1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những tác động của thuế nhập khẩu

37 540 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những tác động của thuế nhập khẩu
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Báo cáo / Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 158 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện đường lối đổi mới,chính sách kinh tế_tài chính nói chung,chính sách thuế nói riêng có nhiều nội dung đi sát cuộc sống hơn và ngày càng trở thành công cụ đắc lực phục vụ có hiệu

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

Lời nói đầu

Chương I:Những vấn đề cơ bản về thuế nhập khẩu

I-Những vấn đề cơ bản về thuế nhập khẩu:

1-Khái niệm

2-Nội dung cơ bản của thuế nhập khẩu

Chương II:Tác động của thuế nhập khẩu đến hoạt động nhập khẩu

1-Chính sách nhập khẩu của Nhà nước

2-Tác động của thuế nhập khẩu đến hoạt động nhập khẩu

3-Tác động của thuế nhập khẩu đến hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu

Chương III:Phương hướng cải cách thuế xuất,nhập khẩu;GTGT;tiêu thụ đặc biệt trong thời gian tới (Đến năm 2020).

1-Mục tiêu,phương hướng xuất nhập khẩu của Việt Nam trong những năm tới (Đến năm 2020)

2-Phương hướng cải cách thuế nhập khẩu:

2.1-Mục tiêu cải cách thuế nhập khẩu đến năm 2020

2.2-Những nguyên tắc cần quán triệt khi xây dựng chính sách thuế xuất,nhập khẩu của Việt Nam đến năm 2020

2.3-Nội dung cơ bản của việc điều chỉnh chính sách thuế xuất,nhập khẩu

Trang 3

2.4-Những tác động tích cực và những thách thức của việc đổi mới chính sách thuế xuất,nhập khẩu.

3-Những điều kiện cần thiết để thực hiện thành công sự cải cách trong chính sách thuế của Việt Nam

Kết luận

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

1_Sự cần thiết của đề tài:

Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế,là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước.Chính sách thuế gắn liền với chính sách phát triển của mọi quốc gia.Đối với những quốc gia đang thực hiện nền kinh tế chuyển đổi,tiến sâu vào hội nhập quốc tế thì chính sách thuế năng động,phù hợp càng trở nên cực kỳ quan trọng

Thực hiện đường lối đổi mới,chính sách kinh tế_tài chính nói chung,chính sách thuế nói riêng có nhiều nội dung đi sát cuộc sống hơn và ngày càng trở thành công cụ đắc lực phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế_xã hội.Đặc biệt,từ sau cải cách bước 2 (năm 1999),chính sách thuế có sự thay đổi lớn,đã có những kết quả không thể phủ nhận được.Các Luật thuế mới góp phần tích cực nhằm bảo hộ sản xuất trong nước,thúc đẩy đầu tư,khuyến khích xuất khẩu và quản lý nhập khẩu.Có thể nói qua thời gian thực hiện,các Luật thuế mới,với sự cải cách sửa đổi bổ sung kịp thời,hợp lý đã đảm bảo công bằng và bình đẳng về nghĩa vụ thuế.Về cơ bản phù hợp với thực tiễn sản xuất,kinh doanh,góp phần làm cho sản xuất kinh doanh ổn định,phát triển,tác động sâu sắc đến quá trình chuyển đổi nền kinh tế,góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,ổn định xã hội.Ba năm qua nhiệm vụ thu Ngân sách Nhà nước

đề ra đều hoàn thành vượt mức

Ngoài những kết quả trên,việc thực hiện chính sách thuế mới còn thúc đẩy các tổ chức,cá nhân tăng cường công tác quản lý hạch toán kinh doanh,thực hiện tốt hơn chế độ hoá đơn chứng từ,thúc đẩy cơ quan thuế từng bước đổi mới nâng cao công tác quản lý thu phù hợp với việc thay đổi chính sách thuế, Xây dựng một chính sách thuế tích cực,hợp lý kích thích sự năng động của hoạt động giao thương trong quá trình hội nhập là bước đột phá kích hoạt tăng trưởng nền kinh tế

Trang 5

Trong hoạt động thương mại,cán cân xuất nhập khẩu là mối quan tâm lớn.Nhất là những nước đang phát triển như Việt Nam nhằm công nghiệp hoá_hiện đại hoá đất nước thì phải đẩy mạnh xuất nhập khẩu.Ơ lĩnh vực này,thuế là một giải pháp quan trọng.Trong các chính sách thuế thì chính sách nhập khẩu có tầm quan trọng hơn cả

Chính vì vậy,em đã chọn đề tài:”Những tác động của thuế nhập khẩu làm

đề tài tiểu luận

Vì thời gian có hạn,việc sưu tầm tài liệu để có thể đưa ra đánh giá tác động của thuế nhập khẩu đến hoạt động ngoại thương là rất khó khăn,không những thế kinh nghiệm và khả năng bản thân còn hạn chế.Vì vậy,em rất mong nhận được sự góp ý của các thày và các bạn

Trang 6

Chương I:NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ NHẬP KHẨU

Có thể nói,ở tất cả các nước,đặc biệt là các nước phương tây,tài chính nói chung và luật thuế nói riêng đóng vai trò hết sức quan trọng.Nhà nước có quản

lý tốt nền kinh tế quốc dân hay không chính là ở chỗ bản thân Nhà nước và các

cơ quan chức năng của nó có thu đủ thuế,thu đúng và kịp thời hay không

Vậy thuế là gì?

Thuế là khoản đóng góp mang tính bắt buộc được Nhà nước qui định thành luật để mọi người dân và các tổ chức kinh tế phải thực hiện nộp vào Ngân sách Nhà nước theo từng thời kỳ nhất định,nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của bộ máy Nhà nước

Hay nói cách khác,thuế là hình thức động viên phân phối,phân phối lại sản phẩm xã hội,thu nhập quốc dân do các tổ chức kinh tế và người dân tạo ra để hình thành quỹ tiền tệ tập trung nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước

Ơ Việt Nam hiện nay,thuế vừa là chính sách tài chính huy động nguồn thu,hướng dẫn,điều tiết sản xuất kinh doanh,vừa là bộ phận cấu thành của chính sách tài khoá của một quốc gia.Có nhiều chính sách thuế tác động đến hoạt động nhập khẩu của các doanh nghiệp,trực tiếp nhất là thuế nhập khẩu

I_Những vấn đề cơ bản về thuế nhập khẩu:

Luật thuế xuất,nhập khẩu được Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII kỳ họp thứ X thông qua ngày 26/11/1991,đến nay đã sửa đổi,bổ sung hai lần (lần 1 vào ngày 5/7/1993 và lần 2 vào ngày 20/5/1998)

1_Khái niệm về thuế nhập khẩu:

Thuế xuất khẩu,nhập khẩu là thuế gián thu đánh vào hàng hoá mậu dịch,phi mậu dịch được phép xuất khẩu,nhập khẩu qua biên giới của một quốc gia.Thuế xuất khẩu,nhập khẩu được tính,thu,nộp tại cửa khẩu hải quan nên còn gọi là thuế quan

Trang 7

Người tiêu dùng là người chịu thuế.Người nộp thuế là các tổ chức,cá nhân có hàng hoá xuất,nhập khẩu.

Chính sách thuế xuất khẩu,nhập khẩu là một bộ phận quan trọng cấu thành chính sách kinh tế nói chung,chính sách kinh tế đối ngoại nói riêng của một quốc gia.Nhiệm vụ cơ bản của nó là điều tiết xuất,nhập khẩu.Từ đó điều tiết thị trường.Đồng thời là biện pháp quan trọng nhất để quản lý hoạt động ngoại thương,góp phần thực hiện chính sách kinh tế đối ngoại,bảo đảm an toàn về kinh

tế và công nghệ của đất nước,giải quyết các mục tiêu kinh tế,tài chính và thương mại

Việc đánh thuế nhập khẩu không những tác động lên chính hàng hoá nhập khẩu đó mà còn tác động đến giá cả hàng hoá có liên quan,đến cung cầu hàng hoá trên thị trường.Bằng công cụ thuế này thông qua việc thay đổi thuế suất trong Biểu thuế nhập khẩu,Nhà nước sẽ khuyến khích hay hạn chế nhập khẩu hàng hoá cho phù hợp với tình hình kinh tế và thị trường trong nước

Hàng hoá đi qua biên giới của một quốc gia là đối tượng của thuế nhập khẩu.Do vậy,tất cả các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động ngoại thương đều quan tâm đến chính sách thuế xuất khẩu,nhập khẩu,đặc biệt là biểu thuế và thuế suất

Thuế nhập khẩu góp phần vào việc phát triển và bảo vệ sản xuất trong nước,hướng dẫn tiêu dùng,đảm bảo công bằng xã hội,tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước.Song một sắc thuế không thể cùng một lúc đáp ứng được tất cả các mục tiêu trên.Thực tế cho thấy,nếu phải đáp ứng quá nhiều mục tiêu,đôi khi chính sách thuế trở nên phản tác dụng.Việc mở rộng và tăng cường hiệu quả của quan hệ thương mại đòi hỏi phải hạn chế sự bảo hộ trong nước.Mặt khác,mục tiêu hướng dẫn tiêu dùng trong nước và bảo hộ sản xuất trong nước sẽ dẫn tới việc áp dụng một chế độ thuế quan đa thuế suất.Trong khi đó,để đáp ứng mục tiêu tăng nguồn thu cho ngân sách thì một hệ thống thuế quan đơn giản,ít ngoại

lệ mới phát huy được tác dụng tốt nhất

Trang 8

Việc lồng các chính sách kinh tế xã hội khác vào chính sách thuế trên làm cho

cơ cấu hệ thống thuế suất trở nên phức tạp.Mỗi sắc thuế có nhiều thuế suất chênh lệch nhau lớn,nhưng trong Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành lại thiếu những tiêu chuẩn phân biệt rõ ràng làm căn cứ cho việc vận dụng đúng đắn,chính xác.Có không ít ngành nghề,mặt hàng có thể xếp vào mức thuế suất nào cũng được mà các mức thuế này đối với cùng một mặt hàng đó lại chênh lệch nhau đến chục lần.Điều đó gây khó khăn trong tổ chức thực hiện cả cho cơ quan thuế và người nộp thuế,đồng thời dễ phát sinh hiện tượng tuỳ tiện,tiêu cực

2_Nội dung cơ bản của thuế nhập khẩu:

Đối tượng chịu thuế nhập khẩu chính là hàng hoá mậu dịch,phi mậu dịch được

phép nhập khẩu khi đi qua cửa khẩu,biên giới Việt Nam,kể cả hàng hoá từ khu chế xuất đưa vào thị trường trong nước

Ngoài ra,trong Luật thuế cũng chỉ rõ một số mặt hàng không phải là đối tượng chịu thuế,đó là hàng vận chuyển quá cảnh hoặc mượn đường qua biên giới Việt

Nam,hàng chuyển khẩu theo qui định của Chính phủ,hàng viện trợ nhân đạo.Tất cả các tổ chức,cá nhân được phép kinh doanh nhập khẩu có hàng hoá

nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế.Trường hợp nhập khẩu uỷ thác thì tổ chức

nhận uỷ thác chịu trách nhiệm nộp thuế nhập khẩu

Phương pháp tính thuế nhập khẩu rất đơn giản,chỉ cần ba yếu tố xác định,đó

là:

Số lượng hàng thực tế được nhập khẩu,số lượng hàng nhập khẩu có thể được

căn cứ vào bảng kê khai chi tiết lô hàng nhập khẩu mà nhà xuất khẩu gửi cho nhà nhập khẩu

Giá tính thuế sẽ là giá nhập khẩu CIF,bao gồm giá hàng cộng phí bảo hiểm (I)

và chi phí vận tải (F) nếu là hàng nhập khẩu đó thực hiện theo hợp đồng nhập khẩu hợp lệ.Ngoài ra,sẽ áp dụng bảng giá tối thiểu trong các trường hợp mua bán không có hợp đồng và những mặt hàng nằm trong danh mục Nhà nước quản

lý giá.Qui định này trong điều kiện đặc thù của nước ta là tương đối phù hợp,tuy

Trang 9

nhiên,khi Việt Nam tham gia vào tổ chức WTO thì việc áp dụng chế độ giá tính thuế tối thiểu sẽ vi phạm qui định về xác định trị giá tính thuế theo giá giao dịch thực của GATT/WTO.

Thuế suất:theo Luật thuế nhập khẩu được sửa đổi và có hiệu lực từ 1/1/1999

thì thuế suất đối với hàng nhập khẩu có 3 mức:

Thuế suất ưu đãi:áp dụng cho hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ nước hoặc

khối nước có thoả thuận về đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt nam được qui định cụ thể cho từng mặt hàng trong Biểu thuế thuế nhập khẩu ưu đãi

Thuế suất ưu đãi đặc biệt:áp dụng cho hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ nước

hoặc khối nước có thoả thuận ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu theo thể chế khu vực thương mại tự do,áp dụng cụ thể cho từng mặt hàng theo qui định trong thoả thuận

Thuế suất thông thường:áp dụng cho hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ nước

hoặc khối nước không có thoả thuận về đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam.Thuế suất thông thường được qui định cao hơn thuế suất ưu đãi của từng mặt hàng và bằng 150% thuế suất ưu đãi

Tuy nhiên,để tính đúng,tính đủ thuế nhập khẩu phải nộp trong nhiều trường hợp lại không dễ dàng,có thể xảy ra bất đồng cách tính thuế giữa doanh nghiệp nhập khẩu và cơ quan hải quan mà phải nhờ đến cơ quan có thẩm quyền cấp trên giải quyết.Một trong những vướng mắc nhất đó chính là áp mã số để từ đó có mức thuế suất phù hợp

Nhà nước tiến hành thu thuế nhập khẩu bổ sung đối với 3 trường hợp:hàng

phá giá,hàng được nước xuất khẩu trợ cấp làm cho giá hàng nhập khẩu thấp hơn giá của hàng hoá cùng loại trong nước và hàng nhập khẩu từ các nước có chính sách phân biệt đối xử hàng nhập khẩu có xuất xứ từ Việt Nam nhằm tăng cường công cụ pháp lý bảo vệ cho sản xuất trong nước phù hợp với thông lệ quốc tế trong điều kiện tự do hoá thương mại

Trang 10

Biểu thuế nhập khẩu có tên gọi là Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi,có khoảng

6.400 dòng thuế (chi tiết đến 8 chữ số).Việc sửa đổi danh mục biểu thuế nhập khẩu theo hệ thống thống nhất trong mô tả hàng hoá của Tổ chức Hải quan thế giới là một bước tiến quan trọng theo hướng tạo lập sự rõ ràng cho việc áp dụng chính sách thuế nhập khẩu ở Việt Nam

Sự thường xuyên thay đổi thuế suất của Biểu thuế nhập khẩu hiện nay tuy phù hợp với những thay đổi trước mắt của nền kinh tế nhưng lại phản ánh chính sách thuế nhập khẩu của Việt Nam mang tính đối phó ngắn hạn gây khó khăn cho các đơn vị sản xuất kinh doanh trong việc xác định chủ trương và chiến lược kinh doanh lâu dài của đơn vị cũng như cho công tác quản lý thuế

Chính sách thuế nhập khẩu của Việt Nam hiện nay vẫn thực hiện chức năng bảo hộ triệt để cho sản xuất trong nước và thu ngân sách Nhà nước là chủ yếu.Cụ thể là:những mặt hàng là máy móc,thiết bị,nguyên vật liệu trọng yếu cần cho sản xuất mà trong nước chưa sản xuất được hoặc có sản xuất nhưng với số lượng nhỏ thì để ở mức thuế suất thấp nhất,những mặt hàng ta đã sản xuất được với số lượng tương đối lớn thì để ở mức thuế suất cao hơn.Như vậy,ở đây tất cả các ngành sản xuất trong nước đang được bảo hộ triệt để như nhau,cứ có sản xuất trong nước là thuế nhập khẩu được điều chỉnh nâng lên.Mức độ bảo hộ không được phân định theo những ngành sản xuất dựa trên lợi thế cạnh tranh,những ngành Nhà nước chủ trương tập trung đầu tư để phát triển,hay là những ngành không thuộc diện này

Việc phân tích các tỷ lệ bảo hộ thực tế của Biểu thuế nhập khẩu hiện hành cho thấy những ngành được bảo hộ cao nhất là những ngành sản xuất hàng thay thế hàng nhập khẩu,ngược lại với những ngành xuất khẩu và những ngành có tiềm năng nhưng hiện nay chưa đủ khả năng cạnh tranh được với hàng nhập khẩu.Như vậy,tác dụng bảo hộ của chính sách thuế nhập khẩu dẫn đến việc khuyến khích tiêu dùng hàng trên thị trường trong nước mà không khuyến khích cho xuất khẩu ở thời điểm hiện nay cũng như trong tương lai.Điều này cũng đã dẫn đến thực tế đầu tư nước ngoài trong những năm qua đã được thu hút vào

Trang 11

những ngành sản xuất ra các sản phẩm với mục tiêu thay thế nhập khẩu,phục vụ cho nhu cầu của thị trường trong nước chứ không nhằm vào xuất khẩu.Xuất khẩu chưa phải là đích phục vụ chủ yếu của nhập khẩu nên đã càng dẫn đến tình trạng thâm hụt cán cân thương mại.Đồng thời sẽ tạo ra sự bất lợi cho Việt Nam khi tham gia vào các tổ chức thương mại khu vực và thế giới mà mục tiêu của

nó là tự do hoá thương mại để tăng sự luân chuyển luồng hàng hoá giữa các quốc gia nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển,hay nói cách khác là tạo điều kiện tối

đa cho xuất khẩu.Nếu chúng ta giảm thuế để mở cửa thị trường cho các nước mà chúng ta lại không xuất khẩu được thì đó sẽ là sự thiệt hại rất lớn cho kinh tế của

ta

Biểu thuế nhập khẩu vẫn còn quá nhiều mức nên đã làm mất đi tính trung lập cần có của thuế.Việc xây dựng biểu thuế có quá nhiều thuế suất không còn phù hợp với cơ chế thị trường có nhiều thành phần kinh tế

Trên thực tế,chế độ đa thuế suất chỉ phù hợp với thời kỳ kế hoạch hoá tập trung,khi mà Chính phủ qui định một cách trực tiếp mọi loại giá cả chủ yếu trong nền kinh tế

Khi chuyển sang cơ chế thị trường,giá cả không chịu sự chi phối của cơ chế

kế hoạch hoá tập trung như trước nữa thì việc áp dụng chế độ đa thuế suất sẽ làm cho hệ thống thuế trở nên kém hiệu quả,trong một số trường hợp còn tạo nhiều kẽ hở.Từ đó biểu thuế thường xuyên phải sửa đổi,bổ sung;làm cho chính sách thuế lại thiếu tính ổn định

Hệ thống thuế suất thay đổi thường xuyên đã gây không ít khó khăn cho việc tính giá thành,lợi nhuận, Khiến các doanh nghiệp thiếu tin tưởng vào chính sách thuế,không yên tâm bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất,mở rộng kinh doanh hoặc sẽ đối phó bằng cách nợ đọng thuế,trốn lậu thuế (mặt hàng thất thu thuế nhập khẩu nhiều nhất là rượu 1.000_1.200 tỷ đồng (Nguồn:Thời báo kinh tế Việt Nam số 11/2002)

Trang 12

Việc quản lý hàng nhập khẩu có thay đổi biện pháp:Trước kia,các chủ hàng

chỉ có trách nhiệm khai báo hàng theo mẫu tờ khai,còn việc áp mã,tính thuế do cán bộ Hải quan thực hiện theo qui trình thu thuế với hàng nhập khẩu.Nay,các chủ hàng sẽ chủ động trong việc áp mã,tính thuế,nộp thuế,còn cơ quan thu thuế chỉ làm nhiệm vụ kiểm tra,giám sát thực hiện theo đúng pháp luật,đã tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong việc thông quan hàng hoá,nâng cao trách nhiệm

và ý thức tuân thủ pháp luật về thuế của doanh nghiệp

Đối tượng nộp thuế được xét miễn giảm trong các trường hợp sau đây:

Hàng là vật tư,nguyên liệu nhập khẩu để gia công cho nước ngoài và xuất khẩu theo các hợp đồng gia công cho nước ngoài.Qui định này đã khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất hàng gia công xuất khẩu và xuất khẩu

Hàng nhập khẩu chuyên dùng phục vụ trực tiếp cho an ninh,quốc phòng,nghiên cứu khoa học và giáo dục,đào tạo

Thiết bị,máy móc,phương tiện vận tải chuyên dùng nhập khẩu theo qui định tại điều 47 của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và điều 25 của Luật khuyến khích đầu tư trong nước

Hàng là quà biếu,tặng của tổ chức,cá nhân nước ngoài cho tổ chức,cá nhân Việt Nam và ngược lại ở trong mức qui định thì chỉ được xét miễn giảm thuế nhập khẩu cho mỗi cá nhân với lô hàng có trị giá không quá 100 USD và tổng giá trị lô hàng không vượt quá 1.000 USD

Các đối tượng được miễn thuế trên đây về cơ bản thể hiện đường lối,chủ trương của Đảng và Nhà nước ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực an ninh,quốc phòng cũng như nghiên cứu khoa học,giáo dục và đào tạo.Tuy nhiên rất khó xác định

vì chúng có thể dùng cho nhiều đối tượng khác nhau,dẫn đến thủ tục xét miễn giảm thuế phức tạp mà vẫn không bảo đảm được sự chính xác,chặt chẽ,tạo nên

kẽ hở trốn thuế

Trang 13

Hàng được xét hoàn thuế gồm vật tư,nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng

xuất khẩu được hoàn thuế tương ứng với tỷ lệ xuất khẩu thành phẩm;hàng nhập khẩu để tái xuất để dự hội chợ triển lãm

Qui định này đã khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và xuất khẩu

Lịch trình giảm thuế nhập khẩu với ASEAN đã đảm bảo cho Việt Nam thực hiện được cam kết giảm thuế theo đúng qui định của Hiệp định CEPT,đồng thời đảm bảo sự phù hợp,hỗ trợ được tối đa cho sản xuất trong nước chuẩn bị,bố trí lại cơ cấu sản xuất,đầu tư và vươn lên cạnh tranh có hiệu quả với khu vực.Đây cũng chính là bước đi đầu tiên,đặt nền móng cho việc thiết kế chính sách thuế nhập khẩu phù hợp với những bước hội nhập ngày càng rộng và sâu sắc hơn của Việt Nam với các tổ chức thương mại lớn hơn như APEC,WTO

Trang 14

Chương II:

TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ NHẬP KHẨU ĐẾN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM.

1_Chính sách nhập khẩu của Nhà nước:

Nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật,chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng từng bước công nghiệp hoá đất nước.Bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế,đảm bảo phát triển kinh tế cân đối và ổn định.Nhập khẩu góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân.Nhập khẩu vừa thoả mãn nhu cầu trực tiếp của nhân dân về hàng tiêu dùng,vừa đảm bảo đầu vào cho sản xuất,tạo việc làm ổn định cho người lao động.Nhập khẩu thúc đẩy xuất khẩu

Nhiệm vụ trọng tâm của nước ta trong giai đoạn hiện nay là công nghiệp hoá _ hiện đại hoá đất nước.Do đó,chính sách và cơ chế quản lý nhập khẩu phải đáp ứng yêu cầu đổi mới,hiện đại hoá thiết bị và công nghệ,đảm bảo vật tư,hàng hoá thiết yếu mà nền kinh tế chưa đáp ứng được,bảo hộ và phát triển sản xuất trong nước

Vì thế Nhà nước khuyến khích nhập khẩu các mặt hàng:máy móc thiết bị toàn

bộ có công nghệ cao;thiết bị,máy móc tiên tiến để hiện đại hoá công nghệ đối với các ngành công nghiệp then chốt (tin học,điện tử_viễn thông liên lạc,chế tạo máy,hoá chất cơ bản);tác động đến toàn bộ hoặc một bộ phận quan trọng của nền kinh tế

Đồng thời Nhà nước hạn chế nhập khẩu các mặt hàng:máy móc,thiết bị quá

cũ hoặc công nghệ quá lạc hậu và dễ gây ô nhiễm môi trường;các hàng tiêu dùng không thiết yếu,xa xỉ phẩm,hàng trong nước đã sản xuất được và hàng có

Trang 15

chất lượng không đảm bảo nhằm bảo hộ sản xuất trong nước và bảo vệ môi trường.

Để thực hiện được điều đó,kiểm soát chặt chẽ hàng nhập khẩu là biện pháp quan trọng phát triển sản xuất và xuất khẩu.Cơ chế quản lý vì thế được hoàn thiện theo hướng tăng cường quản lý Nhà nước,nhất là đối với nhập khẩu công nghệ và hàng tiêu dùng.Thông qua biện pháp thuế nhập khẩu và kết hợp quản lý với các biện pháp phi thuế quan,các biện pháp về tổ chức và giám sát hoạt động xuất nhập khẩu

Về thuế nhập khẩu:Nhà nước thực hiện quản lý bằng cách:

Đánh thuế suất cao đối với những hàng tiêu dùng xa xỉ chưa phù hợp với tình hình kinh tế đời sống của nhân dân hiện nay

Đánh thuế suất thấp đối với hàng nguyên liệu phục vụ sản xuất,hàng tiêu dùng thiết yếu đáp ứng nhu cầu của người dân mà trong nước sản xuất với số lượng thấp

Thay đổi thuế suất đối với hàng trong nước đã sản xuất được và đáp ứng được nhu cầu

Ngoài biện pháp thuế quan Nhà nước áp dụng những biện pháp phi thuế quan như khống chế số lượng nhập khẩu,hàng quản lý theo chuyên ngành (Ví dụ:Nhập khẩu máy móc thiết bị phải được phép của Bộ khoa học công nghệ và môi trường),ban hành danh mục hàng cấm nhập khẩu

Về thủ tục thông quan đối với hàng nhập khẩu,Nhà nước cũng phân loại hàng theo 3 luồng để tiến hành quản lý tốt hơn công tác nhập khẩu:

Luồng xanh:cho hàng nhập khẩu có thuế suất bằng 0%,hàng nhập khẩu được miễn thuế,hàng thực phẩm tươi sống bảo quản lạnh

Luồng vàng:cho hàng nhập khẩu có thuế suất 30% trở lên,hàng nhập khẩu chịu sự quản lý theo chuyên ngành

Trang 16

Luồng đỏ:cho hàng nhập khẩu có vướng mắc về chính sách,cần có ý kiến của cấp cao hơn.

2_Tác động của thuế nhập khẩu đến hoạt động nhập khẩu:

Thuế nhập khẩu là công cụ quản lý vĩ mô.Thông qua thuế nhập khẩu Nhà nước điều tiết lượng hàng nhập khẩu,từ đó tác động đến cung,cầu của hàng hoá được mua bán trên thị trường trong nước,qua đó bảo hộ sản xuất trong nước và khuyến khích sản xuất trong nước phát triển

Với những mặt hàng khuyến khích nhập khẩu sẽ được áp dụng thuế suất thấp,đó là những mặt hàng trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất chưa

đủ đáp ứng nhu cầu,cần khuyến khích nhập khẩu để đảm bảo cung cấp đủ đầu vào cho sản xuất trong nước và góp phần đổi mới công nghệ trong nước

Ngược lại,với những mặt hàng sản xuất trong nước đang phát triển,Nhà nước cần phải bảo hộ thì thuế suất nhập khẩu thường bị đánh cao (VD:ô tô,xe máy và linh kiện nhập khẩu,đường ăn,kính xây dựng, )

Để làm rõ hơn tác động của thuế nhập khẩu đến khối lượng và cơ cấu của hàng hoá nhập khẩu,chúng ta giả thiết thuế đánh vào một mặt hàng cụ thể,ví dụ như hàng may mặc.Giả sử thuế suất thuế nhập khẩu là 50% và giá quốc tế của hàng may mặc là 10.000 VNĐ.Như vậy,trong điều kiện thương mại tự do mức giá bình quân là 10.000 VNĐ vì khi cho tự do buôn bán nhà sản xuất trong nước không thể bán cao hơn giá quốc tế được.Tại mức giá 10.000 VNĐ người tiêu dùng sẽ mua với số lượng là 30.000 chiếc.Nhưng tại mức giá này,các doanh nghiệp trong nước chỉ sản xuất ở mức 20.000 chiếc.Sự chênh lệch giữa mức cung trong nước (20.000 chiếc) và mức cầu trong nước (30.000 chiếc) được bù đắp bằng nhập khẩu

Bây giờ nếu đánh thuế nhập khẩu (ví dụ 50%),giá hàng may mặc nhập khẩu tăng từ 10.000 VNĐ lên 15.000 VNĐ thì người nhập khẩu phải bỏ ra một số tiền

là 15.000 VNĐ để mua và đóng thuế cho đơn vị nhập khẩu mặt hàng này.Giá cung lúc này là 15.000 VNĐ,tuy giá bán quốc tế không thay đổi.Với mức giá

Trang 17

15.000 VNĐ,cung của nhà sản xuất trong nước là 22.000 chiếc,cầu của người tiêu dùng trong nước là 27.000 chiếc.Sau khi thuế nhập khẩu được thực hiện giá hàng may mặc tăng lên,do đó làm cho mức tiêu thụ giảm xuống.Người tiêu dùng chỉ có khả năng mua một lượng hàng là 27.000 chiếc chứ không phải là 30.000 chiếc như trong điều kiện tự do buôn bán.Lượng cầu giảm kéo theo giảm lượng hàng nhập khẩu.Dưới tác động của thuế nhập khẩu lượng hàng nhập chỉ còn là 5.000 chiếc ( tức 27.000 chiếc - 22.000 chiếc) chứ không phải là 10.000 chiếc (tức 30.000 chiếc - 20.000 chiếc).

Tuy nhiên,hoạt động nhập khẩu lại do doanh nghiệp thực hiện.Việc nhập khẩu mặt hàng gì,giá cả bao nhiêu,lúc nào lại do doanh nghiệp quyết định.Thuế nhập khẩu được tính vào giá thành,do đó,thuế nhập khẩu được coi là khoản chi phí nằm trong giá hàng hoá.Nó làm tăng giá vốn hàng nhập khẩu,từ đó tác động trực tiếp đến thu nhập của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.Việc đánh thuế nhập khẩu cao hay thấp có ảnh hưởng lớn đến quyết định của doanh nghiệp có nhập khẩu mặt hàng đó hay không

Nếu Nhà nước bảo vệ không chính đáng nền sản xuất trong nước,chống lại hàng nhập bằng cách áp đặt thuế quan cao,cấm nhập hoặc những cản trở khác sẽ gây ra những hậu quả khôn lường là đặt doanh nghiệp đứng trước ngã 3 đường:Hoặc không dám nhập khẩu chính thức mặt hàng đó nữa vì không thể cạnh tranh được với hàng lậu do trốn thuế nên giá thành hạ hoặc với hàng nhập khẩu thông qua hành vi gian lận thương mại.Như vậy vô hình chung Nhà nước đã không thu được chút nào khoản thuế này.Hàng hoá vẫn tràn ngập thị trường,khoản thu nhập từ thuế lẽ ra Nhà nước hưởng lại rơi vào túi bọn làm ăn bất chính.Khoản lợi nhuận từ kinh doanh đàng hoàng của doanh nghiệp cũng không được hưởng

Hoặc chính bản thân doanh nghiệp bị đẩy tới chỗ có những hành vi “gian lận thương mại” như khai bớt số lượng,khai sai chủng loại hàng hoá,khai sai phẩm cấp chất lượng,hạ giá hoá đơn nhập khẩu, Một trong những hành vi phổ biến hiện nay được công luận báo chí nhắc đến nhiều là lợi dụng kẽ hở của biểu thuế

Trang 18

tối thiểu,gian lận bằng cách hạ giá hoá đơn nhập khẩu,có nghĩa là việc thông đồng giữa kẻ bán và người mua (công ty nước ngoài với công ty trong nước) để ghi giá hàng nhập trên hợp đồng thương mại thấp hơn nhiều lần so với giá thực tế.Thực chất đây cũng là hành vi “trốn lậu” thuế,thu lợi cho bản thân,gây thất thu không nhỏ cho Ngân sách Nhà nước và làm chao đảo không ít các doanh nghiệp làm ăn chân chính.

Buôn lậu làm thất thu ngân sách rất lớn lao,làm băng hoại nền kinh tế đất nước,phá hoại nền sản xuất,làm tiêu tan ý chí và quyết tâm của những nhà đầu

tư trong nước và nước ngoài, nhưng trốn thuế nhập khẩu bằng cách hạ giá hoá đơn nhập khẩu và lo lót,hối lộ để đưa hàng nhập khẩu đi vào Việt Nam một cách công khai,hợp pháp còn nguy hiểm gấp nhiều lần vì buôn lậu ai cũng biết rất dễ

bị phát hiện,rất dễ bị lên án và việc ăn hối lộ,tham nhũng của bọn buôn lậu nguy hiểm hơn là việc kinh doanh bằng con đường gian lận thuế nhập khẩu,vừa được lợi nhiều mặt mà lại an toàn,khó bị phát hiện hơn,thực tế qua các năm và qua các bảng thống kê hàng nhập khẩu của Bộ thương mại đã cho thấy rõ ràng sự thất thoát,sự thất thu của Nhà nước qua con đường trốn thuế nhập khẩu bằng cách hạ giá hoá đơn và cho hàng đi công khai qua các cảng còn to lớn gấp nhiều lần so với buôn lậu

Hoặc phải tìm cách trốn các sắc thuế kinh doanh nội địa như thuế giá trị gia tăng,thuế thu nhập doanh nghiệp.Biện pháp hữu hiệu thường được áp dụng hiện nay là xuất hoá đơn đi thẳng tới người bán lẻ

Nói tóm lại,chính sách thuế nhập khẩu có tác động không nhỏ đến hoạt động sản xuất,kinh doanh,nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam

3_Tác động của thuế nhập khẩu đến hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu:

Nói đến thuế nhập khẩu chúng ta thường nghĩ đến tác động lớn nhất của nó là quản lý nhập khẩu và bảo hộ sản xuất trong nước.Tuy nhiên,trong một số trường hợp thuế nhập khẩu lại tác động đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp.Ơ Việt Nam,đánh thuế nhập khẩu ở mức thấp và hoàn thuế đối với máy

Ngày đăng: 24/12/2013, 23:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w