Vì vậy TTCK đòi hỏi phải có sự quản lý giám sát chặt chẽ trên cơ sở một hệ thống pháp lý hoàn chỉnh và đồng bộ Lý do cần có sự quản lý và giám sát TTCK: - Quản lý và giám sát TTCK đảm bả
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN SAU ĐẠI HỌC
CHUYÊN ĐỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
CHUYÊN ĐỀ 8: Nghiên cứu về hoạt động quản lý và giám sát thị trường chứng khoán Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý và giám sát thị trường chứng khoán của Việt Nam và một số quốc gia khác.
Nhóm chuyên đề: Ngô Thị Thu Ngân
Hồ Bảo Ngọc
Đặng Thị Nhung Nguyễn Hoàng Nhung
Hà Cẩm Ninh
Hà nội - 2013
1 Khái quát về hoạt động quản lý và giám sát thị trường chứng khoán
Trang 21.1 Sự cần thiết của quản lý và giám sát thị trường chứng khoán
TTCK là nơi diễn ra các hoạt động phát hành, giao dịch mua bán một loại hàng hóa đặc biệt là chứng khoán TTCK là một loại thị trường đặc biệt, một sản phẩm cao cấp của nền kinh tế thị trường Tính phức tạp của TTCK được thể hiện ở cấu trúc và hoạt động giao dịch trên thị trường Vì vậy TTCK đòi hỏi phải có sự quản lý giám sát chặt chẽ trên cơ sở một hệ thống pháp lý hoàn chỉnh và đồng bộ
Lý do cần có sự quản lý và giám sát TTCK:
- Quản lý và giám sát TTCK đảm bảo quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư
- Đảm bảo tính hiệu quả, công bằng và minh bạch trong giao dịch chứng khoán
- Dung hòa lợi ích của các chủ thể tham gia thị trường, đảm bảo tính ổn định tương đối của thị trường
- Hạn chế các gian lận phát sinh gây tác động xấu đến thị trường và các hoạt động kinh tế - xã hội
- Ngăn chặn và kiểm soát các rủi rõ dẫn đến rủi ro hệ thống làm sụp đổ thị trường
- Đảm bảo an toàn trong hội nhập kinh tế
1.2 Quản lý thị trường chứng khoán
1.2.1 Mục tiêu quản lý
- Đảm bảo tính trung thực và minh bạch của thị trường
- Đảm bảo tính hiệu quả của thị trường
- Đảm bảo tính công bằng
1.2.2 Các cơ quan quản lý thị trường chứng khoán
a Cơ quan quản lý nhà nước về thị trường chứng khoán
- Cơ quan này thực hiện chức năng quản lý thông qua việc ban hành hoặc đề nghị các cơ quan cấp trên ban hành các văn bản pháp luật định hướng và điều tiết hoạch động của thị trường Ngoài ra các cơ quan này có thể sử dụng các hình thức khác để can thiệp vào thị trường trong các trường hợp cần thiết khẩn cấp
- Thông thường các cơ quan quản lý Nhà nước về TTCK gồm có Ủy ban Chứng khoán và các Bộ ngành có liên quan như Bộ Tài Chính, NHNN… Tuy nhiên, UBCK là
cơ quan quản lý chuyên ngành đầy đủ của Nhà nước trong lĩnh vực này UBCK quy định vấn đề liên quan đến chứng khoán như: phát hành, mua bán, thanh toán, bảo lãnh, phân phối…Bên cạnh đó, UBCK còn thực hiện vai trò quản lý Nhà nước đối với Công
ty chứng khoán, các Sở giao dịch chứng khoán và các chủ thể khác tham gia trên TTCK, thực hiện việc thanh tra giám sát nhằm đảm bảo sự ổn định của thị trường Ngoài ra, UBCK còn chủ trì, phối hợp các Bộ, ngành liên quan để điều hành TTCK hoạt động hiệu quả
Trang 3b Các tổ chức tự quản
- Đặc điểm để nhận diện tổ chức tự quản:
+ Về cơ chế tài chính, phải tự cân đối thu – chi dựa vào nguồn thu từ các hoạt động trên thị trường
+ Hoạt động phải nhằm phục vụ lợi ích chung của thị trường
- Trên thị trường chứng khoán có hai tổ chức tự quản
+ Sở giao dịch chứng khoán (bao gồm các công ty chứng khoán thành viên) chịu trách nhiệm trực tiếp điều hành và quản lý các hoạt động diễn ra trên Sở Ngoài ra Sở giao dịch chứng khoán còn chịu trách nhiệm cung cấp thông tin liên quan đến chứng khoán niêm yết, giao dịch trên cơ sở chủ thể phát hành chúng
+ Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán (tổ chức xã hội – nghề nghiệp) nhằm đảm bảo dung hòa lợi ích các thành viên trên cơ sở đảm bảo lợi ích chung của thị trường
Hoạt động điều hành các giao dịch qua quầy, đại diện cho cơ quan chứng khoán nêu lên những kiến nghị với cơ quan nhà nước; thu thập và phản ảnh các kiếu nại của khách hàng tới các đơn vị thành viên
1.2.3 Các hình thức quản lý thị trường chứng khoán
- Quản lý bằng pháp luật: Sử dụng các Văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước, các quy định của mình làm công cụ để quản lý các hoạt động diễn ra trên thị trường chứng khoán Đây là hình thức cổ điển và được sử dụng ở hầu hết các nước trên thế giới
- Các tổ chức tự quản: Trên cơ sở các văn bản pháp quy, sự định hướng và phân cấp quản lý của cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức như SGDCK, Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán tự quản lý một số hoạt động của ngành mình
1.2.4 Nội dung quản lý thị trường chứng khoán
- Quản lý phát hành: bao gồm chế độ đăng ký, chế độ cấp phép
- Quản lý các giao dịch trên TTCK: là một nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên của các cơ quan quản lý Việc giao dịch phải đảm bảo nguyên tắc: công khai, bình đẳng, cạnh tranh và trung thực
+ Quản lý Sở giao dịch chứng khoán: đây là thị trường chứng khoán tập trung,
chiếm phần lớn doanh số giao dịch của thị trường chứng khoán Việc quản lý dựa trên những quy định rất nghiêm ngặt Nội dung quan trọng của quản lý SGDCK là quản lý chứng khoán đưa ra thị trường
+ Quản lý thị trường phi tập trung: thị trường mà các giao dịch chứng khoán tiến
hành ngoài SGD Việc quản lý thị trường phi tập trung được tiến hành dựa trên các quy
Trang 4định pháp lý bắt buộc và một hành lang mở cho các hoạt động giao dịch Thông qua quản lý các nhà kinh doanh chứng khoán; và quản lý chứng khoán quốc tế…
1.3 Giám sát thị trường chứng khoán
1.3.1 Khái niệm
Là hoạt động diễn ra thường xuyên và quan trọng trong việc giữ vững sự ổn định cũng như định hướng hoạt động của thị trường
Giám sát hoạt động TTCK là tiến hành theo dõi, kiểm tra các hoạt động của các chủ thển tham gia thị trường và các hoạt động diễn ra trên thị trường nhằm phát hiện và xử
lý kịp thời các vi phạm khuyến kích, phát huy kịp thời các hành vi tốt đảm bảo giữ vững mục tiêu hoạt động của thị trường
1.3.2 Nội dụng giám sát
a Giám sát sở giao dịch:
Cơ quan quản lý nhà nước giám sát, kiểm tra hoạt động của các Sở giao dịch thông qua việc đọc, kiểm tra và phân tích sổ sách của Sở GD, xem xét tình hình tài chính và đánh giá xu hướng phát triển Sở giao dịch Việc giám sát hoạt động của các SGD của
cơ quan chủ quản thường được phân chia thành các Vụ chức năng: giám sát phát hành, giám sát niêm yết, giám sát giao dịch… nhằm thực hiện theo dõi chứng khoán và giám sát thị trường
b Giám sát các thành viên SGD CK
- Giám sát tổ chức niêm yết
- Giám sát công ty môi giới, kinh doanh chứng khoán và công ty quản lý quỹ
1.3.3 Phương thức giám sát thị trường chứng khoán
- Theo dõi chứng khoán: theo dõi chứng khoán trong ngày và theo dõi chứng khoán trong khoảng thời gian
- Thanh tra
- Xử lý kỷ luật
2 Một số mô hình quản lý giám sát thị trường chứng khoán ở các nước
2.1 Cơ quan quản lý TTCK
- Mỹ: Cơ quản quản lý là UBCK (SEC - thành lập năm 1934) Là cơ quan có tính
độc lập cao đứng đầu là Chủ tịch và 4 Ủy viên hội đồng do Tổng thống bổ nhiệm với nhiệm kỳ 5 năm
SEC có quyền lực rộng rãi từ việc ban hành các quy định, cấp phép kinh doanh, cấp phép thành lập SGD đến kiểm tra và giám sát, xử lý kỷ luật các chủ thể tham gia thị trường
Trang 5- Anh quốc: Ủy ban chứng khoán và đầu tư (SIB – thành lập năm 1986) – mô hình
quản lý đặc thù, mô hình tự quản cao, Chính phủ chỉ quản lý và giám sát rất ít SIB chịu
sự giám sát trực tiếp của Bộ trưởng bộ tài chính, nhưng không được cấp kinh phí từ ngân sách, nhân viên của SIB không phải là công chức viên chức của Chính phủ
- Tại Nhật Bản: chưa có UBCK với tư cách là một cơ quan quản lý nhà nước ngang
Bộ, Tổng cục chứng khoán thuộc Bộ Tài chính chịu trách nhiệm quản lý và giám sát thị trường Ngoài ra, còn có các cơ quan quản lý phụ trợ khác trong lĩnh vực chứng khoán như: Hội đồng chứng khoán; Hội đồng kế toán kinh doanh; Ủy ban thanh tra chứng nhận kế toán công Đến năm 1992, Uỷ ban giám sát và giao dịch chứng khoán được thành lập nhằm đảm bảo tính công bằng, công khai và an toàn trong kinh doanh chứng khoán cho các nhà đầu tư tại Sở giao dịch Uỷ ban này trực thuộc Bộ Tài chính và hoạt động tương đối dộc lập với các tổ chức khác Mô hình quản lý của Nhật Bản cũng phát huy rất cao tính tự quản
- Tại Hàn Quốc, tồn tại song song 2 cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán
gồm UBCK Hàn Quốc (KSEC) và Uỷ ban giám sát chứng khoán (SSB) KSEC và SSB chịu trách nhiệm quản lý và giám sát thị trường chứng khoán dưới sự chỉ đạo của
Bộ Tài chính Chủ tịch UBCK đồng thời là Lãnh đạo Uỷ ban giám sát, ngoài việc quản
lý thị trường chứng khoán và các định chế liên quan còn quản lý, kiểm soát trực tiếp thị trường, các công ty chứng khoán, các tổ chức niêm yết, các nhà đầu tư hoặc nhà phát hành nước ngoài
- Tại Trung Quốc, Uỷ ban quản lý chứng khoán (CSRC) thành lập năm 1992 là cơ
quan thuộc Quốc Vụ Viện Trung Quốc, thực hiện chức năng quản lý thị trường chứng khoán Sau đó Uỷ ban này kết hợp với Uỷ ban giám sát thị trường và đổi tên tành Uỷ ban giám quản chứng khoán
2.2 Giám sát TTCK
Tại đa số các nước, hệ thống giám sát có trách nhiệm quan trọng nhất là giám sát, kiểm tra việc thực thi các quy định trong lĩnh vực chứng khoán
Mô hình phân cấp giám sát thị trường chứng khoán của Mỹ như sau:
Cấp 1: UBCK giám sát các tổ chức tự quản trong việc yêu cầu các thành viên của họ tuân thủ đúng các luật về chứng khoán và điều lệ tự quản
Cấp 2: Các tổ chức tự quản giám sát thành viên của mình và các chủ thể tham gia thị trường bằng cách thiết lập, thực hiện và đánh giá các tiêu chuẩn đề ra
Cấp 3: UBCK và tổ chức tự quản giám sát các công ty chứng khoán, các công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán
Nội dung chính của việc giám sát là kiểm tra tình hình tài chính và mức độ tuân thủ các chỉ tiêu tài chính theo luật định Đồng thời, xem xét các giao dịch trái phép với giá
Trang 6cả và khối lượng vượt chuẩn định, giao dịch nội gián hoặc sử dụng tiền ký quỹ của khách hàng sai mục đích
3 Thực trạng quản lý và giám sát thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức đi vào hoạt động ngày 20/7/2000 với
sự khai trương của trung tâm giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh Trước đó, để chuẩn bị cho sự ra đời của thị trường, UBCKNN (SSC) được thành lập theo Nghị định 75/CP ngày 28/11/1996 của Thủ tướng Chính phủ SSC là cơ quan trực thuộc Chính phủ, có nhiệm vụ chuẩn bị các điều kiện về pháp lý, hàng hóa, con người và cơ sở vật chất cho thị trường chứng khoán Việt Nam SSC là cơ quan quản lý nhà nước cao nhất trong lĩnh vực chứng khoán Bên cạnh đó, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về một số vấn đề nhất định trong lĩnh vực chứng khoán
3.1 Mô hình quản lý và giảm sát TTCK ở Việt Nam
3.1 Cơ quan quản lý, giám sát ở Việt Nam
3.1.1 Mô hình quản lý nhà nước đối với TTCK Việt Nam
Tại Việt Nam, Ủy ban chứng khoán Nhà nước là cơ quan trực thuộc Chính phủ thực hiện chức năng tổ chức và quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK
Với vị thế là cơ quan quản lý chuyên ngành về chứng khoán và TTCK, Ủy ban chứng khoán Nhà nước có vai trò rất lớn trong việc tổ chức và quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK với mục tiêu chính là tạo ra môi trường thuận lợi cho việc huy động vốn cho đầu tư phát triển, đảm bảo cho TTCK hoạt động có tổ chức, an toàn, công khai, công bằng và hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư
Mô hình trong giai đoạn đầu
Trong giai đoạn đầu, mô hình quản lý nhà nước đối với TTCK là:
- Cơ quan quản lý độc lập đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ
- Chính phủ trực tiếp thông qua UBCKNN để triển khai chức năng quản lý đối với TTCK
- Cơ cấu lãnh đạo của UBCKNN gồm có Chủ tịch, Phó chủ tịch và các ủy viên kiêm nhiệm cấp Thứ trưởng của các Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Theo mô hình này, UBCKNN có nhiệm vụ chủ yếu là quản lý và giám sát các hoạt động của TTGDCK, cấp phép phát hành chứng khoán ra công chúng của tổ chức niêm yết, cấp phép thành lập và giám sát hoạt động của các tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán và thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của Chính phủ
Trang 7Với hình thức tổ chức như trên, có thể thấy UBCKNN có vị thế tương đối độc lập trong hệ thống cơ quan quản lý nhà nước, có đủ thẩm quyền cần thiết để chỉ đạo trong toàn ngành Do vậy UBCKNN có thể hoàn toàn chủ động trong việc xây dựng các chính sách, chiến lược phát triển TTCK; đưa ra các quyết định quản lý và giám sát TTCK; soạn thảo các văn bản pháp luật trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành hay chủ động ban hành trong phạm vi thẩm quyền quy định
Tuy nhiên, việc tổ chức bộ máy quản lý nhà nước như trên lại làm cho hoạt dộng quản lý nhà nước đối với lĩnh vực chứng khoán và TTCK lại bị chia cắt thành nhiều đầu mối Ngoài UBCKNN là cơ quan quản lý đầu ngành TTCK thì Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tư pháp, Ban chỉ đạo đổi mới phát triển doanh nghiệp cũng có nhiều thẩm quyền ban hành các chính sách nhất định chi phối TTCK
Mô hình hiện tại:
Để triển khai có hiệu quả hơn nhiệm vụ điều phối hoạt động của các Bộ, ngành chức năng trong việc thúc đẩy TTCK phát triển, ngày 19/2/2004 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 66/2004/NĐ-CP chuyển UBCKNN vào Bộ Tài chính Theo đó Chính phủ
ủy quyền cho Bộ Tài chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với TTCK Việt Nam UBCK là tổ chức trực thuộc Bộ Tài chính và có tư cách pháp nhân, có trách nhiệm giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK; trực tiếp quản lý và giám sát hoạt động chứng khoán và TTCK, quản
lý các hoạt động dịch vụ thuộc lĩnh vực chứng khoán và TTCK theo quy định của pháp luật
Cơ cấu tổ chức của lãnh đạo UBCKNN gồm Chủ tịch, các Phó chủ tịch và dưới đó
là các đơn vị chức năng (đổi tên các Vụ thành các Ban) và các tổ chức trực thuộc
Như vậy, sự điều chỉnh mô hình tổ chức UBCKNN sang trực thuộc Bộ Tài chính đã khắc phục được những tồn tại của mô hình cũ, giải quyết được tình trạng tồn tại nhiều đầu mối quản lý nhà nước đối với TTCK Với vai trò là cơ quan điều hành chính sách tài chính vĩ mô, cơ quan quản lý và phát triển thị trường tài chính, việc hoạch định và ban hành các chính sách quản lý nhà nước đối với TTCK sẽ nhanh nhạy và hiệu quả hơn Từ đó sẽ hạn chế được tình trạng không ăn khớp giữa các chính sách, gây khó khăn trở ngại trong quá trình quản lý và phát triển TTCK
Tuy nhiên, mô hình này cũng bộc lộ hạn chế là việc chuyển UBCKNN vào Bộ Tài chính đã làm giảm tính độc lập và hạn chế quyền của UBCKNN trong thực hiện chức
Trang 8năng quản lý, làm giảm tính chủ động của UBCKNN và gia tăng tính phức tạp về thủ tục hành chính trong quá trình ban hành các chính sách, chế độ quản lý và phát triển TTCK
3.1.2 Hệ thống giám sát TTCK Việt Nam.
Hệ thống giám sát TTCK Việt Nam được xây dựng theo mô hình phân cấp Mục đích hoạt động của hệ thống là nhằm giám sát việc tuân thủ pháp luật của tất cả các đối tượng, chủ thể tham gia vào các hoạt động phát hành, niêm yết,chứng khoán, đảm bảo cho hoạt động của TTCK được an toàn, công bằng, công khai, có hiệu quả, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư
Hệ thống bao gồm:
- UBCKNN giám sát các tổ chức phát hành, SGDCK và các tổ chức trung gian trên TTCK
- Sở giao dịch chứng khoán, trung tâm giao dịch chứng khoán giám sát hàng ngày các công ty chứng khoán thành viên và các giao dịch trên Sở, từ đó tổng hợp, phân tích, phát hiện các sai phạm báo cáo lên UBCKNN
- Các tổ chức trung gian trên thị trường xây dựng hệ thống giám sát nội bộ trên cơ
sở các qui định của pháp luật
3.2 Thực trạng quản lý, giám sát TTCK Việt Nam trong thời gian vừa qua 3.2.1 Thực trạng TTCK thời gian vừa qua
TTCK vốn là biểu trưng của sự công bằng, minh bạch, nhưng TTCK Việt Nam trong hơn 12 năm qua vẫn chưa xử lý được tồn tại lớn nhất là thiếu công bằng và thiếu minh bạch Đây là nguyên nhân chính dẫn đến những bê bối của các CTCK, công ty niêm yết, dẫn đến người đầu tư đã và đang từng bước rút khỏi thị trường
Không công bằng trong giao dịch bây giờ là chuyện nhỏ, nhưng không công bằng giữa các cổ đông trong cùng công ty niêm yết là câu chuyện lớn TTCK Việt Nam hoạt động trên một nền tảng các chuẩn mực quản trị công ty cổ phần đại chúng, nhưng tại nhiều công ty niêm yết và công ty đại chúng, phương cách quản trị cơ bản vẫn như là DNNN, hoặc như là doanh nghiệp tư nhân Nhiều người đầu tư nhỏ (cổ đông thiểu số) như bị bỏ rơi, quyền lợi hợp pháp của họ bị xâm phạm Ủy ban Chứng khoán Nhà nước với vị trí pháp lý và bộ máy như hiện nay, dù đã có nhiều nỗ lực, nhưng chưa làm được vai trò người trọng tài, người bảo vệ lợi ích hợp pháp cho mọi cổ đông trong công ty
Trang 9đại chúng Nhiều người đầu tư nhỏ nhìn thấy sự lép vế, thua thiệt, tất yếu họ phải tìm cách rút khỏi thị trường
Trong khi đó, dù đã ở tuổi 13, nhưng TTCK Việt Nam vẫn nghèo nàn về chứng khoán và đơn điệu về giao dịch Số chứng khoán niêm yết tại 2 Sở giao dịch đến nay là
705 mã, chưa phải là con số đáng kể ở một đất nước hơn 85 triệu dân và trên 400.000 doanh nghiệp đang hoạt động Những đơn vị kinh tế lớn thuộc các ngành kinh tế chủ chốt vẫn thuộc sở hữu Nhà nước, đang nằm ngoài TTCK
Số chứng khoán và giá trị vốn niêm yết thấp, thì giá trị giao dịch thấp là một vấn đề Các loại chứng khoán giao dịch trên thị trường đến nay vẫn chỉ đơn điệu là cổ phiếu phổ thông, rất nhiều loại cổ phiếu khác, Luật Doanh nghiệp đã cho phép phát hành, nhưng vẫn chưa được doanh nghiệp phát hành, hoặc phát hành chưa đúng chuẩn Nhiều loại chứng khoán phái sinh, là những công cụ đầu cơ thông minh, an toàn, kích hoạt giá trị giao dịch rất mạnh mẽ, TTCK thế giới đã giao dịch hàng trăm năm, TTCK Việt Nam vẫn chưa có Thực tế trên các TTCK thế giới cho thấy, khi mà nền kinh tế có vấn đề, giao dịch cổ phiếu, trái phiếu bị chững lại, thì TTCK vẫn giao dịch sôi động từ các loại chứng khoán phái sinh, CTCK vẫn có thu nhập
Tiếp đến, các loại chứng khoán phái sinh, như hợp đồng về quyền lựa chọn, hợp đồng tương lai là những công cụ tốt cho giới đầu tư và kinh doanh chứng khoán chuyên nghiệp Giao dịch chứng khoán phái sinh có giá trị kích hoạt giao dịch cổ phiếu Lịch sử phát triển của TTCK thế giới cho thấy, chưa có thị trường nào mà giao dịch chứng khoán phái sinh làm cản trở giao dịch cổ phiếu TTCK Mỹ trong 2 năm 2008
-2009 bị suy giảm nghiêm trọng do khủng hoảng tài chính, có một giai đoạn họ cấm giao dịch bán khống, nhưng không cấm giao dịch chứng khoán phái sinh Hiểu thấu đáo bản chất của các công cụ phái sinh sẽ thấy được vị trí quan trọng của nó trên TTCK Rất tiếc cho TTCK Việt Nam trong bối cảnh “chợ chiều” hiện nay, khi những công cụ kích hoạt tính thanh khoản thiếu vắng hoặc chưa đủ quy chuẩn pháp lý để thực hiện
Thứ ba, các yếu tố kinh tế vĩ mô, như là tỷ giá, lãi suất, lạm phát, thuế thu nhập từ đầu tư chứng khoán đang bất lợi cho đầu tư chứng khoán Lạm phát và tỷ giá không ổn định, biến động theo hướng giảm giá trị của đồng Việt Nam so với các ngoại tệ mạnh, thì rất khó thu hút vốn đầu tư nước ngoài Lãi suất ngân hàng cao hơn lợi nhuận bình quân của nền kinh tế luôn là điểm bất lợi cho đầu tư chứng khoán Với lãi suất ngân hàng hiện nay, người đầu tư sẽ thoái vốn ở TTCK để gửi ngân hàng, vì thu nhập cao hơn, an toàn và đơn giản hơn
Trang 10Thứ tư, thuế thu nhập cá nhân không đánh vào tiền gửi tiết kiệm, mà đánh vào đầu
tư chứng khoán là một chuyện ngược đời (!), nhất là trong tình hình tài chính doanh nghiệp đang rất yếu kém hiện nay Người dân có 100 triệu đồng gửi ngân hàng, ngân hàng dùng số tiền đó cho vay, nền kinh tế sẽ nhận được 90 triệu đồng vốn kinh doanh ngắn hạn (trừ 10% dự trữ bắt buộc) Số vốn đó hình thành vốn nợ của đơn vị vay Ngược lại, nếu người đó đầu tư cổ phiếu, nền kinh tế sẽ nhận được đầy đủ 100 triệu đồng và số vốn đó hình thành vốn cổ phần (vốn chủ), gọi là vốn tự có
Cơ cấu tài chính doanh nghiệp Việt Nam nói chung còn rất yếu, vốn nợ chiếm trên 70%, vốn chủ không quá 30% Để lành mạnh tài chính DN, phải lật ngược con số đó, vốn chủ/vốn nợ xấp xỉ 70/30 Làm được như vậy, nền kinh tế sẽ có sự thay đổi về chất,
từ đó giảm được lãi suất ngân hàng (cả lãi suất huy động và lãi suất cho vay), doanh nghiệp có vốn tích lũy đầu tư phát triển Vì vậy, nên bỏ thuế thu nhập cá nhân từ đầu tư
cổ phiếu Bỏ thuế thu nhập cá nhân từ đầu tư cổ phiếu lúc này còn là một động lực góp phần thúc đẩy quá trình cổ phần hóa DNNN đang giậm chân tại chỗ
3.2.2 Thực trạng quản lý và giám sát thị trường
a Tích cực
Trong giai đoạn 2000-2009, công tác quản lý Nhà nước và điều hành TTCK được thực hiện tương đối linh hoạt, bảo đảm TTCK vận hành an toàn và phát triển ổn định, không để xảy ra đổ vỡ, xáo trộn lớn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, từng bước nâng cao năng lực giám sát và cưỡng chế thực thi quy định của pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư Hoạt động quản lý và giám sát TTCK với trọng tâm lấy việc bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư là nòng cốt; các chính sách quản lý TTCK đã thể hiện mục tiêu tăng cường tính công khai, minh bạch, từng bước áp dụng các thông lệ về quản trị công ty tốt, các chuẩn mực về kế toán, kiểm toán quốc tế và khuyến cáo của Tổ chức quốc tế các UBCK (IOSCO)
Thiết lập cơ chế giám sát TTCK chuyên sâu, chuyên nghiệp theo thông lệ quốc tế Công tác thanh tra, giám sát của UBCKNN tập trung vào: giám sát tuân thủ các tổ chức trung gian thị trường; giám sát tuân thủ các tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết; giám sát tuân thủ của các SGDCK, TTLKCK; bên cạnh đó, giám sát giao dịch trên TTCK nhằm phát hiện các hành vi lạm dụng thị trường; thanh tra thực hiện chức năng cưỡng chế thực thi
Mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định trong việc quản lý, vận hành và giám sát thị trường, nhưng công tác quản lý, điều hành TTCK trong thời gian qua vẫn còn một số tồn tại và hạn chế nhất định như: công tác ban hành các văn bản pháp luật, các