng Nam
Dây chuyền vải không dệt
- Quy mô khoản vay nhỏ (10.000 USD - 1 triệu USD)
- Không có khách hàng mới thành lập Tất cả đều là các dự án thay thế/mở rộng của khách
hàng hiện hữu nên có rủi ro thị trường/tín dụng thấp
- Tỷ lệ bảo lãnh thấp (50% giá trị khoản tín dụng được phê duyệt), 50% còn lại là từ các loại tài sản bảo đảm khác
- Bồi hoàn tính toán dựa trên giá trị vay được ngân hàng phê duyệt, thay vì tính toán trên tổng
chi phí đầu tư
Trang 26- Vốn tự có của chủ đầu tư là bắt buộc (30% - 50% tổng chi phí đầu tư dự án)
2 ĐỀ XUẤT ĐIỀI CHỈNH CHỈ TIÊU THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH HIỆN TẠI
2.1 Đặc điểm của các dự án HQNL trong công nghiệp
- Dự án TK&HQNL là giải pháp thực tế then chốt để giải quyết vấn đề kép là lãng phí năng lượng và ô nhiễm môi trường hiện đang lây lan tại rất nhiều doanh nghiệp công nghiệp ở Việt nam Lĩnh vực công nghiệp Việt nam sử dụng một lượng lớn năng lượng cho sản xuất và quá trình khai thác tài nguyên Nhiều quá trình công nghiệp đòi hỏi một lượng lớn nhiệt và năng lượng cơ khí mà hầu hết là từ than đá, dầu, khí gas tự nhiên, điện
- Do các quá trình công nghiệp là rất đa dạnng nên không thể mô tả được hết các cơ hội tiềm năng về TKHQNL trong công nghiệp Hiệu quả đến đâu còn tùy thuộc vào các công nghệ và quy trình sử dụng đặc thù tại mỗi cơ sở công nghiệp Tuy nhiên, cũng có các quá trình và dịch
vụ năng lượng được sử dụng rộng rãi tại nhiều ngành công nghiệp khác nhau
- Một luợng lớn nhiên liệu được sử dụng tại Việt nam để tạo hơi nước Các cơ sở công nghiệp có thể giảm từ 15-20% (theo báo cáo của Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả) thông qua bảo ôn các đường ống dẫn hơi và nước ngưng, khắc phục rò rỉ
và bảo trì các bẫy hơi
- Các mô tơ điện thường chạy ở tốc độ cố định, tuy nhiên tốc độ biến đổi có thể cho phép tiêu thụ năng lượng phù hợp với tải theo yêu cầu Việc này có thể tiết kiệm năng lượng tiêu thụ được từ 3-50% phù thuộc vào việc mô tơ được sử dụng như thế nào
- Các ngành công nghiệp đang sử dụng một số lượng lớn bơm và máy nén khí với đủ kiểu loại
và kích cỡ và hàng loạt các ứng dụng khác nhau Hiệu suất của bơm và máy nén khí phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố những có thể thường xuyên được cải thiện thông qua kiểm soát qui trình
và bảo trì tốt hơn Các máy nén khí thông thường được sử dụng để cung cấp khí nén cho việc phun cát, sơn và điều khiển các dụng cụ điện khác Theo Dự án TKNL CN, việc tối ưu hóa hệ thống khí nén thông qua việc lắp biến tần, bảo trì phòng ngừa để tránh và sửa chữa rò rì khí, có thể cải thiện hiệu suất năng lượng từ 20-50%
- Theo dự đoán của UNIDO, việc cải thiện hiệu quả năng lượng đối với các hệ thống hơi và khí nén dựa trên cách tiếp cận tối ưu hóa hệ thống được dự báo là sẽ làm tăng năng lượng tiết kiệm được (15% đến 30% đối với hệ thống nén khí và 10%-15% đối với hệ thống hơi nước); trong 2 năm đầu hoạt động, con số này đuợc tính toán là khoảng 10-20%
- Có thể nói rằng thị trường hiệu quả năng lượng tại Việt nam có tiềm năng to lớn với thời gian thu hồi vốn nhỏ hơn 3 năm Tuy nhiên, khó khăn chính của các dự án TK&HQNL là quy mô nhỏ Các ngân hàng phát triển và các ngân hàng thương mại ưu tiên đầu tư vào các dự án lớn vì thẩm định 1 dự án lớn hay nhỏ đều phát sinh chi phí, thời gian, nhân lực tương tự nhau trong khi đó về giá trị tuyệt đối, khả năng tạo doanh thu/lợi nhuận cho ngân hàng từ các dự án nhỏ là rất hạn chế so với các dự án lớn
Trang 2727
2.2 Phân tích thực trạng
- Nhìn chung, hầu như tất cả các chương trình tài trợ dự án TK&HQNL do các ngân hàng triển khai đều đòi hỏi ngưỡng kỹ thuật tối thiểu 15-20% giảm phát CO2 và/hoặc tiết kiệm năng lượng Ngưỡng kỹ thuật này được ngân hàng đưa ra là do các định chế tài chính quốc tế (WB, EIB, GCPF) yêu cầu khi đồng ý cho các ngân hàng trong nước vay để cho vay lại các dự án TK&HQNL
- Cấu trúc chia sẻ rủi ro điển hình nhất đối với các dự án TK&HQNL là bảo lãnh vay vốn ngân hàng, theo đó 1 phần khoản vay ngân hàng được bảo lãnh Bên cạnh bảo lãnh vay vốn, ngân hàng thường đòi hỏi các loại tài sản bảo đảm khác như bất động sản, nhà xưởng, máy móc thiết
bị, khoản phải thu v…v Nói cách khác, rủi ro tín dụng được phân bổ giữa chủ đầu tư, bên tài trợ, và ngân hàng
- Các hình thức hỗ trợ trực tiếp khác dành cho chủ dự án như ưu đãi lãi suất, bồi hoàn chi phí đầu tư v v
- Các tiêu chí thẩm định tài chính phải tuân thủ quy định nội bộ của ngân hàng thương mại Khi
áp dụng thực tế, các tiêu chí thẩm định này không phân biệt giữa dự ans thông thường và dự án TK&HQNL Chính vì vậy, một số các khó khăn đã phát sinh như được trình bày dưới đây:
Khó khăn 1 Các nội dung đề xuất cần thay đổi
Từ góc nhìn của ngân hàng, tài trợ
các dự án TKHQNL chưa được
xem là phân khúc thị trường quan
trọng và mang lại lợi nhuận cho
ngân hàng do quy mô khoản vay
nhỏ và rủi ro tuơng đối cao
VỀ PHÍA CHÍNH PHỦ
1 Cơ chế chia sẻ rủi ro/ Tăng cường tín dụng (Risk sharing/Credit enhancement mechanisms) để hỗ trợ ngân hàng giảm mức rủi ro và cải thiện hạng tín dụng
và từ đó có thể giãn bớt các ràng buộc tín dụng
a) Quỹ bảo lãnh:
▪ Quỹ bảo lãnh quốc gia sẽ là cầu nối giữa yêu cầu của ngân hàng và khả năng đáp ứng của doanh nghiệp về tài sản bảo đảm Điều này có ý nghĩa đặc biệt then chốt vì các ngân hàng Việt nam không cho vay chỉ dựa trên dự án (Project Finance) mà còn dựa đáng kể vào Tài sản bảo đảm (Collateral Finance) Riêng đối với ESCO, bảo lãnh vay vốn là hết sức cần thiết để có thể đáp ứng điều kiện vay vốn ngân hàng
▪ Phải có sự hợp tác chặt chẽ giữa Bộ Công Thương, Bộ Tài Chính và các ngân hàng thương mại để đưa ra các bộ tiêu chí đánh giá dự án đủ điều kiện cấp bảo lãnh cũng như cơ chế trao đổi thông tin
Trang 28b) Kế hoạch/Tổ chức mua lại Tài sản bảo đảm (chủng loại, định giá, danh sách…):
Song hành vơí Quỹ bảo lãnh, kế hoạch mua lại tài sản bảo đảm cũng nên được thận trọng cân nhắc Kế hoạch này cho phép ngân hàng bán lại tài sản bảo đảm (chủ yếu là máy móc thiết bị thiêú tính thanh khoản) cho đơn vị đã được chỉ định trước với mức giá tốt hơn Nhờ đó, các ngân hàng được hỗ trợ trong khi hạng tín dụng của ngân hàng được cải thiện kéo theo chi phí vay vốn giảm xuống
c) Đồng tài trợ:
▪ Một cơ chế chia sẻ rủi ro khác là đồng tài trợ giữa các ngân hàng và giữa các tổ chức/định chế khác nhau như quỹ đầu tư, quỹ trợ cấp, quỹ ươm giống (seed fund) v…v
▪ Một cơ chế rõ ràng liên quan đến chia sẻ quyền sở hữu tài sản, tỷ lệ tài trợ, lãi suất đồng tài trợ phải được thảo luận
kỹ càng
d) Đẩy mạnh khơi thông nguồn vốn vay 2 bước giá rẻ dành cho các ngân hàng thương mại (JICA, WB, IFC, etc Các nguồn vốn này không chỉ dành cho các ngân hàng lớn (Vietcombank, BIDV, VietinBank,
Techcombank…) mà nên được dành cho cả các ngân hàng nhỏ vì các ngân hàng nhỏ này cũng có thể dành nhiều quan tâm đến đối tượng là dự án TK&HQNL
2 Chính phủ nên áp đặt các chính sách mạnh mẽ và tăng cường hiệu lực thi hành chính sách đối với các đơn vị tiêu thụ nhiều năng lượng như doanh nghiệp nhà nước
và doanh nghiệp quy mô lớn Nếu làm được như vâỵ, thị trường TK&HQNL có thể sẽ được mở rộng đáng kể Tập trung vào 2 nội dung sau:
a) Kiểm toán năng lượng, kế hoạch/hành động/chỉ tiêu tiêu thụ năng lượng: bắt buộc
b) Chế tài tuân thủ: tài chính & phi tài chính
Từ góc nhìn ngân hàng, một số dự ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG
Trang 2929
án TKHQNL không đủ điều kiện
vay vốn do thiếu khả năng trả nợ
Điều này có thể lý giải bởi một số
nguyên nhân khách quan như: rủi
ro kinh doanh, rủi ro thị trường,
rủi ro tài chính hoặc nguyên nhân
chủ quan như sự thiếu kinh
nghiệm/ không quan tâm của ngân
hàng đối với các dự án TKHQNL
Có 1 thực tế là, khi dự án dừng
hoạt động, mục tiêu TKHQNL
không đạt được như kỳ vọng mặc
dù dự án được bảo lãnh hoàn trả 1
phần khỏan vay
1 Phân tích tổng thể và chi tiết về dự án và thị trường phải đuợc đặt lên hàng đầu để đảm bảo tính bền vững và khả năng trả nợ của dự án Phải hiểu rằng, dự án có bền vững,
ổn định thì mục tiêu TKHQNL mới đuợc hiện thực hóa
thành công (VietinBank hiện tại quy định như sau: Đối với dự án không trực tiếp tạo ra doanh thu và nguồn trả
nợ, thẩm định dự án phải gắn chặt với hiệu quả kinh doanh
chung và dòng tiền trong tương lai của doanh nghiệp)
- Dự án TKHQNL chỉ nên được xem tạo thêm dòng tiền để góp phần đảm bảo nghĩa vụ trả nợ ngân hàng
2 Công cụ/mô hình dự đoán dòng tiền thiết kế riêng cho dự
án TKHQNL
Các dự án chuẩn hóa:
Trong thực tế, do thiếu chuyên môn sâu về dự án TK&HQNL,
có nhiều dự án tiêu chuẩn tiềm năng bị các ngân hàng bỏ qua, đặc biệt là các cán bộ quan hệ khách hàng và cán bộ thẩm định tín dụng Để khắc phục tình trạng naỳ, ngân hàng nên hợp tác với Bộ Công Thương triển khai các nội dung sau:
o Xác định các cơ hội đầu tư TK&HQNL tiêu chuẩn và thiết
kế bộ tiêu chí đầy đủ đánh giá danh mục dự án tiêu chuẩn bao gồm cả dự án về hệ thống quản lý, tối ưu hóa hệ thống hơi và nén khí
o Ngân hàng nên tổ chức các khóa tập huấn về thẩm định dự
án TK&HQNL Ngân hàng nên soạn bộ câu hỏi dành cho cán bộ quan hệ khách hàng sử dụng khi gặp gỡ, điều tra
nhu cầu khách hàng về vay tài trợ dự án TK&HQNL (tham khảo chi tiết tại Phụ lục D)
o Ngân hàng nên thiết kế riêng bảng/công cụ thân thiện người sử dụng để tính toán dòng tiền của dự án tiêu chuẩn (tham khảo chi tiết tại Phụ lục D) Bảng tính này phải kết hợp được cả yếu tố kỹ thuật tài chính và kỹ thuật vào cùng một giao thức tính toán từ đó cho phép cán bộ thẩm định nhanh chóng xác định được các thông số hiệu quả dự án
như IRR, NPV, thời gian hoàn vốn
Trang 30▪ Cơ chế hợp tác giữa ngân hàng, Bộ Công Thương, công
ty kiểm toán năng lượng độc lập phải đưa ra được các nội dung: phí kiểm toán, năng lực của kiểm toán, quy trình phê duyệt tài chính và kỹ thuật
Đối với ESCO:
▪ Do nguồn thu từ dự án của ESCO dựa trên dòng tiền từ hợp đồng EPC, phải có hướng dẫn chi tiết dành riêng thẩm định các dự án đầu tư của ESCO Nếu không, ESCO chỉ có thể vay ngắn hạn thay vì vay trung – dài hạn Nói cách khác, các khoản vay trung dài hạn chỉ có thể đạt được khi có đầy đủ tài sản bảo đảm
▪ Hướng dẫn này cần phải tiếp nhận thêm ý kiến của chuyên gia do ngân hàng chưa có kinh nghiệm về đối tượng khách hàng ESC
3 Tiếp cận theo góc độ ngân hàng đầu tư:
▪ Nên áp dụng phương pháp tài trợ một danh mục dự án với các đặc tính khác nhau (ngành nghề, quy mô, hiệu quả v…v), qua đó giảm chi phí quản lý, giảm rủi ro, tăng doanh số cho vay v v
▪ ESCO đóng vai trò trung gian đề xuất danh mục dự án đáp ứng các tiêu chí tài tr (kỹ thuật)
▪ Ngân hàng sẽ phân loại danh mục dự án dựa trên khẩu vị rủi ro trong từng thời kỳ
Một số tiêu chí kỹ thuật thẩm
định dự án chưa có lợi thỏa
VỀ PHÍA NGÂN HÀNG