Nghiên cứu dư luận xã hội về hoạt động của Quốc hội xuất phát từ nhu cầu nhận thức khoa học về mối quan hệ giữa các nghị quyết chủ trương và hiệu quả thực tế từ hoạt động của Quốc hội với ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Đây là cách làm cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Ở nước ta hiện nay, việc nghiên cứu dư luận xã hội nhằm phục vụ cho hoạt động Quốc hội từng bước được quan tâm hơn. Trong những năm gần đây, báo chí truyền thông đã tuyên truyền phản ánh rất nhiều thông tin chính sách của các kỳ họp Quốc hội, cũng như đưa tin đầy đủ về các phiên điều trần, chất vấn của cử tri, bằng nhiều hình thức báo chí, qua nhiều kênh truyền tải khác nhau. Đồng thời báo chí truyền thông cũng là diễn đàn thể hiện ý chí tâm tư nguyện vọng của người dân với các chính sách, dự thảo, nghị quyết mà Quốc hội ban hành. Đảng và Nhà nước đã công nhận vai trò của truyền thông, báo chí trong hoạt động Quốc hội – vai trò không thể thay thế được trong việc hình thành và thể hiện dư luận xã hội, tạo nên những lợi ích to lớn trong việc ban hành, triển khai phổ biến, giám sát và ghi nhận hiệu quả của các chính sách nhà nước. Và đến lượt mình, dư luận xã hội lại có tác động rất lớn trong việc điều hòa các mối quan hệ xã hội, trong việc kiểm soát xã hội, tạo hiệu quả cao cho hoạt động Quốc hội. Làm rõ mối quan hệ giữa báo chí truyền thông với dư luận xã hội cũng như vai trò của báo chí truyền thông trong hoạt động Quốc hội với cử tri – nhìn từ góc độ dư luận xã hội – là một hướng tiếp cận để có thể phân tích cơ chế tác động, sức mạnh của truyền thông báo chí và rút ra những bài học kinh nghiệm có ý nghĩa thực tiễn trong hoạt động truyền thông cho Quốc hội cũng như trong công tác tư tưởng và công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Với những lý do trên, tác giả xin chọn đề tài “Mối quan hệ báo chí truyền thông và dư luận xã hội thông qua hoạt động của Quốc hội với cử tri” để kết thúc học phần.
Trang 1MỤC LỤC
Trang
1.2 Mối quan hệ giữa báo chí - truyền thông và dư luận xã hội 6
2 Mối quan hệ giữa báo chí - truyền thông và dư luận xã hội
thông qua hoạt động của Quốc hội với cử tri
8
2.1 Dư luận xã hội được hình thành và thể hiện công khai qua các
chương trình truyền hình trực tiếp, tin bài về hoạt động của Quốc
hội với cử tri
8
2.2 Các phương tiện báo chí - truyền thông còn là diễn đàn của
mọi tầng lớp nhân dân, là kênh để qua đó người dân có thể bày tỏ
các quan điểm, phát biểu ý kiến đề xuất, các vấn đề cần bổ sung,
hoàn thiện trong mọi mặt đời sống xã hội
12
2.3 Dư luận xã hội cũng có sự tác động ngược trở lại báo chí
-truyền thông
13
3 Giải pháp nhằm nâng cao vai trò hình thành và thể hiện dư
luận xã hội của báo chí - truyền thông trong hoạt động Quốc hội
với cử tri
15
Trang 2MỞ ĐẦU
Nghiên cứu dư luận xã hội về hoạt động của Quốc hội xuất phát từ nhu cầu nhận thức khoa học về mối quan hệ giữa các nghị quyết chủ trương và hiệu quả thực tế từ hoạt động của Quốc hội với ý chí, nguyện vọng của nhân dân Đây là cách làm cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội Ở nước ta hiện nay, việc nghiên cứu dư luận xã hội nhằm phục vụ cho hoạt động Quốc hội từng bước được quan tâm hơn
Trong những năm gần đây, báo chí - truyền thông đã tuyên truyền phản ánh rất nhiều thông tin chính sách của các kỳ họp Quốc hội, cũng như đưa tin đầy đủ
về các phiên điều trần, chất vấn của cử tri, bằng nhiều hình thức báo chí, qua nhiều kênh truyền tải khác nhau Đồng thời báo chí - truyền thông cũng là diễn đàn thể hiện ý chí tâm tư nguyện vọng của người dân với các chính sách, dự thảo, nghị quyết mà Quốc hội ban hành
Đảng và Nhà nước đã công nhận vai trò của truyền thông, báo chí trong hoạt động Quốc hội – vai trò không thể thay thế được trong việc hình thành và thể hiện dư luận xã hội, tạo nên những lợi ích to lớn trong việc ban hành, triển khai phổ biến, giám sát và ghi nhận hiệu quả của các chính sách nhà nước Và đến lượt mình, dư luận xã hội lại có tác động rất lớn trong việc điều hòa các mối quan hệ xã hội, trong việc kiểm soát xã hội, tạo hiệu quả cao cho hoạt động Quốc hội
Làm rõ mối quan hệ giữa báo chí - truyền thông với dư luận xã hội cũng như vai trò của báo chí - truyền thông trong hoạt động Quốc hội với cử tri – nhìn
từ góc độ dư luận xã hội – là một hướng tiếp cận để có thể phân tích cơ chế tác động, sức mạnh của truyền thông báo chí và rút ra những bài học kinh nghiệm
có ý nghĩa thực tiễn trong hoạt động truyền thông cho Quốc hội cũng như trong công tác tư tưởng và công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Với những lý do trên, tác giả xin chọn đề tài “Mối quan hệ báo chí -truyền thông và dư luận xã hội thông qua hoạt động của Quốc hội với cử tri”
để kết thúc học phần
Trang 3NỘI DUNG
1 Một số vấn đề lý luận cơ bản
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm dư luận xã hội
Cho đến nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về dư luận xã hội Dư luận xã hội có gốc chữ dịch theo tiếng Anh là Public Opinion: “Public”: Công chúng, công khai; “Opinion”: ý kiến, quan điểm
B.K.Paderin - nhà nghiên cứu dư luận xã hội người Nga, đã đưa ra định nghĩa như sau: “Dư luận xã hội là tổng thể các ý kiến, trong đó chủ yếu là các ý kiến thể hiện sự phán xét đánh giá, sự nhận định (bằng lời hoặc không bằng lời)
về ý nghĩa của các thực tại, quá trình, hiện tượng, sự kiện đối với các thể chế, giai cấp xã hội nói chung và thái độ công khai hoặc che đậy của các nhóm xã hội lớn nhỏ đối với các vấn đề của đời sống xã hội có liên quan đến lợi ích chung của họ”
A.K.Ulêđốp - một nhà nghiên cứu dư luận xã hội người Nga khác, thì dư luận xã hội là “sự phán xét thể hiện sự đánh giá và thái độ của mọi người đối với các hiện tượng của đời sống xã hội”
Các học giả trong nước cũng đưa ra một số quan niệm về dư luận xã hội Theo quan điểm của Trung tâm Nghiên cứu dư luận xã hội thuộc Ban Tư tưởng
- Văn hoá Trung ương thì “Dư luận xã hội là tập hợp các luồng ý kiến cá nhân trước các vấn đề, sự kiện, hiện tượng có tính thời sự” Theo Lương Khắc Hiếu:
“Dư luận xã hội là sự biểu hiện trạng thái ý thức xã hội của một cộng đồng người nào đó, là sự phán xét, đánh giá của đại đa số trong cộng đồng người đối với các sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội có liên quan đến nhu cầu, lợi ích của của họ trong một thời điểm nhất định
Các nhà nghiên cứu dư luận xã hội đều tập trung vào một số đặc điểm chung nhất của khái niệm dư luận xã hội sau:
Thứ nhất, dư luận xã hội là tập hợp những ý kiến, quan điểm, thái độ mang tính phán xét đánh giá của số đông người trước một thực tại xã hội nhất định
Trang 4Thứ hai, sự phán xét đánh giá đó chỉ nảy sinh những vấn đề xã hội mang tính thời sự, và đặc biệt liên quan đến lợi ích chung của các nhóm xã hội, cộng đồng xã hội
Thứ ba, vấn đề mang tính thời sự đó phải thu hút sự quan tâm, chú ý của số đông người
Chúng tôi định nghĩa dư luận xã hội như sau: dư luận xã hội là sự đánh giá, tâm trạng và thái độ của các nhóm xã hội lớn, của nhân dân nói chung về các hiện tượng, sự kiện có liên quan đến lợi ích, giá trị vật chất tinh thần và quan hệ
xã hội mà họ quan tâm
Khách thể và chủ thể của dư luận xã hội
Khách thể của dư luận xã hội là những sự kiện trong đời sống xã hội Do lợi ích chung là cơ sở hình thành các tranh luận tập thể, nên nó được xem là một tiêu chuẩn quan trọng để xác định khách thể dư luận xã hội Bên cạnh đó, một dấu hiệu nữa để xem xét khách thể của dư luận xã hội là thảo luận Thông qua quá trình thảo luận về các lợi ích xã hội mà mọi người có cùng quan tâm, ý kiến tập thể được hình thành
Chủ thể của dư luận xã hội là toàn thể xã hội nói chung, là quần chúng nhân dân, là các nhóm, các tầng lớp xã hội khác nhau Khi xem xét dư luận xã hội, người ta không chỉ đặt nó trong cấu trúc ý thức xã hội nói chung, mà phải phân tích nó trong cấu trúc các quan hệ xã hội vì bản chất của dư luận xã hội phản ánh vị thế xã hội của các nhóm xã hội được tạo nên bởi các quan hệ xã hội
và các lợi ích của họ
1.1.2 Khái niệm báo chí - truyền thông
Báo chí là một trong những phương tiện thông tin được nhiều người sử dụng nhất hiện nay vì lợi ích và sự tiện ích mà báo chí mang lại Đây là phương tiện thông tin đại chúng phải có sự cấp phép của các lãnh đạo, cơ quan có thẩm quyền thì mới được hoạt động chính thức Báo chí có nhiệm vụ cung cấp, truyền tải thông tin một cách nhanh chóng, chính xác nhất, đầy đủ nhất đến với công chúng, đây đều là những thông tin có ý nghĩa thúc đẩy đời sống thực tiễn của công chúng trở nên tích cực hơn
Trang 5Có rất nhiều khái niệm khác nhau về báo chí, nhưng ở đây chúng ta có thể hiểu: Báo chí là hoạt động thông tin - giao tiếp xã hội trên quy mô rộng lớn là phương tiện diễn đạt, chia sẻ thông tin giữa các chủ thể khác nhau trong xã hội,
là một bộ phận của truyền thông đại chúng nhưng là bộ phận chủ đạo chiếm vị trí trung tâm, có khả năng quyết định tính chất, khuynh hướng, chi phối năng lực
và hiệu quả tác động của truyền thông đại chúng
Báo chí thường có 5 chức năng quan trọng: Chức năng kinh doanh - dịch
vụ, chức năng tư tưởng (một trong những chức năng quan trọng đặc biệt của báo chí, có liên quan mật thiết đến vấn đề dư luận xã hội), chức năng giám sát quản
lý xã hội, chức năng thông tin, chức năng văn hóa - giáo dục - giải trí
Khái niệm truyền thông được hiểu là quá trình trao đổi thông tin, tương tác thông tin với nhau giữa hai hoặc nhiều người với nhau tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức Khái niệm truyền thông còn được hiểu là sản phẩm của con người, là động lực kích thích sự phát triển của xã hội
Tùy theo mục đích và phương pháp nghiên cứu mà các nhà khoa học có thể đưa ra định nghĩa khác nhau về truyền thông Theo Thomas L.Friedman – thế giới hiện nay đang “phẳng” hơn, một phần do hoạt động truyền thông của con người mang lại Truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau Theo Trần Hữu Quang:
“truyền thông là một quá trình truyền đạt thông tin”
Như vậy, “Truyền thông là hoạt động có ý thức của con người Đó là quá trình trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng bằng một hệ thống ký hiệu đã quy ước nhằm tạo sự kết nối với nhau để có thể dẫn tới những hiểu biết chung, hoặc giảm thiểu sự khác biệt trong nhận thức để qua đó có sự điều chỉnh thay đổi trong nhận thức, thái độ và hành vi”
1.1.3 Khái niệm Quốc hội
Quốc hội xuất hiện từ khi xuất hiện nhà nước tư sản Tiếng Anh gọi là Congress Trong nhà nước tư sản, với nguyên tắc "tam quyền phân lập" quốc hội
là cơ quan nắm quyền lập pháp; là cơ quan làm viạ„ theo chế độ hội nghị và biểu quyết theo đa số, vì vậy quốc hội còn gọi là nghị viện Phần lớn quốc hội của
Trang 6các nước tư bản được chia làm hai viện Ịa thượng nghị viện (hay còn gọi là viện nguyên lão) và hạ nghị viện (hay viện dân biểu) Tuy nhiên, cũng có một số nước theo chế độ một viện như Phần Lan, Thuy Điển, Na Uy
Quốc hội theo nghĩa Hán Việt là đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc hay còn gọi là quốc dân đại hội Quốc hội đầu tiên của Việt Nam được ra đời trên cơ
sở của cuộc tổng tuyển cử ngày 6.1.1946, Tiền thân của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Quốc dân đại hội Tân Trào (tháng 8 năm 1945) Từ năm 1946 đến nay, đã qua 11 lần bầu cử quốc hội và Quốc hội hiện nay là Quốc hội khoá XI
Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam do cử tri cả nước trực tiếp bầu ra theo các nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín Quốc hội có nhiệm kì là 5 năm
Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp
Quốc hội quyết định các chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm
vụ kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, các nguyên tắc chủ yếu về
tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân
Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước
Quốc hội vừa mang chủ quyền nhà nước vừa mang chủ quyền của nhân dân Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:
1) Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, làm luật và sửa đổi luật, quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh;
2) Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo hoạt động của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; 3) Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;
4) Quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách nhà nước trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước, quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế;
Trang 75) Quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;
6) Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và chính quyền địa phương;
7) Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước; Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các uỷ viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc
bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh; bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn;
8) Quyết định thành lập, bãi bỏ các bộ và cơ quan ngang bộ của Chính phủ, thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thành lập hoặc giải tán đơn vị hành chính - kính tế đặc biệt
9) Bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội;
10) Quyết định đại xá;
11) Quyết định hàm, cấp trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm cấp ngoại giao và những hàm, cấp nhà nước khác, quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước,
12) Quyết định vấn đề về chiến tranh-và hoà bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia; 13) Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại, phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp kí Phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điểu ước quốc tế khác đã được kí kết hoặc gia nhập theo để nghị của Chủ tịch nước;
14) Quyết định việc trưng cầu ý dân
1.2 Mối quan hệ giữa báo chí - truyền thông và dư luận xã hội
Trang 8Báo chí - truyền thông chính là chủ thể khơi nguồn dư luận xã hội
Báo chí - truyền thông và dư luận xã hội lấy nguồn tin chính thức đều từ các vấn đề tồn tại trong xã hội Các vấn đề ấy khi được phản ánh trên báo chí, truyền thông sẽ trở thành vấn đề được cả xã hội quan tâm Bên cạnh những vấn
đề mang tính tích cực, cần sự ảnh hưởng của báo chí - truyền thông để giúp công chúng nhìn nhận rõ vấn đề, tránh những suy nghĩ lệch lạc thì những vấn đề tiêu cực trong xã hội cũng cần được báo chí quan tâm làm rõ Ai cũng nói dư luận xã hội rất nguy hiểm và đối tượng châm ngòi cho dư luận xã hội chính là báo chí -truyền thông Chính vì vậy báo chí - -truyền thông phải luôn cẩn trọng trong việc tiếp nhận thông tin và truyền tải thông tin đến với công chúng
Dư luận xã hội chính là đối tượng phản ánh của báo chí - truyền thông
Công chúng thể hiện thái độ, tình cảm, tư tưởng qua dư luận xã hội, bằng những vấn đề cụ thể Thái độ đó của công chúng chính là đối tượng phản ánh của báo chí - truyền thông Nhờ có báo chí - truyền thông thì vấn đề mới được nhiều người biết đến, tạo nên làn sóng dư luận mạnh mẽ có khả năng giải quyết được rất nhiều vấn đề Ví dụ như công chúng bất bình trước việc chiếm dụng đất công của một số công ty, tuy nhiên phản ứng của công chúng lại không có sức ảnh hưởng nhiều, phải nhờ đến báo chí - truyền thông vào cuộc, thể hiện thái độ rõ ràng trên mặt báo,các phương tiện thông tin thu hút được sự chú ý của nhiều người hơn nữa thì vấn đề của một bộ phận công chúng kia mới có thể giải quyết được
Báo chí - truyền thông định hướng dư luận xã hội
Báo chí - truyền thông và dư luận xã hội đều là đối tượng phản ánh của nhau và báo chí - truyền thông cũng mang tính định hướng cho sự phát triển của
dư luận xã hội Nhận thức của công chúng phụ thuộc một phần lớn vào báo chí -truyền thông Những thông tin mà các tờ báo, phương tiện -truyền thông đăng tải
sẽ giúp công chúng nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, chính xác, rõ ràng hơn Công chúng sẽ không bị ảnh hưởng, tác động bởi những luồng thông tin xấu, gẫy nhiều loạn lòng tin
Trang 9Cơ chế tác động của báo chí - truyền thông vào dư luận xã hội
Qua hai con đường lý và tình cảm, công chúng tiếp nhận báo chí - truyền thông Trước mỗi thông tin, công chúng có cách nhìn nhận vấn đề, quan sát vấn
đề và hành động theo cách riêng của bản thân mình để phù hợp với nguồn thông tin mà mình mới được tiếp nhận Chính vì vậy báo chí - truyền thông mới đòi hỏi sự chính xác cao trong từng thông tin và thông tin không được loãng mà phải có ý nghĩa truyền tải thông điệp cụ thể nào đó đến với công chúng
Định hướng báo chí - truyền thông và dư luận xã hội hiện nay ở nước ta cần phải quan tâm đến ba mục tiêu cấp thiết:
- Giúp độc giả, công chúng đón nhận thông tin phải có nhận thực đúng đắn, không lệch lạc, hiểu sai
- Công chúng, độc giả sau khi tiếp nhận thông tin phải có thái độ nhìn nhận phù hợp với đặc điểm của hiện tượng xã hội cụ thể
- Công chúng phải hình thành, tổng hợp được hành vi phát ngôn hợp lý đối với hiện tượng, sự kiện mà mình tiếp nhận thông tin từ phía báo chí
Như vậy mối quan hệ giữa báo chí - truyền thông và công chúng trong quá trình hình thành và thể hiện dư luận xã hội mang tính chất biện chứng Các phương tiện báo chí - truyền thông không chỉ tạo nên dư luận xã hội, thông tin nhằm thỏa mãn tối đa những nhu cầu ngày càng tăng của công chúng mà đến lượt nó, dư luận xã hội cũng sẽ tác động ngược trở lại với báo chí - truyền thông
và đặt ra các yêu cầu mới đối với hoạt động của hệ thống này Sự trưởng thành trong mối quan hệ ấy thể hiện tính tích cực chính trị xã hội của bản thân hệ thống báo chí và của công chúng báo chí
2 Mối quan hệ giữa báo chí - truyền thông và dư luận xã hội thông qua hoạt động của Quốc hội với cử tri
2.1 Dư luận xã hội được hình thànhvà thể hiện công khai qua các chương trình truyền hình trực tiếp, tin bài về các hoạt động Quốc hội với cử tri
Trang 10Bằng quan sát có thể nhận thấy các phương tiện báo chí - truyền thông ngày càng có vai trò quan trọng trong việc tạo nên dư luận xã hội về các hoạt động của Quốc hội Trước các kỳ họp Quốc hội, hệ thống này đã kịp thời thông báo cho cử tri những nội dung cơ bản sẽ được Quốc hội thảo luận và quyết nghị Trong khi Quốc hội họp, hệ thống báo chí - truyền thông luôn dành số trang in
và số lượng phát sóng cần thiết để đưa tin, bài và đăng các phỏng vấn về các diễn biến trong các kỳ họp của Quốc hội
Phải kể đến việc Đài Truyền hình Việt Nam đã tổ chức truyền hình trực tiếp các phiên họp Quốc hội, các phiên chất vấn các thành viên Chính phủ về những vấn đề bức xúc liên quan đến lợi ích xã hội của đông đảo cử tri Bên cạnh
đó còn xây dựng một số chương trình như: “Dân hỏi bộ trưởng trả lời” (VTV1) hay chương trình “Nói và làm” (HTV9) Các chương trình này nhận được sự cổ
vũ và đánh giá cao của khán giả và cử tri cả nước, tạo không khí công khai, dân chủ cho các buổi chất vấn, góp phần làm cho người dân hiểu và gần gũi hơn với những hoạt động của Chính phủ và Quốc hội đối với công việc điều hành đất nước Sau khi Quốc hội họp, báo chí - truyền thông lại tham gia vào hoạt động kiểm soát xã hội bằng cách cung cấp thông tin và bình luận về hiệu quả thực tế của các vấn đề đã được thảo luận và quyết nghị ở diễn đàn Quốc hội
Từ khi báo chí - truyền thông đối với hoạt động Quốc hội được mở rộng, đặc biệt các phiên truyền hình trực tiếp ngày càng tăng lên về số lượng cũng như thời lượng, rõ ràng hiệu quả, chất lượng hoạt động của Quốc hội đã có những bước tiến vượt bậc, được cử tri cả nước ghi nhận Với vai trò là cầu nối, dễ nhận thấy rất nhiều thông tin từ báo chí - truyền thông, công luận đã được các đại biểu đưa vào nghị trường, vì thực chất đó là những phản ánh sinh động từ mọi mặt cuộc sống của người dân Từ các vấn đề vĩ mô về kinh tế, xã hội, quốc phòng,
an ninh, công tác tư pháp… cho đến từng vấn đề cụ thể như: thủy điện xả lũ, người dân đu dây qua sông, ngồi túi ni lông qua sông, về tài sản của một quan chức cụ thể, những vụ án oan sai, giá cả xăng dầu, điện, sữa… đều được đại biểu tiếp nhận và kiểm chứng từ báo chí, đưa vào từng nội dung tương ứng của các phiên họp