Tuy nhiên, khi mà kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất, cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại tác động sâu rộng tới mọi lĩnh
Trang 1ĐIỂM SỐ
ĐIỂM
NHẬN XÉT
Ký tên
Ths Lê Quang Chung
Trang 2BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
3 - Phụ trách chương 2 Đặng Văn
Nguyên
Hoàn thành tốt
4 - Phụ trách chương 3 Nguyễn Ngọc
Hải
Hoàn thành tốt
5 - Chỉnh sửa nội dung
- Trình bày hình thức
Phạm Xuân Nhuận
Hoàn thành tốt
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ADB: Ngân hàng phát triển châu Á
ASEAN: Hiệp hội các nước Đông Nam Á
APEC: Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương
ASEM: Diễn đàn hợp tác Á – Âu
EU: Liên minh Châu Âu
FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA: Hiệp định thương mại tự do
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
IMF: Qũy tiền tệ quốc tế
ODA: Đầu tư gián tiếp nước ngoài
OECD: Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
PGS.TS: Phó Giáo sư Tiến sĩ
SEV: Hội đồng tương trợ kinh tế
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
6 Ý nghĩa của đề tài 3
7 Kết cấu của tiểu luận 3
Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 4
1.1 Lý luận chung về công nghiệp hóa, hiện đại hóa 4
1.1.2 Sự cần thiết phải tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa 5
1.2 Lý luận về hội nhập kinh tế quốc tế 7
1.2.1 Khái niệm về hội nhập kinh tế quốc tế 7
1.2.2 Sự cần thiết phải tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế 8
1.2.3 Quan điểm chỉ đạo của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế 11
Chương 2 VAI TRÒ CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC VÀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 13
2.1 Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nươc 13
2.1.1 Hội nhập kinh tế quốc tế góp phần khơi thông, huy động và phân bố có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 13
2.1.2 Hội nhập kinh tế quốc tế giúp đào tạo và sử dụng tốt hơn nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 16
2.1.3 Hội nhập kinh tế quốc tế tạo cơ hội tiếp cận công nghệ hiện đại, tri thức quản lý tiên tiến của các nước vào việc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 18
2.2 Một số thành kết quả đạt được trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam 20
2.2.1 Qúa trình bình thường hóa, hội nhập vào các tổ chức khu vực và thế giới 20
Trang 52.2.2 Kết quả hoạt động của một vài lĩnh vực kinh tế đối ngoại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta 21
Chương 3 NHẬN XÉT CHUNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC 25 3.1 Nhận xét chung về hội nhập kinh tế quốc tế trong quá trì nh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 25
3.1.1 Những thành tựu đạt được khi Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế 25 3.1.2 Những mặt hạn chế khi Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế 26
3.2 Một số kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế trong quá trì nh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 27 KÊT LUẬN 30
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7tế, chính trị, quân sự,… Do đó, các nước kém phát triển ít nhiều cũng bị ảnh hưởng bởi sự chi phối của họ, hay nói cách khác, sự phát triển của mỗi quốc gia nằm trong
sự phụ thuộc lẫn nhau Đồng thời với cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại có tốc độ phát triển như vũ bão đã dẫn tới công nghệ sản xuất, trình độ sản xuất, khả năng lao động, trình độ tổ chức và quản lý sản xuất của con người có sự tăng lên đáng kể Điều này cho phép con người có thể rút ngắn các giai đoạn hay các
hình thức công nghệ trong sự phát triển của lực lượng sản xuất
Việt Nam hiện nay đang trong thời kỳ đổi mới đất nước, xây dựng nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó công nghiệp hóa, hiện đại hóa được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, khi mà kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất, cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại tác động sâu rộng tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, xu thế hội nhập và toàn cầu hóa đã đặt ra những điều kiện vật chất và phương tiện kĩ thuật mới tạo cho chúng ta nhiều
cơ hội cũng như thách thức lớn trong quá trình phát triển Trước bối cảnh đó, chúng
ta có thể đi tắt đón đầu rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa bằng cách tham gia hội nhập kinh tế quốc tế Khi tham gia hội nhập chúng ta mới có thể thu hút được vốn, kĩ thuật, công nghệ, kinh nghiệm và phương pháp quản lý tiên tiến,…của các nước để khai thác tiềm năng, thế mạnh của nước ta nhằm hoàn thành
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Thực hiện phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực để xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Chính vì vậy, việc tìm hiểu vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta là một việc làm cần thiết Chính vì lý do này mà nhóm chúng em đã quyết định chọn đề
Trang 8- Phân tích thực trạng của hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam, những thành tựu, hạn chế trong quá trình hội nhập và nguyên nhân của những hạn chế đó
- Bước đầu đưa ra một số giải pháp mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế nhằm
thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
Trang 93
Tiểu luận được nghiên cứu dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin Tư tưởng Hồ Chí Minh và đặc biệt là các quan điểm chủ trương chính sách của Đảng
và nhà nước về vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế
Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, nhóm chúng em sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Bên cạnh đó, nhóm chúng em còn sử dụng các phương pháp khác như phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp điều tra xã hội học
6 Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa lý luận
Làm sáng tỏ vai trò tích cực của hội nhập kinh tế quốc tế và góp phần lý giải
cơ sở khoa học cho việc khẳng định vai trò tích cực của hội nhập kinh tế đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
Tạo cơ sở cho việc nghiên cứu những vấn đề về hội nhập kinh tế quốc tế
Ý nghĩa thực tiễn
Đánh giá đúng thực tiễn hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam và đưa ra một số giải pháp cơ bản mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
Tiểu luận góp phần làm tài liệu tham khảo về vấn đề hội nhập kinh tế quốc
tế của nước ta trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
7 Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
tiểu luận bao gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
kinh tế quốc tế
Chương 2:Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và kết quả đạt được
Chương 3: Nhận xét chung và một số kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả
hội nhập kinh tế quốc tế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 104
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1 Lý luận chung về công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.1.1 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những tri thức văn minh của nhân loại, rút từ
kinh nghiệm tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và từ thực tiễn tiến hành
công nghiệp hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ bảy khóa VI và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng
Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao” [1, tr.281]
Công nghiệp hóa được đề ra từ đại hội Đảng III nhưng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa được chính thức quan tâm và đề ra chủ trương từ Đại Hội VII, VIII Thực chất khi công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa ở nước ta, nó là quá trình tạo
ra những tiền đề vật chất kỹ thuật về con người, công nghệ, phương tiện, phương pháp, những yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất cho chủ nghĩa xã hội
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa chính là quá trình chuyển đổi căn bản toàn
diện các lĩnh vực của đời sống xã hội dựa trên sự vận dụng những tiến bộ của khoa học công nghệ nhằm đưa đất nước từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất, kĩ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, đời sống vật chất tinh thần được nâng cao, quốc phòng
an ninh vững chắc, đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Với việc xác định công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và trong thực tế nhiều năm gần đây chúng ta đã đạt
được nhiều thành tựu đáng kể
Trang 115
1.1.2 Sự cần thiết phải tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Sau năm 1975, cả nước bắt tay vào xây dựng chế độ mới, chế độ xã hội chủ nghĩa, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bắt đầu trên cả nước, nhưng đây cũng là thời kỳ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đứng trước nhiều thách thức và khó khăn lớn
Trong khi yêu cầu của chủ nghĩa xã hội là cần phải có cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại, có nền kinh tế phát triển cao Nhưng do hậu quả của chiến tranh, do cơ chế tập trung quan liêu bao cấp có nhiều bất cập và yếu kém đã làm cho nền kinh
tế không phát triển được, khủng hoảng kinh tế kéo dài và trầm trọng, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, tình hình đó đòi hỏi chúng ta phải tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Sự nghiệp này sẽ là tiền đề, là cách thức, là con đường để đạt tới một nền kinh tế phát triển, đồng thời chính sự nghiệp đó sẽ xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật vững chắc để chúng ta tiến lên chủ nghĩa xã hội Mặt khác, do xuất phát điểm thấp lại là một nước nông nghiệp lạc hậu chậm phát triển,
cơ sở vật chất kĩ thuật thấp kém, trình độ của lực lượng sản xuất chưa phát triển, quan hệ sản xuất mới thiết lập nên chưa được hoàn thiện
Vì vậy công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình tất yếu khách quan để xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật và hoàn thiện quan hệ sản xuất Cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật đang phát triển mạnh mẽ như vũ bão, xu thế giao lưu hội nhập ngày càng phát triển, nhu cầu ứng dụng và chuyển giao công nghệ ngày càng nhiều Khoa học - công nghệ mới ngày càng tinh vi hơn, góp phần vào việc tìm kiếm các vật thể mới, nâng cao năng lực quản lý và lao động của con người Khoa học - công nghệ tham gia vào yếu tố của lực lượng sản xuất góp phần làm phong phú thêm công nghệ sản xuất, nâng cao kỹ năng sản xuất góp phần vào sự phát triển của sản xuất nói riêng và xã hội nói chung Vì thế Việt Nam tất yếu phải tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa để có thể nắm bắt được những cơ hội ứng dụng các thành tựu khoa học – công nghệ tiên tiến trên thế giới góp phần phát triển lực lượng sản xuất và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội
Ngoài ra công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta còn có một số tác dụng lớn đó là:
Trang 126
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa góp phần phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Khi kết thúc thời kỳ quá độ hình thành căn bản nền kinh tế công nghiệp gắn với việc hình thành từng bước quan hệ sản xuất tiến bộ Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội với điểm xuất phát thấp, nền nông nghiệp lạc hậu Vì vậy công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình tạo ra những điều kiện vật chất - kĩ thuật cần thiết về con người và khoa học công nghệ, thúc đẩy chuyển đổi cở cấu kinh tế nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để không ngừng phát triển năng suất lao động xã hội, làm cho nền kinh tế phát triển nhanh, đời sống vật chất tinh thần được nâng cao, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái
- Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo ra cơ sở vật chất - kĩ thuật làm biến đổi về chất lượng sản xuất, nhờ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực - nhân tố trung tâm của sự phát triển kinh tế Đồng thời tạo điều kiện cho việc xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
- Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thúc đẩy sự phân công lao động
xã hội phát triển, thúc đẩy quá trình quy hoạch vùng và lãnh thổ hợp lý hơn theo hướng chuyên canh, tập trung, làm cho quan hệ kinh tế giữa các vùng miền trở nên thống nhất
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển cao trên cơ sở củng cố và phát triển khối liên minh công - nông - trí, góp phần tăng cường sức mạnh quyền lực và hiệu quả bộ máy quản lý kinh tế của nhà nước
- Đồng thời công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn là tiền đề để xây dựng và phát triển, hiện đại hóa nền quốc phòng - an ninh
1.1.3 Quan điểm chỉ đạo của Đảng về quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nghị quyết tại đại hội lần thứ VII của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã
cụ thể hóa thành phần quan điểm chỉ đạo quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như sau:
- Quan điểm thứ nhất, công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải theo định hướng
xã hội chủ nghĩa
Trang 137
- Quan điểm thứ hai, phải giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác
quốc tế đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ với nước ngoài kết hợp kinh tế với quốc phòng an ninh, xây dựng nền kinh tế hướng mạnh sản xuất đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước có hiệu quả
- Quan điểm thứ ba, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân,
của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước là chủ toạ được vận hành theo thị trường có sự quản lý của nhà nước
- Quan điểm thứ tư, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải lồng việc
phát huy nguồn lực con người làm yếu tố căn bản cho sự phát triển nhanh và bền vững.Tăng trưởng kinh tế phải gắn với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hoá giáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường
- Quan điểm thứ năm, coi khoa học công nghệ là nền tảng của công nghiệp
hóa, hiện đại hóa kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ tiên tiến tranh thủ
đi nhanh vào hiện đại ở nhiều khâu quyết định
- Quan điểm thứ sáu, công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải lấy hiệu quả kinh tế
xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản
1.2 Lý luận về hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.1 Khái niệm về hội nhập kinh tế quốc tế
Toàn cầu hóa (Globalization) là thuật ngữ lần đầu tiên xuất hiện trong từ điển tiếng Anh năm 1961 và được sử dụng phổ biến từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ
XX cho đến nay, tức là từ khi làn sóng “Toàn cầu hóa” mới xuất hiện gắn liền với
sự bùng nổ của công nghệ thông tin, nó bao trùm hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống nhân loại Nếu như toàn cầu hóa đặt ra yêu cầu hình thành một quá trình hướng tới sự thống nhất toàn cầu về phát triển thì hội nhập kinh tế quốc tế là sự đáp ứng yêu cầu đó [4, tr.178]
Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế là cặp phạm trù “song sinh”
trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường thế giới Nhưng không phải vì thế mà đồng nhất toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế là một, nếu tiếp cận
Trang 148
theo quan điểm này thì chúng ta sẽ không thể phân biệt được những tác động chung của toàn cầu hóa kinh tế với những tác động rất cụ thể của hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra cho từng quốc gia
Vậy thì hội nhập kinh tế quốc tế là gì? Nó được quan niệm như thế nào?
Có khá nhiều định nghĩa về hội nhập kinh tế quốc tế tùy theo những cách tiếp cận khác nhau, song có thể đưa ra một số định nghĩa tiêu biểu như:
“Hội nhập kinh tế quốc tế là sự tham gia của một nước vào quá trình phân công lao động quốc tế, là một yêu cầu khách quan của quá trình phát triển kinh tế dựa trên sự phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ của khoa học công nghệ”
[5, tr.13]
PGS.TS.Đặng Văn Thanh định nghĩa:
“Hội nhập kinh tế quốc tế về thực chất là quá trình gắn kết nền kinh tế thế giới trên cơ sở tự do hóa nền kinh tế và mở cửa thị trường trong nước” [8, tr.03]
Như vậy hội nhập kinh tế quốc tế chính là quá trình liên kết kinh tế có mục tiêu, định hướng cụ thể gắn với phạm vi, cấp độ cũng như điều kiện cụ thể của mỗi nước
1.2.2 Sự cần thiết phải tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.2.1 Hội nhập kinh tế quốc tế - xu hướng tất yếu của thời đại
Cái quy định xu hướng tất yếu của thời đại ở đây trước hết cần phải nói đó
là sự phát triển như vũ bão của các công nghệ cao đang đưa loài người vào nền kinh tế tri thức
Thế giới ngày nay có những biến đổi rất sâu sắc và mạnh mẽ, trong những thập niên vừa qua công nghệ phát triển nhanh chóng đặc biệt là công nghệ cao như: Công nghệ thông tin, điện tử, phần mềm, công nghệ sinh học mà điển hình là công nghệ gen, nhân bản vô tính,…đã tạo ra sự biến đổi trong toàn bộ xã hội loài người
và đưa con người bước vào thời đại kinh tế tri thức
Nếu như trước đây khoa học công nghệ đóng vai trò tạo ra phương pháp để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất chất lượng và hiệu quả sản xuất thì bây giờ theo tiên đoán của C.Mác là hoàn toàn đúng Khoa học công nghệ đã trực tiếp tạo ra sản phẩm, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và quan trọng hàng
Trang 159
đầu Mà quá trình phát triển của lực lượng sản xuất trải qua ba thời kỳ: Kinh tế nông nghiệp đến kinh tế công nghiệp và sau đó là những yếu tố của nền kinh tế tri thức đang bắt đầu xuất hiện Trong nền kinh tế tri thức ấy thì chiếm đa số là các ngành dựa vào sự phát triển của tri thức, dựa vào thành tựu mới nhất của khoa học
và công nghệ, đó là các ngành: công nghệ thông tin, công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ mới, và cũng có thể là những ngành truyền thống đã được cải tạo bằng khoa học công nghệ cao
Khi kinh tế tri thức phát triển nó tạo ra nhiều tác động làm biến đổi xã hội Trong đó, sự biến đổi về cơ cấu giai cấp trong xã hội là điển hình mà tiêu biểu là giai cấp công nhân - lực lượng chủ yếu tạo ra của cải xã hội và đại diện cho lực lượng sản xuất mới
Bên cạnh đó, xu thế chung của thời đại ngày nay là xu thế hòa bình ổn định, hợp tác, vì sự phát triển và tiến bộ của loài người
- Thứ nhất, một thời kỳ hòa bình, hợp tác và phát triển đã được mở ra sau
khi chiến tranh lạnh kết thúc, các nước chuyển từ đối đầu sang đối thoại, bắt tay nhau cùng hợp tác và phát triển đất nước đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế
- Thứ hai, hiện nay toàn cầu hóa đang là xu thế điển hình bên cạnh những
mặt tích cực nó cũng tạo ra những mặt tiêu cực Các vấn đề toàn cầu xuất hiện và trở thành những vấn đề bức xúc đòi hỏi phải có sự hợp tác của các quốc gia như các vấn đề về: môi trường, dân số, bệnh hiểm nghèo, tệ nạn xã hội, hòa bình an,… Những vấn đề này đòi hỏi toàn nhân loại phải bắt tay nhau, chung sức, chung lòng vượt qua những thách thức ấy, bởi nó không phải là vấn đề riêng của một quốc gia nào mà là những vấn đề mang tính toàn cầu Các quốc gia cần phải có sự hợp tác
để ngày càng có thể tạo dựng được một thế giới hòa bình, ổn định và phát triển
1.2.2.2 Việt Nam có đầy đủ những tiền đề, cơ sở để tham gia hội nhập kinh
tế quốc tế
Về vị trí địa lý, Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương, là vị trí trung tâm
của Châu Á với đường bờ biển kéo dài có tiềm năng về phát triển du lịch biển, thủy sản Do nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa nên nước ta có một hệ sinh thái đa dạng, có nhiều danh lam thắng cảnh và nhiều khu di tích có thế mạnh về du lịch Đồng thời, là nơi án ngữ các đầu mối giao thông quan trọng do đó chúng ta
Trang 1610
có điều kiện thông thương với nhiều quốc gia tên thế giới, trong lục địa và hải đảo
Có nhiều cảng biển có vị trí quan trọng cả về kinh tế lẫn quân sự, và hơn hết là nước ta lại có nguồn tài nguyên phong phú, đây là điều kiện quan trọng để phát triển các ngành kinh tế khác nhau phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Về chính trị, xã hội, ở nước ta có tình hình chính trị, xã hội tương đối ổn
định, là nơi đầu tư an toàn cho các quốc gia vào nước ta kinh doanh, là điểm đến
an toàn bởi chúng ta có một hệ thống chính trị ổn định, một Đảng vững mạnh, một chính quyền luôn lấy lợi ích của nhân dân làm đầu, nhà nước ta là nhà nước của dân do dân và vì dân Ở nước ta không có các hiện tượng xung đột vũ trang như một số khu vực như: Tây Á, Trung Đông, gây lo ngại cho các nhà đầu tư nước ngoài Trong khi đó chúng ta lại nằm trong khu vực được xem là nơi có nền kinh
tế năng động hiện nay, giàu tiềm năng về tự nhiên và con người Chính vì thế, Việt Nam luôn là sự lựa chọn của nhiều nhà đầu tư quốc tế
Về con người, ngày nay lợi thế so sánh của sự phát triển được đánh giá ở trình độ trí tuệ tri thức cao của con người “Chất xám trở thành nguồn vốn lớn và quý giá, là thước đo trình độ phát triển giữa các nước” [8, tr.03] Việt Nam hiện
nay có nguồn nhân lực dồi dào, với hơn 80 triệu dân và là nước có dân số trẻ, tỷ lệ người biết chữ khá cao, lại có truyền thống cần cù thông minh, ham học hỏi, ý chí
tự lực tự cường vươn lên Mặt khác nước ta lại rất coi trọng đến chất lượng đội ngũ cán bộ và công nhân viên, coi sự phát triển con người là nhiệm vụ trung tâm, giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu So với các nước có thu nhập như ta, chúng ta có một đội ngũ tri thức tương đối lớn, đã có lực lượng lao động trí tuệ cao - chủ thể đi đầu thực hiện nhiệm vụ quan trọng như lựa chọn, tiếp thu, làm chủ, thích nghi và sáng tạo công nghệ mới Hơn nữa chúng ta đang có một chiến lược giáo dục đào tạo đúng đắn: Nâng cao dân trí đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài nhằm tạo nên một năng lực nội sinh to lớn cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đồng thời, Việt Nam có lợi thế của một nước đi sau, điều đó tạo điều kiện cho chúng ta đi tắt đón đầu tiếp thu kinh nghiệm và rút kinh nghiệm từ các nước đi trước, học hỏi kinh nghiệm của họ, tranh thủ được những thời cơ và tránh được những sai lầm, rút ngắn được công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời kỳ quá độ
Trang 1711
Như vậy, những điều kiện trong nước nêu trên là những khả năng thực tế do hiện thực sinh ra Nó còn đang ở dạng tiềm thế, nó sẽ trở thành hiện thực khi có điều kiện phù hợp tức là cần phải kết hợp với sức mạnh ngoại lực Không nên bỏ qua những cơ hội đó Việt Nam cần phải tham gia hội nhập với nền kinh tế thế giới để tận dụng được những mặt tích cực của quá trình hội nhập để đat được mục tiêu phát triển đất nước
1.2.3 Quan điểm chỉ đạo của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế
Nhận thấy được tầm quan trọng cũng như tính cấp thiết của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, ngay từ Đại hội VI Đảng ta cho rằng: Gắn thị trường trong nước và xuất khẩu, có chính sách bảo vệ sản xuất nội địa Tại Đại hội VII đã đưa
ra luận điểm mang tính chỉ đạo tổng quát cho việc thực hiện chính sách mở cửa:
“Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, phấn đấu vì hòa bình độc lập và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế với tất cả các quốc gia, tất cả các tổ chức kinh tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi” [1, tr.147] Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) cũng đã
đưa ra và cụ thể hóa quan điểm của đại hội VII như sau: xây dựng một nền kinh tế
mở, hội nhập khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu,…điều chỉnh cơ cấu thị trường để vừa hội nhập khu vực, vừa hội nhập toàn cầu, xử lý đúng đắn lợi ích giữa ta và các đối tác Chủ động tham gia thương mại thế giới các diễn đàn, các tổ chức, các định chế quốc tế một cách có chọn lọc, với bước đi thích hợp Hội nhập kinh tế quốc tế tuy là xu hướng tất yếu khách quan nhưng nó sẽ không thể có được nếu như ta đóng cửa Do đó, chúng ta phải chủ động hội nhập xây dựng một nền kinh tế tự chủ trên cơ sở học tập kinh nghiệm các nước đi trước, mở rộng quan hệ hợp tác song phương và đa phương, để từng bước đưa đất nước xây dựng thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Từ việc nhận thức đó các Đại hội
lần thứ IX, X của Đảng ta đã phát triển những quan điểm trên lên một tầm cao mới:
“Thực hiện nhất quán đường lối độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại mở đa dạng hóa, đa phương hóa các mối quan hệ quốc tế, đưa quan hệ quốc tế song phương …” [1, tr.203]
Trang 1812
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần XI của Đảng ta đã đề ra đề ra đường lối đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới, trong đó có chủ trương rất
quan trọng là “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” [2, tr.204] Theo đó, Việt
Nam chuyển sang hội nhập toàn diện với hội nhập kinh tế quốc tế là nội dung quan trọng nhất, như được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 22 – NQ/TW ngày 10 tháng
04 năm 2013 của Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam về hội nhập kinh tế quốc
tế: “Hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy phát triển văn hóa, xã hội; hội nhập trong các lĩnh vực phải được thực hiện đồng bộ trong một chiến lược hội nhập quốc tế tổng thể với lộ trình, bước đi phù hợp với điều kiện thực tế và năng lực của đất nước”
Tại Đại hội Đảng lần thứ XII được diễn ra từ ngày 20 đến 28/01/2016, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ phương hướng phát triển nước ta theo xu hướng hội
nhập quốc tế một cách rõ rang cụ thể như sau : “Triển khai mạnh mẽ định hướng chiến lược chủ động và tích cực hội nhập quốc tế Bảo đảm hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và cả hệ thống chính trị, đẩy mạnh hội nhập trên cơ sở phát huy tối đa nội lực, gắn kết chặt chẽ và thúc đẩy quá trình nâng cao sức mạnh tổng hợp, năng lực cạnh tranh của đất nước; hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế; hội nhập là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, chủ động dự báo, xử lý linh hoạt mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu, bất lợi”[3, tr 154-155] Trong đó, Đảng ta
đã nêu rõ mục tiêu thực hiện tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, nhằm tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý, đảm bảo phát triển nhanh chóng và bền vững, hòa nhập chứ không phải hòa tan
Trang 19
13
Chương 2 VAI TRÒ CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC
VÀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 2.1 Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nươc
2.1.1 Hội nhập kinh tế quốc tế góp phần khơi thông, huy động và phân bố
có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đối với nguồn vốn trực tiếp (FDI): FDI giữ vai trò trọng yếu trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Trước hết đây sẽ là nguồn vốn bù đắp vào tình trạng thiếu vốn nghiêm trọng của Việt Nam khi bắt đầu quá trình công nghiệp hóa Hơn nữa, đây là dạng đầu tư
an toàn không gây nợ, ít hậu quả tiêu cực do FDI là dòng vốn dài hạn, không dễ bị rút ồ ạt trước thay đổi đột ngột về kinh tế và chính trị Nhưng điều quan trọng nhất
là FDI tác động lên tăng trưởng kinh tế nhờ làm tăng và thay đổi các yếu tố đầu vào cùng với vốn là công nghệ mới, kỹ năng quản lý, tiếp thị, … tạo điều kiện mở rộng thị trường xuất, nhập khẩu, khai thác được lợi thế so sánh, và cuối cùng, thông qua cải biến năng suất lao động cũng như năng suất tổng các nhân tố, đã làm tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế
Hội nhập về kinh tế nước ta có điều kiện giao lưu về kinh tế với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, họ biết đến nước ta và những lợi thế vốn có của nước ta nên sẽ muốn tìm kiếm nơi đầu tư, việc tìm kiếm đầu tư của những nhà đầu
tư nước ngoài là cơ hội tốt để chúng ta phát huy lợi thế của mình thu hút đầu tư nước ngoài đặc biệt là về nguồn vốn Trong nhiều năm gần đây, nhận thức được
vai trò của nguồn vốn đầu tư nước ngoài, và nhờ những nỗ lực quan trọng của
chính phủ Việt Nam trong việc cải thiện môi trường đầu tư, nhất là từ khi “Luật đầu tư nước ngoài” được sửa đổi các nhà đầu tư có cơ hội đầu tư vào Việt Nam
qua đó mà FDI vào Việt Nam không ngừng tăng lên Mặc dầu chiếm tỷ trọng
không cao nhưng nó đã có đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 2014
Bên cạnh đó, FDI còn đóng góp một phần quan trọng vào việc tạo ra giá trị công nghiệp, đẩy nhanh quá trình tăng sản lượng công nghiệp, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa Khu vực FDI đã có đóng góp tới gần 56.7% giá trị sản lượng công nghiệp giai đoạn (2017 - 2018) [6], tức là tương đương với giá trị sản lượng công nghiệp của khu vực nhà nước Đồng thời khu vực FDI có tốc độ tăng giá trị sản lượng công nghiệp nhanh hơn nhiều các khu vực khác của nền kinh tế Khu vực này là động lực chính làm cho sản lượng toàn ngành công nghiệp tăng
hai chữ số trong đầu những năm 2000 khi mà “Luật doanh nghiệp” ra đời
Mặt khác, do chủ thể của FDI là các công ty xuyên quốc gia nên sự hiện diện của dòng vốn này đồng thời là quá trình đẩy nhanh sự phát triển của các ngành dựa trên công nghệ tiên tiến, thúc đẩy quá trình hiện đại hóa và tạo điều kiện cho công nghiệp hóa rút ngắn Khi vào một thị trường mới, FDI luôn gắn liền với áp dụng công nghệ mới, thực hiện chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý
từ các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường nội địa để đảm bảo tính cạnh tranh cao Do đó, khu vực FDI là khu vực tạo ra một động lực mạnh mẽ để hiện đại hóa công nghệ, áp dụng phương pháp và phương tiện sản xuất tiên tiến nâng cao hàm lượng công nghệ mới trong sản phẩm FDI hiện gần như đóng vai trò quyết định cho sự phát triển những ngành dựa trên công nghệ cao ở Việt Nam
FDI còn có nhiều đóng góp quan trọng trong việc hình thành nhiều ngành kinh tế, như khai thác, lọc hóa dầu thô, ôtô, xe máy, xi măng, sắt thép, thực phẩm, thức ăn gia súc cũng như góp phần hình thành một số khu đô thị hiện đại như Phú
Mỹ Hưng, Nam Thăng Long, nhiều khách sạn 4 - 5 sao, khu nghỉ dưỡng cao cấp, văn phòng cho thuê, Lĩnh vực dịch vụ tài chính, bảo hiểm, ngân hàng, bán buôn, bán lẻ đã du nhập phương thức kinh doanh hiện đại công nghệ tiên tiến, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của các tầng lớp dân cư
Như vậy, FDI giữ vai trò đáng kể trong GDP của cả nước và góp phần nâng cao mức tăng trưởng chung của nền kinh tế và dĩ nhiên góp phần thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa Sự tăng nhanh và liên tục của phần đóng góp của khu vực FDI đối với nền kinh tế đã góp phần tạo ra những tiền đề quan trọng cho tăng trưởng liên tục, đảm bảo được tính bền vững của tăng trưởng
Đối với vốn đầu tư nước ngoài gián tiếp (ODA):