LỜI MỞ ĐẦU1.Tính cấp thiết của đề tài Xuất khẩu đã được thừa nhận là một trong những động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cài thiện đời s
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Xuất khẩu đã được thừa nhận là một trong những động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh
tế, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cài thiện đời sống nhân dân, đồng thời là cơ
sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của một quốc gia Vai trò to lớn ấyngày càng khẳng định và được quan tâm hơn khi nước ta đã và đang thực hiện chiến lược
mở cửa, hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu tuy nhiên khi chúng ta còn đang mở cửa thìthị trường thế giới đã dần đi vào ổn định khiến cho thị trường xuất khẩu gặp nhiều khó khăn.Làm thế nào để xuất khẩu Việt Nam có thể hội nhập và có chỗ đững vững chắc thật không
dễ dàng Vì thế việc hình thành chính sách, biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu là điều quantrọng Vậy nhà nước ta đã có những chính sách khuyến khích xuất khẩu như thế nào, đặcbiệt trong giai đoạn gần đây khi mà nước ta đã và đang hội nhập kinh tế với dấu ấn trở thànhthành viên WTO, đồng thời trải qua những diễn biến quan trọng của nền kinh tế thế giới nhưkhủng hoảng 2008? Vì tính cấp thiết này điều này mà nhóm chúng em đã lựa chọn đề tài :
“Phân tích chính sách khuyến khích xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2005-2011” 2.Mục đích của tiểu luận
Chúng em nghiên cứu đề tài này nhằm củng cố một phần kiến thức về phương diệnchính sách ngoại thương nói chung và chính sách khuyến khích xuất khẩu nói riêng Thêmvào đó, chúng em mong muốn sẽ có những hiểu biết sâu hơn về những chính sách thực tế
ấy của nhà nước bởi nó có ý nghĩa quan trọng đối với bất kì người học và làm kinh tế nào
3.Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong tiểu luận này là :
Phương pháp thu thập, xử lý số liệu
Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu
4.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Tiểu luận này nghiên cứu về chính sách khuyến khích xuất khẩu, một nội dung của chínhsách thương mại quốc tế Những chính sách ấy chỉ được phân tích trong một giai đoạn là từ
Trang 2năm 2005 đến năm 2011 của nhà nước Việt Nam Đó sẽ là những chính sách chung chứkhông riêng biệt về bất kì mặt hàng hay thị trường nào cả.
5.Kết cấu của tiểu luận
Chương I: Lý thuyết chính sách ngoại thương
Chương II: Phân tích chính sách khuyến khích xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2011
2005-Em xin cảm ơn cô Nguyễn Xuân Nữ đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ cho chúng em đểchúng em có thể hoàn thiện tiểu luận này Khi nghiên cứu đề tài này chúng em đã rất cốgắng nhưng đây là đề tài khá rộng cùng với năng lực hữu hạn nên không thể tránh khỏinhững thiếu sót, sai lầm Vì thế chúng em mong nhận được sự góp ý của cô và bạn đọc quantâm
Chúng em xin chân thành cảm ơn! Nhóm sinh viên
Trang 3CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG 1.Khái niệm
Thương mại quốc tế, theo nghĩa hẹp là quá trình mua bán, trao đổi hàng hóa dịch vụ giữacác doanh nghiệp ở các quốc gia với nhau, gồm hoạt động xuất- nhập khẩu còn theo nghĩarộng thì nó là tất cả các hoạt động kinh doanh thương mại nhằm mục đích lợi nhuận giữachủ thể các nước với nhau như bảo hiểm, vận tải, đầu tư…
Theo đó, chính sách ngoại thương hay còn gọi là chính sách thương mại quốc tế là một
hệ thống những nguyên tắc, luật lệ, quy định và biện pháp hành chính kinh tế liên quan đếnhoạt động thương mại quốc tế mà mỗi chính phủ quốc gia áp dụng để thực hiện mục tiêuchiến lược kinh tế xã hội của quốc gia đó Đây là một bộ phận của chính sách kinh tế đốingoại nằm trong hệ thống chính sách kinh tế- xã hội của Nhà nước Nó có mối quan hệ chặtchẽ và phục vụ cho sự phát triển kinh tế đất nước
Chính sách này gồm các yếu tố cấu thành như thuế, mặt hàng, xuất khẩu, nhập khẩu,thương nhân…
2.Nội dung của chính sách ngoại thương
Ngoại thương gồm hoạt động xuất nhập khẩu cho nên chính sách ngoại thương cũngxoay quanh những nội dung ấy Đó là các cơ chế, công cụ quản lý xuất nhập khẩu, chínhsách nhập khẩu và chính sách xuất khẩu Trong mỗi nội dung ấy lại bao hàm các yếu tố nhỏhơn như là thuế xuất nhập khẩu, hạn ngạch xuất nhập khẩu, giấy phép xuất nhập khẩu haycác chính sách tỷ giá- kiểm soát ngoại tệ…
3.Căn cứ xây dựng chính sách ngoại thương
3.1 Căn cứ khách quan
Căn cứ khách quan được hiểu là những yếu tố bên ngoài được xác định làm cơ sở để xâydựng chính sách Đó là bối cảnh tình hình quốc tế mang lại, ảnh hưởng, tác động tới hoạtđộng thương mại quốc tế của nước ta, từ đó quy định chính sách kinh tế đối ngoại nói chung
và chính sách ngoại thương nói riêng Bối cảnh quốc tế ấy thể hiện ở các khía cạnh khácnhau mà đặc trưng là tiến trình toàn cầu hóa kinh tế, hội nhập khu vực và thế giới Điều này
đã mang lại những khó khăn thách thức như vấn đề môi trường cạnh tranh khốc liệt, sự phụ
Trang 4thuộc kinh tế của những quốc gia kém phát triển hơn và những mặt tiêu cực khác Điều đócần thiết được cân nhắc khi xây dựng một khung chính sách ngoại thương, đặc biệt là khinước ta đã và đang hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới, là thành viên của các tổ chức liênkết khu vực như ASEAN hay toàn cầu như WTO để tranh thủ những điều kiện phù hợpthuận lợi cho sự phát triển thương mà không vi phạm những nguyên tắc cơ bản của quốc tế
3.2 Căn cứ chủ quan
Căn cứ chủ quan là những căn cứ bắt nguồn từ chính chủ thế, đó là đặc điểm kinh tếnước nhà và mục tiêu kinh tế của quốc gia Nền kinh tế nước ta đang chuyển mình theohướng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nó được đặc trưng bởi các nguyêntắc, cơ chế thị trường, nhiều thành phần kinh tế, tuy nhiên vẫn có sự điều chỉnh ở chừngmực của nhà nước Căn cứ vào mục tiêu kinh tế đặt ra trong mỗi thời kỳ, trong đó có cácmục tiêu về ngoại thương bao gồm xuất nhập khẩu, nhà nước xây dựng và ban hành các chủtrương, luật lệ, quy định…để điều chỉnh những hoạt động kinh tế của cá nhân doanh nghiệptham gia vào thương mại quốc tế
Trang 5CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH XUẤT KHẨU
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2005-2011
Trang 6qua các năm không lớn, mang tính chất ổn định Mặt hàng thủy sản có xu hướng giảm domắc phải sự cản trở của các rào cả thương mại tại các nước bạn hàng.
1.2 Thị trường xuất khẩu
Trong giai đoạn 2005-2011 thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là Mỹ, EU,ASEAN, Nhật Bản, Trung Quốc Trong đó Mỹ luôn luôn đứng đầu về nhập khẩu hàng củaViệt Nam qua các năm từ 2005-2011 với những mặt hàng chủ yếu dệt may giầy dép, thủysản ASEAN và Trung Quốc đang đóng vai trò là đối tác thương mại hàng đầu của ViệtNam với kim ngạch hai chiều đạt 26,7 tỷ USD (năm 2010), là thị trường xuất khẩu hàng hóalớn thứ 3 của các doanh nghiệp Việt Nam với mặt hàng chủ yếu là nông lâm thủy sản, chỉsau thị trường Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu (EU) Ngoài ra còn một số thị trường trungbình khác như Hàn Quốc, Thụy Sĩ, Australia, Singapore
Bảng 2: Giá trị xuất khẩu hàng hóa sang các thị trường chủ yếu(triệu đô la Mỹ)
Nguồn: Tổng cục thống kê
Trang 7Đồ thị 1: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại của Việt Nam 6 tháng đầu năm giai đoạn 2005-2011
Quy mô xuất khẩu tăng dần và khá đều: từ năm 2005 đến 2008 tăng liên tục từ 14,9 tỷUSD đến 30.73 USD Tuy nhiên năm 2009 giảm xuống còn 27.76 USD do tác động củacuộc khủng hoảng Sau đó lại tăng trở lại với tốc độ cao hơn từ 27 tỷ lên 49 tỷ Trong 6tháng đầu năm 2011 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước đạt 92,56 tỷ USD, tăng29,6% so với cùng kỳ năm trước Trị giá hàng hoá xuất khẩu đạt 43,06 tỷ USD, tăng 32,6%
và nhập khẩu là 49,5 tỷ USD, tăng 27,1% Cán cân thương mại hàng hóa trong 6 tháng đầunăm thâm hụt 6,44 tỷ USD, bằng 15,0% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước
Nămtrước
Nămgốc
Nămtrước
Nămgốc
Nămtrước
Nămgốc
Nămtrước
Nămgốc
Nămtrước
NămgốcTổng mức
Trang 8Nhìn vào bảng thống kê ta có thế thấy từ năm 2005 xuất khẩu đều tăng so với năm gốc2004.khoảng 20-30 %.Đặc biệt cao nhất là vào năm 2008 29,1% so với năm trước và 763.9
so với năm 2004 riêng đến năm 2009 có bị suy giảm so với năm 2008 tốc độ -8.9
Xuất khẩu năm 2010 đã như lội ngược dòng, khi mà chỉ mới năm trước, tốc độ tăngtrưởng xuất khẩu là âm tới 9,7% Nhờ đó, nhập siêu cả năm nay đã được kéo thấp xuống
Năm 2011
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóatính đến ngày 15/3/2011 đạt 33,74 tỷ USD, tăng 31,4% so với cùng kỳ năm trước Trong đó,xuất khẩu đạt 15,46 tỷ USD, tăng 4,147 tỷ USD về trị giá và 36,6% về tốc độ so với cùng kỳnăm 2010; nhập khẩu đạt 18,28 tỷ USD, tăng 27,3% về tốc độ và 3,923 tỷ USD về trị giá sovới cùng kỳ năm trước
Số liệu nêu trên cho thấy, hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đang rất khởi sắcvới tốc độ tăng trưởng cao; đồng thời, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cũng tăng khá cao so vớitốc độ tăng trưởng nhập khẩu (36,6%/27,3%) cho thấy việc thực hiện mục tiêu kiềm chếnhập siêu đang đạt được những kết quả tích cực
Trong tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tính từ ngày 1/1/2011 đến ngày15/3/2011 là 15,465 tỷ USD, giá trị xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp FDI chiếm 46,5%(đạt 7,193 tỷ USD), tăng 1,832 tỷ USD về trị giá và tăng 34,2% về tốc độ so với cùng kỳnăm 2010
2 PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH
Trang 92.1 CHÍNH SÁCH THUẾ
2.1.1 Tổng quan về chính sách thuế
Thuế xuất khẩu rất ít được sử dụng rộng rãi, đặc biệt ở các nước công nghiệp phát triển.đồng thời cơ cấu thuế ở các nước cũng khác nhau Đối với Việt Nam thuế xuất khẩu áp dụngvới rất ít mặt hàng Việc đánh thuế không phải nhằm tăng thu ngân sách mà nhằm vào mụctiêu khác như nâng cao mức độ chế biến nguyên liệu thô của nhà xuất khẩu Điều này đượcthể hiện bằng cách đánh thuế xuất khẩu cao vào các sản phẩm không chế biến và thấp hơnhoặc không đánh thuế vào các sản phầm đã chế biến Về nguyên tắc, hình thức đánh thuếnhư vậy có thể làm tăng thêm giá trị gia tăng đối với nguyên liệu xuất khẩu, từ đó tạo thêmcông ăn việc làm và thu nhập cho nền kinh tế
2.1.2 Phân tích chính sách thuế giai đoạn 2005- 2011
Trong giai đoạn này, Luật thuế chính thức được áp dụng là Luật thuế xuất khẩu, thuếnhập khẩu số 45/2005/QH11 do Quốc hội ban hành ngày 14 tháng 6 năm 2005 với 7 chương
29 điều trong đó chương IV từ điều 16 đến điều 21 quy định về việc miễn thuế, giảm thuế,hoàn thuế và truy thu thuế Theo đó,
Hàng được miến thuế (điều 16) bao gồm
1 Hàng hoá tạm nhập, tái xuất hoặc tạm xuất, tái nhập để tham dự hội chợ, triển lãm,giới thiệu sản phẩm
2 Hàng hoá là tài sản di chuyển theo quy định của Chính phủ;
3 Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu của tổ chức, cá nhân nước ngoài được hưởng quyền
ưu đãi, miễn trừ ngoại giao tại Việt Nam
4 Hàng hoá nhập khẩu để gia công cho nước ngoài rồi xuất khẩu hoặc hàng hoá xuấtkhẩu cho nước ngoài để gia công cho Việt Nam rồi tái nhập khẩu theo hợp đồng gia công;
5 Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu trong tiêu chuẩn hành lý miễn thuế của người xuấtcảnh, nhập cảnh do Chính phủ quy định;
6 Hàng hoá nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án khuyến khích đầu tư, dự án đầu
tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
7 Hàng hoá nhập khẩu để phục vụ hoạt động dầu khí,
Trang 108 Hàng hoá nhập khẩu để sử dụng trực tiếp vào hoạt động nghiên cứu khoa học và pháttriển công nghệ
9 Nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để sản xuất của dự án thuộc Danh mục lĩnhvực đặc biệt khuyến khích đầu tư hoặc Danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặcbiệt khó khăn được miễn thuế nhập khẩu trong thời hạn năm năm, kể từ khi bắt đầu sảnxuất;
10 Hàng hoá sản xuất, gia công, tái chế, lắp ráp tại khu phi thuế quan không sử dụngnguyên liệu, linh kiện nhập khẩu từ nước ngoài khi nhập khẩu vào thị trường trong nước
Hàng được xét miễn thuế (điều 17)
1 Hàng hoá nhập khẩu chuyên dùng trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh, giáo dục vàđào tạo; hàng hoá nhập khẩu chuyên dùng trực tiếp phục vụ nghiên cứu khoa học,
2 Hàng hoá là quà biếu, quà tặng, hàng mẫu của tổ chức, cá nhân nước ngoài cho tổchức, cá nhân Việt Nam hoặc ngược lại trong định mức do Chính phủ quy định
Hàng được hoàn thuế (điều 19)
a) Hàng hoá nhập khẩu đã nộp thuế nhập khẩu nhưng còn lưu kho, lưu bãi tại cửa khẩuđang chịu sự giám sát của cơ quan hải quan, được tái xuất;
b) Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đã nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nhưng khôngxuất khẩu, nhập khẩu;
c) Hàng hoá đã nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nhưng thực tế xuất khẩu, nhập khẩu
e) Hàng hoá xuất khẩu đã nộp thuế xuất khẩu nhưng phải tái nhập;
g) Hàng hoá nhập khẩu đã nộp thuế nhập khẩu nhưng phải tái xuất;
Trang 11h) Hàng hoá nhập khẩu là máy móc, thiết bị, dụng cụ, phương tiện vận chuyển của tổchức, cá nhân được phép tạm nhập, tái xuất để thực hiện dự án đầu tư, thi công xây dựng,lắp đặt công trình, phục vụ sản xuất hoặc mục đích khác đã nộp thuế nhập khẩu.
Kể từ sau luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005 tới nay Quốc hội đã ban hànhnhững quy định, nghị định, thông tư, công văn liên quan Trong đó đáng chú ý là:
Bảng 4: Các văn bản Chính phủ ban hành giai đoạn 2005-2011 về thuế xuất khẩu, nhập khẩu
Số công văn Ngày Nội dung
QĐ
67/2006/QĐ-BTC
05/12/2006 Về việc sửa đổi, bổ sung thuế suất thuế xuất khẩu
một số nhóm mặt hàng trong Biểu thuế xuất khẩu
QĐ
12/2007/QĐ-BTM
31/05/2007 Về việc ban hành Quy chế cấp Giấy chứng nhận
xuất xứ hàng hóa Mẫu E để hưởng các ưu đãi theoHiệp định Thương mại hàng hóa thuộc Hiệp địnhKhungvề Hợp tác kinh tế toàn diện giữa Hiệp hội cácquốc gia Đông Nam Ávà nước Cộng hoà Nhân dânTrung Hoa
TT
59/2007/TT-BTC
14/06/2007 Hướng dẫn thi hành thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu, quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhậpkhẩu
QĐ
104/2008/QĐ-TTg
21/07/2008 V/v Ban hành mức thuế tuyệt đối thuế xuất khẩu
đối với mặt hàng gạo và phân bón xuất khẩu
QĐ
129/2008/QĐ-TTg
19/09/2008 V/v Ban hành mức thuế tuyệt đối thuế xuất khẩu
mặt hàng quặng Barite và Apatit
CV
15232/BTC-CST
15/12/2008 V/v Không áp dụng thuế tuyệt đối thuế xuất khẩu
đối với mặt hàng phân bón
CV
15485/BTC-CST
19/12/2008 V/v Không áp dụng thuế tuyệt đối thuế xuất khẩu
đối với mặt hàng gạo
Trang 12TT
25/2009/TT-BTC
05/02/2009 V/v Hướng dẫn thực hiện mức thuế suất thuế xuất
khẩu đối với mặt hàng than trong Biểu thuế xuất khẩu
TT
51/2009/TT-BTC
17/03/2009 V/v Sửa đổi mã số và mức thuế suất thuế xuất khẩu
đối với nhóm 44.02 trong Biểu thuế xuất khẩu, biểuthuế nhập khẩu ưu đãi
21/01/2011 V/v Thuế suất thuế xuất khẩu cho mặt hàng bột
cacbonat canxi siêu mịn
Nhìn chung các chính sách tập trung vào từng mặt hàng cụ thể, điều này có thể thấy rõqua biểu thuế xuất khẩu qua các năm:
Bảng 5: thuế suất một số mặt hàng nguyên, nhiên vật liệu
260900 Quặng thiếc và quặng
Trang 13xu hướng giảm dần Điều này rất phù hợp với những chính sách xuất khẩu, chính sách bảo
hộ nền sản xuất trong nước của chính phủ
2.2 CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỔI ĐOÁI
2.2.1 Tổng quan về chính sách tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là tỷ lệ trao đổi đồng tiền giữa hai quốc gia, cũng có thể hiểu là giá củađồng tiền này được tính bằng một đồng tiền khác Đây là một yếu tố quan trọng cần đượcxét đến trong xuất khẩu, bởi sự thay đổi chênh lệch tỷ giá làm thay đổi nhiều đến giá xuấtkhẩu, từ đó gián tiếp ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu Tỷ giá có tỷgiá hối đoái chính thức( tỷ giá HĐCT) và tỷ giá hối đoái thực tế( tỷ giá HĐTT) là tỷ giáHĐCT được điều chỉnh theo lạm phát trong nước và lạm phát quốc tế theo công thức:
Tỷ giá HĐCT x Chỉ số giá cả trong nước
Tỷ giá HĐTT =
Chỉ số giá cả nước ngoài
Nếu tỷ giá HĐTT tăng do lạm phát trong nước tăng cao và tỷ giá HĐCT không thay đổithì nó sẽ làm tăng cả giá đầu vào cũng như chi phí sản xuất làm tăng giá sản phẩm nên làmtăng nhập khẩu và giảm xuất khẩu Nếu tỷ giá HĐTT tăng do tỷ giá HĐCT tăng( chính phủgiảm giá đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ thì sẽ làm tăng xuất khẩu, giảm nhập khẩu, thu hút
Trang 14đầu tư và du lịch Nhà nước tham gia điều hành chính sách tỷ giá thông qua ba biện phápchính như tăng cường kiểm soát nhập khẩu, điều chỉnh lạm phát và phá giá tỷ giá hối đoái.Trong đó biện pháp thứ ba là việc Nhà nước giảm giá trị của đồng nội tệ so với ngoại tệ cótác dụng làm tăng xuất khẩu thường được nhận diện rõ nét nhất khi có sự điểu chỉnh từ ngânhàng trung ương
2.2.2 Phân tích chính sách tỷ giá hối đoái giai đoạn 2005- 2011
Trong giai đoạn 2005- 2011, về cơ bản hệ thống chính sách tỷ giá hối đoái ở nước tatuân theo hệ thống thả nổi có quản lý Nhà nước không cam kết giữ ổn định mà can thiệpmột cách có cân nhắc tùy theo diễn biến trên thị trường đồng thời nước ta cũng xây dựngPháp lệnh về ngoại hối trên nguyên tắc là tự do hóa trao đổi các giao dịch vãng lai, từngbước nới lỏng quản lý ngoại hối đối với các giao dịch vốn, tạo điều kiện cho thị trườngngoại hối của chúng ta hoạt động phong phú, đa dạng hơn Đây là chế độ tỷ giá linh hoạt,phù hợp với xu thế chung, đồng thời góp phần to lớn trong việc đạt mục tiêu thúc đẩy xuấtkhẩu
Nói chung trong giai đoạn từ 2005-2007 tỷ giá không có nhiều sự biến động Xu hướngchính là tỷ giá tăng tuy nhiên biên độ tăng không nhiều với tốc độ chậm và các chính sáchcủa Nhà nước cũng không có nhiều điểm nhấn Bắt đầu từ năm 2008 do khủng hoàn tàichính thế giới, thị trường tiền tệ có những thay đổi đáng kể Đây là năm chứng kiến sự biếnđộng của tỷ giá USD/VND ( USD hiện vẫn là ngoại tệ giữ vị trí quan trọng trong thanh toángiao dịch quốc tế) Tỷ giá đầu năm liên tục giảm đạt mức thấp nhất là 15.960 đồng trongtháng 3 rồi tăng vọt tới mức hơn 19000 đồng ở thời điểm cuối tháng 6 Tỷ giá tiếp tục leothang buộc nhà nước phải có động thái điều chỉnh Tính đến cuối năm 2008, vào chiều 6/11,Ngân hàng Nhà nước thông báo nới rộng biên độ tỷ giá USD/VND từ +/-2% lên +/-3% Đây
là lần thứ tư liên tiếp kể từ đầu năm Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh biên độ này, từ 0,5% lên +/-0,75% đầu năm 2008, lên +/-1% kể từ ngày 10/3, lên +/-2% kể từ ngày 27/6 và
+/-từ ngày 7/11 lên +/-3% Đây cũng là mật độ điều chỉnh dày chưa +/-từng có trong lịch sử.Trước đó, trong vòng 5 năm (từ 2002 – 2006) biên độ tỷ giá chỉ được điều chỉnh 2 lần TheoNgân hàng Nhà nước, quyết định trên sẽ tạo điều kiện để tỷ giá điều chỉnh linh hoạt hơn,
Trang 15phản ánh sát tình hình cung cầu ngoại tệ trên thị trường, bảo đảm tăng trưởng kinh tế hợp lý,bền vững và có tác dụng khuyến khích hỗ trợ xuất khẩu Năm 2009, Nhà nước vẫn tiếp tục
có những điều chỉnh từ 16.983 đồng/USD của ngày 10/9 thì đến 10/10 tiến đến 17.001VND/USD và đạt đỉnh 17.021 VND/USD vào ngày 10/11
Đồ thị 2: Tỷ giá USD/VND 2008 - 2009
Nguồn: Global Financial Data, Ngân hàng Nhà nước và tổng hợp của Trường Fulbright.
Năm 2010, đợt điều chỉnh đầu tiên của Ngân hàng nhà nước là vào ngày 10/2 với việcnới rộng biên độ biến động tỉ giá là +/-3%, ngân hàng có thể mua/bán USD với giá trần là19.100 VND/USD và giá sàn là 17.987 VND/USD Những tháng sau đó tỷ giá Đô laMỹ/đồng Việt Nam có khuynh hướng giảm, cả trên thị trường chính thức (qua hệ thốngngân hàng thương mại) và thị trường tự do (các tiệm vàng và những điểm thu đổi ngoại tệkhông chính thức) Đứng ở góc độ vĩ mô, cần nhận thấy rằng tỷ giá giảm sẽ không khuyếnkhích xuất khẩu, trong khi lại càng khuyến khích nhập khẩu, gây áp lực lớn lên cán cânthương mại Sau 6 tháng 6 ngày (17/8), Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tỷ giá từ 18.544đồng lên 18.932 VND (tăng gần 2,1%) Tới cuối năm, Nhà nước đã phải bán ngoại tệ đểbình ổn tỷ giá và duy trì sự ổn định cho tới đầu năm 2011