1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG THÀNH tựu và hạn CHẾ của CHỦ NGHĨA DUY vật tây âu THỜI cận đại

24 4K 15
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những thành tựu và hạn chế của chủ nghĩa duy vật Tây Âu thời cận đại
Tác giả Ngô Kiên Định
Người hướng dẫn TS Bùi Văn Mưa
Trường học Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 264 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ông cho rằng, mục đích của xã hội là nhận thức cácnguyên nhân và mọi sức mạnh bí ẩn của các sự vật và mở rộng sự thống trị củacon người đối với giới tự nhiên trong chừng mực con người có

Trang 1

Giảng viên hướng dẫn : TS Bùi Văn Mưa

TP.HCM, Tháng 03 Năm 2010

Trang 2

Lời nói đầu

CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN, CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC TÂY ÂU THỜI CẬN ĐẠI 1.1 ĐIỀU KIỆN VỀ KINH TẾ - CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI 1

1.2 ĐIỀU KIỆN VỀ KHOA HỌC KỸ THUẬT 1

1.3 NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC GIAI ĐOẠN NÀY 1

CHƯƠNG 2 NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ CỦA CNDV TÂY ÂU THỜI CẬN ĐẠI QUA CÁC TRƯỜNG PHÁI TRIẾT HỌC CỤ THỂ 2.1 TRƯỜNG PHÁI DUY VẬT KINH NGHIỆM – DUY GIÁC 4

2.1.1 Phơrăngxít Bêcơn (Ph.Bêcơn, 1561-1626) 4

2.1.2 Tôma Hốpxơ (Thomas Hobbs, 1588 – 1679) 11

2.1.3 Giôn Lốcơ (John Locke, 1632 – 1704) 14

2.2 TRIẾT HỌC KHAI SÁNG VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT PHÁP VỚI ĐẠI DIỆN TIÊU BIỂU LÀ ĐÊNÍT ĐIĐƠRÔ (1713-1784) 15

CHƯƠNG 3 VAI TRÒ CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT TÂY ÂU TRONG THỜI CẬN ĐẠI VÀ TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY 3.1 VAI TRÒ CỦA CNDV TÂY ÂU TRONG THỜI CẬN ĐẠI 19

3.2 VAI TRÒ CỦA CNDV TÂY ÂU TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY 19

Lời kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 3

và chủ nghĩa duy tâm Chủ nghĩa duy vật đã trải qua con đường phát triển lâu dài

và tùy thuộc vào lịch sử đời sống vật chất của xã hội (trước hết là cơ sở kinh tế),mối quan hệ của triết học với tư tưởng chính trị, pháp quyền, tôn giáo, trình độphát triển của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội… từng thời kỳ mà chủ nghĩaduy vật đã có nhiều hình thức tồn tại khác nhau 1

+ Hình thức đầu tiên của chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật cổ đại Đó

là chủ nghĩa duy vật chất phác, xuất phát từ giới tự nhiên để giải thíchchúng, và do đó chưa có cơ sở khoa học để đứng vững trước sự tiến côngcủa chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo ngự trị trong thời trung cổ

+ Hình thức thứ 2 của chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật siêu hình thế

kỷ XVII – XVIII Hình thức này ra đời trong hoàn cảnh giai cấp tư sảnđang lên, họ xây dựng chủ nghĩa duy vật của mình nhằm chống lại thế giớiquan duy tâm, tôn giáo của giai cấp phong kiến Do hạn chế bởi trình độkhoa học và lợi ích giai cấp cho nên nó mang tính chất siêu hình

+ Hình thức thứ 3 của chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng Làchủ nghĩa duy vật được xây dựng trên cơ sở của khoa học hiện đại vàkhông ngừng phát triển do nhu cầu thực tiễn cùng sự phát triển của khoahọc thời đại mới

Trong phạm vi tiểu luận chúng ta sẽ nghiên cứu Những thành tựu và hạn chế

của Chủ nghĩa duy vật Tây Âu thời Cận đại (thuộc hình thức tồn tại thứ 2 của

chủ nghĩa duy vật) để đánh giá một giai đoạn của chủ nghĩa duy vật trên conđường phát triển lâu dài của mình

1 Xem: TS Nguyễn Ngọc Thu - TS Bùi Văn Mưa (đồng chủ biên), Giáo trình Đại cương lịch sử triết học,

Nxb Tổng Hợp Tp.HCM, Tp.HCM, 2003, tr 5 - 15.

Trang 4

CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN, CÁC ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC TÂY ÂU THỜI CẬN ĐẠI

1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI:

Khác với thời Phục hưng, thời Cận đại (thế kỷ XVII - XVIII) ở các nước Tây

Âu là thời kỳ giai cấp tư sản đã giành được thắng lợi về chính trị trước giai cấpphong kiến Ba cuộc cách mạng tư sản lớn đã nổ ra và thành công: cách mạng tưsản Hà Lan (cuối thế kỷ XVI), cách mạng tư sản Anh (1642 – 1648) và đặc biệt làcuộc cách mạng tư sản khá toàn diện và rất triệt để ở Pháp (1789 – 1794) đã xóa

bỏ hoàn toàn chế độ Phong kiến, xác lập chế độ cộng hòa tư sản Đây cũng là thời

kỳ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập và trở thành phương thứcsản xuất thống trị Tây Âu

1.2 ĐIỀU KIỆN KHOA HỌC KỸ THUẬT:

Những tiền đề trên đã tạo ra những vận hội mới cho khoa học, kĩ thuật pháttriển mà trước hết là khoa học tự nhiên, trong đó cơ học đã đạt được trình độ là cơ

sở cổ điển Khoa học tự nhiên thời kỳ này mang đặc trưng là khoa học tự nhiên thực nghiệm Đặc trưng ấy tất yếu dẫn tới “thói quen” nhìn nhận đối tượng nhậnthức trong sự trừu tượng, tách rời, không vận động, không phát triển, nếu có đề cậpđến vận động thì là sự vận động cơ giới, máy móc Đó là nguyên nhân chủ yếu làmcho triết học duy vật thời kỳ này mang nặng tính máy móc, siêu hình Tuy nhiênviệc khoa học đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, đặc biệt là khoa học tự nhiên đã tạotiền đề cho sự xem xét thế giới một cách biện chứng

-1.3 NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC THỜI KỲ NÀY:

Thứ nhất, trên bình diện thế giới quan, triết học thể hiện rõ thế giới quan duy

vật máy móc bên cạnh quan điểm tự nhiên thần luận của giai cấp tư sản Chủ

nghĩa duy vật trở thành thế giới quan của giai cấp tư sản tiến bộ và cách mạng,khoa học đã trở thành sức mạnh của họ trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấpPhong kiến và Nhà thờ Mặc dù các thành tựu khoa học tự nhiên, đặc biệt là cơhọc, được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn cuộc sống và trong nhận thức nhưngnhững niềm tin tôn giáo vẫn chưa bị đẩy lùi, những giá trị của Thượng đế được

Trang 5

thừa nhận trước đây bây giờ được coi là những giá trị của Giới tự nhiên Giới tựnhiên được gán ép cho những tính siêu nhiên, thần thánh Do đó, màu sắc tự nhiênthần luận là một nét đặc sắc của chủ nghĩa duy vật máy móc lúc bấy giờ

Thứ hai, trên bình diện nhận thức – phương pháp luận, triết học chủ yếu đi

tìm phương pháp nhận thức mới để khắc phục triệt để phương pháp kinh viện giáo điều, nhằm xây dựng một triết học và một khoa học mới có sự liên hệ mật thiết với nhau, hướng đến xây dựng tri thức Tuy nhiên sự đối lập giữa cảm tính và lý tính

rất gay gắt kéo theo sự đối lập giữa phương pháp quy nạp và phương pháp diễndịch, giữa tư duy tổng hợp và tư duy phân tích đã sản sinh ra sự đối lập của chủnghĩa kinh nghiệm – duy giác và chủ nghĩa duy lý – tự biện Sự đối lập này đã sản

sinh ra hai phương pháp tư duy siêu hình trong nhận thức khoa học: phương pháp

kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học tự nhiên thực nghiệm và phương pháp tư duy tư biện trong nghiên cứu khoa học tự nhiên lý thuyết Do khoa học thực

nghiệm chiếm ưu thế nên phương pháp siêu hình kinh nghiệm được đề cao và do

cơ học vươn lên vai trò hàng đầu trong các ngành khoa học tự nhiên nên chủ nghĩa

cơ giới (máy móc) xuất hiện và xâm nhập trở lại vào các ngành khoa học đó Vì

vậy, trào lưu triết học thống trị trong giai đoạn này là chủ nghĩa duy vật siêu hình

– máy móc Tuy nhiên sau đó chủ nghĩa duy vật siêu hình – máy móc lại bộc lộ

những nhược điểm yếu kém của mình trong quá trình tư duy lý luận vì vậy phép

biện chứng duy tâm đã ra đời thay thế.

Thứ ba, trên bình diện nhân sinh quan – ý thức hệ, nền triết học thời kỳ này

thể hiện rõ tinh thần khai sáng và chủ nghĩa nhân đạo tư sản Nó là ngọn cờ lý luận của giai cấp tư sản để tập hợp, giác ngộ, hướng dẫn quần chúng thực hiện những hành động cách mạng nhằm cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới – chủ nghĩa tư bản Khát vọng giải phóng con người ra khỏi sự thống trị của chế độ

Phong kiến – giáo hội Nhà thờ, ra khỏi sự ngu dốt, ra khỏi chi phối âm thầm củacác lực lượng tự nhiên nhằm hướng đến một cuộc sống tự do, hạnh phúc, côngbằng, bác ái, sung túc cho con người trên trần gian được đặt ra Khát vọng này cósức cuốn hút mạnh mẽ quần chúng đi đến một hành động cách mạng cụ thể để giảiphóng mình và giải phóng xã hội

Trang 6

Cuối thời cận đại, khi tiếp tục dào sâu nhân sinh quan nhân đạo tư sản, khắcphục thế giới quan duy vật máy móc và phương pháp luận siêu hình của cáctrường phái triết học đầu thời cận đại đã xuất hiện Triết học cổ điển Đức - giaiđoạn bản lề của triết học phương Tây nối thời kỳ cận đại và thời kỳ hiện đại.2

2 Xem: TS Nguyễn Ngọc Thu - TS Bùi Văn Mưa (đồng chủ biên), Giáo trình Đại cương lịch sử triết học,

Nxb Tổng Hợp Tp.HCM, Tp.HCM, 2003, tr 100 – 102.

Trang 7

CHƯƠNG 2 NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ CỦA CNDV TÂY ÂU THỜI CẬN ĐẠI QUA CÁC TRƯỜNG PHÁI TRIẾT HỌC CỤ THỂ

2.1 TRƯỜNG PHÁI DUY VẬT KINH NGHIỆM – DUY GIÁC:

Là trường phái triết học Anh do Ph.Bêcơn đặt nền móng, T.Hốpxơ phát triểntheo khuynh hướng kinh nghiệm và Gi.Lốcơ đẩy mạnh theo khuynh hướng duy giác

2.1.1 Phơrăngxít Bêcơn (Ph.Bêcơn, 1561-1626)

Ph.Bêcơn là nhà triết học vĩ đại thời cận đại, là người sáng lập ra chủ nghĩaduy vật kinh nghiệm Anh và khoa học thực nghiệm Người có công lao to lớnchống lại chủ nghĩa kinh viện, khôi phục và phát triển truyền thống duy vật cổ đạitrong thời kỳ mới

Ph.Bêcơn đã coi chủ nghĩa kinh viện là vô ích, chỉ là những lập luận trừutượng, không có nội dung Khoa học mới (phương pháp luận của khoa học tựnhiên thực nghiệm) sẽ đem lại cho con người sức mạnh trong cuộc chinh phục giới

tự nhiên Để đạt được điều đó, nhận thức khoa học phải dựa trên các sự kiện và từ

đó khái quát thành lý luận Phương pháp quy nạp dựa trên quan sát, phân tích, sosánh, thực nghiệm là phương pháp chủ yếu để nhận thức chân lý Song, để có đượcphương pháp trước hết phải loại bỏ những “ảo tưởng” cản trở con đường nhận thứcnhư: ảo tưởng loài, ảo tưởng hang động, ảo tưởng thị trường, ảo tưởng nhà hát.Ph.Bêcơn đã đưa ra những quan điểm duy vật, coi vật chất là tổng hợp cát hạt,coi giới tự nhiên là tổng hợp các vật thể đa dạng về chất Vận động cũng đa dạng

và là thuộc tính không thể tách rời của vật chất… Những tư tưởng của Ph.Bêcơn

có ý nghĩa lớn, chống lại chủ nghĩa duy tâm tôn giáo

Song chủ nghĩa duy vật của Ph.Bêcơn là siêu hình và không triệt để Ông quánhấn mạnh đến phương pháp quy nạp, đề cao phân tích Tuy chống lại chủ nghĩakinh viện nhưng lại thừa nhận sự tồn tại của Thượng đế, thừa nhận lý luận về

“chân lý hai mặt”…

Những tư tưởng chủ yếu của hệ thống triết học của Ph.Bêcơn

a) Quan điểm thực tiễn:

Trang 8

Sống trong thời kỳ đêm trước của cuộc cách mạng tư sản Anh, Ph.Bêcơn đãnhận thấy vai trò đặc biệt quan trọng của khoa học và triết học và sự cần thiết phảiđẩy mạnh sự phát triển của chúng như một nền tảng lý luận của công cuộc pháttriển kinh tế của đất nước Ông coi đó là một phương tiện cơ bản nhằm xoá bỏnhững bất công xã hội, xây dựng cuộc sống phồn vinh Khác với những nhà nhânđạo cộng sản không tưởng, Ph.Bêcơn khẳng định phải cải tạo chính xã hội hiệnthực đương thời trên cơ sở phát triển khoa học và triết học chứ không phải bằngcách tạo ra mô hình lý tưởng Ông cho rằng, mục đích của xã hội là nhận thức cácnguyên nhân và mọi sức mạnh bí ẩn của các sự vật và mở rộng sự thống trị củacon người đối với giới tự nhiên trong chừng mực con người có thể làm được.

Ph.Bêcơn cho rằng nhiệm vụ của triết học là đại phục hồi các khoa học,nghĩa là phải cải tạo toàn bộ các tri thức mà con người đạt được thời đó Đánh giácao vai trò của tri thức lý luận trong việc cải tạo xã hội, Ph.Bêcơn khẳng định "trithức là sức mạnh" Từ đó ông đi đến một một kết luận mang tính cách mạng đốivới người đương thời, coi "hiệu quả và sự sáng chế thực tiễn là người bảo lãnh vàghi nhận tính chân lý của các triết học" Muốn chinh phục tự nhiên thì con ngườicần phải nhận thức các quy luật của nó, vận dụng và tuân theo chúng

b) Quan niệm về thế giới và con người

Thế giới tồn tại khách quan, đa dạng và thống nhất:

Phát triển các quan niệm duy vật thời cổ đại, Ph.Bêcơn cho rằng để lý giảiđược tính muôn màu muôn vẻ của thế giới, chỉ cần mỗi vật chất là đủ Để giảithích thế giới, ông đã cải biến thuyết bốn nguyên nhân của Arixtốt theo hướng duyvật Ông xoá bỏ nguyên nhân mục đích của các sự vật và cho rằng, mọi cái trên thếgian chỉ tồn tại từ ba nguyên nhân: hình dạng, vật chất và vận động Khác vớiArixtốt, ông coi hình dạng của sự vật là cái nằm chính trong bản thân sự vật, là bảnchất hoàn toàn khách quan của nó; không thể có cái gọi là "hình dạng của hìnhdạng" phi vật chất, cũng như "vật chất đầu tiên" phi hình dạng là không có thực;mọi "hình dạng" đều chỉ là "hình dạng" của vật chất Cả ba nguyên nhân "hìnhdạng", "vật chất" và "vận động" thực chất đều là bản tính của vật chất Vì thế vậtchất có bản tính là tích cực, có sinh khí chứ không phải thụ động

Trang 9

Ph.Bêcơn đã có bước tiến rất xa so với các nhà triết học trước đó và đươngthời khi quan niệm rằng có sự thống nhất giữa vật chất và vận động, giữa bản chấtcủa sự vật và vận động của nó Khẳng định vận động là đặc tính của sự vật,Ph.Bêcơn cho rằng nhận thức sự vật là nhận thức vận động của chúng C.Mác vàPh.Ăngghen đã nhận xét, Ph.Bêcơn đã hiểu "rằng trong những đặc tính vốn có củavật chất, vận động là đặc tính thứ nhất và quan trọng nhất, không phải chỉ với tínhcách là máy móc và toán học mà hơn nữa còn với tính cách là xu hướng, sức sốngcủa vật chất".

Ph.Bêcơn đã tìm cách phân loại các dạng vận động Theo ông có 19 dạngvận động: 1) vận động xung đối; 2) vận động móc nối; 3) vận động giải phóng màthông qua đó sự vật hướng tới thoát khỏi áp lực; 4) vận động, trong đó sự vậthướng tới khối lượng và kích thước mới; 5) vận động liên tục; 6) vận động có lợi;7) vận động tự hợp lại với quy mô lớn; 8) vận động tự hợp lại với quy mô nhỏ; 9)vận động từ tính; 10) vận động sản sinh ra; 11) vận động chạy trốn; 12) vận độngthức tỉnh; 13) vận động mô tả, ghi nhận; 14) vận động ngoại tuyến; 15) vận độngtheo xu hướng; 16) vận động hùng tráng; 17) vận động tự quay; 18) vận động rungđộng; 19) đứng yên

Từ đây, có thể thấy rằng, về cơ bản Ph.Bêcơn đã phân loại vận động theocảm tính, mô tả, chưa biết phân loại theo cấp độ khác nhau về cấu trúc của vậtchất, mà hầu như quy toàn bộ các dạng vận động thành các hình thức vận động cơhọc; không thấy được sự phát triển của thế giới vật chất đã dẫn đến xuất hiệnnhững hình thức vận động khác nhau về chất, phù hợp với trình độ cấu trúc của vậtchất Tuy nhiên việc coi đứng yên là một dạng vận động ở Ph.Bêcơn là một quanniệm duy vật và cách mạng trong bối cảnh lịch sử hồi đó Ông cũng là người đầutiên nhận thấy tính bảo toàn vật chất của thế giới

Con người là một sản phẩm của thế giới:

Ph.Bêcơn coi con người là sản phẩm cuả tạo hoá, do vậy khoa học về conngười cũng là khoa học về tự nhiên Tiếp thu quan niệm của Arixtốt về con người,Ph.Bêcơn chia linh hồn thành các dạng "linh hồn thực vật", "linh hồn động vật",

"linh hồn lý tính" Hai phần đầu thuộc về linh hồn cảm tính, có cả ở thực vật và

Trang 10

động vật Trong con người, linh hồn cảm tính là một dạng chất lỏng, pha loãngtrong cơ thể Chúng vận động theo các dây thần kinh, tựa như các đường ống, tácđộng lên các giác quan, điều khiển chức năng sống của cơ thể Bộ phận linh hồnnày có thể bị huỷ hoại cùng cơ thể khi con người chết đi Linh hồn lý tính cónguồn gốc từ Thượng đế Đó là một khả năng kì diệu mà chúa đã ban cho conngười, mang tính thần thánh Vì con người có cả hai dạng linh hồn nên con ngườivừa rất gần với động vật lại vừa có cái gì đó siêu phàm, và do đó, bản chất conngười không cho phép con người theo lập trường hoàn toàn vô thần Con ngườicần có tôn giáo để vượt qua những lúc con người mềm yếu, bất lực Tôn giáomang lại cho con người niềm tin nhưng nhà thờ không được phép dùng các biệnpháp chống lại các nhà vô thần, không được cản trở các hoạt động khoa học, nghệthuật của con người Nhìn chung, quan niệm trên của Ph.Bêcơn thể hiện sự thoảhiệp giai cấp tư sản Anh thời đó với các vấn đề tôn giáo.

c) Quan niệm về nhận thức:

Cảm giác, kinh nghiệm là nguồn gốc duy nhất của mọi nhận thức:

Ph.Bêcơn luôn cho rằng cảm giác, kinh nghiệm là nguồn gốc duy nhất của mọi tri

thức Khoa học thực sự phải biết sử dụng tư duy tổng hợp và phương pháp quy nạp

khoa học để khái quát các dữ kiện do kinh nghiệm mang lại nhằm khám phá ra cácquy luật, bản chất của thế giới vật chất khách quan, đa dạng và thống nhất Vớihoài bão xây dựng một cách nhìn mới về thế giới thật sự khách quan, Ph.Bêcơnđồng thời chỉ ra những hạn chế trong khả năng nhận thức của con người, nhữnghạn chế không phải chỉ dẫn đến những sai lầm vụn vặt và nhất thời, mà là nhữngsai lầm nghiêm trọng không thể tránh khỏi của con người trong nhận thức Ông gọichúng là các “ảo tượng”

Lý luận về ảo tưởng:

Các ảo tưởng có nguồn gốc hoàn toàn khách quan, bởi vì chúng một phần cótrong bản chất của trí tuệ con người, một phần xuất hiện trong quá trình lịch sửnhận thức của nhân loại, một phần nảy sinh trong sinh lí và nhân cách của mỗingười Theo Ph.Bêcơn, "trí tuệ con người tự đặt ra chướng ngại vật và cạm bẫycho mình” Vì các ảo tưởng thường xuyên ám ảnh con người, tạo nên cho nó

Trang 11

những tư tưởng và ảo ảnh giả dối, xuyên tạc bộ mặt thật của thế giới, nói tóm lại,cản trở con người xâm nhập vào thế giới cả về chiều rộng lẫn chiều sâu" Vì vậy,quá trình con người đấu tranh khắc phục những hạn chế khách quan đó cũng là quátrình con người đấu tranh vì sự hoàn thiện bản thân mình.

Ph.Bêcơn phân loại các dạng ảo tưởng như sau:

Ảo tượng “loài”: nó sinh ra do việc loài người thường xuyên nhầm lẫn bản

chất trí tuệ của mình với bản chất khách quan của sự vật Ai cũng dễ dàng gán cho

sự vật những đặc tính của riêng con người Bêcơn nói: "Các ảo tưởng loài có cơ sởtrong chính bản thân loài người, bởi vì thật là sai lầm khi khẳng định cảm giác cảmtính của chúng ta là thước đo sự vật Ngược lại, tất cả các giác quan cũng như trítuệ đều được dựa trên sự tương đồng của con người, chứ không phải dựa trên sựtương đồng của thế giới Trí tuệ con người cũng tương tự như chiếc gương méo,khi nó pha trộn bản chất của mình với bản chất của sự vật thì nó phản ánh các sựvật dưới dạng bị xuyên tạc, bóp méo"

Sở dĩ có loại ảo tưởng này, theo Ph.Bêcơn là do các giác quan cũng như trítuệ của con người còn chưa được hoàn thiện Một trong những biểu hiện của ảotưởng này là ở chỗ, người ta thường hay bảo thủ, coi ý kiến và suy nghĩ chủ quancủa mình là thước đo tất thảy mọi vật Ảo tưởng loài do vậy rất bền vững Chúng

ta chỉ có thể hạn chế ảnh hưởng của ảo tưởng này bằng cách hoàn thiện các nhậnthức của con người như thực nghiệm …

Việc Ph.Bêcơn đòi hỏi nhận thức sự vật phải hoàn toàn khách quan là hợp

lý Ông nhận xét đúng rằng, con người thường hay chủ quan, duy ý chí trong hoạtđộng của mình Nhưng ông lại sai lầm khi phủ nhận hoàn toàn cái chủ quan trongnhận thức Việc đòi hỏi nhận thức phải "khách quan thuần tuý" của ông là mộtđiều không tưởng, tuy nhiên nó có ý nghĩa tích cực trong việc phê phán các quanniệm thần học chủ quan kinh viện thời đó, vì sự tiến bộ của khoa học

Ảo tưởng “hang động”: Ngoài những ảo tưởng đối với cả loài người, thì

mỗi người còn có các đặc tính chủ quan, tâm lí, tính cách đặc thù của mình làmxuyên tạc bản chất khách quan của sự vật Chúng còn xuất hiện do hoàn cảnh giáodục của mỗi người cũng khác nhau Thực chất ảo tưởng hang động chính là ảo

Trang 12

tưởng loài, nhưng biểu hiện ở mỗi người cụ thể ở mức độ và hình thức khác nhau.

Sở dĩ gọi là ảo tưởng hang động vì mượn câu chuyện của Platôn về hang động,Ph.Bêcơn ví trí tuệ của con người như hang động méo mó của Platôn, mà trong đóthể hiện cái bóng của các sự kiện diễn ra bên ngoài

Để hạn chế dạng ngẫu tượng này, mỗi người cần phải hoàn thiện nhân cáchcủa mình, thận trọng trong quá trình nhận thức, dựa vào kinh nghiệm tập thể …

Ảo tưởng “thị trường”: Nó xuất hiện do mọi người thường hay sùng bái,

chạy theo các quan điểm của ai đó có uy tín, hoặc ủng hộ những quan điểm phổbiến giáo điều, các tập quán truyền thống, trong đó bên cạnh nhiều yếu tố tích cực,cũng chứa đựng không ít những điều lạc hậu Các ảo tưởng này còn xuất hiện dongôn ngữ khoa học của chúng ta đôi chỗ còn chưa thật chuẩn xác Quan niệm trêncủa Ph.Bêcơn có nhiều điểm hợp lý và tiến bộ

Ảo tưởng “nhà hát”: Đó là những ảnh hưởng có hại của nhiều học thuyết,

quan niệm thống trị làm cản trở quá trình nhận thức chân lý Phê phán tệ sùng bái

cá nhân của nhiều nhà khoa học thời đó, Ph.Bêcơn khẳng định "chân lý là con gáicủa thời gian chứ không phải của uy tín" Để tìm ra chân lý chúng ta không nên rơivào chủ nghĩa hoài nghi luận, nhưng cũng không nên giáo điều trong nhận thức

Nhìn chung, việc xác định bản chất và nguyên nhân của các ảo tưởng củaPh.Bêcơn còn mang nặng tính trực quan, chủ yếu xét ở khía cạnh nhận thức luận,

vì vậy chưa đưa ra được các giải pháp khắc phục ảo tưởng một cách hợp lý Cônglao của ông trong học tuyết về ảo tưởng là ở chỗ ông đã đặt ra vấn đề cơ sở xã hộicủa quá trình nhận thức; ở chỗ khẳng định quá trình nhận thức sự vật phải hoàntoàn khách quan, xem xét với tinh thần phê phán, cách mạng chứ không giáo điều.Những tư tưởng đó có ý nghĩa to lớn không chỉ đối với thời đại của ông mà cònđối với cả hiện nay

Quan điểm về phương pháp nhận thức khoa học:

Ph.Bêcơn là một trong những người đầu tiên nhận thức được hạn chế củatam đoạn luận và của lôgic hình thức - cái mà từ trước đến bấy giờ vẫn được coi làphương pháp nhận thức vạn năng, đồng thời ông là một trong những người khởixướng ra tư tưởng lôgic mới Ph.Bêcơn liệt kê, phân tích những phương pháp nhận

Ngày đăng: 24/12/2013, 23:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w